Xóa bỏ rào cản pháp lý trong việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
Review Article  
Removing Legal Hurdles in Registration of Contracts  
for the Transfer of Patent Rights to Foster Innovation  
Phan Quoc Nguyen*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 15 December 2020  
Revised 4 June 2021; Accepted 16 November 2021  
Abstract: Business environment improvement in support for the development of enterprises (such  
as innovative startups particularly) has attracted attention in Vietnam. Patent is a tool, important  
asset which is crucial for the success of innovative startups. However, one of the big hurdles for the  
commercialization of intellectual assets for enterprises in Vietnam is the administrative procedure  
for the registration of patent licensing/assignment agreements. The paper analyses difficulties and  
hurdles for business environment as a result of the required legally registration for patent  
licensing/assignment agreements, then recommend the solutions for relieve this hurdle.  
Keywords: Patent, contracts for transfer of industrial property rights, registration.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
1
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
2
Xóa bỏ rào cản pháp lý trong việc đăng ký hợp đồng  
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với  
sáng chế nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo  
Phan Quốc Nguyên*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 15 tháng 12 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 4 tháng 6 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 11 năm 2021  
Tóm tắt: Cải thiện môi trường kinh doanh nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển (đặc biệt các  
doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo) đang là vấn đề được quan tâm tại Việt Nam. Sáng chế  
là một công cụ, tài sản quan trọng quyết định sự thành công của nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp  
đổi sáng tạo. Tuy nhiên, một trong những cản trở lớn đối với việc thương mại hóa tài sản trí tuệ hiện  
nay đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam, là thủ tục hành chính trong việc đăng ký hợp đồng  
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với sáng chế. Bài viết phân tích những khó  
khăn, rào cản trong môi trường kinh doanh do thủ tục pháp lý đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền  
SHCN đối với sáng chế sau đó đề xuất, kiến nghị giải pháp tháo gỡ khó khăn này.  
Từ khóa: Sáng chế, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký.  
1. Khái quát về chuyển giao quyền sở hữu  
Hiện không có một định nghĩa chuẩn, chính  
thức nào về chuyển giao quyền SHCN đối với  
sáng chế. Không phải ai cũng hiểu rõ nội hàm  
của việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng  
chế. Chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế  
thường được hiểu là một trong hai hành vi:  
chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế  
và chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.  
công nghiệp đối với sáng chế *  
1.1 Khái niệm chuyển giao quyền sở hữu công  
nghiệp đối với sáng chế  
Sáng chế đóng vai trò quan trọng trong quá  
trình đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế-xã hội  
và ngày càng quan trọng trong nền kinh tế có tính  
cạnh tranh cao. Quyền sở hữu trí tuệ nói chung  
và quyền SHCN bao gồm cả quyền SHCN đối  
với sáng chế nói riêng đương nhiên mang bản  
chất thương mại. Do vậy, sử dụng và khai thác  
thương mại hợp lý loại tài sản này không những  
tạo động lực cho việc nghiên cứu khoa học, đổi  
mới sáng tạo mà còn làm gia tăng thu nhập cho  
doanh nghiệp, thu hút nguồn vốn đầu tư, thúc  
đẩy chuyển giao công nghệ, góp phần tăng  
trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh  
quốc gia.  
1.2 Các hình thức chuyển giao quyền sở hữu  
công nghiệp đối với sáng chế  
Theo Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT) hiện hành  
[1], chuyển giao quyền SHCN nói chung và  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói  
riêng bao gồm chuyển nhượng quyền SHCN và  
chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN.  
Theo Điều 138, Luật SHTT, chuyển nhượng  
quyền SHCN là việc chủ sở hữu quyền SHCN  
chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức,  
cá nhân khác. Việc chuyển nhượng quyền SHCN  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
3
phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng  
bằng văn bản.  
là hợp đồng đã được giao kết cần phải được đăng  
ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  
Theo Điều 141, Luật SHTT, chuyển quyền sử  
dụng đối tượng SHCN(Li-xăng SHCN) [2] là  
việc chủ sở hữu đối tượng SHCN cho phép tổ  
chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng SHCN  
thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Việc  
chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN phải  
được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng  
văn bản.  
