Hoàn thiện pháp luật về tích tụ đất nông nghiệp để tạo tiền đề phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÍCH TỤ ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ TẠO  
TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI, QUY MÔ LỚN  
Châu Hoàng Thân*  
*ThS. Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Thiết lập hành lang pháp lý toàn diện bảo đảm cho quá trình tập trung,  
tích tụ đất đai trong sản xuất nông nghiệp quy mô, hiện đại là tiền đề  
quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền vững. Vì vậy, Luật Đất đai  
năm 2013 cần được bổ sung những quy định mang tính nguyên tắc, chủ  
đạo tạo cơ sở hình thành khuôn khổ pháp lý về tập trung, tích tụ đất đai.  
Song song đó, vai trò của công tác quy hoạch, thúc đẩy phát triển các dự  
án phi nông nghiệp để giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn, khu vực  
ven đô thị sẽ góp phần tích cực trong giảm thiểu những tác động không  
mong muốn của quá trình tích tụ đất đai. Đổi mới pháp luật về tập trung,  
tích tụ đất đai sẽ tạo động lực mạnh mẽ thu hút nguồn lực kinh tế tư nhân  
trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam nhưng cũng đặt ra không ít  
những thách thức cho quá trình quản lý, điều tiết xã hội của Nhà nước.  
Từ khóa: Tích tụ đất đai, kinh tế  
nông nghiệp, đất nông nghiệp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/5/2021  
: 16/6/2021  
: 19/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Establishment of a comprehensive legal corridor to ensure the process  
of concentration and land accumulation in modern and large-scale  
agricultural production is an important premise for stable and sustainable  
development. The Law on Land of 2013 needs to be supplemented  
with provisions on principles as legal grounds for forming a legal  
framework on land concentration and land accumulation. Also, the  
role of planning and promoting the development of non-agricultural  
projects to employment generation in rural areas and peri-urban areas  
will contribute significant mitigation of the negative impacts in the  
process of land accumulation. Improvement of legal regulations on land  
concentration and land accumulation will provide a strong impetus to  
attract the private economic resources in agricultural development in  
Vietnam, but also give out challenges for the process of management  
and administration of the society by the Governement.  
Keywords: Land accumulation,  
agricultural  
economy,  
agricultural land.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 May 2021  
: 16 Jun 2021  
: 19 Jun 2021  
Approved  
mún đất đai1. Theo tác giả Nguyễn Đình  
Bồng và Nguyễn Thị Thu Hồng, tích tụ  
ruộng đất là sự mở rộng quy mô diện tích  
đất đai do hợp nhất nhiều thửa lại, đây  
được xem là cơ sở đầu tiên để phát triển  
kinh tế hộ gia đình trong thời kỳ quá độ  
chuyển từ sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp  
1. Sự cần thiết phải đổi mới chính sách,  
pháp luật về tích tụ đất đai cho sản xuất  
nông nghiệp ở Việt Nam  
Theo tổ chức Lương thực và Nông  
nghiệp Liên hợp quốc, tích tụ đất nông  
nghiệp là quá trình phân bổ lại các mảnh  
đất nhằm loại bỏ hạn chế tình trạng manh  
1
Food and Agriculture Organization of the United Nations (2003), The design of land consolidation pilot  
Số 16(440) - T8/2021  
27  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
lên sản xuất hàng hóa quy mô lớn thông  
qua các giao dịch chuyển nhượng, thừa  
kế, tặng cho quyền sử dụng đất2. Dự thảo  
Nghị định của Chính phủ quy định về tập  
trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông  
nghiệp được công bố công khai trên Cổng  
thông tin điện tử của Chính phủ ngày  
22/10/20193 đã đưa ra 02 phương án về  
khái niệm tích tụ đất nông nghiệp: Một là,  
tích tụ đất nông nghiệp là việc tăng diện  
tích đất nông nghiệp của người sử dụng  
đất thông qua hình thức nhận chuyển  
nhượng, nhận góp vốn bằng quyền sử  
dụng đất của những người sử dụng đất  
khác; Hai là, tích tụ đất nông nghiệp là  
việc tăng diện tích đất nông nghiệp của  
người sử dụng đất thông qua hình thức  
nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chung  
quy lại, tích tụ đất đai là quá trình chuyển  
dịch đất đai của người sử dụng đất nhằm  
làm tăng quy mô diện tích đất thông qua  
các giao dịch làm chuyển quyền sử dụng  
đất. Cùng với tích tụ đất đai, tập trung đất  
đai cũng là một phương thức mở rộng quy  
mô diện tích đất nông nghiệp, nhưng sự  
khác biệt cơ bản là việc tập trung đất đai  
sẽ không làm chuyển quyền của người sử  
dụng đất, hay nói cách khác, đó là phương  
thức gom đất lại cùng canh tác nhưng  
không chuyển quyền sử dụng đất. Xét về  
sự ảnh hưởng, tập trung đất đai ít gây nên  
tác động tốt trong đời sống xã hội nhưng  
lại thiếu tính bền chặt, sự chắc chắn và  
hạn chế khả năng tổ chức sản xuất, vốn  
hóa đất đai so với phương thức tích tụ đất  
đai. Những hạn chế trong hoạt động của  
mô hình hợp tác xã theo phương thức tập  
trung đất đai4 cho thấy sự cần thiết của  
tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp  
ở nước ta.  
