Giải quyết tranh chấp đầu tư - Những vấn đề đặt ra đối với luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ĐỐI VỚI LUẬT ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
Lê Đức Ngọc*
*ThS. Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 (Luật PPP) có
hiệu lực từ ngày 01/01/2021 được kỳ vọng sẽ tạo dựng một nền tảng pháp
lý cởi mở, minh bạch, công bằng nhằm thu hút các nhà đầu tư thực hiện
các dự án về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Tuy nhiên, liên quan đến các quy
định về giải quyết tranh chấp về đầu tư, Luật PPP vẫn còn tồn tại những sự
khác biệt so với hai điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Hiệp định
Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp
định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA). Trong
phạm vi bài viết này, tác giả giới thiệu những nét chính về cơ chế giải
quyết tranh chấp theo CPTPP, EVIPA và Luật PPP; phân tích chỉ ra một số
khác biệt cũng như các hạn chế, bất cập trong cơ chế giải quyết tranh chấp
giữa CPTPP, EVIPA và Luật PPP; và đưa ra các kiến nghị.
Từ khóa: CPTPP, EVIPA, PPP,
giải quyết tranh chấp về đầu tư.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 23/3/2021
: 14/4/2021
: 16/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
The Law on Public-Private-Partnership (Law on PPP), coming into
effectiveness from January 1, 2021, is expected to create an open,
transparent and fair legal foundation to attract investors to do projects
related to infrastructure in Vietnam. However, regarding the provisions
on the investment dispute settlement, the Law still exists some differences
compared to the two international treaties to which Vietnam is a member,
the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific
Partnership (CPTPP) and the Investment Protection Agreement between
Vietnam and the European Union (EVIPA). In the scope of this article, the
author provides introduction of the main features of the dispute settlement
mechanism under CPTPP, EVIPAand the Law on PPP, an analysis of some
differences as well as shortcomings in the dispute settlement mechanism
between CPTPP, EVIPA and the Law on PPP; and also recommendations.
Keywords: CPTPP; EVIPA; PPP;
investment; dispute settlement
Article History:
Received
Edited
: 23 Mar. 2021
: 14 Apr. 2021
: 16 Apr. 2021
Approved
Trong năm 2019 và năm 2020, Việt Nam
đã tham gia và thiết lập ba nền tảng pháp lý
quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu thu hút
tốt hơn dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài (FDI) vào Việt Nam: Hiệp định Đối
tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự
dovàHiệpđịnhBảohộđầutưgiữaViệtNam
và Liên minh châu Âu (EVFTA/EVIPA) và
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công
tư (Luật PPP). Trong đó, việc Luật PPP ra
đời được kỳ vọng sẽ trở thành một khung
pháp lý mang hướng “tiêu chuẩn” để minh
định rõ ràng mục tiêu thu hút đầu tư mà Việt
Nam đã đề ra. Không khó để nhận ra, trong
các dự án đầu tư theo phương thức đối tác
công tư (dự án PPP), mục tiêu của nhà đầu
tư không nhất thiết phải giống với mục đích
của Nhà nước, và do vậy, khả năng xảy ra
xung đột luôn sẵn sàng thường trực. Trong
các hợp đồng đầu tư, một khía cạnh thường
bị các bên bỏ qua nhưng lại đóng vai trò
28
Số 08(432) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
1.1. CPTPP và giải quyết tranh chấp
đầu tư trong CPTPP
quan trọng là nội dung giải quyết tranh chấp
khi có những bất đồng xảy ra. Đối với các
nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trước
khi có các Hiệp định Thương mại tự do
(FTA) thế hệ mới, hầu như chỉ có Tòa án
Việt Nam là “địa chỉ” duy nhất để giải quyết
bất kỳ tranh chấp nào trong quá trình thực
hiện hoạt động đầu tư của họ; chỉ có một
số ít các nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện
ra các cơ quan tài phán quốc tế. Điều này ít
nhiều đã gây ra những quan ngại nhất định
cho các nhà đầu tư nước ngoài trên thực tế.
