Hiện tượng Treaty Shopping: Thách thức cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư
HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING:
THÁCH THỨC CHO CÁC QUỐC GIA TIẾP NHẬN ĐẦU TƯ
NGUYỄN THỊ KHÁNH*
Hiện tượng treaty shopping dù đã xuất hiện từ khá lâu, đã được nhiều luật gia trên thế giới
nghiên cứu nhưng lại ít được quan tâm ở Việt Nam. Bài viết cung cấp bức tranh tổng quan về hiện
tượng này với việc xây dựng định nghĩa, đưa ra các đặc điểm để nhận dạng hành vi treaty shopping
và đánh giá những tác động của nó tới quốc gia tiếp nhận đầu tư. Từ đó, cảnh tỉnh các quốc gia cần
có sự quan tâm đúng mực tới hiện tượng này để có tìm những biện pháp phù hợp nhằm phòng ngừa
và đối phó với hành vi treaty shopping.
Từ khóa: Treaty shopping, đầu tư quốc tế.
Ngày nhận bài: 19/8/2021; Biên tập xong: 19/8/2021; Duyệt đăng: 19/8/2021
Although treaty shopping has appeared and been studied by many international jurists for a
long time, it has received liꢀle aꢀention in Vietnam. The article generalizes this phenomenon by
building definition, giving characteristics to identify treaty shopping behavior and assessing its
impacts on the invested countries, then warn them to pay due aꢀention to this phenomenon to find
appropriate measures to prevent and deal with it.
Keywords: Treaty shopping, international investment.
1. Đặt vấn đề
có quốc tịch; hoặc trực tiếp khởi kiện nước
tiếp nhận đầu tư khi phát sinh tranh chấp.
Tuy nhiên, ở chiều hướng ngược lại, treaty
shopping tác động tiêu cực tới các quốc gia
tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là khi các NĐT lạm
dụng treaty shopping trong giải quyết tranh
chấp giữa NĐT và quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Dù được nhiều luật gia trên thế giới nghiên
cứu nhưng dường như hiện tượng này chưa
có được nhiều sự quan tâm tại Việt Nam. Bởi
vậy, trong bài viết này, tác giả sẽ trả lời câu
hỏi hiện tượng treaty shopping là gì, nó tác
động tới các quốc gia tiếp nhận đầu tư, trong
đó có Việt Nam, như thế nào?
Hiện tượng treaty shopping mặc dù đã
xuất hiện khá lâu trên trường quốc tế nhưng
vẫn đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
trong giới học thuật. Bởi lẽ, treaty shopping
không bị cấm trong các hiệp định đầu tư quốc
tế1 (International Investment Agreement,
sau đây viết tắt là “IIA”) và đem lại lợi ích
cho các nhà đầu tư (NĐT). Thông qua treaty
shopping, các NĐT, đặc biệt các NĐT là các
công ty đa quốc gia, có thể được hưởng ưu
đãi từ các IIA giữa các quốc gia mà mình
không có quốc tịch; hoặc được hưởng IIA
ưu đãi hơn IIA giữa các quốc gia mà mình
2. Khái niệm treaty shopping
2.1. Định nghĩa Treaty shopping
1ꢀ Hiệp định đầu tư quốc tế ở đây bao gồm cả các Hiệp
định đầu tư song phương, đa phương và các chương
Cho tới thời điểm hiện tại, chưa có bất
kỳ một định nghĩa chính thức nào về “treaty
shopping” được đưa ra trong luật đầu tư
quốc tế, và về nguyên tắc, hiện tượng này
cũng không bị cấm theo luật đầu tư quốc tế
vì mục đích chính xác của IIA là để khuyến
khích đầu tư. Trong khi đó, về mặt ngữ
nghĩa, ngoài “treaty shopping”, có nhiều
thuật ngữ trong tiếng Anh khác nhau được
sử dụng để biểu thị hiện tượng này, như
“nationality planning”3 (lựa chọn quốc tịch),
đầu tư trong các Hiệp định thương mại tự do.
2ꢀ Julien Chaisse (2015), The Treaty Shopping Practice:
Corporate Structuring and Restructuring to Gain Access
to Investment Treaties and Arbitration, 11 Hastings Bus.
L.J. 225, tr. 225-306, hꢁps://repository.uchastings.edu/
hastings_business_law_journal/vol11/iss2/1, truy cập
ngày 07/07/2021.
3ꢀ Rudolf Dolzer and Christoph Schreuer (2012),
Principles of International Investment Law, Oxford
University Press, 2nd edn, tr. 52.
4ꢀ Johanna Puukka (2018), Treaty shopping in
international investment law: Seꢀing limits on corporate
restructuring to gain access to investment protection, * Thạc sĩ, Giảng viên khoa Pháp luật quốc tế - Trường
University of Helsinki – master’s thesis, tr. 17.
Đại học Kiểm sát Hà Nội
Số 04 - 2021
Khoa học Kiểm sát 55
HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING:...
“corporate restructuring”4 (tái cơ cấu công
ty), hay “treaty abuse”5 (lạm dụng hiệp ước).