Tích tụ đất đai mở rộng quy mô sản xuất  
nông nghiệp ở Việt Nam là một trong những  
chính sách đột phá được thể hiện lần đầu tại  
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008  
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung  
ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông  
dân, nông thôn. Tiếp đến, Nghị quyết số  
19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị  
lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng  
khóa XI khẳng định sẽ mở rộng hạn mức  
nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp  
để thích hợp với từng vùng và điều kiện sản  
xuất. Điều này đã được cụ thể hóa trong  
Luật Đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, Quyết  
định số 1832/QĐ-TTg ngày 18/11/2020 ban  
hành khung hành động đổi mới cơ chế, chính  
sách đối với Vùng Đồng bằng Sông Cửu  
Long đã xác định tích tụ đất nông nghiệp  
là một chính sách quan trọng, là tiền đề tạo  
nên sự bức phá trong phát triển nông nghiệp  
của Vùng. Quan điểm, chủ trương này thể  
hiện định hướng đổi mới mở rộng hạn điền  
cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Sự phát  
triển của kinh tế, những chuyển biến của xã  
hội nước ta hiện nay cho thấy, việc mở rộng  
tích tụ đất nông nghiệp là xu hướng tất yếu  
cho sự hình thành và phát triển các mô hình  
kinh tế nông nghiệp hiện đại.  
Tính tất yếu đặt ra yêu cầu đổi mới chính  
sách, pháp luật về tích tụ đất đai cho sản  
xuất nông nghiệp ở Việt Nam được thể hiện  
trên ba phương diện cơ bản sau:  
2 Nguyễn Đình Bồng - Nguyễn Thị Thu Hồng (2017), “Một số vấn đề tích tụ, tập trung đất đai trong phát triển  
nông nghiệp và nông thôn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 39.  
3 Dự thảo Nghị định quy định về tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp được công bố tại http://  
chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/congdan/DuThaoVanBan?_piref135_27935_135_27927_27927.  
mode=detail&_piref135_27935_135_27927_27927.id=3255, truy cập ngày 01/5/2021.  
4 Bích Ngọc (2020), “Hợp tác xã nông nghiệp tìm hướng phát triển bền vững: hoạt động của hợp tác xã còn nhiều  
ben-vung-hoat-dong-cua-hop-tac-xa-con-nhieu-kho-khan-bai-1-5684742/, truy cập ngày 20/4/2021.  
28  
Số 16(440) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Một là, về mặt kinh tế: Nhu cầu phát triển  
kinh tế của nước ta trong những năm tới đây  
đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng  
đất nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học  
kỹ thuật vào nông nghiệp. Ở nước ta, do  
lịch sử và thói quen canh tác, đất đai nông  
nghiệp ở Việt Nam bị phân tán thành nhiều  
mảnh, manh mún: có gần 14 triệu hộ nông  
dân đang sở hữu 78 triệu mảnh ruộng nhỏ  
lẻ, 63% hộ nông dân có diện tích đất nhỏ  
hơn 0,5 ha, 26% có từ 0,5 - 02 ha. Ngoài ra,  
có những hộ nông dân sở hữu nhiều mảnh  
đất nhỏ, rải rác gây ra hạn chế bất cập trong  
sản xuất nông nghiệp, khuyến khích doanh  
nghiệp đầu tư5. Sự manh mún, nhỏ lẻ của  
đất nông nghiệp trong thực tế làm hạn chế  
rất lớn năng suất canh tác và diện tích nhỏ  
lẻ đã không thể ứng dụng những công nghệ  
hiện đại vào quá trình sản xuất nông nghiệp.  
