Giải quyết tranh chấp đầu tư - Những vấn đề đặt ra đối với luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
ĐỐI VỚI LUẬT ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ  
Lê Đức Ngọc*  
*ThS. Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 (Luật PPP) có  
hiệu lực từ ngày 01/01/2021 được kỳ vọng sẽ tạo dựng một nền tảng pháp  
lý cởi mở, minh bạch, công bằng nhằm thu hút các nhà đầu tư thực hiện  
các dự án về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Tuy nhiên, liên quan đến các quy  
định về giải quyết tranh chấp về đầu tư, Luật PPP vẫn còn tồn tại những sự  
khác biệt so với hai điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Hiệp định  
Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp  
định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA). Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả giới thiệu những nét chính về cơ chế giải  
quyết tranh chấp theo CPTPP, EVIPA và Luật PPP; phân tích chỉ ra một số  
khác biệt cũng như các hạn chế, bất cập trong cơ chế giải quyết tranh chấp  
giữa CPTPP, EVIPA và Luật PPP; và đưa ra các kiến nghị.  
Từ khóa: CPTPP, EVIPA, PPP,  
giải quyết tranh chấp về đầu tư.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 23/3/2021  
: 14/4/2021  
: 16/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The Law on Public-Private-Partnership (Law on PPP), coming into  
effectiveness from January 1, 2021, is expected to create an open,  
transparent and fair legal foundation to attract investors to do projects  
related to infrastructure in Vietnam. However, regarding the provisions  
on the investment dispute settlement, the Law still exists some differences  
compared to the two international treaties to which Vietnam is a member,  
the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific  
Partnership (CPTPP) and the Investment Protection Agreement between  
Vietnam and the European Union (EVIPA). In the scope of this article, the  
author provides introduction of the main features of the dispute settlement  
mechanism under CPTPP, EVIPAand the Law on PPP, an analysis of some  
differences as well as shortcomings in the dispute settlement mechanism  
between CPTPP, EVIPA and the Law on PPP; and also recommendations.  
Keywords: CPTPP; EVIPA; PPP;  
investment; dispute settlement  
Article History:  
Received  
Edited  
: 23 Mar. 2021  
: 14 Apr. 2021  
: 16 Apr. 2021  
Approved  
Trong năm 2019 và năm 2020, Việt Nam  
đã tham gia và thiết lập ba nền tảng pháp lý  
quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu thu hút  
tốt hơn dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước  
ngoài (FDI) vào Việt Nam: Hiệp định Đối  
tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình  
Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự  
dovàHiệpđịnhBảohộđầutưgiữaViệtNam  
và Liên minh châu Âu (EVFTA/EVIPA) và  
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công  
tư (Luật PPP). Trong đó, việc Luật PPP ra  
đời được kỳ vọng sẽ trở thành một khung  
pháp lý mang hướng “tiêu chuẩn” để minh  
định rõ ràng mục tiêu thu hút đầu tư mà Việt  
Nam đã đề ra. Không khó để nhận ra, trong  
các dự án đầu tư theo phương thức đối tác  
công tư (dự án PPP), mục tiêu của nhà đầu  
tư không nhất thiết phải giống với mục đích  
của Nhà nước, và do vậy, khả năng xảy ra  
xung đột luôn sẵn sàng thường trực. Trong  
các hợp đồng đầu tư, một khía cạnh thường  
bị các bên bỏ qua nhưng lại đóng vai trò  
28  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
1.1. CPTPP và giải quyết tranh chấp  
đầu tư trong CPTPP  
quan trọng là nội dung giải quyết tranh chấp  
khi có những bất đồng xảy ra. Đối với các  
nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trước  
khi có các Hiệp định Thương mại tự do  
(FTA) thế hệ mới, hầu như chỉ có Tòa án  
Việt Nam là “địa chỉ” duy nhất để giải quyết  
bất kỳ tranh chấp nào trong quá trình thực  
hiện hoạt động đầu tư của họ; chỉ có một  
số ít các nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện  
ra các cơ quan tài phán quốc tế. Điều này ít  
nhiều đã gây ra những quan ngại nhất định  
cho các nhà đầu tư nước ngoài trên thực tế.  
