Hợp đồng có được coi là nguồn của luật dân sự hay không - Các quan điểm và bình luận
HỢP ĐỒNG CÓ ĐƯỢC COI LÀ NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ...
HAY KHÔNG - CÁC QUAN ĐIỂM VÀ BÌNH LUẬN
PHẠM VĂN TUYẾT*
Bài viết nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất về cách hiểu nguồn của luật dân sự và hợp
đồng có được coi là một trong các loại nguồn của luật dân sự hay không với kết cấu theo ba
phần gồm phân biệt sự khác nhau giữa hợp đồng với luật hợp đồng; khái quát về nguồn của
pháp luật, nguồn của luật dân sự và nêu lên hai quan điểm khác nhau và bình luận, lý giải để
thống nhất rằng: Hợp đồng không được coi là nguồn của luật dân sự.
Từ khóa: Nguồn của pháp luật, nguồn của luật dân sự; hợp đồng; pháp luật về hợp đồng;
tự do ý chí, cam kết, thỏa thuận.
Ngày nhận bài: 20/7/2020; Biên tập xong: 16/8/2020; Duyệt đăng: 26/11/2020
Thearticleleadstoaconsensusonthesourceofcivillawandwhethercontractisconsidered
as one of civil law’s sources or not. it consists of three parts including the difference between
contract and contract law; the generalization the source of law and civil law; two different
viewpoints and comments to agree that: Contract is not considered as the source of civil law.
Keywords: The source of law, the source of civil law; contract; law on contract; freedom
of will, commitments and agreements.
1. Cần phân biệt giữa hợp đồng và Pháp luật về hợp đồng điều chỉnh mọi sự
thỏa thuận của các chủ thể không phân
biệt ai là người thỏa thuận và thỏa thuận
về vấn đề gì, miễn là sự thỏa thuận thuộc
phạm vi điều chỉnh của luật hợp đồng.
Việc các bên xác lập với nhau những
mối quan hệ để qua đó thực hiện công
việc đối với nhau, chuyển giao cho nhau
các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt tiêu dùng, nhu cầu sản
xuất, kinh doanh là sự tất yếu trong đời
sống xã hội. Trong nền kinh tế thị trường,
các mối quan hệ đó lại càng có một vai
trò quan trọng như huyết mạch của nền
kinh tế, bởi lưu thông hàng hóa, chuyên
môn hóa quá trình sản xuất thường được
điều phối thông qua các hợp đồng. Quá
trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh
tế thị trường không phải tự nhiên hình
thành, bản thân hàng hóa không thể tự
tìm đến với nhau để thiết lập quan hệ
mà các quan hệ này chỉ có thể được hình
thành từ những hành vi có ý chí của các
chủ thể. Mác từng nói rằng: “Tự chúng,
hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao
pháp luật về hợp đồng
Hợp đồng là sự hợp tác trên cơ sở đồng
thuận giữa các bên, nói đến hợp đồng là
nói đến tất cả các khía cạnh của việc hứa
hẹn, cam kết. Thực tế luôn xảy ra lời hứa,
sự cam kết, chấp thuận như là cái vốn có
của đời sống. Ý niệm về hợp đồng bắt
nguồn từ cuộc sống, hợp đồng có từ cuộc
sống, xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống.
Khi hợp đồng được giao kết, nghĩa là các
bên mong muốn cùng nhau hợp tác để đáp
ứng các nhu cầu của chính mình thông qua
việc chia sẻ các lợi ích. Tuy nhiên, các thỏa
thuận, cam kết, hứa hẹn diễn ra hàng ngày
luôn chứa đựng sự khác biệt.
Vậy những thỏa thuận, cam kết nào là
hợp đồng? Ai, và với những yếu tố nào
thì được coi là đủ điều kiện để cam kết,
thỏa thuận và thực hiện sự cam kết thỏa
thuận đó? Khi nào thì một cam kết, thỏa
thuận được thừa nhận và bắt buộc thực
hiện? Một sự thất hứa, một sự vi phạm
cam kết sẽ gặp phải hậu quả pháp lý nào?