Theo Điều 148, Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT)  
hiện hành, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế chỉ có hiệu lực khi đã được đăng  
ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN  
là Cục SHTT [3].  
Tuy nhiên, hợp đồng chuyển giao quyền sử  
dụng hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế lại có hiệu  
lực theo thoả thuận giữa các bên, nhưng chỉ có  
giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được  
đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền  
SHCN là Cục SHTT. Tất nhiên, hợp đồng li-  
xăng sáng chế mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực  
nếu quyền SHCN đối với sáng chế của bên giao  
bị chấm dứt.  
Có thể nhận thấy rằng, đây là những quy định  
pháp lý mới có phần tiến bộ so với quy định cũ  
có liên quan về SHCN trước đó là Nghị định số  
63/CP [4] và Luật SHTT năm 2005. Theo các  
văn bản pháp quy này, tất cả các loại hợp đồng  
chuyển giao quyền SHCN phải được đăng ký với  
Cục SHTT mới có hiệu lực. Thậm chí, những  
hợp đồng chuyển giao quyền SHCN có một bên  
bất kỳ là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc có  
một bên là tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước, có  
vốn đầu tư của Nhà nước phải thực hiện cả hai  
nghĩa vụ là đăng ký và được phê duyệt mới có  
hiệu lực.  
Việc pháp luật về SHCN của Việt Nam có  
những quy định về việc đăng ký, thậm chí phê  
duyệt, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu  
sáng chế để hạn chế tình trạng bên chuyển  
nhượng (tại quốc gia phát triển) áp đặt những  
điều kiện bất lợi cho bên nhận chuyển nhượng  
(tại quốc gia đang phát triển) bằng những điều  
khoản, ví dụ như điều khoản bắt buộc bên nhận  
phải mua kèm với sáng chế các nguyên vật liệu,  
các sản phẩm không cần thiết hoặc điều khoản  
hạn chế cách thức sử dụng sản phẩm,...  
1.3 Ý nghĩa của việc chuyển giao quyền sở hữu  
công nghiệp đối với sáng chế  
Chủ sở hữu sáng chế có thể tự mình khai thác  
sáng chế để thu lợi ích. Tuy nhiên, trên thực tế,  
chủ sở hữu ít khi có đủ nguồn lực về kinh tế, tài  
chính, cơ sở vật chất, nhân lực, v.v.... để hoàn  
toàn tự mình khai thác thương mại sáng chế  
thông qua việc áp dụng sáng chế vào sản xuất,  
phân phối và bán sản phẩm. Nhằm thực hiện các  
hành vi như sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp  
dụng quy trình được bảo hộ và khai thác công  
dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm  
được sản xuất theo quy trình được bảo hộ, phần  
lớn chủ sở hữu sáng chế thường thực hiện quyền  
định đoạt (chuyển nhượng quyền sở hữu) hoặc  
quyền cho phép người khác sử dụng (chuyển  
giao quyền sử dụng) sáng chế của mình cho  
người khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sở hữu hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế.  
Các quy định về chuyển giao quyền SHCN  
cho thấy chúng ta đã chú trọng đến khía cạnh  
thương mại, quyền tài sản của sáng chế cũng như  
sự vận động của tài sản trí tuệ này trên thị trường  
với tư cách là một “hàng hóa đặc biệt”.  
2. Rào cản từ thủ tục đăng ký hợp đồng  
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với  
sáng chế  
Quy định này phù hợp với quy định pháp lý  
của nhiều nước đang phát triển trên thế giới đã  
từng làm như Ác-hen-ti-na, Ấn Độ, Brazil, Đài  
Loan, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Thái  
Lan, Trung Quốc [5],...  