Để khắc phục hạn chế này, giải pháp căn cơ  
là phải tập trung, tích tụ đất nông nghiệp  
nhằm bảo đảm yêu cầu nền tảng ứng dụng  
các mô hình nông nghiệp hiện đại.  
này cho thấy, đất nông nghiệp ở khu vực  
nông thôn, nhất là khu vực được xem là vựa  
lúa lớn nhất cả nước - Đồng bằng Sông Cửu  
Long sẽ thiếu hụt lực lượng lao động nông  
nghiệp và bỏ hoang đất đai. Bên cạnh đó,  
những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác  
động nghiêm trọng đến tưới tiêu, canh tác  
nông nghiệp. Tính đến vụ mùa năm 2020,  
cả nước có hơn 58.000 ha ruộng bỏ hoang,  
trong đó ruộng bỏ hoang liên tiếp từ 03 vụ  
trở lên chiếm 52%, còn lại là bỏ từ 1- 2 vụ.  
Một số địa phương thì phổ biến hiện tượng  
bỏ vụ7. Vấn đề đặt ra là những diện tích đất  
nông nghiệp bị bỏ hoang, đất bị ảnh hưởng  
bởi biến đổi khí hậu cần được trao cho  
những người sử dụng có nhu cầu, có khả  
năng đầu tư, cải tạo phát huy hiệu quả sử  
dụng đất, nhất là các tổ chức kinh tế tư nhân  
trong lĩnh vực nông nghiệp.  
Ba là, về mặt pháp lý: Tích tụ đất nông  
nghiệp nhằm khắc phục bất cập trong thực  
tế phát sinh từ quy định hiện hành về hạn  
mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông  
nghiệp. Với quy định về hạn mức nhận  
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp  
ở các thời kỳ, Luật Đất đai năm 2013 đã  
khống chế việc tích tụ đất đai mở rộng quy  
mô sản xuất. Vì thế, những người có nhu  
cầu và điều kiện đã “lách luật” để tích tụ  
đất nông nghiệp. Điều này làm phát sinh rất  
nhiều bất cập cho quản lý đất đai, cụ thể là  
quản lý đất nông nghiệp. Điển hình, ở khu  
vực miền Tây số lượng “điền chủ” có hàng  
trăm hecta đất nông nghiệp khá phổ biến,  
Ông Võ Quan Huy, một nông dân tiêu biểu  
tại Long An cho biết với hơn 40 năm làm  
nông nghiệp thì hiện Ông đã có hàng ngàn  
hecta đất nhưng đa phần đều nhờ người  
Hai là, về mặt xã hội: Làn sóng di cư  
từ nông thôn ra thành thị và những ảnh  
hưởng của môi trường dẫn đến hiện tượng  
bỏ hoang đất nông nghiệp. Kết quả điều tra  
di cư nội địa quốc gia vào năm 2015 cho  
thấy: có 13,6% dân số chiếm khoảng 12,4  
triệu người là người di cư trong vòng 05  
năm (2010 - 2015). Luồng di cư từ nông  
thôn ra thành thị chiếm 36,2%; đặc biệt,  
Đồng bằng Sông Cửu Long có luồng di cư  
từ nông thôn về thành thị cao gấp 05 lần  
di cư từ thành thị về nông thôn.6 Người di  
cư chủ yếu là lực lượng lao động trẻ chiếm  
83,9% với nguyên nhân chủ yếu là tìm kiếm  
việc làm và cải thiện kinh tế. Thực trạng  
5 Theo Báo Công thương: “Thị trường đất nông nghiệp: Cần cơ chế gì”, http://ipsard.gov.vn/news/tID9504_  
Thi-truong-dat-nong-nghiep-Can-co-che-gi.html, truy cập ngày 04-4-2021.  
6
Tổng cục thống kê - Quỹ dân số Liên hợp quốc (2015), “Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015”, https://  
vietnam.un.org/sites/default/files/2019-08/factsheets_vn_combined.pdf, tr.1,2. [truy cập ngày 17/4/2021].  
7 Nguyễn Liên - Khánh Trang (2020), “Tìm lời giải cho bài toán nhà nông ly điền - kỳ I: khi nông dân lên bờ”,  
Số 16(440) - T8/2021  
29  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
đứng tên8. Ngoài ra, thực tế tồn tại rất nhiều  
phương thức giao dịch khác để người dân  
“lách” quy định về hạn điền như: thông qua  
cầm cố đất đai, qua hợp đồng thế chấp, giao  
dịch “giấy tay”… Thực trạng trên đã tạo  
nên những rủi ro tiềm ẩn về tranh chấp đất  
đai, Nhà nước không thể quản lý được chính  
xác về chủ thể sử dụng đất nông nghiệp thật  
sự, người sử dụng đất không thể vốn hóa  
giá trị đất đai của mình trong sản xuất nông  
nghiệp. Bên cạnh đó, với quy định hiện  
hành về hạn điền và hệ thống dữ liệu đất  
đai nước ta thì thực tế, chúng ta không thể  
kiểm soát hiệu quả tình trạng người sử dụng  
đất vượt hạn điền khi sử dụng đất ở nhiều  
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tình  
trạng “lách luật” và hạn chế trong quy định  
về cơ chế kiểm soát hạn điền cho thấy, cần  
phải có những đổi mới trong quy định của  
pháp luật đất đai để tạo hành lang pháp lý  
an toàn và hiệu quả trong quản lý, sử dụng  
đất nông nghiệp.  