Các thuật ngữ này được sử dụng với hàm ý
tích cực hoặc tiêu cực, tùy thuộc vào người
sử dụng6. Tuy nhiên, riêng thuật ngữ “treaty
shopping” thường được sử dụng với nghĩa
tiêu cực nhiều hơn là nghĩa tích cực, xuất phát
từ thực tiễn áp dụng luật thuế quốc tế7.
Cho dù là sử dụng thuật ngữ nào thì về
mặt bản chất, các NĐT đều phải cố gắng có
được quốc tịch của quốc gia nào đó để được
một IIA bảo hộ bởi quốc tịch được coi là điều
kiện để quyết định một NĐT có được IIA bảo
hộ hay không8. Để xác lập quốc tịch ở những
quốc gia có IIA bảo hộ mà NĐT đang nhắm
tới, NĐT có thể thực hiện nhiều giao dịch
pháp lý khác nhau nhằm tạo ra đa quốc tịch
hoặc quốc tịch kép, thông qua cơ cấu hoặc tái
cơ cấu công ty và/hoặc viện dẫn một khoản
đầu tư hợp lệ,...9
Bên cạnh đó, có thể nói một cách ngắn gọn,
động cơ của treaty shopping là tối đa hóa sự
bảo hộ pháp lý của các IIA đang có hiệu lực.
Treaty shopping hướng tới mục đích tiếp cận
với các IIA mà đáng ra NĐT không được bảo
hộ hoặc lựa chọn một IIA với những quy định
về bảo hộ đầu tư có lợi hơn. Thậm chí, NĐT
trong nước có thể sử dụng treaty shopping để
có thể trực tiếp khởi kiện quốc gia của mình ra
trước trọng tài đầu tư quốc tế.10
Từ những phân tích trên, có thể hiểu treaty
shopping là hành vi lựa chọn quốc tịch của các nhà
đầu tư (thông qua các giao dịch pháp lý khác nhau)
nhằm tối đa hóa sự bảo hộ đầu tư của các IIA với
khả năng khởi kiện trực tiếp quốc gia tiếp nhận
đầu tư trước trọng tài quốc tế.
2.2. Đặc điểm của treaty shopping
2.2.1. Chủ thể thực hiện treaty shopping
Chủ thể thực hiện treaty shopping là NĐT
(investor) được định nghĩa trong các IIA.
NĐT có thể là thể nhân hoặc pháp nhân. Tuy
nhiên, thực tiễn cho thấy, treaty shopping chủ
yếu được thực hiện bởi pháp nhân, dù rằng
không loại trừ trường hợp thể nhân cũng thay
đổi quốc tịch hoặc xác lập quốc tịch kép (hoặc
đa quốc tịch) để có được sự bảo hộ của các
hiệp định đầu tư khác nhau. Bởi lẽ, thể nhân
thường khó có đa quốc tịch do sự hạn chế
của luật quốc tế và nhiều quốc gia áp dụng
nguyên tắc một quốc tịch. Do đó, thể nhân
thường khó tiến hành treaty shopping. Tuy
nhiên, hạn chế này chỉ là tương đối, bởi thực
tế là các thể nhân với tư cách là NĐT thường
tiến hành đầu tư thông qua các pháp nhân
(công ty trung gian); trong đó, NĐT là người
kiểm soát khoản đầu tư hạ nguồn.
5ꢀ George Kahale III, The new Dutch sandwich: The issue
of treaty abuse, Columbia FDI Perspectives, No 48
(10/10/2011), hꢁp://ccsi.columbia.edu/files/2014/01/
FDI_48.pdf, truy cập ngày 08/09/2021.
6ꢀ Thông thường, thuật ngữ ‘treaty planning’ hay
‘nationality planning’ được sử dụng với hàm ý là hành
vicóthểchấpnhậnđược, ‘treatyabuse’làhànhvikhông
thể chấp nhận được. Xem thêm Jorun Baumgartner
(2016), Treaty shopping in International investment law,
Oxford University Press, United Kingdom, tr. 7.
7ꢀ Các công ty mẹ thành lập các công ty con ở các quốc
gia hoặc vùng lãnh thổ được coi là ‘thiên đường thuế’
(‘tax haven’) với mục đích duy nhất là lợi dụng các
hiệp định thuế quốc tế để tránh bị đánh thuế hoặc để
được hưởng mức thuế có lợi hơn. Xem thêm Johanna
Puukka (2018), tr. 17.
8ꢀ Đào Kim Anh, Trịnh Quang Hưng (2017), Hiện
tượng Treaty shopping trong giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế: phân tích vụ việc Philip Morris kiện chính phủ Úc
và liên hệ với Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số
92 (03/2017), tr. 57-72.
Để thực hiện treaty shopping, thể nhân
hoặc pháp nhân phải đáp ứng đủ các tiêu chí
để trở thành NĐT theo quy định của các IIA.
Có thể nói, quốc tịch chính là chìa khóa của cả
thể nhân và pháp nhân để thâm nhập được
vào một IIA hướng tới sự bảo hộ đầu tư11 bởi
hầu hết các hiệp định đầu tư sử dụng quốc
9ꢀ Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 12.