Ngoài điều kiện về hình thức và nội dung,  
một trong những điều kiện để hợp đồng chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế (bao gồm 02  
loại: hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu sáng  
chế và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng  
hoặc là hợp đồng li-xăng sáng chế) có hiệu lực  
Tuy nhiên, quy định pháp lý hiện hành của  
Việt Nam về việc đăng ký hợp đồng chuyển giao  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
4
quyền SHCN đối với sáng chế vẫn còn một số  
bất cập như sau:  
đăng ký hợp đồng li-xăng độc quyền (nếu là hợp  
đồng li-xăng thứ cấp);  
Thứ nhất, Luật SHTT yêu cầu hợp đồng li-  
xăng sáng chế phải được đăng ký mới có hiệu lực  
với bên thứ ba có phần trái với nguyên tắc của  
luật dân sự khi phân biệt hiệu lực của hợp đồng  
li-xăng sáng chế với các chủ thể khác nhau là  
khác nhau. Về nguyên tắc, hiệu lực của hợp đồng  
li-xăng phải thống nhất với tất cả các bên và Nhà  
nước cũng phải tôn trọng một khi hợp đồng có  
hiệu lực chứ không thể cùng một hợp đồng lại có  
hiệu lực đối với các bên khi giao kết nhưng lại  
chỉ có hiệu lực với bên thứ ba khi đã đăng ký tại  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  
Thứ hai, có thể thấy rằng, việc Nhà nước yêu  
cầu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu  
sáng chế và chuyển giao quyền sử dụng đối  
tượng SHCN là sáng chế phải đăng ký tại cơ  
quan có thẩm quyền thể hiện quyết tâm kiểm soát  
hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu và  
chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế.  
Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, khi  
Việt Nam thường là bên nhận sáng chế, thì việc  
pháp luật Việt Nam đưa ra quy định này phần  
nào cũng là cần thiết. Tuy nhiên, các quy định  
pháp luật về trình tự và thủ tục hành chính đăng  
ký có thể làm cho bên chuyển giao sáng chế  
(thường là bên nước ngoài) ngần ngại chuyển  
giao vì sợ tốn nhiều thời gian chuẩn bị hồ sơ và  
thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng này.  
Hồ sơ và thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế được quy  
định chi tiết trong Điều 149, Luật SHTT, Điều  
26, Nghị định số 103/2006/NĐ–CP [6] và Điều  
47.2, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN [7].  
Theo quy định pháp lý hiện hành, hồ sơ đăng  
ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với  
sáng chế bao gồm:  
a) 02 bản Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;  
b) 02 bản hợp đồng (Bản gốc hoặc bản sao  
hợp lệ hợp đồng); nếu hợp đồng làm bằng ngôn  
ngữ khác tiếng Việt thì phải dịch ra tiếng Việt,  
hợp đồng có nhiều trang thì phải có chữ ký của  
các bên vào từng trang hoặc đóng dấu giáp lai;  
c) Bản gốc đối với trường hợp chuyển  
nhượng quyền SHCN đối với sáng chế; bản sao  
văn bằng bảo hộ hoặc bản sao giấy chứng nhận  
d) Văn bản đồng ý của (các đồng) chủ sở  
hữu, văn bản giải trình lý do không đồng ý của  
bất kỳ đồng chủ sở hữu nào về việc chuyển giao  
quyền nếu quyền SHCN đối với sáng chế thuộc  
sở hữu chung;  
e) Chứng từ nộp phí, lệ phí;  
f) Giấy uỷ quyền nếu nộp hồ sơ thông qua  
đại diện. Tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên,  
Bên giao và Bên nhận phải đứng tên đăng ký  
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng  
chế hoặc Hợp đồng li-xăng sáng chế. Bên đứng  
tên nộp Hồ sơ đề nghị đăng ký hợp đồng chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế có thể uỷ  
quyền cho Tổ chức dịch vụ đại diện SHCN đủ  
điều kiện hành nghề tiến hành việc nộp hồ sơ.  
Mẫu Tờ khai đề nghị đăng ký hợp đồng chuyển  
nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc hợp đồng  
li-xăng sáng chế sẽ do Cục SHTT cung cấp miễn  
phí cho người nộp hồ sơ.  
Thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao  
quyền SHCN đối với sáng chế sẽ được thực hiện  
theo các trình tự như sau:  
- Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nộp, Hồ  
sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế  
được thẩm định về hình thức và nội dung theo  
quy định của pháp luật.  
