Miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA
THEO CISG 1980 VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LÊ THỊ ANH XUÂN* - NGUYỄN THỊ MINH TRANG**
Bài viết nghiên cứu về các căn cứ miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo
quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (CISG 1980). Thông qua việc so sánh với một số nguồn luật khác, bài viết cũng đánh giá về sự
tương thích và ưu điểm của các quy định trong pháp luật Việt Nam và Công ước về vấn đề này,
qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng tới sự đồng bộ và chuyên nghiệp
trong tiến trình cải cách tư pháp.
Từ khóa: Miễn trách nhiệm, bên thứ ba, pháp luật Việt Nam, Công ước Viên 1980.
Ngày nhận bài: 10/4/2021; Biên tập xong: 14/4/2021; Duyệt đăng: 15/4/2021
The article studies the provisions on exemptions from liability due to the participation
of a third party in accordance with Vietnamese laws and the United Nations Convention on
Contracts for the International Sale of Goods (Vienna, 1980 - CISG). By comparison with
other sources of law, it also makes an assessment of the compatibility and advantages of
the provisions of Vietnamese laws and CISG on this issue; thereby, proposes solutions to
improve the law, towards the uniformity and professionalism in the judicial reform process.
Keywords: Exemptions from liability, third party, Vietnamese laws, CISG 1980.
rong khuôn khổ của Công ước Viên nhiệm được xác định tương đối khó khăn và
1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, một trong các trường hợp được
phức tạp. Để áp dụng được điều khoản này
thì đồng thời cả bên đưa ra yêu cầu miễn trách
T
miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng theo nhiệm và bên thứ ba liên quan đó phải thỏa
mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều
79 của CISG như sau: Một là, trở ngại xảy ra
ngoài tầm kiểm soát của các bên; hai là, các
bên không thể lường trước một cách hợp lý
tại thời điểm ký kết hợp đồng; ba là, trở ngại
và hậu quả của nó không thể tránh được hoặc
không thể khắc phục được. Điều này có nghĩa
là bên vi phạm và bên thứ ba đó phải đáp ứng
điều kiện kép về miễn trách thì mới có thể áp
dụng Điều 79 (2) CISG. Cụ thể như sau:
quy định tại khoản 2 Điều 79 CISG 1980 là
trường hợp miễn trách do hành vi của bên thứ
ba tham gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ
hợp đồng: “Nếu một bên không thực hiện nghĩa
vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện
toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không
thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách
nhiệm trong trường hợp: (a) Ðược miễn trách
nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên; (b) Nếu
người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy
định của khoản trên được áp dụng cho họ”. Theo
đó, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ
của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực
hiện toàn bộ hay một phần hợp đồng cũng
không thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được
miễn trách khi thỏa mãn các điều kiện cụ
thể. Quy định về người thứ ba của CISG là
một quy định hoàn toàn khác biệt so với các
căn cứ miễn trách nhiệm khác. Trong trường
Thứ nhất, “trở ngại ngoài tầm kiểm soát” của
các bên đòi hỏi đây phải là trở ngại diễn ra
một cách khách quan, không chịu sự chi phối
của bất kì bên nào trong hợp đồng. Các sự
kiện khách quan thường là những hiện tượng
tự nhiên như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất,
* Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế,
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
hợp này, căn cứ để cho bên được miễn trách ** Cử nhân Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 145
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...
sóng thần… Các thiên tai này thường xảy ra 03 điều kiện cần được thỏa mãn: (1) Một sự việc
ngẫu nhiên bất ngờ xảy ra; (2) Do sự việc ngẫu
nhiên bất ngờ này việc thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng không thể diễn ra; (3) Hợp đồng được giao
kết trên cơ sở giả định rằng sự việc ngẫu nhiên bất
ngờ này không xảy ra”. Mặc dù không có án lệ
cụ thể nào áp dụng Điều 79 CISG nhưng việc
áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 615 UCC
nêu trên tương tự tinh thần của Điều 79 CISG
cũng đủ để cho thấy Tòa án Hoa Kỳ cũng ủng
hộ tinh thần này của điều luật.
