Miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam

MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA  
THEO CISG 1980 VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
LÊ THỊ ANH XUÂN* - NGUYỄN THỊ MINH TRANG**  
Bài viết nghiên cứu về các căn cứ miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo  
quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc  
tế (CISG 1980). Thông qua việc so sánh với một số nguồn luật khác, bài viết cũng đánh giá về sự  
tương thích và ưu điểm của các quy định trong pháp luật Việt Nam và Công ước về vấn đề này,  
qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng tới sự đồng bộ và chuyên nghiệp  
trong tiến trình cải cách tư pháp.  
Từ khóa: Miễn trách nhiệm, bên thứ ba, pháp luật Việt Nam, Công ước Viên 1980.  
Ngày nhận bài: 10/4/2021; Biên tập xong: 14/4/2021; Duyệt đăng: 15/4/2021  
The article studies the provisions on exemptions from liability due to the participation  
of a third party in accordance with Vietnamese laws and the United Nations Convention on  
Contracts for the International Sale of Goods (Vienna, 1980 - CISG). By comparison with  
other sources of law, it also makes an assessment of the compatibility and advantages of  
the provisions of Vietnamese laws and CISG on this issue; thereby, proposes solutions to  
improve the law, towards the uniformity and professionalism in the judicial reform process.  
Keywords: Exemptions from liability, third party, Vietnamese laws, CISG 1980.  
rong khuôn khổ của Công ước Viên nhiệm được xác định tương đối khó khăn và  
1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa  
quốc tế, một trong các trường hợp được  
phức tạp. Để áp dụng được điều khoản này  
thì đồng thời cả bên đưa ra yêu cầu miễn trách  
T
miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng theo nhiệm và bên thứ ba liên quan đó phải thỏa  
mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều  
79 của CISG như sau: Một là, trở ngại xảy ra  
ngoài tầm kiểm soát của các bên; hai là, các  
bên không thể lường trước một cách hợp lý  
tại thời điểm ký kết hợp đồng; ba là, trở ngại  
và hậu quả của nó không thể tránh được hoặc  
không thể khắc phục được. Điều này có nghĩa  
là bên vi phạm và bên thứ ba đó phải đáp ứng  
điều kiện kép về miễn trách thì mới có thể áp  
dụng Điều 79 (2) CISG. Cụ thể như sau:  
quy định tại khoản 2 Điều 79 CISG 1980 là  
trường hợp miễn trách do hành vi của bên thứ  
ba tham gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ  
hợp đồng: “Nếu một bên không thực hiện nghĩa  
vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện  
toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không  
thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách  
nhiệm trong trường hợp: (a) Ðược miễn trách  
nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên; (b) Nếu  
người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy  
định của khoản trên được áp dụng cho họ”. Theo  
đó, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ  
của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực  
hiện toàn bộ hay một phần hợp đồng cũng  
không thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được  
miễn trách khi thỏa mãn các điều kiện cụ  
thể. Quy định về người thứ ba của CISG là  
một quy định hoàn toàn khác biệt so với các  
căn cứ miễn trách nhiệm khác. Trong trường  
Thứ nhất, “trở ngại ngoài tầm kiểm soát” của  
các bên đòi hỏi đây phải là trở ngại diễn ra  
một cách khách quan, không chịu sự chi phối  
của bất kì bên nào trong hợp đồng. Các sự  
kiện khách quan thường là những hiện tượng  
tự nhiên như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất,  
* Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế,  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
hợp này, căn cứ để cho bên được miễn trách ** Cử nhân Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 145  
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...  
