Hợp đồng có được coi là nguồn của luật dân sự hay không - Các quan điểm và bình luận

HỢP ĐỒNG CÓ ĐƯỢC COI LÀ NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ...  
HAY KHÔNG - CÁC QUAN ĐIỂM VÀ BÌNH LUẬN  
PHẠM VĂN TUYẾT*  
Bài viết nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất về cách hiểu nguồn của luật dân sự và hợp  
đồng có được coi là một trong các loại nguồn của luật dân sự hay không với kết cấu theo ba  
phần gồm phân biệt sự khác nhau giữa hợp đồng với luật hợp đồng; khái quát về nguồn của  
pháp luật, nguồn của luật dân sự và nêu lên hai quan điểm khác nhau và bình luận, lý giải để  
thống nhất rằng: Hợp đồng không được coi là nguồn của luật dân sự.  
Từ khóa: Nguồn của pháp luật, nguồn của luật dân sự; hợp đồng; pháp luật về hợp đồng;  
tự do ý chí, cam kết, thỏa thuận.  
Ngày nhận bài: 20/7/2020; Biên tập xong: 16/8/2020; Duyệt đăng: 26/11/2020  
Thearticleleadstoaconsensusonthesourceofcivillawandwhethercontractisconsidered  
as one of civil law’s sources or not. it consists of three parts including the difference between  
contract and contract law; the generalization the source of law and civil law; two different  
viewpoints and comments to agree that: Contract is not considered as the source of civil law.  
Keywords: The source of law, the source of civil law; contract; law on contract; freedom  
of will, commitments and agreements.  
1. Cần phân biệt giữa hợp đồng và Pháp luật về hợp đồng điều chỉnh mọi sự  
thỏa thuận của các chủ thể không phân  
biệt ai là người thỏa thuận và thỏa thuận  
về vấn đề gì, miễn là sự thỏa thuận thuộc  
phạm vi điều chỉnh của luật hợp đồng.  
Việc các bên xác lập với nhau những  
mối quan hệ để qua đó thực hiện công  
việc đối với nhau, chuyển giao cho nhau  
các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu  
cầu sinh hoạt tiêu dùng, nhu cầu sản  
xuất, kinh doanh là sự tất yếu trong đời  
sống xã hội. Trong nền kinh tế thị trường,  
các mối quan hệ đó lại càng có một vai  
trò quan trọng như huyết mạch của nền  
kinh tế, bởi lưu thông hàng hóa, chuyên  
môn hóa quá trình sản xuất thường được  
điều phối thông qua các hợp đồng. Quá  
trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh  
tế thị trường không phải tự nhiên hình  
thành, bản thân hàng hóa không thể tự  
tìm đến với nhau để thiết lập quan hệ  
mà các quan hệ này chỉ có thể được hình  
thành từ những hành vi có ý chí của các  
chủ thể. Mác từng nói rằng: “Tự chúng,  
hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao  
pháp luật về hợp đồng  
Hợp đồng là sự hợp tác trên cơ sở đồng  
thuận giữa các bên, nói đến hợp đồng là  
nói đến tất cả các khía cạnh của việc hứa  
hẹn, cam kết. Thực tế luôn xảy ra lời hứa,  
sự cam kết, chấp thuận như là cái vốn có  
của đời sống. Ý niệm về hợp đồng bắt  
nguồn từ cuộc sống, hợp đồng có từ cuộc  
sống, xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống.  
Khi hợp đồng được giao kết, nghĩa là các  
bên mong muốn cùng nhau hợp tác để đáp  
ứng các nhu cầu của chính mình thông qua  
việc chia sẻ các lợi ích. Tuy nhiên, các thỏa  
thuận, cam kết, hứa hẹn diễn ra hàng ngày  
luôn chứa đựng sự khác biệt.  
Vậy những thỏa thuận, cam kết nào là  
hợp đồng? Ai, và với những yếu tố nào  
thì được coi là đủ điều kiện để cam kết,  
thỏa thuận và thực hiện sự cam kết thỏa  
thuận đó? Khi nào thì một cam kết, thỏa  
thuận được thừa nhận và bắt buộc thực  
hiện? Một sự thất hứa, một sự vi phạm  
cam kết sẽ gặp phải hậu quả pháp lý nào?  