Hầu hết các dự án cơ sở hạ tầng đều là các  
dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, chi phí vận  
hành cao và thời gian dài tính từ thời điểm  
bắt đầu triển khai đến lúc hoàn thiện dự án.  
Các nhà đầu tư đến từ các nước thành viên  
CPTPP và các nước thành viên Liên minh  
châu Âu (EU) thường có nguồn lực và kinh  
nghiệm đáng kể và có thể mang lại lợi ích  
cho Việt Nam về mặt này. Tuy nhiên, tâm  
lý chung của các nhà đầu tư nước ngoài khi  
mang vốn và sức của mình sang một “phương  
trời xa lạ” đều là muốn các khoản đầu tư của  
mình được bảo vệ một cách hợp lý nhất có  
thể. Do vậy, các điều khoản giải quyết tranh  
chấp sẽ đóng vai trò như là một phương tiện  
mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể sử dụng  
để đảm bảo an toàn và bảo vệ thận trọng cho  
hàng triệu đô-la đầu tư của họ.  
CPTPP là một FTA thế hệ mới, gồm 11  
nướcthànhviênlà:Australia,Brunei,Canada,  
Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mê-hi-cô, New  
Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Hiệp  
định đã được ký kết ngày 08/3/2018, và  
chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018  
đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ  
tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô,  
Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada  
và Australia. Đối với Việt Nam, Hiệp định  
có hiệu lực từ ngày 14/01/20191. Tính đến  
ngày 14/01/2021, Việt Nam đã trải qua 02  
năm thực thi CPTPP.  
CPTPP đưa ra các điều khoản và điều  
kiện để đảm bảo thủ tục đầu tư sẽ dễ dàng  
và minh bạch hơn cho các nhà đầu tư nước  
ngoài. Chương 9 Hiệp định quy định cơ chế  
bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các quốc gia  
CPTPP, đề cập cụ thể về giải quyết tranh  
chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các  
quốc gia tiếp nhận đầu tư. Trong trường hợp  
các tài sản được đầu tư bị quốc hữu hóa,  
CPTPP yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bồi  
thường tương đương với giá trị thị trường  
ngay trước khi việc quốc hữu hóa diễn ra.  
Liên quan đến vấn đề giải quyết tranh  
chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp  
nhận đầu tư, CPTPPkhuyến khích các bên nỗ  
lực giải quyết thông qua các biện pháp như  
tham vấn, đàm phán hoặc thông qua bên thứ  
ba. Trong trường hợp tham vấn không thành  
công, nhà đầu tư có thể đơn phương gửi yêu  
cầu ra trọng tài. Nhà đầu tư nước ngoài, với  
tư cách là bên khiếu nại, có thể chọn Tòa án  
để giải quyết tranh chấp. Khi thành lập ban  
hội thẩm, nhà đầu tư cũng có thể chọn một  
trong ba hội thẩm viên. Hơn nữa, họ có thể  
thương lượng để áp dụng những quy tắc có  
liên quan, và đưa ra hướng dẫn để đảm bảo  
1. Giải quyết tranh chấp đầu tư trong  
CPTPP, EVIPA và Luật PPP  
Hiện nay, trên thế giới phổ biến ba (03)  
cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế  
là: Trọng tài, Tòa án hai cấp xét xử, Tòa án  
trong nước. Cho đến nay, theo các cam kết  
quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp  
luật về đầu tư của Việt Nam, Việt Nam đã  
tham gia cả ba cơ chế giải quyết tranh chấp  
này, cụ thể như sau:  
1
Bộ Công Thương, Cổng thông tin về Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương  
truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.  
Số 08(432) - T4/2021  
29  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
các trọng tài viên độc lập và vô tư trong vụ  
việc của họ. Do đó, CPTPP tạo ra cho các  
nhà đầu tư nước ngoài nhiều thời gian và  
kênh hơn để bảo vệ khoản đầu tư của họ ở  
nước tiếp nhận đầu tư.  
phê chuẩn các FTAcủa EU, EU đã chính thức  
đề nghị Việt Nam tách riêng nội dung bảo hộ  
đầu tư, và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa  
nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước ra khỏi  
EVFTA thành một hiệp định riêng2. Hiện tại,  
EVIPA vẫn chưa có hiệu lực. Để có hiệu lực,  
Hiệp định này phải được Nghị viện châu Âu  
và từng thành viên EU phê chuẩn.  