sóng thần… Các thiên tai này thường xảy ra 03 điều kiện cần được thỏa mãn: (1) Một sự việc  
ngẫu nhiên bất ngờ xảy ra; (2) Do sự việc ngẫu  
nhiên bất ngờ này việc thực hiện nghĩa vụ hợp  
đồng không thể diễn ra; (3) Hợp đồng được giao  
kết trên cơ sở giả định rằng sự việc ngẫu nhiên bất  
ngờ này không xảy ra”. Mặc dù không có án lệ  
cụ thể nào áp dụng Điều 79 CISG nhưng việc  
áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 615 UCC  
nêu trên tương tự tinh thần của Điều 79 CISG  
cũng đủ để cho thấy Tòa án Hoa Kỳ cũng ủng  
hộ tinh thần này của điều luật.  
một cách bất ngờ và gây ảnh hưởng không  
nhỏ đến các hoạt động thường ngày. Đối với  
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các sự  
kiện thiên tai này xảy ra có thể khiến một bên  
bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, làm cho quá  
trình thực hiện hợp đồng bị ngưng trệ. Các sự  
kiện như thiên tai thường thể hiện rõ tính chất  
khách quan; tuy nhiên, theo thực tiễn án lệ1  
của CISG có rất nhiều trường hợp được xem  
là sự kiện khách quan như quyết định của  
Chính phủ2 hay trường hợp nhà sản xuất bị  
ngưng sản xuất khẩn cấp3. Yếu tố về sự khách  
quan của trường hợp thông thường được xác  
định một cách dễ dàng bởi chỉ cần xem xét  
về mặt nguyên nhân của sự kiện đó xem có  
chịu sự chi phối theo ý chí của các bên hay  
không. “Hiện tượng thời tiết bất thường” trong  
vụ tranh chấp về việc chậm giao lô đường ray  
xe lửa Nga của Forberich (Đức) cho RMI (Hoa  
Kỳ) vào thời điểm cuối năm 2002 khi cảng St.  
Peterburg bị đóng băng bất thường4 (nơi cảng  
đi của bên thứ ba) có thể được coi là ví dụ về  
trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát như đã nêu  
ở trên. Mặc dù Tòa án Hoa Kỳ chưa từng áp  
dụng Điều 79 của CISG để giải quyết những  
tình huống về miễn trách kiểu này nhưng đã  
từng có án lệ giải quyết vụ việc tương tự bằng  
quy định tại áp dụng khoản 2 Điều 615 Bộ  
luật thương mại thống nhất (UCC), theo đó:  
“Trước khi một nghĩa vụ được miễn trách thì có  
Thứ hai, khi có tranh chấp xảy ra, các tranh  
cãi liên quan thường xoay quanh các vấn đề  
về điều kiện “không thể lường trước được”  
hoặc “không thể khắc phục được”5. Điều kiện  
thứ hai xác định là tại thời điểm giao kết hợp  
đồng, các bên không thể dự liệu trước được  
về sự xuất hiện của trở ngại. Quy định này  
đặt ra yêu cầu xác định yếu tố chủ quan trong  
nhận thức của các chủ thể khi giao kết hợp  
đồng về trở ngại có thể xảy ra, và trở ngại có  
thể xảy ra này phải nằm ngoài khả năng dự  
tính trước, không buộc phải tính được trước  
của các bên khi các bên tiến hành giao kết  
hợp đồng. Đồng thời, xét về thời gian, điều  
kiện này cũng chỉ rõ về thời điểm xuất hiện  
trở ngại, chắc chắn trở ngại phải xảy ra sau  
khi hợp đồng được giao kết. Bởi nếu như trở  
ngại này đã xảy ra trước khi giao kết thì các  
bên bắt buộc phải thấy trước sự khó khăn khi  
thực hiện hợp đồng. Vụ việc mà bên bán ký  
kết một hợp đồng xuất khẩu hàng hóa theo  
mẫu với điều kiện giao hàng DAF tại biên  
giới Áo – Bulgari 04 tuần sau khi mở thư tín  
dụng. Người mua sau đó đã không mở thư  
tín dụng với lý do Chính phủ Bulgari đã ra  
lệnh đình chỉ thanh toán các khoản nợ nước  
ngoài. Về nguyên tắc, việc Nhà nước ban  
hành các quyết định làm ngăn trở việc thực  
hiện đúng hợp đồng cũng là một điều kiện áp  
dụng miễn trách; tuy nhiên, lệnh đình chỉ đó  
1ꢀ Belgium (2009), Scafom International BV v.  