Hầu hết các dự án cơ sở hạ tầng đều là các
dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, chi phí vận
hành cao và thời gian dài tính từ thời điểm
bắt đầu triển khai đến lúc hoàn thiện dự án.
Các nhà đầu tư đến từ các nước thành viên
CPTPP và các nước thành viên Liên minh
châu Âu (EU) thường có nguồn lực và kinh
nghiệm đáng kể và có thể mang lại lợi ích
cho Việt Nam về mặt này. Tuy nhiên, tâm
lý chung của các nhà đầu tư nước ngoài khi
mang vốn và sức của mình sang một “phương
trời xa lạ” đều là muốn các khoản đầu tư của
mình được bảo vệ một cách hợp lý nhất có
thể. Do vậy, các điều khoản giải quyết tranh
chấp sẽ đóng vai trò như là một phương tiện
mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể sử dụng
để đảm bảo an toàn và bảo vệ thận trọng cho
hàng triệu đô-la đầu tư của họ.
CPTPP là một FTA thế hệ mới, gồm 11
nướcthànhviênlà:Australia,Brunei,Canada,
Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mê-hi-cô, New
Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Hiệp
định đã được ký kết ngày 08/3/2018, và
chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018
đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ
tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô,
Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada
và Australia. Đối với Việt Nam, Hiệp định
có hiệu lực từ ngày 14/01/20191. Tính đến
ngày 14/01/2021, Việt Nam đã trải qua 02
năm thực thi CPTPP.
CPTPP đưa ra các điều khoản và điều
kiện để đảm bảo thủ tục đầu tư sẽ dễ dàng
và minh bạch hơn cho các nhà đầu tư nước
ngoài. Chương 9 Hiệp định quy định cơ chế
bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các quốc gia
CPTPP, đề cập cụ thể về giải quyết tranh
chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các
quốc gia tiếp nhận đầu tư. Trong trường hợp
các tài sản được đầu tư bị quốc hữu hóa,
CPTPP yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bồi
thường tương đương với giá trị thị trường
ngay trước khi việc quốc hữu hóa diễn ra.
Liên quan đến vấn đề giải quyết tranh
chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp
nhận đầu tư, CPTPPkhuyến khích các bên nỗ
lực giải quyết thông qua các biện pháp như
tham vấn, đàm phán hoặc thông qua bên thứ
ba. Trong trường hợp tham vấn không thành
công, nhà đầu tư có thể đơn phương gửi yêu
cầu ra trọng tài. Nhà đầu tư nước ngoài, với
tư cách là bên khiếu nại, có thể chọn Tòa án
để giải quyết tranh chấp. Khi thành lập ban
hội thẩm, nhà đầu tư cũng có thể chọn một
trong ba hội thẩm viên. Hơn nữa, họ có thể
thương lượng để áp dụng những quy tắc có
liên quan, và đưa ra hướng dẫn để đảm bảo
1. Giải quyết tranh chấp đầu tư trong
CPTPP, EVIPA và Luật PPP
Hiện nay, trên thế giới phổ biến ba (03)
cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
là: Trọng tài, Tòa án hai cấp xét xử, Tòa án
trong nước. Cho đến nay, theo các cam kết
quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp
luật về đầu tư của Việt Nam, Việt Nam đã
tham gia cả ba cơ chế giải quyết tranh chấp
này, cụ thể như sau:
1
Bộ Công Thương, Cổng thông tin về Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.