một cách bất ngờ và gây ảnh hưởng không
nhỏ đến các hoạt động thường ngày. Đối với
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các sự
kiện thiên tai này xảy ra có thể khiến một bên
bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, làm cho quá
trình thực hiện hợp đồng bị ngưng trệ. Các sự
kiện như thiên tai thường thể hiện rõ tính chất
khách quan; tuy nhiên, theo thực tiễn án lệ1
của CISG có rất nhiều trường hợp được xem
là sự kiện khách quan như quyết định của
Chính phủ2 hay trường hợp nhà sản xuất bị
ngưng sản xuất khẩn cấp3. Yếu tố về sự khách
quan của trường hợp thông thường được xác
định một cách dễ dàng bởi chỉ cần xem xét
về mặt nguyên nhân của sự kiện đó xem có
chịu sự chi phối theo ý chí của các bên hay
không. “Hiện tượng thời tiết bất thường” trong
vụ tranh chấp về việc chậm giao lô đường ray
xe lửa Nga của Forberich (Đức) cho RMI (Hoa
Kỳ) vào thời điểm cuối năm 2002 khi cảng St.
Peterburg bị đóng băng bất thường4 (nơi cảng
đi của bên thứ ba) có thể được coi là ví dụ về
trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát như đã nêu
ở trên. Mặc dù Tòa án Hoa Kỳ chưa từng áp
dụng Điều 79 của CISG để giải quyết những
tình huống về miễn trách kiểu này nhưng đã
từng có án lệ giải quyết vụ việc tương tự bằng
quy định tại áp dụng khoản 2 Điều 615 Bộ
luật thương mại thống nhất (UCC), theo đó:
“Trước khi một nghĩa vụ được miễn trách thì có
Thứ hai, khi có tranh chấp xảy ra, các tranh
cãi liên quan thường xoay quanh các vấn đề
về điều kiện “không thể lường trước được”
hoặc “không thể khắc phục được”5. Điều kiện
thứ hai xác định là tại thời điểm giao kết hợp
đồng, các bên không thể dự liệu trước được
về sự xuất hiện của trở ngại. Quy định này
đặt ra yêu cầu xác định yếu tố chủ quan trong
nhận thức của các chủ thể khi giao kết hợp
đồng về trở ngại có thể xảy ra, và trở ngại có
thể xảy ra này phải nằm ngoài khả năng dự
tính trước, không buộc phải tính được trước
của các bên khi các bên tiến hành giao kết
hợp đồng. Đồng thời, xét về thời gian, điều
kiện này cũng chỉ rõ về thời điểm xuất hiện
trở ngại, chắc chắn trở ngại phải xảy ra sau
khi hợp đồng được giao kết. Bởi nếu như trở
ngại này đã xảy ra trước khi giao kết thì các
bên bắt buộc phải thấy trước sự khó khăn khi
thực hiện hợp đồng. Vụ việc mà bên bán ký
kết một hợp đồng xuất khẩu hàng hóa theo
mẫu với điều kiện giao hàng DAF tại biên
giới Áo – Bulgari 04 tuần sau khi mở thư tín
dụng. Người mua sau đó đã không mở thư
tín dụng với lý do Chính phủ Bulgari đã ra
lệnh đình chỉ thanh toán các khoản nợ nước
ngoài. Về nguyên tắc, việc Nhà nước ban
hành các quyết định làm ngăn trở việc thực
hiện đúng hợp đồng cũng là một điều kiện áp
dụng miễn trách; tuy nhiên, lệnh đình chỉ đó
1ꢀ Belgium (2009), Scafom International BV v.
Lorraine Tubes S.A.S. Nguồn truy cập: hꢁps://
cisgw3.law.pace.edu/cases/090619b1.html, trích dẫn
ngày 3/11/2020
2ꢀ ICC Arbitration Case No. 7197 (1992), Failure to
open leꢀer of credit and penalty clause case. Nguồn
truy cập: hꢁp://cisgw3.law.pace.edu/cisg/wais/db/
cases2/927197i1.html#cabc, trích dẫn ngày 20/8/2019
3ꢀ Russia (1994), Tribunal of International Commercial
Arbitration at the Russian Federation Chamber of đã được thông báo vào thời điểm kí kết hợp
Commerce and Industr. Nguồn truy cập: hꢁp://cisgw3.