Lorraine Tubes S.A.S. Nguồn truy cập: hꢁps://  
cisgw3.law.pace.edu/cases/090619b1.html, trích dẫn  
ngày 3/11/2020  
2ꢀ ICC Arbitration Case No. 7197 (1992), Failure to  
open leꢀer of credit and penalty clause case. Nguồn  
truy cập: hꢁp://cisgw3.law.pace.edu/cisg/wais/db/  
cases2/927197i1.html#cabc, trích dẫn ngày 20/8/2019  
3ꢀ Russia (1994), Tribunal of International Commercial  
Arbitration at the Russian Federation Chamber of đã được thông báo vào thời điểm kí kết hợp  
Commerce and Industr. Nguồn truy cập: hꢁp://cisgw3.  
law.pace.edu/cases/950316r1.html#cabc, trích dẫn  
ngày 23/9/2019  
đồng. Vì vậy, người mua chắc chắn đã phải  
tiên liệu được rằng lệnh đình chỉ đó sẽ gây  
khó khăn cho việc mở thư tín dụng. Như vậy,  
4ꢀ Công ước Viên cho người Việt, “Các trường  
hợp miễn trách”. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgvn. 5ꢀ Nguyễn Thị Thu Hà, “Phân tích một vụ kiện bất khả  
wordpress.com/an-l%E1%BB%87-cisg/cac- kháng trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo  
tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p- CISG và lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí  
mi%E1%BB%85n-trach/.  
kinh tế đối ngoại số 70 (02/2015).  
146 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THỊ ANH XUÂN - NGUYỄN THỊ MINH TRANG  
sự kiện này không phải là “không thể lường  
trước được”.  
Thứ ba, sự kiện và hậu quả của nó “không  
Để áp dụng điều khoản này, việc xác định  
rõ “người thứ ba” theo quy định tại khoản 2  
Điều 79 của CISG cũng rất quan trọng. Hiện  
tại, Hội đồng tư vấn CISG xác định có ít nhất  
02 loại “người thứ ba” khác nhau, nhưng chỉ  
có một loại là thuộc phạm vi điều chỉnh của  
khoản 2 Điều 79 CISG7.  
thể tránh được” hoặc “không thể khắc phục được”.  
Do sự kiện “trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát”  
của bên vi phạm, họ cũng không thể lường  
trước được về sự kiện này, do đó thiệt hại  
phát sinh từ trở ngại này gây ra phải là tất yếu,  
không thể tránh khỏi. Khi thiệt hại phát sinh,  
bên chịu ảnh hưởng từ trở ngại cần chủ động  
và tích cực ngăn chặn, giảm thiểu tác động  
của sự kiện trở ngại trước khi đưa ra thông  
báo đối với bên còn lại. Cho dù ảnh hưởng  
của sự kiện trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát  
là không thể tránh được cũng như không thể  
khắc phục được thì bên bị thiệt hại bắt buộc  
phải có các biện pháp để ngăn chặn, giảm  
thiểu thiệt hại và phải chứng minh rằng họ  
đã chủ động, tích cực áp dụng các biện pháp  
mà không thể ngăn chặn mức độ ảnh hưởng  
đến lợi ích của bên bị vi phạm. Yếu tố này cần  
được xem xét một cách cẩn thận trên thực tế.  