Những câu hỏi trên chỉ có thể xác định
được thông qua pháp luật về hợp đồng.
* Phó giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
32 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
PHẠM VĂN TUYẾT
đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó không làm một việc cụ thể”2; “Hợp đồng là một
sự hứa hẹn hoặc một tập hợp sự hứa hẹn mà đối
với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế
tài, hoặc đối với việc thực hiện nó, pháp luật, một
trong số phương diện, thừa nhận như là một
trách nhiệm”3; “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo
đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc
nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc
không làm một việc nào đó” (Điều 1101 Bộ luật
dân sự - BLDS Pháp năm 1804); “Hợp đồng
được thừa nhận như một sự thỏa thuận được
giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ dân sự” (Điều 420 BLDS Liên bang Nga);
“Hợp đồng là một sự thỏa thuận của các ý chí
mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc
mình với một hoặc một số người khác để thực
hiện một cam kết” (Điều 1378, BLDS Québec
Canada); “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 385, BLDS Việt
Nam năm 2015).
trao đổi với nhau thì những người giữ chúng
phải đối xử với nhau như những người mà ý
chí nằm trong các vật đó”1. Luận điểm này
cũng cho thấy các quan hệ hợp đồng chỉ
hình thành khi có sự gặp gỡ ý chí giữa
các bên, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí
của mình mà không được bên kia chấp
nhận thì không thể hình thành quan hệ
để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài
sản/hàng hóa hoặc làm một công việc đối
với nhau được. Sự gặp gỡ ý chí giữa các
bên về việc thực hiện công việc hoặc trao
đổi lợi ích với nhau được gọi là hợp đồng.
Điều đó có nghĩa rằng cơ sở đầu tiên để
hình thành một hợp đồng là sự thỏa thuận
trong thực tế. Tuy nhiên, sự thỏa thuận
này chỉ có hiệu lực ràng buộc giữa các
bên, các bên phải thực hiện những điều đã
cam kết trong thỏa thuận đó khi và chỉ khi
đã được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Hợp đồng là những thoả thuận hình
thành trong thực tế và chỉ những thỏa
thuận nào nằm trong phạm vi điều chỉnh
của luật hợp đồng mới được coi là hợp
đồng. Chẳng hạn như hai người bạn đã
thỏa thuận với nhau về việc cùng đi ăn
tối nhưng sự thỏa thuận đó không phải là
hợp đồng.
1.2. Pháp luật về hợp đồng
Pháp luật về hợp đồng hay còn gọi
là Luật hợp đồng bao gồm một hệ thống
các quy phạm pháp luật được chứa đựng
trong BLDS và các văn bản pháp luật
khác có liên quan đến hợp đồng, là công
cụ pháp lý để điều chỉnh hợp đồng theo
nghĩa chủ quan (các thỏa thuận hình
thành từ ý chí chủ quan của các chủ thể).
Bởi thế, luật hợp đồng luôn mang ba
chức năng đặc biệt:
Như vậy, cần phân biệt giữa hợp đồng
với pháp luật về hợp đồng.
1.1. Hợp đồng
Hợp đồng là một giao dịch dân sự
hình thành trong thực tế trên cơ sở sự
thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ
thể về việc cùng nhau làm phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự đối với nhau. Như vậy, hợp đồng hình
thành một cách chủ quan thông qua hành
vi của các chủ thể.
Một là, tạo ra khung pháp lý để định
hướng cho sự thỏa thuận giữa các bên.
Với chức năng này, luật hợp đồng cho biết
các bên chỉ được thỏa thuận về những gì
và trong khuôn khổ nào.