law.pace.edu/cases/950316r1.html#cabc, trích dẫn
ngày 23/9/2019
đồng. Vì vậy, người mua chắc chắn đã phải
tiên liệu được rằng lệnh đình chỉ đó sẽ gây
khó khăn cho việc mở thư tín dụng. Như vậy,
4ꢀ Công ước Viên cho người Việt, “Các trường
hợp miễn trách”. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgvn. 5ꢀ Nguyễn Thị Thu Hà, “Phân tích một vụ kiện bất khả
wordpress.com/an-l%E1%BB%87-cisg/cac- kháng trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo
tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p- CISG và lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí
mi%E1%BB%85n-trach/.
kinh tế đối ngoại số 70 (02/2015).
146 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
LÊ THỊ ANH XUÂN - NGUYỄN THỊ MINH TRANG
sự kiện này không phải là “không thể lường
trước được”.
Thứ ba, sự kiện và hậu quả của nó “không
Để áp dụng điều khoản này, việc xác định
rõ “người thứ ba” theo quy định tại khoản 2
Điều 79 của CISG cũng rất quan trọng. Hiện
tại, Hội đồng tư vấn CISG xác định có ít nhất
02 loại “người thứ ba” khác nhau, nhưng chỉ
có một loại là thuộc phạm vi điều chỉnh của
khoản 2 Điều 79 CISG7.
thể tránh được” hoặc “không thể khắc phục được”.
Do sự kiện “trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát”
của bên vi phạm, họ cũng không thể lường
trước được về sự kiện này, do đó thiệt hại
phát sinh từ trở ngại này gây ra phải là tất yếu,
không thể tránh khỏi. Khi thiệt hại phát sinh,
bên chịu ảnh hưởng từ trở ngại cần chủ động
và tích cực ngăn chặn, giảm thiểu tác động
của sự kiện trở ngại trước khi đưa ra thông
báo đối với bên còn lại. Cho dù ảnh hưởng
của sự kiện trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát
là không thể tránh được cũng như không thể
khắc phục được thì bên bị thiệt hại bắt buộc
phải có các biện pháp để ngăn chặn, giảm
thiểu thiệt hại và phải chứng minh rằng họ
đã chủ động, tích cực áp dụng các biện pháp
mà không thể ngăn chặn mức độ ảnh hưởng
đến lợi ích của bên bị vi phạm. Yếu tố này cần
được xem xét một cách cẩn thận trên thực tế.
Theo án lệ của CISG về trường hợp giữa công
ty Macromex Srl (người mua Rumani) và
công ty Globex International (người bán Mỹ)6,
Tòa án từ chối áp dụng điều khoản miễn trách
nhiệm do điều kiện không thể khắc phục được
hậu quả của sự kiện trở ngại nằm ngoài tầm
kiểm soát chưa đảm bảo. Điều đó cho thấy các
yếu tố của một sự kiện trở ngại xảy ra phải
được xem xét đồng thời, một sự kiện được coi
là trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát khi và
chỉ khi đáp ứng được đầy đủ cả 03 điều kiện
trên. Ngay cả khi một sự kiện xảy ra khách
quan thì nó cũng cần phải đồng thời đảm bảo
việc bên vi phạm không lường trước được về
sự kiện đó và cả hai không có khả năng khắc
phục được hậu quả của sự kiện đó. Nếu sự
kiện xảy ra là khách quan mà bên vi phạm có
lường trước được (chẳng hạn đã được dự báo
trước), buộc phải lường trước được, hoặc khi
sự kiện xảy ra, họ đã khắc phục được bằng các
biện pháp thay thế thì sự kiện đó không phải
là một trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát được
miễn trách nhiệm.
Nhóm thứ nhất là những “người thứ ba”
được người mua cho phép hỗ trợ hoặc tạo tiền
đề cho việc giao hàng phù hợp của người bán
nhưng hoàn toàn không được người bán ủy
thác thực hiện hợp đồng. Những “người thứ
ba” này có thể khác biệt và tách biệt với người
bán, chẳng hạn như nhà cung cấp nguyên liệu
thô, nhà thầu phụ của các bộ phận bán sản
xuất. Ví dụ, bên cung cấp da cho nhà máy
sản xuất giày da xuất khẩu. Các nhà cung
cấp nguyên liệu hoặc nhà thầu phụ là bên thứ
ba, mà là bên làm nguồn cung cấp hàng hóa,
nguyên liệu cho người bán theo quan điểm
của Hội đồng tư vấn CISG không phải là loại
“người thứ ba” được đề cập trong Điều 79.28.