Theo án lệ của CISG về trường hợp giữa công  
ty Macromex Srl (người mua Rumani) và  
công ty Globex International (người bán Mỹ)6,  
Tòa án từ chối áp dụng điều khoản miễn trách  
nhiệm do điều kiện không thể khắc phục được  
hậu quả của sự kiện trở ngại nằm ngoài tầm  
kiểm soát chưa đảm bảo. Điều đó cho thấy các  
yếu tố của một sự kiện trở ngại xảy ra phải  
được xem xét đồng thời, một sự kiện được coi  
là trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát khi và  
chỉ khi đáp ứng được đầy đủ cả 03 điều kiện  
trên. Ngay cả khi một sự kiện xảy ra khách  
quan thì nó cũng cần phải đồng thời đảm bảo  
việc bên vi phạm không lường trước được về  
sự kiện đó và cả hai không có khả năng khắc  
phục được hậu quả của sự kiện đó. Nếu sự  
kiện xảy ra là khách quan mà bên vi phạm có  
lường trước được (chẳng hạn đã được dự báo  
trước), buộc phải lường trước được, hoặc khi  
sự kiện xảy ra, họ đã khắc phục được bằng các  
biện pháp thay thế thì sự kiện đó không phải  
là một trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát được  
miễn trách nhiệm.  
Nhóm thứ nhất là những “người thứ ba”  
được người mua cho phép hỗ trợ hoặc tạo tiền  
đề cho việc giao hàng phù hợp của người bán  
nhưng hoàn toàn không được người bán ủy  
thác thực hiện hợp đồng. Những “người thứ  
ba” này có thể khác biệt và tách biệt với người  
bán, chẳng hạn như nhà cung cấp nguyên liệu  
thô, nhà thầu phụ của các bộ phận bán sản  
xuất. Ví dụ, bên cung cấp da cho nhà máy  
sản xuất giày da xuất khẩu. Các nhà cung  
cấp nguyên liệu hoặc nhà thầu phụ là bên thứ  
ba, mà là bên làm nguồn cung cấp hàng hóa,  
nguyên liệu cho người bán theo quan điểm  
của Hội đồng tư vấn CISG không phải là loại  
“người thứ ba” được đề cập trong Điều 79.28.  
Ở đây, khoản 1 Điều 79 vẫn là điều khoản đối  
sánh để xác định trách nhiệm của người bán  
đối với các hành vi hoặc thiếu sót của“người  
thứ ba” mà người bán mặc định không thể  
viện dẫn trong trường hợp không thể cung  
cấp hàng hóa phù hợp. Tuy nhiên, một ngoại  
lệ nên được cho phép đối với những trường  
hợp rất đặc biệt, trong đó người bán không  
kiểm soát được sự lựa chọn nhà cung cấp  
khi nhà cung cấp đó là độc quyền hoặc đó là  
nhà cung cấp duy nhất có thể cung cấp được  
một lượng hàng đủ lớn theo yêu cầu. Trong  
trường hợp đó, mặc định nhà cung cấp có thể  
được coi là trở ngại thực sự ngoài tầm kiểm  
soát của người bán.  
Nhóm thứ hai: “Người thứ ba” được xác  
định là những người “độc lập” được bên  
bán giao tham gia để thực hiện trực tiếp tất  
7ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for  
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:  
trích dẫn ngày 20/8/2019  
6ꢀ International Centre for Dispute Resolution of the 8ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for  
American Arbitration Association (2007). Nguồn truy Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:  
cập:  
html, trích dẫn ngày 03/11/2020  
trích dẫn ngày 20/8/2019  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 147  
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...  
cả hoặc một phần hợp đồng với người mua9. and Exemption from Liability in Damages  
under the CISG: Is Article 79(2) Necessary for  
Modern International Commerce to Function  
Effectively?”)11 thì điều kiện này có thể được  
hiểu là bên thứ ba phải có quan hệ hợp đồng  
với bên vi phạm, đồng thời hợp đồng phụ  
này phải được ký sau khi hợp đồng chính  
giữa bên bán và bên mua được ký kết, và có  
tồn tại quan hệ ràng buộc giữa hợp đồng phụ  
với mục đích của hợp đồng chính. Nghĩa là,  
những việc do bên thứ ba làm có kết nối với  
hợp đồng chính, việc họ làm là phương tiện  
để thực hiện hợp đồng chính12.  