Số 08(432) - T4/2021
29
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
các trọng tài viên độc lập và vô tư trong vụ
việc của họ. Do đó, CPTPP tạo ra cho các
nhà đầu tư nước ngoài nhiều thời gian và
kênh hơn để bảo vệ khoản đầu tư của họ ở
nước tiếp nhận đầu tư.
phê chuẩn các FTAcủa EU, EU đã chính thức
đề nghị Việt Nam tách riêng nội dung bảo hộ
đầu tư, và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa
nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước ra khỏi
EVFTA thành một hiệp định riêng2. Hiện tại,
EVIPA vẫn chưa có hiệu lực. Để có hiệu lực,
Hiệp định này phải được Nghị viện châu Âu
và từng thành viên EU phê chuẩn.
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ nhất định
áp dụng cho Việt Nam. Nhà đầu tư nước
ngoài sẽ mất quyền khởi kiện theo điều
khoản giải quyết tranh chấp nếu nhà đầu tư
nước ngoài tuân theo các thủ tục khiếu nại
tại Tòa án Việt Nam. Lựa chọn giải quyết
tại một Tòa án Việt Nam là cuối cùng và
duy nhất, ngăn cản nhà đầu tư khởi kiện đến
bất kỳ Trọng tài nào khác. Nếu các quy định
của Tòa án có lợi cho nhà đầu tư, nhưng
Việt Nam từ chối thực hiện, nhà đầu tư
nước ngoài có thể khiếu nại nước sở tại của
mình để yêu cầu đình chỉ lợi ích cho Việt
Nam cho đến khi Việt Nam tuân thủ.
Theo các thỏa thuận song phương nhất
định của CPTPP, có một số ngoại lệ đối
với các cơ chế mà CPTPP đặt ra cho việc
giải quyết tranh chấp. Ví dụ, New Zealand
và Việt Nam đồng ý không áp dụng cơ chế
giải quyết tranh chấp đối với Chính phủ của
mỗi quốc gia theo Mục B của Chương 9, trừ
khi Chính phủ đồng ý đặc biệt đối với việc
áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp đó.
Thỏa thuận song phương này hạn chế một số
quyền tự do đối với các nhà đầu tư khi gửi hồ
sơ tranh chấp ra trọng tài. Trong trường hợp
này, các nhà đầu tư từ New Zealand vẫn có
thể sử dụng một cơ chế khác theo luật pháp
Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế khác mà
Việt Nam và New Zealand đã ký kết.
Đặc điểm nổi bật nhất của EVIPA là
Hiệp định này thiết lập một Tòa án gồm hai
cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Các thành
viên của hai cấp xét xử này sẽ đảm nhiệm
vai trò như các thẩm phán trong nhiệm kỳ
04 năm và có thể được tái bổ nhiệm 01 lần;
5 trên tổng số 9 thành viên được bổ nhiệm từ
thời điểm Hiệp định có hiệu lực sẽ có nhiệm
kỳ 6 năm. Trong số đó, ba thành viên mang
quốc tịch của một trong các nước thành viên
EU, ba thành viên mang quốc tịch Việt Nam
và ba thành viên mang quốc tịch của nước
thứ ba, một trong số các thành viên được bổ
nhiệm là Chủ tịch Hội đồng tài phán và một
trong số các thành viên được bổ nhiệm là
Phó Chủ tịch Hội đồng tài phán, thông qua
bốc thăm ngẫu nhiên bởi Chủ tịch Uỷ ban
đầu tư. Ngoài ra, EVIPAcũng quy định, Hội
đồng tài phán phúc thẩm xem xét lại các
phán quyết tạm thời của Hội đồng tài phán
thông qua thủ tục phúc thẩm; theo đó sẽ có
6 trọng tài viên, trong đó 2 trọng tài viên có
quốc tịch một trong số nước thành viên EU,
2 trọng tài viên có quốc tịch Việt Nam, và 2
trọng tài viên có quốc tịch nước thứ ba.
Hiện tại, cơ chế này mới bắt đầu manh
nha được sử dụng tại một số ít các hiệp định
về đầu tư, chủ yếu là các hiệp định có sự
tham gia đàm phán của EU.