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ nhất định  
áp dụng cho Việt Nam. Nhà đầu tư nước  
ngoài sẽ mất quyền khởi kiện theo điều  
khoản giải quyết tranh chấp nếu nhà đầu tư  
nước ngoài tuân theo các thủ tục khiếu nại  
tại Tòa án Việt Nam. Lựa chọn giải quyết  
tại một Tòa án Việt Nam là cuối cùng và  
duy nhất, ngăn cản nhà đầu tư khởi kiện đến  
bất kỳ Trọng tài nào khác. Nếu các quy định  
của Tòa án có lợi cho nhà đầu tư, nhưng  
Việt Nam từ chối thực hiện, nhà đầu tư  
nước ngoài có thể khiếu nại nước sở tại của  
mình để yêu cầu đình chỉ lợi ích cho Việt  
Nam cho đến khi Việt Nam tuân thủ.  
Theo các thỏa thuận song phương nhất  
định của CPTPP, có một số ngoại lệ đối  
với các cơ chế mà CPTPP đặt ra cho việc  
giải quyết tranh chấp. Ví dụ, New Zealand  
và Việt Nam đồng ý không áp dụng cơ chế  
giải quyết tranh chấp đối với Chính phủ của  
mỗi quốc gia theo Mục B của Chương 9, trừ  
khi Chính phủ đồng ý đặc biệt đối với việc  
áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp đó.  
Thỏa thuận song phương này hạn chế một số  
quyền tự do đối với các nhà đầu tư khi gửi hồ  
sơ tranh chấp ra trọng tài. Trong trường hợp  
này, các nhà đầu tư từ New Zealand vẫn có  
thể sử dụng một cơ chế khác theo luật pháp  
Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế khác mà  
Việt Nam và New Zealand đã ký kết.  
Đặc điểm nổi bật nhất của EVIPA là  
Hiệp định này thiết lập một Tòa án gồm hai  
cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Các thành  
viên của hai cấp xét xử này sẽ đảm nhiệm  
vai trò như các thẩm phán trong nhiệm kỳ  
04 năm và có thể được tái bổ nhiệm 01 lần;  
5 trên tổng số 9 thành viên được bổ nhiệm từ  
thời điểm Hiệp định có hiệu lực sẽ có nhiệm  
kỳ 6 năm. Trong số đó, ba thành viên mang  
quốc tịch của một trong các nước thành viên  
EU, ba thành viên mang quốc tịch Việt Nam  
và ba thành viên mang quốc tịch của nước  
thứ ba, một trong số các thành viên được bổ  
nhiệm là Chủ tịch Hội đồng tài phán và một  
trong số các thành viên được bổ nhiệm là  
Phó Chủ tịch Hội đồng tài phán, thông qua  
bốc thăm ngẫu nhiên bởi Chủ tịch Uỷ ban  
đầu tư. Ngoài ra, EVIPAcũng quy định, Hội  
đồng tài phán phúc thẩm xem xét lại các  
phán quyết tạm thời của Hội đồng tài phán  
thông qua thủ tục phúc thẩm; theo đó sẽ có  
6 trọng tài viên, trong đó 2 trọng tài viên có  
quốc tịch một trong số nước thành viên EU,  
2 trọng tài viên có quốc tịch Việt Nam, và 2  
trọng tài viên có quốc tịch nước thứ ba.  
Hiện tại, cơ chế này mới bắt đầu manh  
nha được sử dụng tại một số ít các hiệp định  
về đầu tư, chủ yếu là các hiệp định có sự  
tham gia đàm phán của EU.  