Hai là, đề cao quyền tự do ý chí của
cá nhân. Đành rằng tự do ý chí của các
bên trong hợp đồng phải được đặt trong
giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi
ích chung của xã hội và trật tự công cộng
nhưng luật hợp đồng luôn là minh chứng
Đã có nhiều định nghĩa về hợp đồng cả
về góc độ học thuật và góc độ pháp lý. “Hợp
đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều
người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc cho sự tôn trọng của pháp luật đối với tự
1ꢀ
Các Mác: Tư bản, Quyển 1, Tập 1, NXB Sự thật, 2ꢀ,3 Deluxe Black’s Law Dictionary, West Publishing
Hà Nội, 1973
Co, 1990
Số 06 - 2020
Khoa học Kiểm sát 33
HỢP ĐồNG CÓ ĐưỢC COi LÀ NGUồN CỦA LUẬT dÂN SỰ...
do ý chí của con người, thể hiện ở việc luật chí của chủ thể trong hợp đồng bị hạn chế.
“Hạn chế tự do ý chí đồng nghĩa với sự can
hợp đồng xác định các quyền và nghĩa vụ
hình thành từ sự cam kết thỏa thuận có
hiệu lực bắt buộc đối với các bên, luôn bảo
đảm cho các thỏa thuận đã cam kết được
thực thi. “Dù ở hệ thống pháp luật nào, người
ta cũng đều thừa nhận nền tảng của luật hợp
thiệp của nhà nước vào khu vực quyền lợi tư.
Nhưng sự can thiệp này lại là một sự cần thiết
7
6
trước hết vì đời sống chung của cộng đồng” .
Ba là, định ra cơ chế giải quyết tranh
chấp liên quan đến cam kết thỏa thuận và
chứng minh sự đảm bảo của Nhà nước
đối với cam kết thỏa thuận của các bên.
Luật hợp đồng trở nên không cần thiết
đồng là tự do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là vấn
4
3
đề trọng yếu của hợp đồng” .
Tuy nhiên, nếu để tự do ý chí thực
hiện một cách vô hạn trở nên thái quá thì nếu trong thực tế không có thỏa thuận nào
phát sinh và cũng có thể không cần phải áp
dụng luật hợp đồng nếu như tại thời điểm
xác lập, hợp đồng đã được thực hiện ngay
trong bối cảnh không có bất kỳ một tranh
chấp, trở ngại nào hoặc thậm chí có tranh
chấp nhưng các bên đã tìm đến nhau và
tìm được giải pháp giải quyết tranh chấp
đó. Tuy nhiên, những vấn đề trên chỉ là giả
thiết bởi cuộc sống luôn có cả trăm ngàn
thỏa thuận mỗi ngày, cũng như không
phải thỏa thuận nào cũng được thực hiện
ngay lập tức và không có tranh chấp.
Từ việc tiếp cận về hợp đồng (hình
thành từ ý chí chủ quan của chủ thể hợp
đồng) với pháp luật về hợp đồng (là ý
chí của nhà nước, không phụ thuộc vào
ý chí của chủ thể hợp đồng), chúng ta có
thể thấy hợp đồng là cái cần điều chỉnh,
còn luật hợp đồng là phương tiện để điều
chỉnh hợp đồng. Người ta không thể lấy
cái đang cần điều chỉnh để điều chỉnh
chính nó, nghĩa là không thể lấy hợp đồng
để điều chỉnh hợp đồng.
hợp đồng có thể trở thành phương tiện để
người giàu bóc lột người nghèo (cho vay
nặng lãi) hoặc sẽ là nguy cơ đối với lợi ích
chung của xã hội. Vì thế, “phải đi xa hơn
nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của
Nhà nước vào quan hệ pháp luật tư, các việc
dân sự, không được bỏ qua một khả năng tối
thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của Nhà
nước vào những quan hệ dân luật”5
4
Một tác giả khác cũng cho rằng, tự do
ngày nay được nhắc tới với những hạn chế
nhất định phụ thuộc vào sự tự nguyện của
chính chủ thể, vào quyền lực lớn hơn hoặc
khả năng thực hiện của chủ thể. Vì vậy, tự
do không có nghĩa tuyệt đối mà được giải
thích phù hợp với hoàn cảnh. Nên hạn
chế tự do ý chí cũng có nghĩa tương đối,
nhưng là một lẽ phải trong nghĩa đối lập
với tự do. Dù sao người ta cũng hy vọng
ý chí được thể hiện ra một cách tối đa
mà pháp luật quy định cho mỗi cá nhân.