Những câu hỏi trên chỉ có thể xác định  
được thông qua pháp luật về hợp đồng.  
* Phó giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
PHẠM VĂN TUYẾT  
đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó không làm một việc cụ thể”2; “Hợp đồng là một  
sự hứa hẹn hoặc một tập hợp sự hứa hẹn mà đối  
với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế  
tài, hoặc đối với việc thực hiện nó, pháp luật, một  
trong số phương diện, thừa nhận như là một  
trách nhiệm”3; “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo  
đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc  
nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc  
không làm một việc nào đó” (Điều 1101 Bộ luật  
dân sự - BLDS Pháp năm 1804); “Hợp đồng  
được thừa nhận như một sự thỏa thuận được  
giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát  
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa  
vụ dân sự” (Điều 420 BLDS Liên bang Nga);  
“Hợp đồng là một sự thỏa thuận của các ý chí  
mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc  
mình với một hoặc một số người khác để thực  
hiện một cam kết” (Điều 1378, BLDS Québec  
Canada); “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa  
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt  
quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 385, BLDS Việt  
Nam năm 2015).  
trao đổi với nhau thì những người giữ chúng  
phải đối xử với nhau như những người mà ý  
chí nằm trong các vật đó”1. Luận điểm này  
cũng cho thấy các quan hệ hợp đồng chỉ  
hình thành khi có sự gặp gỡ ý chí giữa  
các bên, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí  
của mình mà không được bên kia chấp  
nhận thì không thể hình thành quan hệ  
để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài  
sản/hàng hóa hoặc làm một công việc đối  
với nhau được. Sự gặp gỡ ý chí giữa các  
bên về việc thực hiện công việc hoặc trao  
đổi lợi ích với nhau được gọi là hợp đồng.  
Điều đó có nghĩa rằng cơ sở đầu tiên để  
hình thành một hợp đồng là sự thỏa thuận  
trong thực tế. Tuy nhiên, sự thỏa thuận  
này chỉ có hiệu lực ràng buộc giữa các  
bên, các bên phải thực hiện những điều đã  
cam kết trong thỏa thuận đó khi và chỉ khi  
đã được pháp luật công nhận và bảo vệ.  
Hợp đồng là những thoả thuận hình  
thành trong thực tế và chỉ những thỏa  
thuận nào nằm trong phạm vi điều chỉnh  
của luật hợp đồng mới được coi là hợp  
đồng. Chẳng hạn như hai người bạn đã  
thỏa thuận với nhau về việc cùng đi ăn  
tối nhưng sự thỏa thuận đó không phải là  
hợp đồng.  
1.2. Pháp luật về hợp đồng  
Pháp luật về hợp đồng hay còn gọi  
là Luật hợp đồng bao gồm một hệ thống  
các quy phạm pháp luật được chứa đựng  
trong BLDS và các văn bản pháp luật  
khác có liên quan đến hợp đồng, là công  
cụ pháp lý để điều chỉnh hợp đồng theo  
nghĩa chủ quan (các thỏa thuận hình  
thành từ ý chí chủ quan của các chủ thể).  
Bởi thế, luật hợp đồng luôn mang ba  
chức năng đặc biệt:  
Như vậy, cần phân biệt giữa hợp đồng  
với pháp luật về hợp đồng.  
1.1. Hợp đồng  
Hợp đồng là một giao dịch dân sự  
hình thành trong thực tế trên cơ sở sự  
thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ  
thể về việc cùng nhau làm phát sinh, thay  
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân  
sự đối với nhau. Như vậy, hợp đồng hình  
thành một cách chủ quan thông qua hành  
vi của các chủ thể.  
Một là, tạo ra khung pháp lý để định  
hướng cho sự thỏa thuận giữa các bên.  
Với chức năng này, luật hợp đồng cho biết  
các bên chỉ được thỏa thuận về những gì  
và trong khuôn khổ nào.  