1.2. EVIPA và giải quyết tranh chấp  
đầu tư trong EVIPA  
Hiệp định EVIPA được ký kết vào ngày  
30/6/2019. Ban đầu, EVIPA nằm trong  
EVFTA, tuy nhiên vào tháng 9/2017, do phát  
sinh một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền  
Trên thực tế, cơ chế Tòa án hai cấp xét xử  
là không mới, đã từng được nhiều quốc gia  
lựa chọn giải quyết tranh chấp trong các điều  
ước quốc tế mà mình tham gia. Trong đó,  
2
Bộ Công Thương, Cổng thông tin về Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu  
truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.  
30  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
phổ biến nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp  
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)  
hay các Hiệp định trong khuôn khổ ASEAN  
hayASEAN+. Tuy nhiên, điểm chung của cơ  
chế đó là chỉ giải quyết các khúc mắc, tranh  
chấp giữa Nhà nước với Nhà nước, với phạm  
vi liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch  
vụ, mà không chuyên biệt cho tranh chấp  
giữa nhà đầu tư với Nhà nước trong lĩnh vực  
đầu tư. Do đó, việc EU có cách tiếp cận giải  
quyết tranh chấp đầu tư bằng Tòa án hai cấp  
xét xử là khá mới khi so sánh với các Hiệp  
định Bảo hộ đầu tư song phương (BIT) trước  
đây hay ngay cả CPTPP. EVIPA đánh dấu  
lần đầu tiên Việt Nam áp dụng phương thức  
giải quyết tranh chấp này trong một hiệp định  
bảo hộ đầu tư3. Không chỉ với Việt Nam, EU  
đã lựa chọn Tòa án hai cấp xét xử làm cơ  
chế giải quyết tranh chấp về đầu tư trong các  
hiệp định về đầu tư khác mà EU tham gia  
như Hiệp định Kinh tế và thương mại toàn  
diện EU và Canada (CETA), Hiệp định bảo  
vệ đầu tư giữa EU và Singapore (EUSIPA).  
Về trình tự khởi kiện, giống như các phương  
thức giải quyết tranh chấp khác, để bắt đầu quá  
trình khởi kiện, trước hết, nhà đầu tư phải gửi  
yêu cầu tham vấn đến bên còn lại. Nếu tranh  
chấp không thể giải quyết bằng cách giải quyết  
tranh chấp thay thế ngoài tài phán như đàm  
phán hay hòa giải, trong vòng 06 tháng kể từ  
ngày nguyên đơn yêu cầu tiến hành các cuộc  
đàm phán giải quyết tranh chấp hoặc trong  
vòng 03 tháng kể từ ngày họ gửi thông báo dự  
định nộp hồ sơ khiếu kiện, Hội đồng tài phán sẽ  
được thành lập trong vòng 90 ngày kể từ ngày  
nộp hồ sơ khiếu kiện và sẽ tiến hành tố tụng  
theo một thủ tục chặt chẽ về thời gian. Trong  
vòng 18 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ khiếu kiện,  
Hội đồng tài phán sẽ ban hành phán quyết tạm  
thời và thời hạn giải quyết khiếu nại dựa trên  
yêu cầu của bên tranh chấp sẽ không vượt quá  
06 tháng. Theo đó, thời hạn thủ tục tố tụng  
trong EVIPA chỉ kéo dài khoảng 02 năm và  
không cho phép bất cứ sự trì hoãn nào đối với  
quá trình tố tụng nêu trên.  
Về phương thức giải quyết tranh chấp  
thân thiện, Điều 3.4, 3.29 và 3.31 EVIPA  
quy định về phương thức giải quyết tranh  
chấp bằng thương lượng, hòa giải và khuyến  
khích việc đạt được thỏa thuận ngoài tố  
tụng. Cụ thể, Phụ lục 10 EVIPA quy định  
về cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua  
trung gian hòa giải4.  