đặc trưng; kinh tế trang trại… thậm chí mô  
hình kết hợp sản xuất nông nghiệp với chế  
biến nông sản và tiêu thụ, kết hợp du lịch  
sinh thái… Tích tụ đất đai sẽ giải quyết  
được yêu cầu cơ bản về diện tích đất của  
các mô hình hiện đại.  
(iii) Tạo điều kiện thu hút kinh tế tư nhân  
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta  
vốn dĩ là một nước nông nghiệp, sản phẩm  
nông nghiệp thương hiệu Việt đã được  
khẳng định trên thị trường thế giới nên sự  
thu hút các tổ chức kinh tế tư nhân đầu tư  
phát triển lĩnh vực nông nghiệp là rất hấp  
dẫn. Tuy nhiên, những rào cản tiếp cận đất  
nông nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến quyết  
định đầu tư của kinh tế tư nhân vào lĩnh vực  
này. Vì vậy, giải quyết bài toán về hạn điền,  
mở rộng khả năng tiếp cận đất nông nghiệp  
cho các tổ chức kinh tế tư nhân sẽ thu hút  
mạnh mẽ nguồn vốn vào phát triển nông  
nghiệp ở nước ta.  
(iv) Hoàn chỉnh hệ thống dữ liệu đất đai  
phục vụ quản lý, nâng cao hiệu quả vốn hóa  
giá trị đất đai trong sản xuất nông nghiệp;  
giảm thiểu rủi ro tranh chấp đất đai. Trước  
thực trạng quản lý và sử dụng đất nông  
nghiệp ở nước ta hiện nay, việc đổi mới quy  
định về tích tụ đất đai sẽ “chính danh” người  
sử dụng đất, góp phần hoàn thiện chính xác  
hệ thống dữ liệu đất đai, triệt tiêu những rủi  
ro tranh chấp đất đai từ hành vi “lách luật”  
để tích tụ đất đai.  
2. Tác động của tích tụ đất nông nghiệp ở  
nước ta hiện nay  
Tích tụ đất nông nghiệp mang lại những  
hiệu ứng tích cực sau:  
(i) Nâng cao chất lượng sản xuất nông  
nghiệp. Với tầm quan trọng của đất đai  
trong sản xuất nông nghiệp thì tích tụ đất  
đai là điều kiện cơ bản cho mọi sự đổi mới  
trong tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế  
nông nghiệp. Tích tụ đất đai xóa bỏ sự manh  
mún, nhỏ lẻ, những bờ ranh và sự thiếu đồng  
bộ về hạ tầng nông nghiệp, là điều kiện ứng  
dụng những công nghệ, kỹ thuật hiện đại  
nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất, chất  
lượng sản phẩm nông nghiệp.  
Tóm lại, đổi mới về tích tụ đất nông  
nghiệp không chỉ mang lại những hiệu  
ứng tích cực cho sự phát triển của nền  
nông nghiệp hiện đại mà còn nâng cao  
hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp  
ở nước ta.  
(ii) Tạo tiền đề phát triển những mô  
hình kinh tế nông nghiệp hiện đại như  
cánh đồng mẫu lớn trong chuyên canh cây  
lúa, hợp tác xã kiểu mới gắn với sản phẩm  
Bên cạnh những tác động tích cực nêu  
trên, tích tụ đất nông nghiệp ở Việt Nam  
cũng đặt ra những thách thức sau đây:  
8 Vân Trường (2016), “Điền chủ miền Tây thời nay: Nỗi lòng điền chủ”, https://tuoitre.vn/dien-chu-mien-tay-  
thoi-nay-noi-long-dien-chu-1154992.htm, truy cập ngày 19/4/2021.  
30  
Số 16(440) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
(i) Nhu cầu giải quyết việc làm, sinh kế  
cho lực lượng hộ nông dân nhỏ lẻ không  
còn đất canh tác. Khi thực hiện tích tụ  
đất nông nghiệp, những hộ sản xuất nông  
nghiệp nhỏ lẻ sẽ không còn đất canh tác.  