10ꢀ Về nguyên tắc, chỉ các NĐT đầu tư nước ngoài mới
được quyền trực tiếp khởi kiện quốc gia tiếp nhận
đầu tư. NĐT trong nước không có được quyền này.
Xem thêm Nikiema Suzy H. (2012), Best practices:
Definition of investor, International Institution for 11ꢀ M. Skinner, C.A. Miles, S. Luꢁrell (2010), Access and
Sustainable Development, tr. 4, hꢁps://www.iisd.org/ advantage in investor-state arbitration: The law and practice
system/files/publications/best_practices_definition_ of treaty shopping, Journal of World energy law &
of_investor.pdf truy cập ngày 11/07/2021.
business, vol3. No.3, Oxford University Press, tr. 270.
56 Khoa học Kiểm sát
Số 04 - 2021
NGUYỄN THỊ KHÁNH
tịch là cơ sở để xác định NĐT12. Tuy nhiên, các công ty danh nghĩa)16.
IIA thường đưa ra định nghĩa NĐT khá rộng,
đặc biệt quốc tịch của NĐT pháp nhân được
xác định bằng các tiêu chí khác nhau, như nơi
thành lập, trụ sở, hay nơi kiểm soát,…13 Điều
này tạo điều kiện cho các NĐT có được quốc
tịch cần thiết, từ đó thực hiện hành vi treaty
shopping một cách dễ dàng.
2.2.3. Mục đích của treaty shopping
Mục đích của treaty shopping là tối đa hóa
sự bảo hộ pháp lý của các IIA đang có hiệu
lực, cụ thể:
- NĐT tìm kiếm sự bảo hộ mà đáng ra
không có được từ các hiệp định. Ví dụ, NĐT
của quốc gia A (không có IIA với quốc gia B)
có thể được bảo hộ bởi IIA giữa quốc gia B và
C bằng cách xác lập quốc tịch tại quốc gia C
thông qua cơ cấu khoản đầu tư;
- NĐT tìm cách hưởng lợi từ những nội
dung bảo hộ riêng biệt có lợi hơn trong các
hiệp định. Ví dụ, NĐT của quốc gia A (có IIA
với quốc gia B) có thể cấu trúc khoản đầu tư
để xác lập quốc tịch của quốc gia C để nhận
được sự bảo hộ của IIA giữa quốc gia B và C
vì IIA này có nhiều điều khoản có lợi hơn cho
NĐT;
- NĐT tìm kiếm lợi ích từ quy định về thủ
tục hoặc quy định khác trong các điều khoản
về giải quyết tranh chấp của một hiệp định cụ
thể. Thậm chí, NĐT trong nước có thể cơ cấu
khoản đầu tư của mình để xác lập quốc tịch
của quốc gia B đã kí IIA với quốc gia mình để
có thể khởi kiện chính quốc gia của mình ra
trọng tài quốc tế.
2.2.4. Cách thức thực hiện treaty shopping
Để thực hiện treaty shopping, các NĐT
thường tìm cách tạo quốc tịch kép hoặc đa
quốc tịch để được coi là NĐT được một IIA
bảo hộ. Cơ cấu hoặc tái cơ cấu công ty là cách
thức chính để công ty có đa quốc tịch và từ đó
NĐT được bảo hộ bởi những hiệp định đầu
tư có lợi hơn. Thực tế cho thấy, NĐT có thể có
được quốc tịch mong muốn theo một trong
hai cách cơ bản sau:
- NĐT thành lập một pháp nhân “danh
nghĩa” tại quốc gia mà mình đang muốn
có quốc tịch. Cách thức này được sử dụng
rộng rãi trên thực tế bởi các NĐT và không
hiếm gặp trên thực tế, thể hiện qua nhiều vụ
việc điển hình, như Tidewater v Venezuela17
2.2.2. Đối tượng của treaty shopping
Đối tượng của treaty shopping là khoản
đầu tư (investment) – tài sản được IIA bảo
vệ14. Tương tự như NĐT, khoản đầu tư muốn
được bảo hộ cũng phải được định nghĩa trong
IIA. Việc xác định khoản đầu tư nào được IIA
bảo hộ cũng phức tạp bởi có nhiều cách định
nghĩa khoản đầu tư khác nhau được đưa ra
trong các IIA khác nhau.
Nếu như khi xác định NĐT được bảo hộ,
các IIA thường dựa trên cơ sở là quốc tịch thì
phần lớn các hiệp định đầu tư dựa trên tài
sản để định nghĩa đầu tư15. Tuy nhiên, các
loại tài sản tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau và ngày càng gia tăng theo thời gian,
khiến cho “đầu tư” trở thành một thuật ngữ
mở và mơ hồ. Bên cạnh đó, một số IIA định
nghĩa đầu tư rất rộng, cho phép bảo hộ đối
với cả những khoản đầu tư trực tiếp và đầu
tư gián tiếp. Trong trường hợp NĐT là một
tập đoàn với cấu trúc phức tạp, việc bảo hộ
cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp có thể dẫn tới
nhiều chủ thể có quyền khởi kiện quốc gia
tiếp nhận đầu tư (thông qua việc lập ra các
12ꢀ UNCTAD (2011), Scope and Definition, UNCTAD
Series on Issues in Interntional Investments
II, UNCTAD/DIAE/IA/2010/2, United Nations
Publication, Swiꢂerland, tr. 5.