1.3. Luật PPP và giải quyết tranh chấp  
đầu tư trong Luật PPP  
Điều 97 là điều khoản duy nhất của Luật  
PPP điều chỉnh về giải quyết tranh chấp. Điều  
97 Luật PPP quy định từng loại tranh chấp  
trên cơ sở phân định các chủ thể tranh chấp,  
để từ đó làm cơ sở xác định cơ quan, tổ chức  
nào có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp  
đó. Khoản 1 Điều 97 quy định: “Tranh chấp  
giữa cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết  
hợp đồng với nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp  
dự án PPP và tranh chấp giữa doanh nghiệp  
dự án PPP với các tổ chức kinh tế tham gia  
thực hiện dự án được giải quyết thông qua  
thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa  
án”. Theo đó, điều khoản này đã phân nhóm  
các loại tranh chấp hợp đồng PPP cụ thể như  
sau: (i) Một là tranh chấp giữa cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng  
với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP; (ii)  
Hai là tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án  
PPP với các tổ chức kinh tế tham gia thực hiện  
dự án. Luật PPP quy định 04 phương thức giải  
quyết tranh chấp bao gồm thương lượng, hòa  
giải, Trọng tài hoặc Tòa án.  
3 Hoàng Phước, Lương Văn Lý, “Thận trọng trong giải quyết tranh chấp theo EVIPA”, Thời báo Kinh tế Sài  
cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.  
4 Nguyễn Thị Nhung, “EVFTA, EVIPA và cơ chế giải quyết tranh chấp”, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-  
phap-luat/evfta-evipa-va-co-che-giai-quyet-tranh-chap-318992.html, truy cập ngày 18 tháng 03 năm 2021.  
Số 08(432) - T4/2021  
31  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Một số hạn chế, bất cập về giải quyết  
tranh chấp đầu tư trong Luật PPP trên  
cơ sở tham chiếu CPTPP và EVIPA  
2.2. Quy định về việc có tiếp tục thực  
hiện dự án đầu tư trong quá trình giải  
quyết tranh chấp hay không  
2.1. Thời điểm tiến hành các phương  
thức giải quyết tranh chấp thân thiện  
Khoản 1 Điều 97 Luật PPP quy định:  
“Tranh chấp giữa cơ quan có thẩm quyền,  
cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư  
hoặc doanh nghiệp dự án PPP và tranh  
chấp giữa doanh nghiệp dự án PPP với các  
tổ chức kinh tế tham gia thực hiện dự án  
được giải quyết thông qua thương lượng,  
hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án”. Điều này  
được hiểu rằng, Luật PPP quy định thương  
lượng, hòa giải là hai phương thức giải  
quyết tranh chấp thân thiện mà các bên có  
tranh chấp có thể sử dụng. Tuy nhiên, quy  
định nay không cho thấy thương lượng, hòa  
giải được sử dụng trong thời điểm nào của  
quá trình giải quyết tranh chấp.  
Một trong những thiếu sót của Luật PPP  
là chưa dự liệu trường hợp, khi các bên  
tranh chấp đang trong quá trình giải quyết  
tranh chấp, các bên có tiếp tục thực hiện  
những nghĩa vụ của mình hay không. Về  
vấn đề này, tương tự như Luật PPP, bản thân  
CPTPP và EVIPA không đưa ra quy định cụ  
thể nào để điều chỉnh.  
Thực tế cho thấy, một quy trình giải quyết  
tranh chấp đầy đủ có thể chiếm một khoảng  
thời gian tương đối dài và trong suốt khoảng  
thời gian đó, bên khởi kiện có thể sẽ phải liên  
tục chịu các tổn hại về kinh tế. Về sau, ngay  
cả trong trường hợp bên khởi kiện thắng  
kiện, pháp luật hiện hành cũng không có một  
điều khoản nào quy định về biện pháp tạm  
thời bảo vệ lợi ích của họ trong suốt quá trình  
bắt đầu đến khi kết thúc vụ tranh chấp.  
Trong khi đó, đối chiếu đến CPTPP và  
EVIPA thì trường hợp phát sinh tranh chấp  
đầu tư, các bên nên đầu tiên giải quyết tranh  
chấp thông qua tham vấn và đàm phán, tức  
là sử dụng các thủ tục không mang tính chất  
ràng buộc, có thể có sự tham gia của bên thứ  
ba (Điều 9.18 CPTPP), và các tranh chấp cần  
được giải quyết một cách thân thiện thông  
qua đàm phán và hòa giải, và nếu có thể,  
trước khi nộp yêu cầu tham vấn (Điều 3.29  
EVIPA). Theo đó, có thể thấy, CPTPP và  
EVIPAquy định rất rõ ràng hoạt động thương  
lượng, hòa giải nên được tiến hành vào thời  
điểm nào của hoạt động giải quyết tranh chấp.  