Hai là, đề cao quyền tự do ý chí của  
cá nhân. Đành rằng tự do ý chí của các  
bên trong hợp đồng phải được đặt trong  
giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi  
ích chung của xã hội và trật tự công cộng  
nhưng luật hợp đồng luôn là minh chứng  
Đã có nhiều định nghĩa về hợp đồng cả  
về góc độ học thuật và góc độ pháp lý. “Hợp  
đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều  
người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc cho sự tôn trọng của pháp luật đối với tự  
1ꢀ  
Các Mác: Tư bản, Quyển 1, Tập 1, NXB Sự thật, 2ꢀ,3 Deluxe Black’s Law Dictionary, West Publishing  
Hà Nội, 1973  
Co, 1990  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 33  
HỢP ĐồNG CÓ ĐưỢC COi LÀ NGUồN CỦA LUẬT dÂN SỰ...  
do ý chí của con người, thể hiện ở việc luật chí của chủ thể trong hợp đồng bị hạn chế.  
“Hạn chế tự do ý chí đồng nghĩa với sự can  
hợp đồng xác định các quyền và nghĩa vụ  
hình thành từ sự cam kết thỏa thuận có  
hiệu lực bắt buộc đối với các bên, luôn bảo  
đảm cho các thỏa thuận đã cam kết được  
thực thi. “Dù ở hệ thống pháp luật nào, người  
ta cũng đều thừa nhận nền tảng của luật hợp  
thiệp của nhà nước vào khu vực quyền lợi tư.  
Nhưng sự can thiệp này lại là một sự cần thiết  
7
6
trước hết vì đời sống chung của cộng đồng” .  
Ba là, định ra cơ chế giải quyết tranh  
chấp liên quan đến cam kết thỏa thuận và  
chứng minh sự đảm bảo của Nhà nước  
đối với cam kết thỏa thuận của các bên.  
Luật hợp đồng trở nên không cần thiết  
đồng là tự do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là vấn  
4
3
đề trọng yếu của hợp đồng” .  
Tuy nhiên, nếu để tự do ý chí thực  
hiện một cách vô hạn trở nên thái quá thì nếu trong thực tế không có thỏa thuận nào  
phát sinh và cũng có thể không cần phải áp  
dụng luật hợp đồng nếu như tại thời điểm  
xác lập, hợp đồng đã được thực hiện ngay  
trong bối cảnh không có bất kỳ một tranh  
chấp, trở ngại nào hoặc thậm chí có tranh  
chấp nhưng các bên đã tìm đến nhau và  
tìm được giải pháp giải quyết tranh chấp  
đó. Tuy nhiên, những vấn đề trên chỉ là giả  
thiết bởi cuộc sống luôn có cả trăm ngàn  
thỏa thuận mỗi ngày, cũng như không  
phải thỏa thuận nào cũng được thực hiện  
ngay lập tức và không có tranh chấp.  
Từ việc tiếp cận về hợp đồng (hình  
thành từ ý chí chủ quan của chủ thể hợp  
đồng) với pháp luật về hợp đồng (là ý  
chí của nhà nước, không phụ thuộc vào  
ý chí của chủ thể hợp đồng), chúng ta có  
thể thấy hợp đồng là cái cần điều chỉnh,  
còn luật hợp đồng là phương tiện để điều  
chỉnh hợp đồng. Người ta không thể lấy  
cái đang cần điều chỉnh để điều chỉnh  
chính nó, nghĩa là không thể lấy hợp đồng  
để điều chỉnh hợp đồng.  
hợp đồng có thể trở thành phương tiện để  
người giàu bóc lột người nghèo (cho vay  
nặng lãi) hoặc sẽ là nguy cơ đối với lợi ích  
chung của xã hội. Vì thế, “phải đi xa hơn  
nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của  
Nhà nước vào quan hệ pháp luật tư, các việc  
dân sự, không được bỏ qua một khả năng tối  
thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của Nhà  
nước vào những quan hệ dân luật”5  
4
Một tác giả khác cũng cho rằng, tự do  
ngày nay được nhắc tới với những hạn chế  
nhất định phụ thuộc vào sự tự nguyện của  
chính chủ thể, vào quyền lực lớn hơn hoặc  
khả năng thực hiện của chủ thể. Vì vậy, tự  
do không có nghĩa tuyệt đối mà được giải  
thích phù hợp với hoàn cảnh. Nên hạn  
chế tự do ý chí cũng có nghĩa tương đối,  
nhưng là một lẽ phải trong nghĩa đối lập  
với tự do. Dù sao người ta cũng hy vọng  
ý chí được thể hiện ra một cách tối đa  
mà pháp luật quy định cho mỗi cá nhân.  