13ꢀ Ví dụ Hiệp định đầu tư song phương giữa Hà Lan
và Burundi sử dụng duy nhất một tiêu chí để xác định
NĐT pháp nhân là nơi thành lập (Điều 1.b); Hiệp định
đầu tư song phương giữa Bangladesh và Đức sử dụng
dấu hiệu trụ sở để xác định NĐT được bảo hộ (Điều
8.4.a); Hiệp định đầu tư song phương giữa Burkina
Faso và Chad quy định NĐT được bảo hộ là “pháp
nhân được thành lập theo pháp luật của bất kỳ quốc
gia nào, được kiểm soát, một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp, bởi công dân của một bên ký kết,…” (Điều 1.2).
14ꢀ UNCTAD (2011), tlđd, tr. 6.
16ꢀ UNCTAD (2011), tlđd, tr.12-13.
17ꢀ Tidewater Inc, Tidewater Investment SRL, Tidewater
Caribe, CA, Twenty Grand Offshore, LLC, Point Marine,
LLC, Twenty Grand Marine Service, LLC, Jackson Marine,
LLC and Zapata Gulf Marine Operators, LLC v Bolivarian
Republic of Venezuela, ICSID Case No ARB/10/5, Decision
15ꢀ UNCTAD (2011), tlđd, tr.5.
Số 04 - 2021
Khoa học Kiểm sát 57
HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING:...
và Lao Holdings NV v Lao Peoples Democratic Commonwealth of Australia25, hay Mihaly v Sri
Republic18,… Khi áp dụng cách thức này, Lanka26, hoặc Loewen Group and Raymond Loewen
v United States27. Thực tiễn này phát triển đến
mức hình thành khái niệm “buôn bán quyền
khởi kiện BIT” (“trafficking in BIT claims”).28
2.2.5. Thời điểm thực hiện treaty shopping
Treaty shopping có thể được thực hiện
vào thời điểm trước hoặc sau khi phát sinh
tranh chấp giữa NĐT và quốc gia tiếp nhận
đầu tư, bao gồm:
Treaty shopping tiền tranh chấp (pre-dispute
treaty shopping) được thực hiện khi NĐT
chưa xảy ra tranh chấp với quốc gia tiếp nhận
đầu tư. NĐT cơ cấu khoản đầu tư của mình
để được bảo hộ bởi một BIT có lợi hơn trong
suốt quá trình đầu tư hoặc thậm chí trước
khi bắt đầu tiến hành đầu tư ở quốc gia tiếp
nhận đầu tư. Thực tiễn cho thấy, khi thực
hiện treaty shopping tiền tranh chấp, NĐT sẽ
chiếm ưu thế hơn nếu có tranh chấp với quốc
gia tiếp nhận đầu tư, như trong vụ Tidewater
Investment and Tidewater Caribe v Venezuela29;
Treatyshoppinghậutranhchấp(post-dispute
treaty shopping) được NĐT thực hiện sau khi
tiến hành hoạt động đầu tư và khi tranh chấp
đã phát sinh. Khi đó, NĐT cố gắng có được
quốc tịch cần thiết để được bảo hộ bởi một BIT
có điều khoản cho phép NĐT khởi kiện quốc
gia tiếp nhận đầu tư trước trọng tài quốc tế
quốc gia “mục tiêu” mà NĐT lựa chọn để
thành lập pháp nhân danh nghĩa thường là
các quốc gia có chính sách ưu đãi cho việc
mở công ty, thủ tục đơn giản, chi phí thấp,
và tích cực tham gia ký kết IIA với nhiều
quốc gia khác trên thế giới19;
- NĐT chuyển nhượng khoản đầu tư
của mình cho một công ty đang hoạt động
mà được coi là có quốc tịch theo quy định
của IIA mà NĐT đang nhắm tới. Cách thức
này còn được biết đến với tên gọi là “chuyển
quyền khởi kiện” (“transfer of claims”)20 hay
“phương thức phoenix” (“phoenix option”)21.
Dù với tên gọi nào, về cơ bản, cách thứ hai này
được NĐT sử dụng khi đã phát sinh tranh
chấp với quốc gia tiếp nhận đầu tư và NĐT
cảm thấy rằng họ không nhận được sự bảo hộ
pháp lý do quốc tịch của mình. Trên thực tế,
NĐT chuyển quyền khởi kiện của mình cho
một NĐT khác với cơ hội chiến thắng cao hơn
trước quốc gia tiếp nhận đầu tư bởi sự bảo hộ
của BIT chỉ dành cho NĐT có quốc tịch22.