Tuy nhiên, nội dung này lại không được Luật  
PPP quy định và điều đó không chỉ không  
khuyến khích các bên sử dụng các biện pháp  
giải quyết thân thiện, tránh câu chuyện “cơm  
không lành, canh chẳng ngọt”, mà còn sẽ đặt  
ra câu hỏi về việc công nhận kết quả thương  
lượng, hòa giải sau này.  
Ví dụ, trong thời gian gần đây, trong khi  
hàng chục dự án giao thông theo phương thức  
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển  
giao (BOT) đang hoàn tất quá trình chuyển  
sang thu phí tự động không dừng thì có 9 dự  
án khác đang tạm dừng thu phí với lý do sắp  
kết thúc hợp đồng. Có dự án phải dừng bất khả  
kháng do không tìm được phương án thu phí  
khả thi (BOT Cai Lậy) hoặc có dự án hoàn tất  
doanh thu trước thời hạn hợp đồng kết thúc nên  
cơ quan quản lý yêu cầu dừng thu phí. Hiện 9  
dự án đó là: Quốc lộ 2 đoạn Nội Bài - Vĩnh  
Yên, Quốc lộ 1 đoạn tránh Hà Tĩnh, Quốc lộ  
1K đoạn Km2+478, Quốc lộ 1 đoạn tránh Cai  
Lậy, dự án cầu Đồng Nai, Quốc lộ 20 đoạn qua  
các thị trấn và Quốc lộ 1 đoạn Hòa Cầm - Hòa  
Phước và Tứ Câu - Vĩnh Điện5.  
Các dự án nêu trên thuộc diện chưa thanh lý  
được hợp đồng, bàn giao hoàn tất cho cơ quan  
quản lý nhà nước vì giữa Nhà nước và nhà đầu  
5 Lan Nhi, “Chín dự án BOT dừng khai thác không có tiền cho hoạt động bảo trì”, Thời báo Kinh tế Sài gòn,  
tri.html, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2021.  
32  
Số 08(432) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
tư chưa thống nhất được các tiêu chí xác định  
về lợi nhuận nhà đầu tư trong quá trình xây  
dựng, các chi phí lãi vay... nên chưa xác định  
thời điểm dừng thu phí. Việc tạm dừng mà chưa  
quyết toán xong dự án khiến nhà đầu tư dừng  
việc bảo trì, không cấp kinh phí vận hành hoặc  
bảo trì cho có. Nhiều nhà đầu tư dừng không  
bảo trì hoặc bảo trì cho có. Để khắc phục tình  
trạng này, các cơ quan chức năng của Việt Nam  
đang tiến hành đàm phán, thương thảo nhiều  
lần nhưng do không có quy định pháp lý bắt  
buộc nhà đầu tư phải bảo trì nên các dự án bị bỏ  
mặc, từ đó kéo theo những rủi ro về nguy hiểm  
cho người và xe đi qua những đoạn tuyến này.  
Thậm chí, có 4 dự án hoàn toàn không được  
bảo trì trong đó có dự án Quốc lộ 1 đoạn tránh  
Cai Lậy (Tiền Giang)6.  
Mặc dù các trường hợp được nêu ở trên  
chưa đến giai đoạn giải quyết tranh chấp.  
Tuy nhiên, điều này cho thấy sự cần thiết  
phải quy định về việc có tiếp tục thực hiện  
dự án đầu tư trong quá trình giải quyết tranh  
chấp hay không cho dù CPTPP và EVIPA  
không quy định về vấn đề này.  