- Trường hợp Hồ sơ có thiếu sót, người nộp  
Hồ sơ sẽ được gửi Thông báo kết quả xem xét  
Hồ sơ, trong đó nêu rõ thiếu sót và dự định từ  
chối đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế và  
ấn định thời hạn 02 tháng để người nộp hồ sơ sửa  
chữa các thiếu sót, hoặc 03 tháng để phản đối dự  
định từ chối đăng ký Hợp đồng.  
- Hợp đồng được được ghi nhận vào sổ Đăng  
ký quốc gia về SHCN; người nộp hồ sơ được cấp  
Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng. Nếu trong  
thời hạn được ấn định, Người nộp hồ sơ không  
sửa chữa các thiếu sót đạt yêu cầu hoặc không có  
lý do xác đáng để phản đối dự định từ chối đăng  
ký thì hồ sơ coi như bị hủy bỏ. Người nộp hồ sơ  
có quyền khiếu kiện Thông báo từ chối đăng ký  
hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế  
hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế theo trình tự, thủ  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
5
tục khiếu nại, khởi kiện hành chính. Trường hợp  
Hồ sơ đáp ứng các yêu cầu quy định hoặc trường  
hợp Hồ sơ có thiếu sót nhưng Người nộp Hồ sơ  
sửa chữa các thiếu sót đạt yêu cầu trong thời hạn  
quy định, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế  
được ghi nhận vào sổ Đăng ký quốc gia về  
SHCN; người nộp hồ sơ được cấp Giấy chứng  
nhận đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế  
kèm theo 01 bản Hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sở hữu sáng chế hoặc Hợp đồng li-xăng  
sáng chế đã được đóng dấu đăng ký.  
Trên thực tế, CGCN chủ yếu là việc chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế, đặc biệt là  
li-xăng sáng chế. Các hợp đồng CGCN thông  
thường bao hàm các nội dung, điều khoản  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế. Việc  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế bắt  
buộc phải lập thành hợp đồng và gần như bắt  
buộc phải đăng ký tại Cục SHTT nhưng việc  
đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối  
với sáng chế hiện không đem lại bất cứ một ưu  
đãi nào cho các bên giao kết hợp đồng theo quy  
định của pháp luật về SHCN hiện hành.  
Hợp đồng Chuyển giao Công nghệ (CGCN)  
trên thực tế cũng phải đăng ký tại cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền. Cụ thể, Theo khoản 1, Điều  
31 về Đăng ký chuyển giao công nghệ, Luật  
CGCN hiện hành [11], các bên tham gia giao kết  
hợp đồng CGCN phải đăng ký hợp đồng CGCN  
tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và  
công nghệ (KHCN) có thẩm quyền (là Bộ  
KHCN hoặc Sở KHCN) đối với các hoạt động a)  
CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam; b) CGCN  
từ Việt Nam ra nước ngoài; c) CGCN trong nước  
có sử dụng vốn Nhà nước hoặc ngân sách Nhà  
nước, trừ trường hợp đã được cấp Giấy chứng  
nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN.  
Tuy nhiên, việc đăng ký hợp đồng CGCN tại  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại làm phát  
sinh một số ưu đãi, ví dụ như ưu đãi về các loại  
thuế khác nhau, về sử dụng đất đai, về chuyển  
ngoại tệ ra nước ngoài tại một số văn bản pháp  
quy khác,...), quyền lợi cho các bên giao kết hợp  
đồng. Theo Điều 39, Luật CGCN, những đối  
tượng sau đây được hưởng ưu đãi theo quy định  
của pháp luật về thuế:  
- Quyết định đăng ký hợp đồng chuyển  
nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc hợp  
đồng li-xăng sáng chế được công bố trên  
Công báo SHCN.  
Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sở hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng  
sáng chế là một bộ phận của hợp đồng khác ví  
dụ như hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng  
mua bán thiết bị, hợp đồng CGCN thì nội dung  
liên quan đến chuyển giao quyền SHCN đối với  
sáng chế phải được lập thành một phần riêng và  
phải đăng ký tại Cục SHTT theo hồ sơ, thủ tục  
và trình tự tương tự như trên. Mọi sửa đổi, bổ  
sung, chấm dứt, gia hạn hợp đồng chính phải  
được lập thành văn bản và phải được đăng ký  
như hợp đồng chính. Việc chuyển giao quyền  
của mỗi bên trong hợp đồng đã đăng ký cho bên  
thứ ba (ví dụ như việc thừa kế, sáp nhập,...) cũng  
phải được đăng ký. Có thể thấy rằng, bất kỳ việc  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nào  
đều phải lập thành hợp đồng độc lập, tách rời hợp  
đồng chính và hợp đồng chuyển giao quyền  
SHCN đối sáng chế đó phải được đăng ký tại  
Cục SHTT nên cũng mất khá nhiều thời gian của  
các bên giao kết hợp đồng.  
Thứ ba, có sự phân biệt về sự ưu đãi trong  
quy định của pháp luật hiện hành giữa hợp  
đồng chuyển giao quyền SHCN và hợp đồng  
chuyển giao công nghệ (CGCN). Hiện đang có  
sự phân biệt giữa hợp đồng chuyển giao quyền  
SHCN đối với sáng chế và hợp đồng CGCN.  
Đây là sự cố ý tách biệt hai loại hợp đồng của  
các nhà làm luật để phục vụ cho việc quản lý  
hành chính nhà nước.  
a) Máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, vật  
mẫu, công nghệ trong nước chưa tạo ra được  
nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động  
nghiên cứu và phát triển, giải mã, đổi mới công  
nghệ, CGCN; tài liệu, sách báo khoa học phục  
vụ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, phát triển  
doanh nghiệp KHCN;  
b) Cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh  
nghiệp KHCN [8], tổ chức, cá nhân đầu tư và hỗ  
trợ khởi nghiệp sáng tạo; tổ chức trung gian của  
thị trường KHCN có thu nhập từ hoạt động cung  
ứng dịch vụ CGCN;  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
6
c) Tổ chức, cá nhân CGCN từ Việt Nam ra  
cho bên chuyển giao sáng chế (thường là bên  
nước ngoài) ngần ngại chuyển giao không chỉ vì  
sợ tốn nhiều thời gian, mất nhiều chi phí mà đặc  
biệt là vì sợ bị rò rỉ thông tin bí mật. Khác với  
công nghệ thuộc Danh mục khuyến khích  
chuyển giao, hợp đồng CGCN này nếu đăng ký  
sẽ được hưởng một số ưu đãi, còn đối với công  
nghệ thuộc Danh mục hạn chế chuyển giao, việc  
CGCN này phải được cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền về KHCN là Bộ KHCN (theo quy định tại  
Điều 52 của Luật CGCN) thẩm định, cấp phép.  
Do vậy, việc chuyển giao quyền SHCN đối với  
sáng chế là công nghệ thuộc Danh mục công  
nghệ hạn chế chuyển giao và là một phần của  
hợp đồng CGCN đòi hỏi việc đăng ký hợp đồng  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế đó tại  
Cục SHTT cùng lúc với việc xin cấp phép CGCN  
tại Bộ KHCN.  
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, việc  
CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam được coi  
như quá trình “song sinh” với hoạt động thu hút  
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tuy vậy, công  
tác quản lý, kiểm soát hoạt động CGCN nói  
chung và hoạt động chuyển giao quyền SHCN  
với sáng chế nói riêng vẫn chưa tạo ra sự khuyến  
khích đầu tư, phát triển và đổi mới công nghệ  
tiên tiến theo đúng chủ trương của Việt Nam.  
Việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền  
SHCN đối với sáng chế phải chăng chỉ mang tính  
hình thức hoặc chỉ là quá trình “làm thủ tục” cho  
việc CGCN? Hình thức ở chỗ gần như mọi hợp  
đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế  
phải được đăng ký và phải trải qua quá trình xét  
duyệt của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền. “Làm thủ tục” ở chỗ quá trình xem xét kỹ  
lưỡng, xét duyệt mất khá nhiều thời gian, thậm  
chí cần phải có sự can thiệp của các nhà tư vấn  
có quan hệ tốt với chính quyền và đương nhiên  
là làm tốn thêm kinh phí của các bên giao kết hợp  
đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.  