Thực tế cho thấy, cách chuyển quyền khởi
kiện được các NĐT áp dụng ít hơn so với cách
đầu tiên23 do cách thức này tiềm ẩn nhiều rủi
ro hơn. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều những
vụ việc ISDS được khởi động bởi các NĐT
theo cách thức này, ví dụ Phoenix Action Ltd v
Czech Republic24, Philip Morris Asia Limited v the
25ꢀ Philip Morris Asia Limited v the Commonwealth of
Australia, UNCITRAL, PCA case no. 2012-12, Award
on Jurisdiction and Admissibility 17 December 2015,
files/case-documents/italaw7303_0.pdf, truy cập
ngày 13/07/2021.
on Jurisdiction (8 February 2013) đoạn 184, hꢁp://icsidfiles.
worldbank.org/icsid/ICSIDBLOBS/OnlineAwards/C961/
DC2972_En.pdf truy cập ngày 12/07/2021.
18ꢀ Lao Holdings NV v The Lao People’s Democratic
Republic, ICSID Case No ARB(AF)12/6, Decisionon
Jurisdiction (21 February 2014), hꢁps://www.italaw.
com/sites/default/files/case-documents/italaw3108.
pdf, truy cập ngày 12/07/2021.
26ꢀ Mihaly International Corporation v Democratic
Socialist Republic of Sri Lanka, ICSID Case No.
ARB/00/2, Award (15 March 2002), hꢁps://www.
19ꢀ Đào Kim Anh, Trịnh Quang Hưng (2017), tlđd, tr. 57-72. italaw.com/sites/default/files/case-documents/
20ꢀ Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 14-15.
ita0532.pdf, truy cập ngày 13/07/2021.
21ꢀ Xuất phát từ vụ kiện Phoenix Action Ltd v Czech 27ꢀ Loewen Group Inc and Raymond Loewen v United
Republic, xem thêm M. Skinner, C.A. Miles, S. Luꢁrell States of America, ICSID Case No. ARB(AF)/98/3,
(2010), tr. 269.
Award (26 June 2003), hꢁps://www.italaw.com/sites/
default/files/case-documents/ita0470.pdf, truy cập
ngày 13/07/2021.
22ꢀ Nikiema Suzy H. (2012), tlđd, tr.4.
23ꢀ Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 14-15.
24ꢀ Phoenix Action Ltd v The Czech Republic, ICSID 28ꢀ M. Skinner, C.A. Miles, S. Luꢁrell (2010), tlđd, tr. 269.
Case No ARB/06/5, Award (15 April 2009), hꢁps:// 29ꢀ Tidewater Investment SRL and Tidewater Caribe
ita0668.pdf, truy cập ngày 14/07/2021.
No ARB/10/5, Decision on Jurisdiction (8 February 2013).
58 Khoa học Kiểm sát
Số 04 - 2021
NGUYỄN THỊ KHÁNH
và/hoặc cho phép NĐT có cơ hội chiến thắng cấu lại khoản đầu tư để được quyền khởi kiện
cao hơn trước quốc gia tiếp nhận đầu tư.
So với treaty shopping tiền tranh chấp,
treaty shopping hậu tranh chấp dường như
đem lại cơ hội được bảo hộ bởi IIA mong
trực tiếp Chính phủ của mình trước trọng tài
quốc tế. Nguyên tắc có đi có lại trong trường
hợp này được hiểu là quốc gia tiếp nhận đầu
tư phải nhận được một lợi ích nào đó (chính là
manh hơn cho các NĐT, như trong vụ Phoenix khoản đầu tư nước ngoài vào quốc gia mình)
Action Ltd v Czech Republic30.
3. Tác động của treaty shopping đối với
quốc gia tiếp nhận đầu tư
Mặc dù không được coi là một hành vi vi
phạm pháp luật quốc tế cũng như không bị
cấm trong các IIA nhưng treaty shopping tác
động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Cụ thể:
khi đánh đổi quyền miễn trừ tư pháp để bị xét
xử trước trọng tài quốc tế. Trong khi đó, về
mặt bản chất, khoản đầu tư này vốn là khoản
đầu tư trong nước, tranh chấp xảy ra hoàn
toàn là tranh chấp nội bộ, quốc gia tiếp nhận
đầu tư không nhận lại được bất kỳ lợi ích nào
cho sự đánh đổi của mình.
Thứ ba, treaty shopping làm gia tăng nguy
Thứ nhất, phạm vi bảo hộ của IIA bị mở cơ bị khởi kiện trước trọng tài đầu tư quốc tế
rộng theo hướng không dự đoán được trước
và vượt quá sự đồng thuận (consent) của các
quốc gia thành viên IIA do NĐT của quốc
gia thứ ba không phải là thành viên IIA cũng
có thể tiếp cận với những ưu đãi về đầu tư
mà các quốc gia thành viên dành cho NĐT
của mình31. Có thể nói, treaty shopping làm
giảm đi tính chắc chắn của pháp luật (legal
certainty) khi bản thân quốc gia ký kết IIA
cũng không lường trước được một cách chính
xác phạm vi cam kết của mình trong các điều
ước đó32.