Ở đây, khoản 1 Điều 79 vẫn là điều khoản đối
sánh để xác định trách nhiệm của người bán
đối với các hành vi hoặc thiếu sót của“người
thứ ba” mà người bán mặc định không thể
viện dẫn trong trường hợp không thể cung
cấp hàng hóa phù hợp. Tuy nhiên, một ngoại
lệ nên được cho phép đối với những trường
hợp rất đặc biệt, trong đó người bán không
kiểm soát được sự lựa chọn nhà cung cấp
khi nhà cung cấp đó là độc quyền hoặc đó là
nhà cung cấp duy nhất có thể cung cấp được
một lượng hàng đủ lớn theo yêu cầu. Trong
trường hợp đó, mặc định nhà cung cấp có thể
được coi là trở ngại thực sự ngoài tầm kiểm
soát của người bán.
Nhóm thứ hai: “Người thứ ba” được xác
định là những người “độc lập” được bên
bán giao tham gia để thực hiện trực tiếp tất
7ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:
trích dẫn ngày 20/8/2019
6ꢀ International Centre for Dispute Resolution of the 8ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for
American Arbitration Association (2007). Nguồn truy Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:
cập:
html, trích dẫn ngày 03/11/2020
trích dẫn ngày 20/8/2019
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 147
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...
cả hoặc một phần hợp đồng với người mua9. and Exemption from Liability in Damages
under the CISG: Is Article 79(2) Necessary for
Modern International Commerce to Function
Effectively?”)11 thì điều kiện này có thể được
hiểu là bên thứ ba phải có quan hệ hợp đồng
với bên vi phạm, đồng thời hợp đồng phụ
này phải được ký sau khi hợp đồng chính
giữa bên bán và bên mua được ký kết, và có
tồn tại quan hệ ràng buộc giữa hợp đồng phụ
với mục đích của hợp đồng chính. Nghĩa là,
những việc do bên thứ ba làm có kết nối với
hợp đồng chính, việc họ làm là phương tiện
để thực hiện hợp đồng chính12.
Tuy rằng không dễ để xác định chính xác “...
Một người thứ ba đã tham gia để thực hiện toàn bộ
hoặc một phần của hợp đồng...”, nhưng dường
như quy định đã chỉ ra những người thứ ba
đó là những người không giống như nhà
cung cấp nguyên liệu hay những người phụ
thuộc vào người bán. Đó không chỉ là những
cá nhân hoặc pháp nhân riêng biệt mà còn độc
lập về mặt kinh tế và chức năng với bên bán,
bên ngoài cơ cấu tổ chức của bên bán, không
thuộc phạm vi kiểm soát hoặc trách nhiệm
của bên bán. Nhóm người này được cho là
nằm trong phạm vi điều chỉnh của Điều 79 vì
nếu bên thứ ba nằm trong sự quản lý của bên
vi phạm thì hành vi của bên thứ ba cũng được
đồng nhất với hành vi của bên vi phạm10. Nếu
đánh đồng “người thứ ba” này có thể là người
thứ ba nằm trong sự quản lý của bên vi phạm
thì quy định về người thứ ba theo Điều 79
CISG sẽ không còn có ý nghĩa.
Để được miễn trách nhiệm, trong trường
hợp “người thứ ba” tham gia thực hiện một
phần hoặc toàn bộ hợp đồng, phải đáp ứng
điều kiện rất chặt chẽ được quy định tại
Điều 79.2: (i) Bên vi phạm được miễn trách
theo quy định tại Điều 79.1 và đồng thời, (ii)
Người thứ ba cũng phải được miễn trách khi
áp dụng các điều kiện tại Điều 79.1. Nghĩa
là, việc người thứ ba không thực hiện được
hợp đồng đối với bên vi phạm cũng phải do
gặp“trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát” sẽ cấu
thành một yếu tố để xem xét điều kiện miễn
trách cho bên vi phạm khi gặp“trở ngại nằm
ngoài tầm kiểm soát” theo quy định tại Điều
79.1. Hay nói cách khác, điều kiện cả người
bán (bên vi phạm) và người thứ ba (người
thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng
chính giữa người bán và người mua) không
thực hiện được hợp đồng đều là do gặp “trở
ngại nằm ngoài tầm kiểm soát” là điều kiện kép
cần phải được đồng thời đáp ứng.