Tuy rằng không dễ để xác định chính xác “...  
Một người thứ ba đã tham gia để thực hiện toàn bộ  
hoặc một phần của hợp đồng...”, nhưng dường  
như quy định đã chỉ ra những người thứ ba  
đó là những người không giống như nhà  
cung cấp nguyên liệu hay những người phụ  
thuộc vào người bán. Đó không chỉ là những  
cá nhân hoặc pháp nhân riêng biệt mà còn độc  
lập về mặt kinh tế và chức năng với bên bán,  
bên ngoài cơ cấu tổ chức của bên bán, không  
thuộc phạm vi kiểm soát hoặc trách nhiệm  
của bên bán. Nhóm người này được cho là  
nằm trong phạm vi điều chỉnh của Điều 79 vì  
nếu bên thứ ba nằm trong sự quản lý của bên  
vi phạm thì hành vi của bên thứ ba cũng được  
đồng nhất với hành vi của bên vi phạm10. Nếu  
đánh đồng “người thứ ba” này có thể là người  
thứ ba nằm trong sự quản lý của bên vi phạm  
thì quy định về người thứ ba theo Điều 79  
CISG sẽ không còn có ý nghĩa.  
Để được miễn trách nhiệm, trong trường  
hợp “người thứ ba” tham gia thực hiện một  
phần hoặc toàn bộ hợp đồng, phải đáp ứng  
điều kiện rất chặt chẽ được quy định tại  
Điều 79.2: (i) Bên vi phạm được miễn trách  
theo quy định tại Điều 79.1 và đồng thời, (ii)  
Người thứ ba cũng phải được miễn trách khi  
áp dụng các điều kiện tại Điều 79.1. Nghĩa  
là, việc người thứ ba không thực hiện được  
hợp đồng đối với bên vi phạm cũng phải do  
gặp“trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát” sẽ cấu  
thành một yếu tố để xem xét điều kiện miễn  
trách cho bên vi phạm khi gặp“trở ngại nằm  
ngoài tầm kiểm soát” theo quy định tại Điều  
79.1. Hay nói cách khác, điều kiện cả người  
bán (bên vi phạm) và người thứ ba (người  
thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng  
chính giữa người bán và người mua) không  
thực hiện được hợp đồng đều là do gặp “trở  
ngại nằm ngoài tầm kiểm soát” là điều kiện kép  
cần phải được đồng thời đáp ứng.  
Như vậy, “người thứ ba” theo Điều 79.2  
của CISG phải là bên độc lập với bên vi phạm,  
không chịu sự kiểm soát và chỉ đạo của bên  
vi phạm. Đồng thời, sự tham gia của bên thứ  
ba phải có mục đích trực tiếp thực hiện hợp  
đồng chính giữa bên bán và bên mua. Khoản  
2 Điều 79 CISG không áp dụng cho bên thứ  
ba nào đơn thuần tham gia với tư cách bổ  
trợ hoặc tạo tiền đề cho một bên thực thi hợp  
đồng chính.  
Ngoài ra, về cách hiểu thế nào là việc“tham  
gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng”  
của người thứ ba nêu trên, CISG tạm thời  
cũng chưa giải thích rõ. Theo tác giả Sophia  
Berry: “Lỗi của bên thứ ba và sự miễn trừ  
trách nhiệm theo Điều 79(2) của Công ước  
viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc  
tế có thực sự cần thiết cho hoạt động thương  
mại quốc tế hiện đại?” (“Third Party Defaults  
Để đáp ứng được điều kiện thứ nhất, hành  
vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên thứ  
nhất phải do một trở ngại nằm ngoài tầm  
kiểm soát, mà trở ngại này đến từ việc người  
thứ ba không thực hiện hợp đồng. Tức là, việc  
11ꢀ Sophia Berry, Third Party Defaults and Exemption  
from Liability in Damages under the CISG: Is Article 79(2)  
9ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for Necessary for Modern International Commerce to Function  
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập: Effectively. Nguồn truy cập: hꢁp://www.cisg.law.pace.  