1.2. EVIPA và giải quyết tranh chấp
đầu tư trong EVIPA
Hiệp định EVIPA được ký kết vào ngày
30/6/2019. Ban đầu, EVIPA nằm trong
EVFTA, tuy nhiên vào tháng 9/2017, do phát
sinh một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền
Trên thực tế, cơ chế Tòa án hai cấp xét xử
là không mới, đã từng được nhiều quốc gia
lựa chọn giải quyết tranh chấp trong các điều
ước quốc tế mà mình tham gia. Trong đó,
2
Bộ Công Thương, Cổng thông tin về Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu
truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.
30
Số 08(432) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
phổ biến nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
hay các Hiệp định trong khuôn khổ ASEAN
hayASEAN+. Tuy nhiên, điểm chung của cơ
chế đó là chỉ giải quyết các khúc mắc, tranh
chấp giữa Nhà nước với Nhà nước, với phạm
vi liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch
vụ, mà không chuyên biệt cho tranh chấp
giữa nhà đầu tư với Nhà nước trong lĩnh vực
đầu tư. Do đó, việc EU có cách tiếp cận giải
quyết tranh chấp đầu tư bằng Tòa án hai cấp
xét xử là khá mới khi so sánh với các Hiệp
định Bảo hộ đầu tư song phương (BIT) trước
đây hay ngay cả CPTPP. EVIPA đánh dấu
lần đầu tiên Việt Nam áp dụng phương thức
giải quyết tranh chấp này trong một hiệp định
bảo hộ đầu tư3. Không chỉ với Việt Nam, EU
đã lựa chọn Tòa án hai cấp xét xử làm cơ
chế giải quyết tranh chấp về đầu tư trong các
hiệp định về đầu tư khác mà EU tham gia
như Hiệp định Kinh tế và thương mại toàn
diện EU và Canada (CETA), Hiệp định bảo
vệ đầu tư giữa EU và Singapore (EUSIPA).
Về trình tự khởi kiện, giống như các phương
thức giải quyết tranh chấp khác, để bắt đầu quá
trình khởi kiện, trước hết, nhà đầu tư phải gửi
yêu cầu tham vấn đến bên còn lại. Nếu tranh
chấp không thể giải quyết bằng cách giải quyết
tranh chấp thay thế ngoài tài phán như đàm
phán hay hòa giải, trong vòng 06 tháng kể từ
ngày nguyên đơn yêu cầu tiến hành các cuộc
đàm phán giải quyết tranh chấp hoặc trong
vòng 03 tháng kể từ ngày họ gửi thông báo dự
định nộp hồ sơ khiếu kiện, Hội đồng tài phán sẽ
được thành lập trong vòng 90 ngày kể từ ngày
nộp hồ sơ khiếu kiện và sẽ tiến hành tố tụng
theo một thủ tục chặt chẽ về thời gian. Trong
vòng 18 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ khiếu kiện,
Hội đồng tài phán sẽ ban hành phán quyết tạm
thời và thời hạn giải quyết khiếu nại dựa trên
yêu cầu của bên tranh chấp sẽ không vượt quá
06 tháng. Theo đó, thời hạn thủ tục tố tụng
trong EVIPA chỉ kéo dài khoảng 02 năm và
không cho phép bất cứ sự trì hoãn nào đối với
quá trình tố tụng nêu trên.
Về phương thức giải quyết tranh chấp
thân thiện, Điều 3.4, 3.29 và 3.31 EVIPA
quy định về phương thức giải quyết tranh
chấp bằng thương lượng, hòa giải và khuyến
khích việc đạt được thỏa thuận ngoài tố
tụng. Cụ thể, Phụ lục 10 EVIPA quy định
về cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua
trung gian hòa giải4.