Từ đây đặt ra vấn đề chuyển đổi nghề  
nghiệp cho nhóm đối tượng này và khả  
năng tạo nên làn sóng di cư lớn từ nông  
thôn ra thành thị để tìm việc làm. Vì  
vậy, mỗi địa phương phải xác định rõ số  
lượng, nhóm đối tượng chịu tác động từ  
việc mở rộng tích tụ đất nông nghiệp để  
chủ động xây dựng những phương án đào  
tạo, chuyển đổi nghề; phát triển những  
mô hình sản xuất nông nghiệp, phi nông  
nghiệp giải quyết việc làm ngay tại địa  
phương, hạn chế sự di cư và đảo lộn đời  
sống người nông dân.  
từ tích tụ đất nông nghiệp cho thấy tầm  
quan trọng, vai trò quản lý của Nhà nước  
để chủ động và xử lý hiệu quả các ảnh  
hưởng. Tác giả cho rằng, trong bối cảnh  
nước ta hiện nay thì điều tiên quyết để  
hạn chế thấp nhất những hệ lụy của tích  
tụ đất nông nghiệp là hành lang pháp lý  
phải thiết lập dựa trên những quy luật  
khách quan của thị trường.  
3. Những bất cập trong quy định của  
pháp luật về tích tụ đất nông nghiệp ở  
Việt Nam hiện nay  
Một là, bất cập trong quy định về chủ  
thể tích tụ đất trồng lúa: Khoản 30 Điều 3  
Luật Đất đai năm 2013 quy định “Hộ gia  
đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông  
nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được  
Nhà nước giao, cho thuê, công nhận  
quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận  
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp  
và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất  
nông nghiệp trên đất đó”. Theo quy định  
này, để xác nhận là hộ gia đình, cá nhân  
chỉ cần thỏa mãn 02 điều kiện: một là,  
đang sử dụng đất đã được nhà nước giao,  
cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất  
nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng  
đất; hai là, có nguồn thu nhập ổn định từ  
sản xuất nông nghiệp trên đất đó. Trong  
khi đó, Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-  
BTNMT ngày 29/9/2017 (Thông tư số 33)  
quy định có 03 căn cứ để xác nhận hộ  
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông  
nghiệp, bao gồm: thứ nhất, đang sử dụng  
đất nông nghiệp do được Nhà nước giao,  
cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất;  
do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa  
kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử  
dụng đất; đang sử dụng đất nông nghiệp  
mà chưa được Nhà nước công nhận; thứ  
hai, không thuộc đối tượng được hưởng  
lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ  
hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc  
được hưởng trợ cấp xã hội; (đối với hộ gia  
(ii) Đất nông nghiệp tập trung vào số ít  
người trong xã hội, nguy cơ hình thành “địa  
chủ kiểu mới”, phân hóa giàu nghèo. Bên  
cạnh việc đổi mới quy định về hạn điền,  
pháp luật đất đai cần thiết lập công cụ kiểm  
soát hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cơ  
chế can thiệp, điều tiết của Nhà nước khi  
cần thiết trước những “biến thể” có thể xuất  
hiện như hiện tượng địa chủ kiểm mới, hiện  
tượng chiếm giữ đất nông nghiệp không  
nhằm sản xuất nông nghiệp… Đồng thời,  
xây dựng cơ chế điều tiết lợi ích trực tiếp  
từ việc tích tụ đất nông nghiệp đến cải thiện  
môi trường nông thôn, đời sống người dân  
tại khu vực nông thôn.  
(iii) Mô hình nông nghiệp quy mô lớn,  
khi thị trường biến động sẽ có tác động  
tạo nên nhiều thách thức. Tích tụ đất đai  
sẽ nâng cao năng suất và chất lượng sản  
phẩm nông nghiệp, tạo nên sản lượng  
chuyên canh lớn. Tuy nhiên, điều này  
cũng đặt ra yêu cầu Nhà nước cần quản  
lý, định hướng và quy hoạch tốt để bảo  
đảm những biến động thị trường không  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng  
tiêu thụ sản phẩm. Những thách thức  
Số 16(440) - T8/2021  
31  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
đình thì có ít nhất một thành viên của hộ  
gia đình không thuộc đối tượng nêu trên);  
thứ ba, có nguồn thu nhập thường xuyên  
từ sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất  
đang sử dụng nêu trên, kể cả trường hợp  
không có thu nhập thường xuyên vì lý do  
thiên tai, thảm họa môi trường, hỏa hoạn,  
dịch bệnh. Đối chiếu hai quy định nêu trên  
cho thấy sự không thống nhất trong điều  
kiện xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực  
tiếp sản xuất nông nghiệp. So với quy định  
của Luật Đất đai năm 2013, Điều 3 Thông  
tư số 33 đã quy định thêm một căn cứ xác  
nhận đó là: không thuộc đối tượng được  
hưởng lương thường xuyên; đối tượng  
đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi  
việc được hưởng trợ cấp xã hội. Như vậy,  
người sử dụng đất thỏa mãn điều kiện quy  
định của Luật nhưng theo quy định của  
Thông tư thì vẫn không đủ điều kiện xác  
nhận. Điều này gây khó khăn cho người  
dân trong việc xác nhận hộ gia đình, cá  
nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.  