Như vậy, “người thứ ba” theo Điều 79.2
của CISG phải là bên độc lập với bên vi phạm,
không chịu sự kiểm soát và chỉ đạo của bên
vi phạm. Đồng thời, sự tham gia của bên thứ
ba phải có mục đích trực tiếp thực hiện hợp
đồng chính giữa bên bán và bên mua. Khoản
2 Điều 79 CISG không áp dụng cho bên thứ
ba nào đơn thuần tham gia với tư cách bổ
trợ hoặc tạo tiền đề cho một bên thực thi hợp
đồng chính.
Ngoài ra, về cách hiểu thế nào là việc“tham
gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng”
của người thứ ba nêu trên, CISG tạm thời
cũng chưa giải thích rõ. Theo tác giả Sophia
Berry: “Lỗi của bên thứ ba và sự miễn trừ
trách nhiệm theo Điều 79(2) của Công ước
viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có thực sự cần thiết cho hoạt động thương
mại quốc tế hiện đại?” (“Third Party Defaults
Để đáp ứng được điều kiện thứ nhất, hành
vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên thứ
nhất phải do một trở ngại nằm ngoài tầm
kiểm soát, mà trở ngại này đến từ việc người
thứ ba không thực hiện hợp đồng. Tức là, việc
11ꢀ Sophia Berry, Third Party Defaults and Exemption
from Liability in Damages under the CISG: Is Article 79(2)
9ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for Necessary for Modern International Commerce to Function
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập: Effectively. Nguồn truy cập: hꢁp://www.cisg.law.pace.
trích dẫn ngày 20/8/2019
12ꢀ Trần Thanh Tâm, Phạm Thanh Cao (2017) , “Miễn
10ꢀ Denis Tallon, Commentary on the International Sales trách nhiệm do người thứ ba theo Điều 79 Công ước của
Law: The 1980 Vienna Sales Convention. Nguồn truy Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Từ
cập:
hꢁp://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/tallon- góc nhìn so sánh luật”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt
bb79.html, trích dẫn ngày 21/8/2019
Nam số 07(110)/2017, tr 58-66.
148 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
LÊ THỊ ANH XUÂN - NGUYỄN THỊ MINH TRANG
người thứ ba độc lập không thực hiện hợp
Như vậy, có thể thấy để áp dụng điều kiện
miễn trách theo Điều 79.2 CISG, bên vi phạm
phải chứng minh được điều kiện kép đồng
thời được áp dụng cho cả bên thứ ba và cho
chính mình.
đồng phải là một sự kiện khách quan với bên
vi phạm hợp đồng mà bên vi phạm này không
thể lường trước hay có thể khắc phục được.
Cụ thể hơn, giả sử khi nhà cung cấp vi phạm
nghĩa vụ giao hàng với bên bán (ví dụ không
giao hàng hay giao hàng muộn), bên bán phải
chịu trách nhiệm với bên mua về việc này vì
đã chọn nhà cung cấp không phù hợp. Mặt
khác, trong mọi trường hợp, bên bán luôn có
thể tìm một nhà cung cấp thay thế. Trường
hợp ngoại lệ chỉ xảy ra khi nhà cung cấp là
độc quyền hoặc là nhà cung cấp duy nhất có
thể cung cấp một lượng hàng đủ lớn theo đơn
hàng của bên mua. Lúc này, bên bán không
thể có một nhà cung cấp thay thế phù hợp
và được coi là gặp “trở ngại nằm ngoài tầm
kiểm soát” của bên bán khi nhà cung cấp này
vi phạm hợp đồng với bên bán (điều kiện thứ
nhất ở trên được đáp ứng).