1.3. Luật PPP và giải quyết tranh chấp
đầu tư trong Luật PPP
Điều 97 là điều khoản duy nhất của Luật
PPP điều chỉnh về giải quyết tranh chấp. Điều
97 Luật PPP quy định từng loại tranh chấp
trên cơ sở phân định các chủ thể tranh chấp,
để từ đó làm cơ sở xác định cơ quan, tổ chức
nào có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
đó. Khoản 1 Điều 97 quy định: “Tranh chấp
giữa cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết
hợp đồng với nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp
dự án PPP và tranh chấp giữa doanh nghiệp
dự án PPP với các tổ chức kinh tế tham gia
thực hiện dự án được giải quyết thông qua
thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa
án”. Theo đó, điều khoản này đã phân nhóm
các loại tranh chấp hợp đồng PPP cụ thể như
sau: (i) Một là tranh chấp giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng
với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP; (ii)
Hai là tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án
PPP với các tổ chức kinh tế tham gia thực hiện
dự án. Luật PPP quy định 04 phương thức giải
quyết tranh chấp bao gồm thương lượng, hòa
giải, Trọng tài hoặc Tòa án.
3 Hoàng Phước, Lương Văn Lý, “Thận trọng trong giải quyết tranh chấp theo EVIPA”, Thời báo Kinh tế Sài
cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.
4 Nguyễn Thị Nhung, “EVFTA, EVIPA và cơ chế giải quyết tranh chấp”, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-
phap-luat/evfta-evipa-va-co-che-giai-quyet-tranh-chap-318992.html, truy cập ngày 18 tháng 03 năm 2021.
Số 08(432) - T4/2021
31
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
2. Một số hạn chế, bất cập về giải quyết
tranh chấp đầu tư trong Luật PPP trên
cơ sở tham chiếu CPTPP và EVIPA
2.2. Quy định về việc có tiếp tục thực
hiện dự án đầu tư trong quá trình giải
quyết tranh chấp hay không
2.1. Thời điểm tiến hành các phương
thức giải quyết tranh chấp thân thiện
Khoản 1 Điều 97 Luật PPP quy định:
“Tranh chấp giữa cơ quan có thẩm quyền,
cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư
hoặc doanh nghiệp dự án PPP và tranh
chấp giữa doanh nghiệp dự án PPP với các
tổ chức kinh tế tham gia thực hiện dự án
được giải quyết thông qua thương lượng,
hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án”. Điều này
được hiểu rằng, Luật PPP quy định thương
lượng, hòa giải là hai phương thức giải
quyết tranh chấp thân thiện mà các bên có
tranh chấp có thể sử dụng. Tuy nhiên, quy
định nay không cho thấy thương lượng, hòa
giải được sử dụng trong thời điểm nào của
quá trình giải quyết tranh chấp.
Một trong những thiếu sót của Luật PPP
là chưa dự liệu trường hợp, khi các bên
tranh chấp đang trong quá trình giải quyết
tranh chấp, các bên có tiếp tục thực hiện
những nghĩa vụ của mình hay không. Về
vấn đề này, tương tự như Luật PPP, bản thân
CPTPP và EVIPA không đưa ra quy định cụ
thể nào để điều chỉnh.
Thực tế cho thấy, một quy trình giải quyết
tranh chấp đầy đủ có thể chiếm một khoảng
thời gian tương đối dài và trong suốt khoảng
thời gian đó, bên khởi kiện có thể sẽ phải liên
tục chịu các tổn hại về kinh tế. Về sau, ngay
cả trong trường hợp bên khởi kiện thắng
kiện, pháp luật hiện hành cũng không có một
điều khoản nào quy định về biện pháp tạm
thời bảo vệ lợi ích của họ trong suốt quá trình
bắt đầu đến khi kết thúc vụ tranh chấp.