các mô hình sản xuất nông nghiệp. Điển  
hình để có diện tích đất trồng lúa triển khai  
các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ  
hiện đại, Tập đoàn Lộc Trời ở An Giang  
phải thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất của  
từng hộ dân, điều này gây ra rất nhiều khó  
khăn khi đàm phán hợp đồng thuê, thiếu sự  
bền vững nên không thể đầu tư quy mô lớn  
triển khai các mô hình sản xuất. Mặc dù quy  
định trên nhằm bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đất  
rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng nhưng  
vô hình trung đã tạo ra rào cản tích tụ đất  
đai đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực  
nông nghiệp.  
Ba là, quy định về hạn mức nhận chuyển  
quyền sử dụng đất không đáp ứng yêu cầu  
của mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại.  
Điều 44 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày  
15/5/2014 (Nghị định số 44) quy định “Đối  
với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng  
thủy sản và đất làm muối thì mỗi hộ gia  
đình, cá nhân tích tụ không quá 30 ha ở các  
tỉnh, thành thuộc khu vực Đông Nam Bộ và  
Đồng bằng Sông Cửu Long và không quá  
20 ha ở các tỉnh, thành còn lại”.  
Hai là, quy định của Điều 191 Luật Đất  
đai năm 2013 không tạo điều kiện cho tổ  
chức kinh tế tích tụ đất trồng lúa, đất rừng  
phòng hộ, rừng đặc dụng, gây khó khăn  
cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông  
nghiệp mở rộng quy mô sản xuất. Khoản  
2 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 quy  
định “Tổ chức kinh tế không được nhận  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng  
lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng  
của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp  
được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy  
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”.  
Như vậy, tổ chức kinh tế chỉ được nhận  
chuyển nhượng 03 loại đất: đất trồng lúa,  
đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng  
khi những loại đất này được phép chuyển  
mục đích. Điều này dẫn đến những doanh  
nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp không  
thể tích tụ các loại đất nêu trên để phục vụ  
Thực tiễn những mô hình tích tụ đất nông  
nghiệp đã cho thấy hiệu quả sản xuất rất cao  
và sự bất hợp lý trong giới hạn về hạn mức  
nhận chuyển quyền sử dụng đất hiện nay.  
Điển hình những mô hình ở tỉnh Long An,  
An Giang... ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu  
Long đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ  
về giá trị nông sản của khu vực. Việc tích tụ  
đất đai ở Vùng đồng bằng Sông Cửu Long  
phổ biến là việc tích tụ của kinh tế hộ gia  
đình, qua việc nhận chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất của những hộ liền kề, những  
người lân cận. Trong khi đó, mô hình kinh  
tế trang trại khá phát triển ở các tỉnh Bắc Bộ  
và Trung Bộ với sự đa dạng của các phương  
thức tích tụ đất đai, điển hình như: tỉnh  
Hà Nam là mô hình sản xuất nông nghiệp  
công nghệ cao với sự đầu tư chủ yếu của  
các doanh nghiệp; tỉnh Vĩnh Phúc là sự phát  
32  
Số 16(440) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
triển mô hình trạng trại chăn nuôi tập trung;  
tỉnh Nghệ An là sự phát triển mạnh mẽ của  
phương thức dồn điền đổi thửa..9 Nhu cầu  
tích tụ đất đai phụ thuộc rất lớn vào phương  
thức và quy mô sản xuất, yếu tố vị trí địa  
lý chỉ ảnh hưởng chứ không mang tính  
quyết định trong tích tụ đất nông nghiệp.  