Song nói rằng ý chí là hoàn toàn độc lập  
thì điều đó có nghĩa là chúng ta đang sống  
mà không cần có pháp luật.6  
2. Khái quát về nguồn của pháp luật  
nói chung và nguồn của luật dân sự  
“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ  
được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ  
sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật  
5
Vì quyền, lợi ích hợp pháp của chủ  
thể khác, đặc biệt là những người yếu thế  
trong hợp đồng; vì sự cân đối giữa lợi ích  
của cá nhân với lợi ích chung của xã hội; vì  
sự phát triển một nền kinh tế đúng hướng  
theo một trật tự chung nên quyền tự do ý  
cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ  
8
7
việc pháp lý xảy ra trong thực tế” . Có nhiều  
cách phân loại nguồn của luật nhưng chủ  
yếu được phân loại thành nguồn nội dung  
và nguồn hình thức. Trong đó, “nguồn nội  
4 Ngô Huy Cương, Tự do ý chí và tiếp nhận ý chí trong  
pháp luật Việt Nam hiện hành – Tạp chí Nghiên cứu lập  
pháp số 115 tháng 02 năm 2008.  
5 V.I. Lenin Toàn tập, NXB Sự thật, 1989, tập 36, Tr 577.  
7ꢀ Xem Ngô Huy Cương (Nguồn đã dẫn)  
6ꢀ Xem Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. 8 Xem Nguyễn Thị Hồi - “Về khái niệm nguồn của pháp  
Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, tr. 8  
luật” – Tạp chí Luật học, Số 02/2008  
34 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
PHẠM VĂN TUYẾT  
dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên hội thảo hoặc sinh hoạt chuyên môn có liên  
của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có  
quan đến nguồn của luật dân sự, nghĩa là  
các quan điểm này chưa xuất hiện trong  
các công trình khoa học đã được công bố.  
Quan điểm thứ nhất, hợp đồng là một  
trong các loại nguồn của luật dân sự  
Những người theo quan điểm này cho  
rằng: i) Hợp đồng phản ánh quy tắc xử sự  
của các chủ thể, các chủ thể tham gia hợp  
đồng phải tuân theo quy tắc xử sự đó. Vì  
vậy, hợp đồng được coi là nguồn của luật  
dân sự, ii) Tòa án dựa vào hợp đồng (những  
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng) để  
giải quyết tranh chấp từ hợp đồng nên hợp  
đồng là nguồn được Tòa án áp dụng để giải  
quyết tranh chấp phát sinh trong thực tế.  
Quan điểm thứ hai, hợp đồng không được  
coi là nguồn của luật dân sự  
Những người theo quan điểm này cho  
rằng: i) Ý chí của các chủ thể tham gia hợp  
đồng không phải là thứ tạo nên pháp luật.  
Theo đó, hợp đồng được tạo nên bởi ý chí  
tự do, tự nguyện của các bên không được  
coi là nguồn của luật dân sự. Như mục  
đầu tiên của bài viết đã nêu, các bên trong  
hợp đồng được tự do ý chí, tự nguyện thỏa  
thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ với  
nhau nhưng ý chí này luôn được điều chỉnh  
bởi pháp luật; ii) Các loại nguồn được quy  
định trong BLDS mà Tòa án có thể áp dụng  
để giải quyết các vụ việc dân sự xảy ra trong  
thực tế không bao gồm hợp đồng.  
thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành  
9
8
và giải thích pháp luật” và “nguồn hình thức  
của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại  
của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay  
là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy  
phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các  
chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết  
các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”10.  