Đối sánh với pháp luật Việt Nam hiện
hành, Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật
thương mại năm 2005 mặc dù có ghi nhận sự
tham của người thứ ba trong giao dịch: “Khi
được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể
ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện
nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với
bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”14, nhưng
không đặt ra điều kiện kép cho trường hợp
miễn trách. Trong 04 căn cứ miễn trách ghi
nhận tại Điều 294 Luật thương mại năm 2005,
cũng chỉ ghi nhận 02 trường hợp có thể tiềm
ẩn sự có mặt của bên thứ ba chứ không hoàn
toàn là bên thứ ba thực hiện một phần hoặc
toàn bộ hợp đồng: Bên vi phạm được miễn
trách nhiệm khi “Xảy ra sự kiện bất khả kháng”;
và“Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện
quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền mà các bên không thể biết được vào thời
điểm giao kết hợp đồng”. Theo đó, các hành vi
vi phạm của một bên do thực hiện quyết định
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà các
bên không thể biết trước được vào thời điểm
giao kết hợp đồng cũng có thể xem như là
một sự kiện bất khả kháng khi các bên không
thể biết trước và cũng không thể khắc phục
được (Ví dụ: Quyết định đóng cửa cảng đi
và cảng đến của hai nước xuất khẩu và nhập
khẩu do phòng ngừa sự lây lan của đại dịch).
Các điều kiện để miễn trách của pháp luật
Việt Nam không quy định một cách trực tiếp
nhưng cũng có nét tương đồng với khoản 1
Điều 79 của Công ước Viên 1980 về điều kiện
miễn trách thông qua quy định về “Sự kiện bất
khả kháng” tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân
sự năm 2015. Theo đó, các sự kiện được xem
là “bất khả kháng” trong Bộ luật dân sự Việt
Nam hay “trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát”
của CISG đều bao gồm: Một là, sự kiện xảy
ra nằm ngoài tầm kiểm soát của các bên hay
nói cách khác đây phải là sự kiện khách quan;
hai là, sự kiện đó không thể lường trước được;
Tuy nhiên, khi điều kiện thứ nhất được
đáp ứng thì vẫn chưa đảm bảo để bên vi
phạm được miễn trách nhiệm theo Điều 80
của CISG mà cần phải xét đến điều kiện thứ
hai nữa. Điều kiện thứ hai đòi hỏi người thứ
ba không thực hiện hợp đồng khiến bên vi
phạm vi phạm nghĩa vụ phải là do họ gặp một
trường hợp trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát.
Bởi vì, trong mọi tình huống, khi người thứ
ba vi phạm hợp đồng với bên bán thì người
thứ ba này sẽ phải bồi thường theo hợp đồng
giữa họ và bên bán, và bên bán sẽ phải bồi
thường cho bên mua do vi phạm hợp đồng
với bên bán. Điều kiện thứ hai chỉ xảy ra khi
chính người thứ ba cũng vi phạm hợp đồng
với bên bán do gặp phải một “trở ngại nằm
ngoài tầm kiểm soát” của họ (ví dụ do gặp
phải động đất, thiên tai) khiến cho họ không
thể cung cấp hàng hóa theo hợp đồng cho bên
bán. Trong trường hợp này, bên bán sẽ không
nhận được khoản bồi thường nào (do người
thứ ba được miễn trách nhiệm theo Điều 79.1
CISG).13
13ꢀ Nhóm CISG 1980 Việt Nam (2016), 101 câu hỏi đáp
về Công ước của Liên hợp quốc về MBHHQT (CISG
1980). Nguồn truy cập: hꢁp: viac_101cauhoidapCISG
1980_2016_15-12-2016-1046pdf.pdf, trích dẫn ngày
12/1/2019
14ꢀ Điều 283 Bộ luật dân sự năm 2015.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 149
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...
ba là, hậu quả của sự kiện đó không thể khắc của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định
phục được.
tại Điều 420 Bộ luật dân sự năm 2015 trên đây
cho thấy, các căn cứ để xác định “hoàn cảnh thay
đổi cơ bản” nêu trên của pháp luật Việt Nam
tương đồng với điều kiện được chấp nhận để
áp dụng miễn trách nhiệm theo quan điểm
số 07 của Hội đồng tư vấn CISG về trường
hợp theo Điều 79.1 của Công ước. Tuy nhiên,
không giống CISG, “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”
lại không là căn cứ miễn trách theo quy định
của pháp luật Việt Nam và có hệ quả pháp lý
hoàn toàn khác với “sự kiện bất khả kháng”.