Trong khi đó, đối chiếu đến CPTPP và
EVIPA thì trường hợp phát sinh tranh chấp
đầu tư, các bên nên đầu tiên giải quyết tranh
chấp thông qua tham vấn và đàm phán, tức
là sử dụng các thủ tục không mang tính chất
ràng buộc, có thể có sự tham gia của bên thứ
ba (Điều 9.18 CPTPP), và các tranh chấp cần
được giải quyết một cách thân thiện thông
qua đàm phán và hòa giải, và nếu có thể,
trước khi nộp yêu cầu tham vấn (Điều 3.29
EVIPA). Theo đó, có thể thấy, CPTPP và
EVIPAquy định rất rõ ràng hoạt động thương
lượng, hòa giải nên được tiến hành vào thời
điểm nào của hoạt động giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, nội dung này lại không được Luật
PPP quy định và điều đó không chỉ không
khuyến khích các bên sử dụng các biện pháp
giải quyết thân thiện, tránh câu chuyện “cơm
không lành, canh chẳng ngọt”, mà còn sẽ đặt
ra câu hỏi về việc công nhận kết quả thương
lượng, hòa giải sau này.
Ví dụ, trong thời gian gần đây, trong khi
hàng chục dự án giao thông theo phương thức
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển
giao (BOT) đang hoàn tất quá trình chuyển
sang thu phí tự động không dừng thì có 9 dự
án khác đang tạm dừng thu phí với lý do sắp
kết thúc hợp đồng. Có dự án phải dừng bất khả
kháng do không tìm được phương án thu phí
khả thi (BOT Cai Lậy) hoặc có dự án hoàn tất
doanh thu trước thời hạn hợp đồng kết thúc nên
cơ quan quản lý yêu cầu dừng thu phí. Hiện 9
dự án đó là: Quốc lộ 2 đoạn Nội Bài - Vĩnh
Yên, Quốc lộ 1 đoạn tránh Hà Tĩnh, Quốc lộ
1K đoạn Km2+478, Quốc lộ 1 đoạn tránh Cai
Lậy, dự án cầu Đồng Nai, Quốc lộ 20 đoạn qua
các thị trấn và Quốc lộ 1 đoạn Hòa Cầm - Hòa
Phước và Tứ Câu - Vĩnh Điện5.
Các dự án nêu trên thuộc diện chưa thanh lý
được hợp đồng, bàn giao hoàn tất cho cơ quan
quản lý nhà nước vì giữa Nhà nước và nhà đầu
5 Lan Nhi, “Chín dự án BOT dừng khai thác không có tiền cho hoạt động bảo trì”, Thời báo Kinh tế Sài gòn,
tri.html, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2021.
32
Số 08(432) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
tư chưa thống nhất được các tiêu chí xác định
về lợi nhuận nhà đầu tư trong quá trình xây
dựng, các chi phí lãi vay... nên chưa xác định
thời điểm dừng thu phí. Việc tạm dừng mà chưa
quyết toán xong dự án khiến nhà đầu tư dừng
việc bảo trì, không cấp kinh phí vận hành hoặc
bảo trì cho có. Nhiều nhà đầu tư dừng không
bảo trì hoặc bảo trì cho có. Để khắc phục tình
trạng này, các cơ quan chức năng của Việt Nam
đang tiến hành đàm phán, thương thảo nhiều
lần nhưng do không có quy định pháp lý bắt
buộc nhà đầu tư phải bảo trì nên các dự án bị bỏ
mặc, từ đó kéo theo những rủi ro về nguy hiểm
cho người và xe đi qua những đoạn tuyến này.
Thậm chí, có 4 dự án hoàn toàn không được
bảo trì trong đó có dự án Quốc lộ 1 đoạn tránh
Cai Lậy (Tiền Giang)6.
Mặc dù các trường hợp được nêu ở trên
chưa đến giai đoạn giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, điều này cho thấy sự cần thiết
phải quy định về việc có tiếp tục thực hiện
dự án đầu tư trong quá trình giải quyết tranh
chấp hay không cho dù CPTPP và EVIPA
không quy định về vấn đề này.