Thứ hai, nguyên tắc có đi có lại chỉ áp dụng
giữa các bên liên quan bị phá vỡ khi mà quốc
gia tiếp nhận đầu tư phải thực hiện cam kết
bảo hộ đối với NĐT của một quốc gia thứ ba
trong khi quốc gia đó không có bất kỳ nghĩa
vụ nào theo IIA33. Nói một cách khác, quốc gia
thành viên IIA phải tiến hành bảo hộ đối với
NĐT của quốc gia thứ ba, trong khi quốc gia
thứ ba không có nghĩa vụ bảo hộ đối với NĐT
của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Bởi lẽ Chính
phủ nước tiếp nhận đầu tư phải đối mặt với
các khiếu kiện từ cả những NĐT mà ban đầu
không có quyền khởi kiện theo IIA. Thậm chí,
ngay cả các NĐT trong nước cũng có thể khởi
kiện chính nhà nước mình như trong vụ Tokios
Tokeles v Ukraine35. Ngoài ra, các NĐT nước
ngoài có thể viện dẫn nhiều IIA cho cùng một
tranh chấp, do đó, quốc gia tiếp nhận đầu tư
có thể phải đứng trước rất nhiều vụ kiện đối
với cùng một khoản đầu tư và cùng một tranh
chấp36. Bất lợi này đã được chứng minh trên
thực tế qua vụ CME v Czech Republic và Lauder
v Czech Republic. Cộng hòa Séc đã phải đối
mặt với hai vụ kiện do hai chủ thể khác nhau
khởi xướng với cùng một tranh chấp37. Như
vậy, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể phải đối
mặt với những vụ tranh chấp nằm ngoài dự
thesis – University of Amsterdam, tr. 35-36, hꢁp://arno.
uva.nl/document/621905 truy cập ngày 16/07/2021.
của một trong các quốc gia thành viên IIA đó. 35ꢀ Tokios Tokeles v Ukraine, Case no. ARB/01/18,
Nguyên tắc có đi có lại còn bị ảnh hưởng trong
trường hợp một vụ tranh chấp trong nước bị
quốc tế hóa34 khi NĐT trong nước cố tình cơ
default/files/case-documents/ita0866.pdf, truy cập
ngày 21/07/2021.
36ꢀ Ngô Quốc Chiến (2017), Hiện tượng trục lợi các quy
30ꢀ Phoenix Action Ltd v Czech Republic, ICSID Case định về bảo hộ đầu tư thông qua kỹ thuật Treaty shopping,
No ARB/06/5, Award (15 April 2009).
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2017, trang 43-55.
31ꢀ Xem thêm Đào Kim Anh, Trịnh Quang Hưng 37ꢀ N. Bernasconi-Osterwalder & L. Johnson (edited)
(2017), tlđd, tr. 57-72.
(2011), Internatinal investment law and sustainable
development: Key cases from 2000-2010, International
32ꢀ Nikiema Suzy H., (2012), tlđd, tr.6.
33ꢀ Utku Topcan (2014), Abuse of the right to access Institute for Sustainable Development (IISD), tr. 33-
ICSID arbitration, ICSID review, no. 29/3, tr. 627-647. 41, hꢁps://www.iisd.org/system/files/publications/
34ꢀ J. Primec, Enemy of the state: is treaty shopping in int_investment_law_and_sd_key_cases_2010.pdf,
contradiction with the rationale of investment law?, Master truy cập ngày 15/07/2021.
Số 04 - 2021
Khoa học Kiểm sát 59
HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING:...
tính của IIA mà quốc gia đó kí kết.
NĐT nước ngoài và do đó làm tăng nguy cơ
bị khởi kiện42. Bên cạnh đó, nắm bắt được nỗi
lo sợ của các quốc gia trước nguy cơ bị kiện,
các NĐT có thể tiến hành các cuộc thương
lượng không chính thức với các chính phủ
nhằm mục đích dàn xếp các khoản thanh
toán hoặc giảm bớt các biện pháp quản lý (dự
kiến)43. Trong năm 1994 và 2001, Canada đã
phải dừng việc ban hành quy định về hạn
chế thuốc lá vì nguy cơ bị ngành công nghiệp
thuốc lá khởi kiện theo chương 11 NAFTA44.
Mặc dù tác động này của treaty shopping còn
đang gây tranh cãi và rất khó để có thể chứng
minh được nhưng đây cũng là một trong số
những khả năng có thể xảy ra45, nhất là khi đã
có những ví dụ thực tế chứng minh.
Bên cạnh những tác động cơ bản nêu trên,
treaty shopping có thể gây ra những tác động
tiêu cực khác đối với quốc gia tiếp nhận đầu
tư. Một số ý kiến cho rằng treaty shopping
làm nảy sinh tình trạng “cạnh tranh” của các
hiệp định đầu tư, có thể làm thay đổi định
hướng đàm phán hiệp ước của các quốc
gia46. Khi đó, các quốc gia phải đàm phán
những hiệp định có các quy định về thủ tục
và nội dung hấp dẫn hơn với các NĐT nhằm
thu hút đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, treaty
shopping tác động tiêu cực tới sân chơi bình
đẳng giữa NĐT nước ngoài và NĐT trong
nước, nhất là đối với các NĐT vừa và nhỏ47.