Tuy nhiên, từ thực tiễn án lệ của CISG cho
thấy phạm vi áp dụng về trường hợp“trở ngại
nằm ngoài tầm kiểm soát” của CISG rộng hơn so
với trường hợp “bất khả kháng” trong quy định
tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 (quy định
về thời gian không tính vào thời hiệu). Miễn
trách nhiệm đặt ra khi có sự kiện “trở ngại nằm
ngoài tầm kiểm soát” của CISG còn bao gồm cả
các trường hợp do “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”
(hardship). Theo quan điểm số 07 của Hội đồng
tư vấn CISG cho rằng, một sự thay đổi hoàn
cảnh khi không thể được tiên liệu một cách
hợp lý, dẫn đến việc thực hiện hợp đồng trở
nên vô cùng khó khăn hoàn toàn có thể được
xem là cơ sở miễn trách nhiệm theo Điều 79
của CISG15. Quan điểm này được xây dựng từ
thực tiễn trong quá trình xét xử các tranh chấp
mua bán hàng hóa quốc tế khi trên thực tế xuất
hiện những trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ
bản khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên
cực kì khó khăn và bên có nghĩa vụ đưa ra yêu
cầu được miễn trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn
còn nhiều tranh cãi xảy ra do CISG chưa có
quy định cụ thể về vấn đề này.
Theo quan điểm số 07 của Hội đồng tư vấn
CISG và thực tiễn xét xử cho thấy khi hoàn
cảnh này xảy ra, CISG có thể miễn trách nhiệm
cho bên vi phạm hợp đồng. Còn tại Việt Nam,
“hoàn cảnh thay đổi cơ bản” không phải là một
trong các căn cứ để bên vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng có thể được miễn trách nhiệm. Khi hoàn
cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh
hưởng được quyền yêu cầu bên kia đàm phán
lại hợp đồng. Nếu đàm phán không thành, các
bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết và kết quả
là Tòa án có thể cho phép các bên tiến hành sửa
đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Như vậy, đây là
điểm rõ ràng khác biệt và có thể nói là tiến bộ
hơn hẳn của pháp luật Việt Nam hiện hành so
với quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế liên quan tới
miễn trách. Bởi lẽ, thực tế cho thấy quy định
như vậy là hoàn toàn hợp lý vì bản chất sự
thay đổi cơ bản của hoàn cảnh không phải lúc
nào cũng làm cho việc thực hiện hợp đồng tại
thời điểm đó là không thể thực hiện được mà
chỉ khiến việc thực hiện hợp đồng trở nên cực
kì khó khăn mà thôi.
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam, Bộ
luật dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định
tại Điều 420 về trường hợp “hoàn cảnh thay đổi
cơ bản” khi hội tụ đủ các điều kiện tại khoản
1 như sau: “(i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên
nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
(ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không
thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
(iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các
bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết
hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn
khác;(iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không
có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại
nghiêm trọng cho một bên; (v) Bên có lợi ích bị ảnh
hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong
khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp
đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ
ảnh hưởng đến lợi ích.” Dựa vào các dấu hiệu
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, mặc
dù không có quy định rõ ràng về vai trò của
người thứ ba trong vi phạm của bên vi phạm
như quy định của Điều 79.2 CISG nhưng các
quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm
2015 và Điều 294 Luật thương mại năm 2005
đã phần nào thể hiện quan điểm khá tương
đồng của Việt Nam về vấn đề miễn trách. Tuy
nhiên, Việt Nam vẫn cần tách quy định về sự
kiện bất khả kháng ra khỏi Điều 156 Bộ luật
dân sự năm 2015 và đưa về phần giải thích các
thuật ngữ để mang tính chuyên nghiệp hơn
cho Bộ luật này./.
15ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:
trích dẫn ngày 20/8/2019
150 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mien_trach_nhiem_do_co_su_tham_gia_cua_ben_thu_ba_theo_cisg.pdf