2.3. Quy định về phối hợp giải quyết các
tranh chấp có nội dung về cùng một vấn đề
Các dự án PPP có đặc điểm chung là bao
gồm nhiều hợp đồng riêng biệt với sự tham
gia của nhiều bên. Do đó, khi phát sinh
tranh chấp trong một hợp đồng thì có thể
gây ra hiệu ứng “Domino”, tác động tiêu
cực và gây phát sinh tranh chấp trong các
hợp đồng khác. Vì vậy, để tránh tạo ra hiệu
ứng tiêu cực đó, đòi hỏi mọi tranh chấp liên
quan đến cùng một vấn đề sẽ được kết hợp
và giải quyết cùng lúc như một tranh chấp
duy nhất. Tuy nhiên, Luật PPP không quy
định về nội dung này, trong khi đó, EVIPA
và CPTPP đã có những quy định để điều
chỉnh, cụ thể như sau:
cùng vấn đề về pháp lý và sự kiện thực tế
phát sinh từ cùng sự kiện và hoàn cảnh, bị
đơn có thể nộp yêu cầu hợp nhất các vụ kiện
đó hoặc một phần của các vụ kiện đến Chủ
tịch Cơ quan giải quyết tranh chấp. Bị đơn
phải gửi bản yêu cầu đến từng nguyên đơn
trong từng vụ kiện mà bị đơn yêu cầu hợp
nhất”. Điều 9.28 CPTPP quy định: “Nếu
hai hay nhiều khiếu kiện được trình độc lập
ra trọng tài... và các khiếu kiện đó có cùng
vấn đề về pháp luật hoặc thực tế và phát
sinh từ cùng sự kiện hoặc tình huống, bất kỳ
bên tranh chấp nào đều có thể yêu cầu hợp
nhất các vụ kiện phù hợp với thỏa thuận
của tất cả các bên tranh chấp...”.
Việc Luật PPP thiếu quy định cho phép
hợp nhất các vụ tranh chấp có nội dung liên
quan cùng một vấn đề có thể sẽ gây ra khả
năng không chỉ tốn kém về chi phí, mà còn
dẫn đến những phán quyết khác nhau liên
quan đến cùng một vấn đề. Điều này gây
khó khăn trong việc áp dụng và thực thi các
phán quyết được đưa ra. Do vậy, việc bổ
sung quy định về phối hợp giải quyết các
tranh chấp có nội dung về cùng một vấn đề
là hết sức cần thiết.
2.4. Áp dụng tập quán quốc tế trong
giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Điều 9.6 CPTPP quy định: “Mỗi Bên sẽ
dành cho khoản đầu tư theo hiệp định này sự
đối xử phù hợp với các nguyên tắc áp dụng
của luật tập quán quốc tế, bao gồm đối xử
công bằng và thoả đáng, và bảo hộ an toàn
và đầy đủ”. Để làm rõ phạm vi của “luật
tập quán quốc tế”, Phụ lục 9-A đã quy định:
“Các Bên xác nhận cách hiểu chung rằng
“luật tập quán quốc tế” nói chung.... được
hình thành từ thực tiễn chung và nhất quán
mà các Quốc gia tuân theo dựa trên nghĩa
vụ pháp lý. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu của
luật tập quán quốc tế đối với người nước
ngoài dẫn chiếu đến tất cả nguyên tắc luật
Điều 3.59 EVIPAquy định: “Trường hợp
có hai vụ kiện hoặc nhiều hơn được nộp có
6 Lan Nhi, Tlđd.
Số 08(432) - T4/2021
33
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
tập quán quốc tế bảo vệ đầu tư của người
nước ngoài”. Luật PPP chưa quy định về
việc áp dụng tập quán quốc tế. Thay vào đó,
trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, Bộ
luật Dân sự (BLDS) năm 2015 là nguồn luật
duy nhất quy định về nguyên tắc áp dụng
tập quán quốc tế. Theo đó, Điều 666 BLDS
năm 2015 quy định: “... Nếu hậu quả của
việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”.