2.3. Quy định về phối hợp giải quyết các  
tranh chấp có nội dung về cùng một vấn đề  
Các dự án PPP có đặc điểm chung là bao  
gồm nhiều hợp đồng riêng biệt với sự tham  
gia của nhiều bên. Do đó, khi phát sinh  
tranh chấp trong một hợp đồng thì có thể  
gây ra hiệu ứng “Domino”, tác động tiêu  
cực và gây phát sinh tranh chấp trong các  
hợp đồng khác. Vì vậy, để tránh tạo ra hiệu  
ứng tiêu cực đó, đòi hỏi mọi tranh chấp liên  
quan đến cùng một vấn đề sẽ được kết hợp  
và giải quyết cùng lúc như một tranh chấp  
duy nhất. Tuy nhiên, Luật PPP không quy  
định về nội dung này, trong khi đó, EVIPA  
và CPTPP đã có những quy định để điều  
chỉnh, cụ thể như sau:  
cùng vấn đề về pháp lý và sự kiện thực tế  
phát sinh từ cùng sự kiện và hoàn cảnh, bị  
đơn có thể nộp yêu cầu hợp nhất các vụ kiện  
đó hoặc một phần của các vụ kiện đến Chủ  
tịch Cơ quan giải quyết tranh chấp. Bị đơn  
phải gửi bản yêu cầu đến từng nguyên đơn  
trong từng vụ kiện mà bị đơn yêu cầu hợp  
nhất”. Điều 9.28 CPTPP quy định: “Nếu  
hai hay nhiều khiếu kiện được trình độc lập  
ra trọng tài... và các khiếu kiện đó có cùng  
vấn đề về pháp luật hoặc thực tế và phát  
sinh từ cùng sự kiện hoặc tình huống, bất kỳ  
bên tranh chấp nào đều có thể yêu cầu hợp  
nhất các vụ kiện phù hợp với thỏa thuận  
của tất cả các bên tranh chấp...”.  
Việc Luật PPP thiếu quy định cho phép  
hợp nhất các vụ tranh chấp có nội dung liên  
quan cùng một vấn đề có thể sẽ gây ra khả  
năng không chỉ tốn kém về chi phí, mà còn  
dẫn đến những phán quyết khác nhau liên  
quan đến cùng một vấn đề. Điều này gây  
khó khăn trong việc áp dụng và thực thi các  
phán quyết được đưa ra. Do vậy, việc bổ  
sung quy định về phối hợp giải quyết các  
tranh chấp có nội dung về cùng một vấn đề  
là hết sức cần thiết.  
2.4. Áp dụng tập quán quốc tế trong  
giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế  
Điều 9.6 CPTPP quy định: “Mỗi Bên sẽ  
dành cho khoản đầu tư theo hiệp định này sự  
đối xử phù hợp với các nguyên tắc áp dụng  
của luật tập quán quốc tế, bao gồm đối xử  
công bằng và thoả đáng, và bảo hộ an toàn  
và đầy đủ”. Để làm rõ phạm vi của “luật  
tập quán quốc tế”, Phụ lục 9-A đã quy định:  
“Các Bên xác nhận cách hiểu chung rằng  
“luật tập quán quốc tế” nói chung.... được  
hình thành từ thực tiễn chung và nhất quán  
mà các Quốc gia tuân theo dựa trên nghĩa  
vụ pháp lý. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu của  
luật tập quán quốc tế đối với người nước  
ngoài dẫn chiếu đến tất cả nguyên tắc luật  
Điều 3.59 EVIPAquy định: “Trường hợp  
có hai vụ kiện hoặc nhiều hơn được nộp có  
6 Lan Nhi, Tlđd.  
Số 08(432) - T4/2021  
33  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
tập quán quốc tế bảo vệ đầu tư của người  
nước ngoài”. Luật PPP chưa quy định về  
việc áp dụng tập quán quốc tế. Thay vào đó,  
trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, Bộ  
luật Dân sự (BLDS) năm 2015 là nguồn luật  
duy nhất quy định về nguyên tắc áp dụng  
tập quán quốc tế. Theo đó, Điều 666 BLDS  
năm 2015 quy định: “... Nếu hậu quả của  
việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với  
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt  
Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”.  