Bởi lẽ, các NĐT lớn là các công ty đa quốc
gia có thể dễ dàng tái cấu trúc công ty để có
được quốc tịch của một quốc gia nhất định,
Thứ tư, ngân sách của quốc gia tiếp nhận
đầu tư đứng trước nguy cơ bị thâm hụt. Khi
vướng vào các vụ kiện, dù thắng hay thua,
quốc gia bị khởi kiện vẫn phải chịu gánh nặng
chi phí nặng nề, nhất là khi quốc gia tiếp nhận
đầu tư có nguy cơ phải đứng trước rất nhiều
vụ kiện với cùng một khoản đầu tư và cùng
một tranh chấp. Ngân sách quốc gia đứng
trước nguy cơ bị thâm hụt bởi những khoản
đền bù hoặc chi phí trọng tài và các khoản
chi phí khác như phí cho cố vấn pháp lý, phí
thuê chuyên gia, thậm chí phí sử dụng cơ sở
vật chất của cơ quan trọng tài38. Trung bình,
các quốc gia bị thua kiện phải bồi thường cho
NĐT khoảng 81,4 triệu USD39, nhưng cũng có
trường hợp lên tới 50 tỷ USD như trong vụ
Yukos Universal Limited (Isle of Man) v. Russian
Federation40. Trong khi đó, khoản tiền này có
thể được sử dụng cho mục tiêu phát triển bền
vững mà Liên Hợp Quốc đưa ra41.
Thứ năm, treaty shopping có thể làm suy
giảm sự điều tiết/quản lý của Chính phủ liên
quan đến lĩnh vực đầu tư. Điều này thể hiện
qua việc Chính phủ gặp khó khăn trong việc
ban hành quy định liên quan đến sức khỏe
cộng đồng, an sinh xã hội và bảo vệ môi
trường vì có thể ảnh hưởng tới quyền của
38ꢀ Xem Điều 59, 60(1), 61(2) ICSID Convention and
Administrative and Financial Provisions. Xem thêm
D. Rosert (2014), The Stakes are high: A review of the
financial costs of investment treaty arbitration, International
Institute for Sustainable Development (IISD).
39ꢀ Hodgson, M. (2014), Investment treaty arbitration: How
much does it cost? How long does it take?, hꢁp://www.
allenovery.com/publications/en-gb/Pages/Investment-
Treaty-Arbitration-How-much-does-it-cost-How-long-
does-it-take-.aspx truy cập ngày 30/06/2021.
42ꢀ J. Primec, tlđd, tr. 34.
43ꢀ Gallagher, K.P., & Shrestha E. (2011), Investment treaty
arbitration and developing countries: A re-appraisal, Global
Development and Environmental Institute, Working
Paper No. 11-01, Xem tại hꢁp://ase.tufts.edu/gdae/
Pubs/wp/11-01TreatyArbitrationReappraisal.pdf, tr.5.
44ꢀ Kyle Tienhaara (2011), Regulatory Chill and the Threat
of Arbitration, in Chester Brown and Kate Miles (eds),
Evolution in Investment Treaty Law and Arbitration,
Cambridge University Press, 606, 608.
40ꢀ Yukos Universal Limited (Isle of Man) v. Russian
Federation, UNCITRAL (PCA Case No. AA 227);
Veteran Petroleum Limited (Cyprus) v. Russian
Federation, UNCITRAL (PCA Case No. AA 228);
Hulley Enterprises Ltd. (Cyprus) v. Russian
Federation, UNCITRAL (PCA Case No. AA 226). The
Final Awards of 18 July 2014 xem tại hꢁp://www.
pca-cpa.org/showpage.asp?pag_id=1599. Các bên
khởi kiện là Hulley Enterprises được hưởng 39,97 tỷ
USD, Veteran Petroleum được 8,2 tỷ USD và Yukos
45ꢀ Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 65.
46ꢀ Gaukrodger, D. & K. Gordon (2012), Investor-State
DisputeSeꢀlement:AScopingPaperfortheInvestmentPolicy
Community, OECD Working Papers on International
Universal được 1,85 tỷ USD, tổng cộng là 50 tỷ USD. Investment, No. 2012/03, OECD Publishing, tr. 57.
41ꢀ Xem thêm Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 59-60. 47ꢀ Jorun Baumgartner (2016), tlđd, tr. 63-64.
60 Khoa học Kiểm sát
Số 04 - 2021
NGUYỄN THỊ KHÁNH
5. George Kahale III, The new Dutch sandwich: The
issue of treaty abuse, Columbia FDI Perspectives, No 48
(10/10/2011);
6. Hodgson, M. (2014), Investment treaty arbitration:
How much does it cost? How long does it take?, hꢁp://
Investment-Treaty-Arbitration-How-much-does-it-
cost-How-long-does-it-take-.aspx;
và có đủ nguồn lực tài chính để chi trả cho
những khoản phí tư vấn cấu trúc doanh
nghiệp cũng như tham gia vào quá trình
tố tụng tại trọng tài quốc tế. Trong khi đó,
các công ty vừa và nhỏ dường như khó có
thể thực hành treaty shopping do không có
những lợi thế đó.