trích dẫn ngày 20/8/2019  
12ꢀ Trần Thanh Tâm, Phạm Thanh Cao (2017) , “Miễn  
10ꢀ Denis Tallon, Commentary on the International Sales trách nhiệm do người thứ ba theo Điều 79 Công ước của  
Law: The 1980 Vienna Sales Convention. Nguồn truy Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Từ  
cập:  
hꢁp://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/tallon- góc nhìn so sánh luật”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt  
bb79.html, trích dẫn ngày 21/8/2019  
Nam số 07(110)/2017, tr 58-66.  
148 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THỊ ANH XUÂN - NGUYỄN THỊ MINH TRANG  
người thứ ba độc lập không thực hiện hợp  
Như vậy, có thể thấy để áp dụng điều kiện  
miễn trách theo Điều 79.2 CISG, bên vi phạm  
phải chứng minh được điều kiện kép đồng  
thời được áp dụng cho cả bên thứ ba và cho  
chính mình.  
đồng phải là một sự kiện khách quan với bên  
vi phạm hợp đồng mà bên vi phạm này không  
thể lường trước hay có thể khắc phục được.  
Cụ thể hơn, giả sử khi nhà cung cấp vi phạm  
nghĩa vụ giao hàng với bên bán (ví dụ không  
giao hàng hay giao hàng muộn), bên bán phải  
chịu trách nhiệm với bên mua về việc này vì  
đã chọn nhà cung cấp không phù hợp. Mặt  
khác, trong mọi trường hợp, bên bán luôn có  
thể tìm một nhà cung cấp thay thế. Trường  
hợp ngoại lệ chỉ xảy ra khi nhà cung cấp là  
độc quyền hoặc là nhà cung cấp duy nhất có  
thể cung cấp một lượng hàng đủ lớn theo đơn  
hàng của bên mua. Lúc này, bên bán không  
thể có một nhà cung cấp thay thế phù hợp  
và được coi là gặp “trở ngại nằm ngoài tầm  
kiểm soát” của bên bán khi nhà cung cấp này  
vi phạm hợp đồng với bên bán (điều kiện thứ  
nhất ở trên được đáp ứng).  
Đối sánh với pháp luật Việt Nam hiện  
hành, Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật  
thương mại năm 2005 mặc dù có ghi nhận sự  
tham của người thứ ba trong giao dịch: “Khi  
được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể  
ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện  
nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với  
bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện  
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”14, nhưng  
không đặt ra điều kiện kép cho trường hợp  
miễn trách. Trong 04 căn cứ miễn trách ghi  
nhận tại Điều 294 Luật thương mại năm 2005,  
cũng chỉ ghi nhận 02 trường hợp có thể tiềm  
ẩn sự có mặt của bên thứ ba chứ không hoàn  
toàn là bên thứ ba thực hiện một phần hoặc  
toàn bộ hợp đồng: Bên vi phạm được miễn  
trách nhiệm khi “Xảy ra sự kiện bất khả kháng”;  
và“Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện  
quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền mà các bên không thể biết được vào thời  
điểm giao kết hợp đồng”. Theo đó, các hành vi  
vi phạm của một bên do thực hiện quyết định  
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà các  
bên không thể biết trước được vào thời điểm  
giao kết hợp đồng cũng có thể xem như là  
một sự kiện bất khả kháng khi các bên không  
thể biết trước và cũng không thể khắc phục  
được (Ví dụ: Quyết định đóng cửa cảng đi  
và cảng đến của hai nước xuất khẩu và nhập  
khẩu do phòng ngừa sự lây lan của đại dịch).  