Có thể thấy rằng, BLDS năm 2015 thể
hiện rõ sự ưu tiên cho phía Nhà nước hơn
nhà đầu tư nước ngoài trong việc áp dụng
tập quán quốc tế. Thực tế, việc BLDS quy
định như hiện nay là hoàn toàn dễ hiểu và ở
khía cạnh nào đó là hợp lý. Bởi lẽ, quy định
này sẽ đảm bảo các lợi ích của Việt Nam.
Tuy nhiên, quy định này vô hình chung có
thể gây ra sự quan ngại cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Do đó, điều cần thiết không
phải chỉ cần phải có một quy định riêng về
việc áp dụng tập quán quốc tế trong giải
quyết các tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước
với nhà đầu tư nước ngoài, mà đòi hỏi quy
định đó còn phải hài hòa hóa được lợi ích
của cả hai bên là Nhà nước và nhà đầu tư
nước ngoài.
bên tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của
mình khi đang trong quá trình giải quyết
tranh chấp. Để đảm bảo công bằng cho
các bên liên quan đến nghĩa vụ thực hiện
của bên này là tiền đề để bên kia thực hiện
nghĩa vụ của mình, bổ sung quy định về
việc bồi thường thiệt hại gây ra do một bên
không thực hiện nghĩa vụ trong quá trình
giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, bổ sung quy định về việc cho
phép các bên có thể hợp nhất các vụ tranh
chấp có cùng vấn đề pháp lý và sự kiện thực
tế phát sinh từ cùng sự kiện và hoàn cảnh.
Điều này sẽ giúp các bên tiết kiệm được các
chi phí theo đuổi vụ tranh chấp cũng như
chắc chắn hơn về kết quả giải quyết các
tranh chấp.
Thứ tư, bổ sung quy định về việc áp
dụng tập quán quốc tế. Trong đó, thay quy
định điều kiện áp dụng tập quán là “không
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam” bằng quy định về điều kiện
“không trái với trật tự công cộng”. Trật tự
công cộng là một thuật ngữ chung của thế
giới, được dùng để diễn đạt nguyên tắc bảo
đảm trật tự công cộng hay không trái trật
tự công cộng. Nguyên tắc này vừa có thể
cho phép cơ quan có thẩm quyền thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng thông qua việc
loại bỏ một hoặc một số điểm không phù
hợp với hoàn cảnh tranh chấp cụ thể, vừa
đảm bảo không ảnh hưởng tiêu cực đến
mục tiêu thu hút đầu tư chất lượng cao vào
các cơ sở hạ tầng của Việt Nam.
Về phương thức quy định, chúng tôi cho
rằng Luật PPP và Luật Đầu tư mới được
thông qua năm 2020 nên trước mắt, cần
đưa những vấn đề nêu trên vào nghị định
hướng dẫn thi hành Luật PPP. Tuy nhiên, về
lâu dài, cần sửa đổi Luật PPP, Luật Đầu tư
nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý cao và tính
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, bổ sung quy định thương
lượng, hòa giải là một bước bắt buộc và
phải được tiến hành trước khi các bên đưa
vụ tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án hoặc
Trọng tài. Quy định như vậy sẽ đảm bảo
được hai mục tiêu: (i) Thúc đẩy và khuyến
khích các bên sử dụng các phương thức giải
quyết tranh chấp thân thiện, không mang
tính tài phán để tránh gia tăng căng thẳng,
tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực, trí lực
cho giai đoạn tố tụng phức tạp sau này; (ii)
Đảm bảo sự thống nhất với không chỉ quy
định của Luật Đầu tư năm 2020 mà còn phù
hợp với cam kết trong CPTPP, và EVIPA.
Thứ hai, bổ sung quy định yêu cầu các
ổn định của các quy định này
34
Số 08(432) - T4/2021
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết tranh chấp đầu tư - Những vấn đề đặt ra đối với luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_quyet_tranh_chap_dau_tu_nhung_van_de_dat_ra_doi_voi_lua.pdf