Tuy nhiên, Điều 130 Luật Đất đai năm 2013  
và Điều 44 Nghị định số 43, khi quy định  
về diện tích tích tụ đất nông nghiệp, phân  
chia theo hai khu vực địa lý sau: một là, các  
tỉnh, thành thuộc khu vực Đông Nam Bộ  
và Đồng bằng Sông Cửu Long; hai là, các  
tỉnh, thành còn lại. Sự đa dạng của các mô  
hình kinh tế nông nghiệp hiện đại và các  
phương thức tích tụ đất đai đã đặt ra yêu cầu  
về tính linh hoạt, cụ thể trong quy định về  
hạn mức tích tụ đất đai.  
chấp thuận, quyết định đầu tư, điển hình là  
các dự án nông nghiệp công nghệ cao; (ii)  
dự án khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm  
sản, thủy sản, hải sản do Hội đồng nhân  
dân cấp tỉnh chấp thuận đầu tư. Hiện nay,  
phương thức chuyển dịch đất đai bắt buộc -  
Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án phát  
triển nông nghiệp chủ yếu chỉ là các dự án  
khu công nghệ cao. Trong khi đó, nhóm dự  
án khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản,  
thủy sản, hải sản chưa được quy định cụ thể  
và có cơ chế áp dụng rõ ràng. Vì vậy, có  
thể nói, việc Nhà nước thu hồi đất để điều  
phối đất đai thực hiện các dự án phát triển  
nông nghiệp là rất hạn chế. Bên cạnh đó,  
những tồn tại của cơ chế chuyển dịch đất  
đai tự nguyện như: Hạn chế vai trò của Nhà  
nước trong hỗ trợ tổ chức kinh tế chuyển  
dịch đất đai, sự thiếu bền vững của phương  
thức thuê quyền sử dụng đất, quy định chưa  
cụ thể, chưa phát huy hiệu quả của góp vốn  
quyền sử dụng đất, rào cản tổ chức kinh tế  
trong nhận chuyển nhượng đất trồng lúa, đất  
rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Những  
hạn chế trên cho thấy, nhiều khó khăn trong  
quá trình chuyển dịch đất đai thực hiện các  
dự án nông nghiệp trong cả hai phương thức  
chuyển dịch bắt buộc và tự nguyện nên việc  
mở rộng diện tích chủ yếu qua các phương  
thức tích tụ đất đai của người sử dụng đất.  
Bốn là, quy định về phương thức chuyển  
dịch đất đai chưa tạo điều kiện thuận lợi  
cho tích tụ đất đai trong phát triển kinh tế  
nông nghiệp. Theo quy định của pháp luật  
đất đai, để thực hiện dự án, có hai phương  
thức chuyển dịch đất đai gồm: Chuyển dịch  
đất đai bắt buộc - Nhà nước thu hồi đất của  
người đang sử dụng để giao, cho thuê thực  
hiện dự án theo quy định tại Điều 61, Điều 62  
Luật Đất đai năm 2013; Chuyển dịch đất  
đai tự nguyện - Cơ chế tự thỏa thuận thông  
qua nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử  
dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng  
đất theo quy định tại Điều 73 Luật Đất đai  
năm 2013.  
4. Kiến nghị  
Trong bối cảnh nước ta hiện nay, việc  
mở rộng quy mô diện tích đất thông qua tập  
trung, tích tụ đất nông nghiệp là xu hướng  
tất yếu, là điều kiện cơ bản để công nghiệp  
hóa nông nghiệp, xây dựng một nền nông  
nghiệp quy mô, hiện đại và tiên tiến. Từ góc  
độ pháp lý, chúng tôi đề xuất một số kiến  
nghị sau đây:  
Các trường hợp thu hồi đất vì mục đích  
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc  
gia, công cộng được quy định gồm 03 nhóm  
tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013; trong  
đó, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án  
phát triển nông nghiệp chỉ có thể xem xét  
áp dụng trong hai trường hợp sau: (i) dự án  
khu công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ  
Thứ nhất, sửa đổi Luật Đất đai năm 2013  
theo hướng bổ sung nguyên tắc tập trung,  
9 Thanh Tâm (2018), “Những mô hình tích tụ ruộng đất hiệu quả”, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-  
doi/nhung-mo-hinh-tich-tu-ruong-dat-hieu-qua-139104.html, truy cập ngày 29/4/2021.  
Số 16(440) - T8/2021  
33  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp.  
Theo đó, quá trình tập trung, tích tụ đất đai  
cần được thiết lập trên nền tảng nguyên tắc  
tự nguyện; Nhà nước chủ động và kiểm soát  
chặt chẽ quá trình tập trung, tích tụ đất đai  
với những công cụ phù hợp để có sự can  
thiệp, điều tiết kịp thời khi cần thiết, không  
để xảy ra tình trạng lợi dụng chủ trương tập  
trung, tích tụ đất đai để chiếm ruộng đất,  
không để xảy ra tình trạng bóc lột của địa  
chủ kiểu mới khi tích tụ đất đai.  
thức tập trung, tích tụ đất đai đa dạng nhưng  
từng địa phương phải dựa trên đặc điểm đất  
đai, hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch  
phát triển nông nghiệp chủ động xây dựng  
phương án khuyến khích phát triển phương  
thức tập trung, tích tụ phù hợp theo từng  
vùng, từng địa phương.  