Trong trường hợp sáng chế là công nghệ  
thuộc danh mục hạn chế chuyển giao, đồng ý  
rằng việc hạn chế công nghệ làm ảnh hưởng môi  
trường hoặc việc ngăn cản đưa vào trong hợp  
đồng các điều khoản hạn chế cạnh tranh là cần  
thiết nhưng thủ tục xét duyệt khá lâu do phải làm  
thủ tục cho cả hai loại hợp đồng một lúc tại các  
nước ngoài; tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động  
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,  
CGCN, giải mã công nghệ tại doanh nghiệp;  
d) Tổ chức, cá nhân CGCN khuyến khích  
chuyển giao.  
Tóm lại, cùng là một dạng hoạt động thúc  
đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ và đều là  
những hình thức khai thác thương mại đối với  
sáng chế, nhưng việc đăng ký hợp đồng CGCN  
là quyền lợi còn việc đăng ký hợp đồng chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế lại là nghĩa  
vụ. Sự phân biệt đối xử này dẫn đến kết quả là số  
lượng hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối  
với sáng chế đăng ký tại Cục SHTT rất khiêm  
tốn trong thời gian qua. Theo thống kê chính  
thức của Cục SHTT, số lượng hợp đồng sáng  
chế được chuyển nhượng, chuyển giao quyền  
sử dụng được ghi nhận rất ít so với tiềm năng,  
không vượt qua 2 con số [9]. Tương tự, các  
hợp đồng CGCN đăng ký và được phê duyệt  
chủ yếu là các hợp đồng chuyển giao bí quyết  
kỹ thuật, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật trong khi các  
hợp đồng CGCN kèm theo sáng chế thì lại rất  
ít. Ví dụ, trong giai đoạn 2003-2008, cũng chỉ  
có tổng số 276 hợp đồng CGCN được đăng ký  
tại Bộ KHCN, trong đó chỉ có 5 sáng chế là đối  
tượng công nghệ được chuyển giao (chiếm tỷ  
lệ 1,81%) [10].  
Thứ tư, việc phân biệt đối xử hai loại hợp  
đồng nói trên cho thấy sự không công bằng. Quy  
định pháp lý về SHCN và CGCN hiện hành cũng  
tạo ra thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp,  
làm nản lòng các bên giao kết hợp đồng. Bên  
chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế  
thường là bên nước ngoài khi phải thực hiện  
việc tách hai loại hợp đồng (hợp đồng chuyển  
giao quyền SHCN đối với sáng chế với hợp  
đồng CGCN) và đăng ký độc lập hai loại hợp  
đồng này tại hai cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền khác nhau theo quy định của pháp luật  
đối với một số trường hợp hoặc để có thể được  
hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật  
đối với một số trường hợp khác.  
Thứ năm, các quy định pháp luật hiện hành  
về trình tự và thủ tục hành chính liên quan đến  
việc thẩm định và cấp phép CGCN có thể làm  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
7
cơ quan quản lý khác nhau. Điều này cho thấy  
quy định pháp lý của chúng ta về vấn đề này vẫn  
chưa phù hợp thông lệ quốc tế. Do vậy, mỗi năm  
tổng số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu và  
hợp đồng li-xăng sáng chế/giải pháp hữu ích  
được thực hiện thành công cũng chỉ khoảng 20 -  
30 hợp đồng, quá nhỏ so với tiềm năng.  
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mới có  
hiệu lực với bên thứ ba. Điều này là phù hợp  
nguyên tắc tự do hợp đồng. Việc bắt buộc đăng  
ký chỉ áp dụng đối với những sáng chế/công  
nghệ nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến an ninh,  
quốc phòng, môi trường, sức khỏe, dinh dưỡng  
của người dân.  
Liên quan đến việc khai thác thương mại đối  
với sáng chế qua kênh CGCN, kể từ khi thực  
hiện chính sách mở cửa, Luật Đầu tư nước ngoài  
năm 1987 và Pháp lệnh về CGCN năm 1988  
được ban hành không chỉ nhằm thu hút nguồn  
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà thông qua  
đó, Chính phủ còn muốn tạo cơ hội để các nhà  
đầu tư chuyển giao vào Việt Nam những kỹ thuật  
và công nghệ tiên tiến của thế giới. Tuy nhiên,  
hoạt động CGCN lại phát triển không như mong  
muốn. Như phân tích ở trên, có quá ít hợp đồng  
CGCN được phê duyệt hoặc đăng ký, số lượng  
hợp đồng CGCN có kèm chuyển giao quyền  
SHCN đối với sáng chế không đáng kể.  