Song nói rằng ý chí là hoàn toàn độc lập
thì điều đó có nghĩa là chúng ta đang sống
mà không cần có pháp luật.6
2. Khái quát về nguồn của pháp luật
nói chung và nguồn của luật dân sự
“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ
được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ
sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật
5
Vì quyền, lợi ích hợp pháp của chủ
thể khác, đặc biệt là những người yếu thế
trong hợp đồng; vì sự cân đối giữa lợi ích
của cá nhân với lợi ích chung của xã hội; vì
sự phát triển một nền kinh tế đúng hướng
theo một trật tự chung nên quyền tự do ý
cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ
8
7
việc pháp lý xảy ra trong thực tế” . Có nhiều
cách phân loại nguồn của luật nhưng chủ
yếu được phân loại thành nguồn nội dung
và nguồn hình thức. Trong đó, “nguồn nội
4 Ngô Huy Cương, Tự do ý chí và tiếp nhận ý chí trong
pháp luật Việt Nam hiện hành – Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 115 tháng 02 năm 2008.
5 V.I. Lenin Toàn tập, NXB Sự thật, 1989, tập 36, Tr 577.
7ꢀ Xem Ngô Huy Cương (Nguồn đã dẫn)
6ꢀ Xem Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. 8 Xem Nguyễn Thị Hồi - “Về khái niệm nguồn của pháp
Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, tr. 8
luật” – Tạp chí Luật học, Số 02/2008
34 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
PHẠM VĂN TUYẾT
dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên hội thảo hoặc sinh hoạt chuyên môn có liên
của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có
quan đến nguồn của luật dân sự, nghĩa là
các quan điểm này chưa xuất hiện trong
các công trình khoa học đã được công bố.
Quan điểm thứ nhất, hợp đồng là một
trong các loại nguồn của luật dân sự
Những người theo quan điểm này cho
rằng: i) Hợp đồng phản ánh quy tắc xử sự
của các chủ thể, các chủ thể tham gia hợp
đồng phải tuân theo quy tắc xử sự đó. Vì
vậy, hợp đồng được coi là nguồn của luật
dân sự, ii) Tòa án dựa vào hợp đồng (những
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng) để
giải quyết tranh chấp từ hợp đồng nên hợp
đồng là nguồn được Tòa án áp dụng để giải
quyết tranh chấp phát sinh trong thực tế.
Quan điểm thứ hai, hợp đồng không được
coi là nguồn của luật dân sự
Những người theo quan điểm này cho
rằng: i) Ý chí của các chủ thể tham gia hợp
đồng không phải là thứ tạo nên pháp luật.
Theo đó, hợp đồng được tạo nên bởi ý chí
tự do, tự nguyện của các bên không được
coi là nguồn của luật dân sự. Như mục
đầu tiên của bài viết đã nêu, các bên trong
hợp đồng được tự do ý chí, tự nguyện thỏa
thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ với
nhau nhưng ý chí này luôn được điều chỉnh
bởi pháp luật; ii) Các loại nguồn được quy
định trong BLDS mà Tòa án có thể áp dụng
để giải quyết các vụ việc dân sự xảy ra trong
thực tế không bao gồm hợp đồng.
thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành
9
8
và giải thích pháp luật” và “nguồn hình thức
của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại
của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay
là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy
phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các
chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết
các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”10.