Thứ tư, đánh giá tác động và chủ động  
xây dựng phương án giải quyết các vấn đề  
phát sinh từ tập trung, tích tụ đất đai, giải  
quyết tốt các vấn đề xã hội và đời sống của  
người sử dụng đất sau tích tụ đất đai. Đánh  
giá tác động là yêu cầu tiên quyết đối với  
các dự án tập trung, tích tụ đất đai vì điều đó  
giúp chính quyền lường trước và chủ động  
có những giải pháp hiệu quả cho các vấn  
đề xã hội phát sinh. Trước hết là giải quyết  
việc làm ngay tại địa phương hoặc khu vực  
lân cận cho nhóm người lao động dôi dư  
sau quá trình tập trung, tích tụ đất đai, hạn  
chế tình trạng di cư, thất nghiệp, gây mất an  
ninh, trật tự xã hội.  
Thứ hai, sửa đổi Điều 191 Luật Đất  
đai năm 2013 theo hướng gỡ bỏ rào cản  
tiếp cận đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ  
và đất rừng đặc dụng đối với tổ chức kinh  
tế; mở rộng chủ thể tham gia quá trình tập  
trung, tích tụ đất đai để tạo sự hấp dẫn,  
chính danh trong phát triển nông nghiệp.  
Việc tập trung, tích tụ đất nông nghiệp cần  
được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau:  
(i) bảo đảm phù hợp quy hoạch, kế hoạch  
sử dụng đất; (ii) tính khả thi và hiệu quả  
của dự án; (iii) khả năng của nhà đầu tư để  
triển khai dự án; (iv) tác động của dự án  
đến xã hội. Chúng ta cần thay đổi tư duy  
từ “đất trồng lúa chỉ do người nào trồng  
lúa nắm giữ” thành “đất trồng lúa chỉ cần  
trồng lúa và mang lại năng suất, hiệu quả  
cao nhất”. Quá trình tập trung và tích tụ đất  
đai phải hướng đến hiệu quả sử dụng, khai  
thác giá trị của đất nông nghiệp, không đặt  
nặng vấn đề do ai nắm giữ.  
Thiết lập hành lang pháp lý toàn diện  
bảo đảm cho quá trình tập trung, tích tụ  
đất đai trong sản xuất nông nghiệp quy mô,  
hiện đại là tiền đề quan trọng cho sự phát  
triển ổn định và bền vững. Vì vậy, Luật Đất  
đai năm 2013 cần được bổ sung những quy  
định mang tính nguyên tắc, chủ đạo tạo cơ  
sở hình thành khuôn khổ pháp lý về tập  
trung, tích tụ đất đai. Song song đó, vai trò  
của công tác quy hoạch, thúc đẩy phát triển  
các dự án phi nông nghiệp để giải quyết  
việc làm ở khu vực nông thôn, khu vực  
ven đô thị sẽ góp phần tích cực trong giảm  
thiểu những tác động không mong muốn  
của quá trình tích tụ đất đai. Đổi mới pháp  
luật về tập trung, tích tụ đất đai sẽ tạo động  
lực mạnh mẽ thu hút nguồn lực kinh tế tư  
nhân trong phát triển nông nghiệp ở Việt  
Nam nhưng cũng đặt ra không ít những  
thách thức cho quá trình quản lý, điều tiết  
Thứ ba, xây dựng hạn mức và phương  
thức tập trung, tích tụ đất đai mang tính dài  
hạn tùy thuộc vùng, miền và mô hình sản  
xuất. Mức diện tích đất tích tụ trong sản  
xuất nông nghiệp cần được quy định tùy  
thuộc từng vùng, miền và mô hình sản xuất  
chứ không cứng nhắc quy định một con số  
cụ thể như hiện nay. Mức diện tích sẽ được  
đánh giá theo hiện trạng sử dụng đất ở địa  
phương, sự tác động của mức diện tích, quy  
hoạch, mục đích và hiệu quả sử dụng đất của  
từng mô hình. Bên cạnh đó, mặc dù phương  
xã hội của Nhà nước  
34  
Số 16(440) - T8/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 8720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về tích tụ đất nông nghiệp để tạo tiền đề phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_ve_tich_tu_dat_nong_nghiep_de_tao_tien.pdf