Như vậy, xét về mặt nội dung, nguồn  
của pháp luật nói chung và nguồn của luật  
dân sự nói riêng là “xuất xứ, căn nguyên  
của pháp luật”, bao gồm: Ý chí của Nhà  
nước; nhu cầu quản lý xã hội kinh tế - xã  
hội; các tư tưởng, học thuyết pháp lý. Xét  
về mặt hình thức, nguồn của pháp luật nói  
chung và nguồn của luật dân sự nói riêng là  
hình thức thể hiện các quy tắc xử sự chung,  
bao gồm: Luật viết – luật thành văn (bao  
gồm các văn bản quy phạm pháp luật chứa  
đựng quy tắc xử sự, các nguyên tắc cơ bản  
của pháp luật), tập quán, án lệ, lẽ công bằng.  
Có thể nói, nguồn của luật dân sự là quy  
tắc xử sự chung được chứa đựng trong các  
hình thức khác nhau mà mọi chủ thể phải  
tuân theo khi tham gia vào quan hệ dân sự  
được điều chỉnh bởi quy tắc xử sự đó. Những  
quy tắc xử sự đó như là căn cứ để các chủ thể  
có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các  
vụ việc dân sự xảy ra trong thực tế.  
Theo quy định của BLDS Việt Nam  
năm 2015, chủ thể có thẩm quyền có thể áp  
dụng các nguồn của luật theo các hình thức  
sau đây để điều chỉnh các quan hệ dân sự:  
Luật viết (bao gồm BLDS và luật khác có  
liên quan), tập quán, án lệ, lẽ công bằng.  
3. Hợp đồng có được coi là nguồn của  
luật dân sự hay không?  
3.2. Quan điểm của tác giả và lý giải  
cho quan điểm của mình  
Tác giả đứng về quan điểm thứ hai,  
nghĩa là không coi hợp đồng là nguồn của  
luật dân sự với một số bình luận và lý giải  
sau đây:  
Mặc dù hợp đồng phản ánh quy tắc xử sự  
của các chủ thể, các chủ thể tham gia hợp đồng  
phải tuân theo quy tắc xử sự đó (theo quan  
điểm thứ nhất) nhưng xử sự đó chỉ là sự  
bắt buộc đối với các bên đang tham gia  
hợp đồng cụ thể đó trong việc họ thực hiện  
quyền và nghĩa vụ đối với nhau, hoàn toàn  
không phải là xử sự mang định hướng, dự  
liệu cho mọi chủ thể. Chẳng hạn như thỏa  
3.1. Các quan điểm  
Có thể khẳng định cho đến thời điểm  
bài viết này được thực hiện, chưa có một  
công trình khoa học nào xác định hợp  
đồng là nguồn của luật dân sự. Vì thế, nói  
về quan điểm khoa học thì hiện nay đang  
có hai trường phái xuất hiện trong các cuộc  
9, 10ꢀ Xem Nguyễn Thị Hồi (Nguồn đã dẫn).  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 35  
HỢP ĐồNG CÓ ĐưỢC COi LÀ NGUồN CỦA LUẬT dÂN SỰ...  
thuận của các bên về tài sản mua bán, giá luật hợp đồng để khẳng định sự thỏa thuận  
đã tuân thủ quy định của luật hợp đồng  
hay chưa. Khi đã thấy hợp đồng hoàn toàn  
phù hợp với pháp luật thì việc Tòa án yêu  
cầu các bên phải thực hiện theo thỏa thuận  
trong hợp đồng chỉ là việc Tòa án thừa  
nhận và tôn trọng các cam kết, thỏa thuận  
giữa các bên. Mặt khác, nếu coi một hợp  
đồng đang có tranh chấp lại là nguồn để  
giải quyết tranh chấp là một sự vô lý.  
mua bán tài sản đó chỉ là sự bắt buộc đối  
với các bên trong một hợp đồng mua bán tài  
sản cụ thể khi hợp đồng đó có hiệu lực pháp  
luật, cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào  
thỏa thuận đó để giải quyết tranh chấp. Tuy  
nhiên, chỉ áp dụng duy nhất cho trường  
hợp đó với các chủ thể của nó mà không  
phải là căn cứ để giải quyết các trường hợp  
tranh chấp khác, trong khi nguồn của pháp  
luật phải là căn cứ có thể áp dụng trong  
mọi trường hợp nếu nội dung tranh chấp  
là giống nhau. Mặt khác, về mặt nội dung  
thì nguồn của pháp luật chỉ là ý chí của Nhà  
nước (ở nước ta thì đó là đường lối, chủ  
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước  
đối với nhu cầu quản lý kinh tế, quản lý  
xã hội). Ý chí của các chủ thể tham gia hợp  
đồng không phải là thứ tạo nên pháp luật.  