Như vậy, xét về mặt nội dung, nguồn
của pháp luật nói chung và nguồn của luật
dân sự nói riêng là “xuất xứ, căn nguyên
của pháp luật”, bao gồm: Ý chí của Nhà
nước; nhu cầu quản lý xã hội kinh tế - xã
hội; các tư tưởng, học thuyết pháp lý. Xét
về mặt hình thức, nguồn của pháp luật nói
chung và nguồn của luật dân sự nói riêng là
hình thức thể hiện các quy tắc xử sự chung,
bao gồm: Luật viết – luật thành văn (bao
gồm các văn bản quy phạm pháp luật chứa
đựng quy tắc xử sự, các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật), tập quán, án lệ, lẽ công bằng.
Có thể nói, nguồn của luật dân sự là quy
tắc xử sự chung được chứa đựng trong các
hình thức khác nhau mà mọi chủ thể phải
tuân theo khi tham gia vào quan hệ dân sự
được điều chỉnh bởi quy tắc xử sự đó. Những
quy tắc xử sự đó như là căn cứ để các chủ thể
có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các
vụ việc dân sự xảy ra trong thực tế.
Theo quy định của BLDS Việt Nam
năm 2015, chủ thể có thẩm quyền có thể áp
dụng các nguồn của luật theo các hình thức
sau đây để điều chỉnh các quan hệ dân sự:
Luật viết (bao gồm BLDS và luật khác có
liên quan), tập quán, án lệ, lẽ công bằng.
3. Hợp đồng có được coi là nguồn của
luật dân sự hay không?
3.2. Quan điểm của tác giả và lý giải
cho quan điểm của mình
Tác giả đứng về quan điểm thứ hai,
nghĩa là không coi hợp đồng là nguồn của
luật dân sự với một số bình luận và lý giải
sau đây:
Mặc dù hợp đồng phản ánh quy tắc xử sự
của các chủ thể, các chủ thể tham gia hợp đồng
phải tuân theo quy tắc xử sự đó (theo quan
điểm thứ nhất) nhưng xử sự đó chỉ là sự
bắt buộc đối với các bên đang tham gia
hợp đồng cụ thể đó trong việc họ thực hiện
quyền và nghĩa vụ đối với nhau, hoàn toàn
không phải là xử sự mang định hướng, dự
liệu cho mọi chủ thể. Chẳng hạn như thỏa
3.1. Các quan điểm
Có thể khẳng định cho đến thời điểm
bài viết này được thực hiện, chưa có một
công trình khoa học nào xác định hợp
đồng là nguồn của luật dân sự. Vì thế, nói
về quan điểm khoa học thì hiện nay đang
có hai trường phái xuất hiện trong các cuộc
9, 10ꢀ Xem Nguyễn Thị Hồi (Nguồn đã dẫn).
Số 06 - 2020
Khoa học Kiểm sát 35
HỢP ĐồNG CÓ ĐưỢC COi LÀ NGUồN CỦA LUẬT dÂN SỰ...
thuận của các bên về tài sản mua bán, giá luật hợp đồng để khẳng định sự thỏa thuận
đã tuân thủ quy định của luật hợp đồng
hay chưa. Khi đã thấy hợp đồng hoàn toàn
phù hợp với pháp luật thì việc Tòa án yêu
cầu các bên phải thực hiện theo thỏa thuận
trong hợp đồng chỉ là việc Tòa án thừa
nhận và tôn trọng các cam kết, thỏa thuận
giữa các bên. Mặt khác, nếu coi một hợp
đồng đang có tranh chấp lại là nguồn để
giải quyết tranh chấp là một sự vô lý.
mua bán tài sản đó chỉ là sự bắt buộc đối
với các bên trong một hợp đồng mua bán tài
sản cụ thể khi hợp đồng đó có hiệu lực pháp
luật, cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào
thỏa thuận đó để giải quyết tranh chấp. Tuy
nhiên, chỉ áp dụng duy nhất cho trường
hợp đó với các chủ thể của nó mà không
phải là căn cứ để giải quyết các trường hợp
tranh chấp khác, trong khi nguồn của pháp
luật phải là căn cứ có thể áp dụng trong
mọi trường hợp nếu nội dung tranh chấp
là giống nhau. Mặt khác, về mặt nội dung
thì nguồn của pháp luật chỉ là ý chí của Nhà
nước (ở nước ta thì đó là đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước
đối với nhu cầu quản lý kinh tế, quản lý
xã hội). Ý chí của các chủ thể tham gia hợp
đồng không phải là thứ tạo nên pháp luật.