Với những tác động nêu trên, các quốc
gia cần có sự quan tâm đúng mực tới hiện
tượng treaty shopping và có những biện
pháp thích hợp nhằm ngăn ngừa và đối
phó với hiện tượng này. Một trong những
công việc mà các quốc gia nên thực hiện là
nghiên cứu các vụ tranh chấp thực tế giữa
NĐT và quốc gia tiếp nhận đầu tư được giải
quyết bởi trọng tài đầu tư quốc tế bởi đây
là hiện tượng còn đang tranh cãi và các hội
đồng trọng tài đầu tư có cách tiếp cận khác
nhau đối với hiện tượng này. Việc nghiên
cứu các phán quyết của trọng tài có thể giúp
các quốc gia nắm bắt được quan điểm của
trọng tài để từ đó: (i) Đàm phán các IIA
với những quy định về NĐT, khoản đầu
tư được IIA bảo hộ và các điều khoản khác
nhằm hạn chế sự lạm dụng hiệp ước của
NĐT một cách rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ;
(ii) Rút ra những kinh nghiệm trong thu
thập chứng cứ, lập luận khi bị khởi kiện; và
(iii) Lựa chọn được trọng tài viên giải quyết
tranh chấp phù hợp./.
7. J. Primec, Enemy of the state: is treaty shopping
in contradiction with the rationale of investment law?,
Master thesis – University of Amsterdam, tr. 35-36,
hꢁp://arno.uva.nl/document/621905;
8. Johanna Puukka (2018), Treaty shopping in
international investment law: Seꢀing limits on corporate
restructuring to gain access to investment protection,
University of Helsinki – master’s thesis;
9. Jorun Baumgartner (2016), Treaty shopping in
International investment law, Oxford University Press,
United Kingdom;
10. Julien Chaisse (2015), The Treaty Shopping
Practice: Corporate Structuring and Restructuring to
Gain Access to Investment Treaties and Arbitration, 11
Hastings Bus. L.J. 225, tr. 225-306;
11. Kyle Tienhaara (2011), Regulatory Chill and the
Threat of Arbitration, in Chester Brown and Kate Miles
(eds), Evolution in Investment Treaty Law andArbitration,
Cambridge University Press;
12. M. Skinner, C.A. Miles, S. Luꢁrell (2010),
Access and advantage in investor-state arbitration: The law
and practice of treaty shopping, Journal of World energy
law & business, vol3. No.3, Oxford University Press;
13. N. Bernasconi-Osterwalder & L. Johnson
(edited) (2011), Internatinal investment law and
sustainable development: Key cases from 2000-2010,
International Institute for Sustainable Development
int_investment_law_and_sd_key_cases_2010.pdf;
14. Ngô Quốc Chiến (2017), Hiện tượng trục lợi
các quy định về bảo hộ đầu tư thông qua kỹ thuật Treaty
shopping, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2017,
trang 43-55;
15. Nikiema Suzy H. (2012), Best practices: Definition
of investor, International Institution for Sustainable
publications/best_practices_definition_of_investor.pdf;
16. Rudolf Dolzer and Christoph Schreuer
(2012), Principles of International Investment Law,
Oxford University Press, 2nd edn;
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. D. Rosert (2014), The Stakes are high: A review
of the financial costs of investment treaty arbitration,
International Institute for Sustainable Development
(IISD);
2. Đào Kim Anh, Trịnh Quang Hưng (2017), Hiện
tượng Treaty shopping trong giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế: phân tích vụ việc Philip Morris kiện chính phủ Úc
và liên hệ với Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 92
(03/2017), tr. 57-72;
3. Gallagher, K.P., & Shrestha E. (2011), Investment
treaty arbitration and developing countries: A re-appraisal,
Global Development and Environmental Institute,
Working Paper No. 11-01, Xem tại hꢁp://ase.tufts.edu/
gdae/Pubs/wp/11-01TreatyArbitrationReappraisal.pdf;
4. Gaukrodger, D. & K. Gordon (2012), Investor-
State Dispute Seꢀlement: A Scoping Paper for the
Investment Policy Community, OECD Working
PapersonInternationalInvestment,No.2012/03,OECD
Publishing.
17. UNCTAD (2011), Scope and Definition,
UNCTAD Series on Issues in Interntional Investments
II, UNCTAD/DIAE/IA/2010/2, United Nations
Publication, Swiꢂerland;
18. Utku Topcan (2014), Abuse of the right to access
ICSID arbitration, ICSID review, no. 29/3, tr. 627-647.
Số 04 - 2021
Khoa học Kiểm sát 61
Bạn đang xem tài liệu "Hiện tượng Treaty Shopping: Thách thức cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hien_tuong_treaty_shopping_thach_thuc_cho_cac_quoc_gia_tiep.pdf