Liên hệ rộng ra thì nếu coi hợp đồng  
là nguồn của luật dân sự sẽ đồng nghĩa  
với việc coi mọi ý chí của chủ thể đều là  
nguồn của luật dân sự, trong khi hành vi  
nào của chủ thể (có năng lực hành vi dân  
sự) đều là sự thể hiện ý chí của họ.  
Quan điểm thứ nhất còn cho rằng: Tòa  
án dựa vào hợp đồng (những thỏa thuận của  
các bên trong hợp đồng) để giải quyết tranh  
chấp từ hợp đồng nên hợp đồng là nguồn được  
Tòa án áp dụng để giải quyết tranh chấp phát  
sinh trong thực tế.  
Pháp luật về hợp đồng là nguồn (hình  
thức) của luật dân sự, còn bản thân hợp  
đồng chỉ là sự thể hiện ý chí của các chủ  
thể tham gia hợp đồng. Phải dựa vào pháp  
Khoản 2 Điều 401 BLDS năm 2015 quy  
định “Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực,  
các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ  
đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ  
có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa  
thuận của các bên hoặc theo quy định của  
pháp luật”. Quy định trên cho thấy sự  
thỏa thuận của các bên phải được sự thừa  
nhận của luật và khi được luật thừa nhận  
thì các bên phải thực hiện. Nếu thỏa thuận  
đó chưa được luật viết (một hình thức của  
nguồn luật dân sự) quy định cụ thể nên  
không thể áp dụng trực tiếp được thì phải  
áp dụng tương tự pháp luật. Trong trường  
hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật  
thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật dân sự, tập quán, án lệ, lẽ công bằng.  
Từ những luận giải trên, tác giả bài viết  
cho rằng nguồn về hình thức của luật dân  
sự chỉ bao gồm: Luật viết, tập quán, án lệ,  
lẽ công bằng. Hợp đồng không được coi  
là nguồn (cả về nguồn hình thức, cả về  
nguồn nội dung) của luật dân sự./.  
TÀi LiỆU THAM KHẢO  
1. Các Mác: Tư bản, Quyển 1, Tập 1, NXB Sự  
luật (các loại nguồn) để xem xét về ý chí thật., Hà Nội, 1973  
đó. Trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp  
từ hợp đồng, Tòa án phải xem xét về sự  
thỏa thuận của các bên để xem mỗi bên có  
quyền và nghĩa vụ gì từ sự thỏa thuận đó  
mà không phải là căn cứ vào thỏa thuận đó  
để giải quyết tranh chấp từ hợp đồng.  
2. Deluxe Black’s Law Dictionary, West  
Publishing Co, 1990  
3. Ngô Huy Cương, Tự do ý chí và tiếp nhận  
ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện hành – Tạp chí  
Nghiên cứu lập pháp số 115 tháng 02 năm 2008.  
4. V.I. Lenin Toàn tập, NXB Sự thật, 1989, Tập 36.  
5. Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2.  
Contrat, Troisième édition, Litec, 1989.  
Nếu coi hợp đồng là nguồn để Tòa án  
dựa vào đó giải quyết các tranh chấp thì có  
lẽ không cần đến luật hợp đồng. Các thỏa  
thuận trong hợp đồng cần phải được Tòa  
6. Nguyễn Thị Hồi - “Về khái niệm nguồn của  
án xem xét trên cơ sở quy định của pháp pháp luật”, Tạp chí Luật học, Số 02/2008.  
36 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 14320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hợp đồng có được coi là nguồn của luật dân sự hay không - Các quan điểm và bình luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhop_dong_co_duoc_coi_la_nguon_cua_luat_dan_su_hay_khong_cac.pdf