Liên hệ rộng ra thì nếu coi hợp đồng
là nguồn của luật dân sự sẽ đồng nghĩa
với việc coi mọi ý chí của chủ thể đều là
nguồn của luật dân sự, trong khi hành vi
nào của chủ thể (có năng lực hành vi dân
sự) đều là sự thể hiện ý chí của họ.
Quan điểm thứ nhất còn cho rằng: Tòa
án dựa vào hợp đồng (những thỏa thuận của
các bên trong hợp đồng) để giải quyết tranh
chấp từ hợp đồng nên hợp đồng là nguồn được
Tòa án áp dụng để giải quyết tranh chấp phát
sinh trong thực tế.
Pháp luật về hợp đồng là nguồn (hình
thức) của luật dân sự, còn bản thân hợp
đồng chỉ là sự thể hiện ý chí của các chủ
thể tham gia hợp đồng. Phải dựa vào pháp
Khoản 2 Điều 401 BLDS năm 2015 quy
định “Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực,
các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ
đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ
có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa
thuận của các bên hoặc theo quy định của
pháp luật”. Quy định trên cho thấy sự
thỏa thuận của các bên phải được sự thừa
nhận của luật và khi được luật thừa nhận
thì các bên phải thực hiện. Nếu thỏa thuận
đó chưa được luật viết (một hình thức của
nguồn luật dân sự) quy định cụ thể nên
không thể áp dụng trực tiếp được thì phải
áp dụng tương tự pháp luật. Trong trường
hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật
thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự, tập quán, án lệ, lẽ công bằng.
Từ những luận giải trên, tác giả bài viết
cho rằng nguồn về hình thức của luật dân
sự chỉ bao gồm: Luật viết, tập quán, án lệ,
lẽ công bằng. Hợp đồng không được coi
là nguồn (cả về nguồn hình thức, cả về
nguồn nội dung) của luật dân sự./.
TÀi LiỆU THAM KHẢO
1. Các Mác: Tư bản, Quyển 1, Tập 1, NXB Sự
luật (các loại nguồn) để xem xét về ý chí thật., Hà Nội, 1973
đó. Trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp
từ hợp đồng, Tòa án phải xem xét về sự
thỏa thuận của các bên để xem mỗi bên có
quyền và nghĩa vụ gì từ sự thỏa thuận đó
mà không phải là căn cứ vào thỏa thuận đó
để giải quyết tranh chấp từ hợp đồng.
2. Deluxe Black’s Law Dictionary, West
Publishing Co, 1990
3. Ngô Huy Cương, Tự do ý chí và tiếp nhận
ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện hành – Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 115 tháng 02 năm 2008.
4. V.I. Lenin Toàn tập, NXB Sự thật, 1989, Tập 36.
5. Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2.
Contrat, Troisième édition, Litec, 1989.
Nếu coi hợp đồng là nguồn để Tòa án
dựa vào đó giải quyết các tranh chấp thì có
lẽ không cần đến luật hợp đồng. Các thỏa
thuận trong hợp đồng cần phải được Tòa
6. Nguyễn Thị Hồi - “Về khái niệm nguồn của
án xem xét trên cơ sở quy định của pháp pháp luật”, Tạp chí Luật học, Số 02/2008.
36 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Hợp đồng có được coi là nguồn của luật dân sự hay không - Các quan điểm và bình luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hop_dong_co_duoc_coi_la_nguon_cua_luat_dan_su_hay_khong_cac.pdf