Các điều kiện để miễn trách của pháp luật  
Việt Nam không quy định một cách trực tiếp  
nhưng cũng có nét tương đồng với khoản 1  
Điều 79 của Công ước Viên 1980 về điều kiện  
miễn trách thông qua quy định về “Sự kiện bất  
khả kháng” tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân  
sự năm 2015. Theo đó, các sự kiện được xem  
là “bất khả kháng” trong Bộ luật dân sự Việt  
Nam hay “trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát”  
của CISG đều bao gồm: Một là, sự kiện xảy  
ra nằm ngoài tầm kiểm soát của các bên hay  
nói cách khác đây phải là sự kiện khách quan;  
hai là, sự kiện đó không thể lường trước được;  
Tuy nhiên, khi điều kiện thứ nhất được  
đáp ứng thì vẫn chưa đảm bảo để bên vi  
phạm được miễn trách nhiệm theo Điều 80  
của CISG mà cần phải xét đến điều kiện thứ  
hai nữa. Điều kiện thứ hai đòi hỏi người thứ  
ba không thực hiện hợp đồng khiến bên vi  
phạm vi phạm nghĩa vụ phải là do họ gặp một  
trường hợp trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát.  
Bởi vì, trong mọi tình huống, khi người thứ  
ba vi phạm hợp đồng với bên bán thì người  
thứ ba này sẽ phải bồi thường theo hợp đồng  
giữa họ và bên bán, và bên bán sẽ phải bồi  
thường cho bên mua do vi phạm hợp đồng  
với bên bán. Điều kiện thứ hai chỉ xảy ra khi  
chính người thứ ba cũng vi phạm hợp đồng  
với bên bán do gặp phải một “trở ngại nằm  
ngoài tầm kiểm soát” của họ (ví dụ do gặp  
phải động đất, thiên tai) khiến cho họ không  
thể cung cấp hàng hóa theo hợp đồng cho bên  
bán. Trong trường hợp này, bên bán sẽ không  
nhận được khoản bồi thường nào (do người  
thứ ba được miễn trách nhiệm theo Điều 79.1  
CISG).13  
13ꢀ Nhóm CISG 1980 Việt Nam (2016), 101 câu hỏi đáp  
về Công ước của Liên hợp quốc về MBHHQT (CISG  
1980). Nguồn truy cập: hꢁp: viac_101cauhoidapCISG  
1980_2016_15-12-2016-1046pdf.pdf, trích dẫn ngày  
12/1/2019  
14ꢀ Điều 283 Bộ luật dân sự năm 2015.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 149  
MIỄN TRÁCH NHIỆM DO CÓ SỰ THAM GIA CỦA BÊN THỨ BA...  
ba là, hậu quả của sự kiện đó không thể khắc của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định  
phục được.  
tại Điều 420 Bộ luật dân sự năm 2015 trên đây  
cho thấy, các căn cứ để xác định “hoàn cảnh thay  
đổi cơ bản” nêu trên của pháp luật Việt Nam  
tương đồng với điều kiện được chấp nhận để  
áp dụng miễn trách nhiệm theo quan điểm  
số 07 của Hội đồng tư vấn CISG về trường  
hợp theo Điều 79.1 của Công ước. Tuy nhiên,  
không giống CISG, “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”  
lại không là căn cứ miễn trách theo quy định  
của pháp luật Việt Nam và có hệ quả pháp lý  
hoàn toàn khác với “sự kiện bất khả kháng”.  