Có thể thấy rằng, BLDS năm 2015 thể  
hiện rõ sự ưu tiên cho phía Nhà nước hơn  
nhà đầu tư nước ngoài trong việc áp dụng  
tập quán quốc tế. Thực tế, việc BLDS quy  
định như hiện nay là hoàn toàn dễ hiểu và ở  
khía cạnh nào đó là hợp lý. Bởi lẽ, quy định  
này sẽ đảm bảo các lợi ích của Việt Nam.  
Tuy nhiên, quy định này vô hình chung có  
thể gây ra sự quan ngại cho các nhà đầu tư  
nước ngoài. Do đó, điều cần thiết không  
phải chỉ cần phải có một quy định riêng về  
việc áp dụng tập quán quốc tế trong giải  
quyết các tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước  
với nhà đầu tư nước ngoài, mà đòi hỏi quy  
định đó còn phải hài hòa hóa được lợi ích  
của cả hai bên là Nhà nước và nhà đầu tư  
nước ngoài.  
bên tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của  
mình khi đang trong quá trình giải quyết  
tranh chấp. Để đảm bảo công bằng cho  
các bên liên quan đến nghĩa vụ thực hiện  
của bên này là tiền đề để bên kia thực hiện  
nghĩa vụ của mình, bổ sung quy định về  
việc bồi thường thiệt hại gây ra do một bên  
không thực hiện nghĩa vụ trong quá trình  
giải quyết tranh chấp.  
Thứ ba, bổ sung quy định về việc cho  
phép các bên có thể hợp nhất các vụ tranh  
chấp có cùng vấn đề pháp lý và sự kiện thực  
tế phát sinh từ cùng sự kiện và hoàn cảnh.  
Điều này sẽ giúp các bên tiết kiệm được các  
chi phí theo đuổi vụ tranh chấp cũng như  
chắc chắn hơn về kết quả giải quyết các  
tranh chấp.  
Thứ tư, bổ sung quy định về việc áp  
dụng tập quán quốc tế. Trong đó, thay quy  
định điều kiện áp dụng tập quán là “không  
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật Việt Nam” bằng quy định về điều kiện  
“không trái với trật tự công cộng”. Trật tự  
công cộng là một thuật ngữ chung của thế  
giới, được dùng để diễn đạt nguyên tắc bảo  
đảm trật tự công cộng hay không trái trật  
tự công cộng. Nguyên tắc này vừa có thể  
cho phép cơ quan có thẩm quyền thực hiện  
nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng thông qua việc  
loại bỏ một hoặc một số điểm không phù  
hợp với hoàn cảnh tranh chấp cụ thể, vừa  
đảm bảo không ảnh hưởng tiêu cực đến  
mục tiêu thu hút đầu tư chất lượng cao vào  
các cơ sở hạ tầng của Việt Nam.  
Về phương thức quy định, chúng tôi cho  
rằng Luật PPP và Luật Đầu tư mới được  
thông qua năm 2020 nên trước mắt, cần  
đưa những vấn đề nêu trên vào nghị định  
hướng dẫn thi hành Luật PPP. Tuy nhiên, về  
lâu dài, cần sửa đổi Luật PPP, Luật Đầu tư  
nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý cao và tính  
3. Một số kiến nghị  
Thứ nhất, bổ sung quy định thương  
lượng, hòa giải là một bước bắt buộc và  
phải được tiến hành trước khi các bên đưa  
vụ tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án hoặc  
Trọng tài. Quy định như vậy sẽ đảm bảo  
được hai mục tiêu: (i) Thúc đẩy và khuyến  
khích các bên sử dụng các phương thức giải  
quyết tranh chấp thân thiện, không mang  
tính tài phán để tránh gia tăng căng thẳng,  
tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực, trí lực  
cho giai đoạn tố tụng phức tạp sau này; (ii)  
Đảm bảo sự thống nhất với không chỉ quy  
định của Luật Đầu tư năm 2020 mà còn phù  
hợp với cam kết trong CPTPP, và EVIPA.  
Thứ hai, bổ sung quy định yêu cầu các  
ổn định của các quy định này  
34  
Số 08(432) - T4/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 17740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết tranh chấp đầu tư - Những vấn đề đặt ra đối với luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_quyet_tranh_chap_dau_tu_nhung_van_de_dat_ra_doi_voi_lua.pdf