Tuy nhiên, từ thực tiễn án lệ của CISG cho  
thấy phạm vi áp dụng về trường hợp“trở ngại  
nằm ngoài tầm kiểm soát” của CISG rộng hơn so  
với trường hợp “bất khả kháng” trong quy định  
tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 (quy định  
về thời gian không tính vào thời hiệu). Miễn  
trách nhiệm đặt ra khi có sự kiện “trở ngại nằm  
ngoài tầm kiểm soát” của CISG còn bao gồm cả  
các trường hợp do “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”  
(hardship). Theo quan điểm số 07 của Hội đồng  
tư vấn CISG cho rằng, một sự thay đổi hoàn  
cảnh khi không thể được tiên liệu một cách  
hợp lý, dẫn đến việc thực hiện hợp đồng trở  
nên vô cùng khó khăn hoàn toàn có thể được  
xem là cơ sở miễn trách nhiệm theo Điều 79  
của CISG15. Quan điểm này được xây dựng từ  
thực tiễn trong quá trình xét xử các tranh chấp  
mua bán hàng hóa quốc tế khi trên thực tế xuất  
hiện những trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ  
bản khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên  
cực kì khó khăn và bên có nghĩa vụ đưa ra yêu  
cầu được miễn trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn  
còn nhiều tranh cãi xảy ra do CISG chưa có  
quy định cụ thể về vấn đề này.  
Theo quan điểm số 07 của Hội đồng tư vấn  
CISG và thực tiễn xét xử cho thấy khi hoàn  
cảnh này xảy ra, CISG có thể miễn trách nhiệm  
cho bên vi phạm hợp đồng. Còn tại Việt Nam,  
“hoàn cảnh thay đổi cơ bản” không phải là một  
trong các căn cứ để bên vi phạm nghĩa vụ hợp  
đồng có thể được miễn trách nhiệm. Khi hoàn  
cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh  
hưởng được quyền yêu cầu bên kia đàm phán  
lại hợp đồng. Nếu đàm phán không thành, các  
bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết và kết quả  
là Tòa án có thể cho phép các bên tiến hành sửa  
đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Như vậy, đây là  
điểm rõ ràng khác biệt và có thể nói là tiến bộ  
hơn hẳn của pháp luật Việt Nam hiện hành so  
với quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế liên quan tới  
miễn trách. Bởi lẽ, thực tế cho thấy quy định  
như vậy là hoàn toàn hợp lý vì bản chất sự  
thay đổi cơ bản của hoàn cảnh không phải lúc  
nào cũng làm cho việc thực hiện hợp đồng tại  
thời điểm đó là không thể thực hiện được mà  
chỉ khiến việc thực hiện hợp đồng trở nên cực  
kì khó khăn mà thôi.  
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam, Bộ  
luật dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định  
tại Điều 420 về trường hợp “hoàn cảnh thay đổi  
cơ bản” khi hội tụ đủ các điều kiện tại khoản  
1 như sau: “(i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên  
nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;  
(ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không  
thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;  
(iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các  
bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết  
hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn  
khác;(iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không  
có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại  
nghiêm trọng cho một bên; (v) Bên có lợi ích bị ảnh  
hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong  
khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp  
đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ  
ảnh hưởng đến lợi ích.” Dựa vào các dấu hiệu  
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, mặc  
dù không có quy định rõ ràng về vai trò của  
người thứ ba trong vi phạm của bên vi phạm  
như quy định của Điều 79.2 CISG nhưng các  
quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm  
2015 và Điều 294 Luật thương mại năm 2005  
đã phần nào thể hiện quan điểm khá tương  
đồng của Việt Nam về vấn đề miễn trách. Tuy  
nhiên, Việt Nam vẫn cần tách quy định về sự  
kiện bất khả kháng ra khỏi Điều 156 Bộ luật  
dân sự năm 2015 và đưa về phần giải thích các  
thuật ngữ để mang tính chuyên nghiệp hơn  
cho Bộ luật này./.  
15ꢀ CISG Advisory Council, Exemption of Liability for  
Damages Under article 79 of the CISG. Nguồn truy cập:  
trích dẫn ngày 20/8/2019  
150 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmien_trach_nhiem_do_co_su_tham_gia_cua_ben_thu_ba_theo_cisg.pdf