Ngoài ra, phần lớn các hợp đồng CGCN này  
được thực hiện giữa công ty mẹ nước ngoài và  
công ty con Việt Nam hoàn toàn do các công ty  
nước ngoài sở hữu mà không có sự tham gia của  
các bên liên doanh hay công ty Việt Nam. Mục  
đích của CGCN thường chỉ nhằm chuyển lợi  
nhuận về công ty mẹ của nước ngoài. Xu hướng  
chuyển từ công ty liên doanh sang công ty 100%  
vốn đầu tư nước ngoài đã và đang tiếp tục diễn  
ra. Hơn nữa, các hợp đồng CGCN giữa công ty  
mẹ và công ty con này chỉ là các công nghệ đơn  
giản như pha chế xà phòng, lắp ráp tivi, xe hơi  
hay xe máy trong khi các bán thành phẩm và phụ  
tùng phần lớn đều ngoại nhập. Có rất ít sản phẩm  
công nghệ được xuất khẩu từ Việt Nam.  
Có thể thấy rằng điều kiện CGCN nói chung  
và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế  
vào Việt Nam vẫn còn khó khăn và phức tạp, trái  
hẳn với xu hướng luật pháp của nhiều nước  
ASEAN là ngày một đơn giản và thông thoáng  
hơn. Đúng là vào những năm 1970 và 1980 của  
thế kỷ trước, vì nhiều lý do khác nhau, một số  
quốc gia đang phát triển đã đưa ra các quy định  
pháp lý nhằm kiểm soát việc CGCN và li-xăng  
quyền SHCN đối với sáng chế.  
Kinh nghiệm cho thấy việc áp đặt kiểm soát  
của Nhà nước đã làm giới hạn hoạt động CGCN  
vào các quốc gia này. Các nước áp dụng các giới  
hạn nghiêm ngặt nhất thông thường là những  
quốc gia kém phát triển nhất trong khi các nước  
không áp đặt nhiều sự kiểm soát và giới hạn đã  
thu hút nhiều hơn sự CGCN và li-xăng sáng chế  
từ các quốc gia công nghiệp phát triển vì đã đánh  
giá thấp giá trị của tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, một  
số nước vẫn yêu cầu việc xét duyệt nhưng chỉ đối  
với những trường hợp công nghệ nhạy cảm, ví  
dụ như công nghệ có ý nghĩa quan trọng về mặt  
quân sự, quốc phòng, môi trường hoặc sức khỏe.  
Lấy ví dụ trường hợp của Trung Quốc. Nước  
này đã áp dụng những quy định pháp lý nhằm  
kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt hoạt động  
CGCN và li-xăng sáng chế từ những năm 1980  
nhưng đã tự do hóa hệ thống của mình từ đầu  
những năm 2000. Điều 5 và Điều 17, Lệnh của  
Hội đồng Nhà nước Trung Quốc số 331, có hiệu  
lực ngày 01/01/2002 [11] đã cho phép tự do li-  
xăng quyền SHCN và CGCN. Cụ thể, Điều 17  
của văn bản nói trên quy định rằng hợp đồng li-  
xăng có hiệu lực kể từ ngày ký, không phải ngày  
đăng ký. Rõ ràng, thực tế cho thấy quyết định tự  
do hóa CGCN và chuyển giao quyền SHCN của  
Trung Quốc đã tạo ra những điều kiện thu hút  
đầu tư nước ngoài tốt hơn Việt Nam.  
3. Kết luận và kiến nghị  
Từ phân tích và minh chứng ở trên, nhằm cải  
thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy đổi mới  
sáng tạo, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc  
tế, đặc biệt khi Việt Nam tham gia các hiệp định  
thương mại tự do thế hệ mới CPTPP, EVFTA  
chúng ta cần xóa bỏ yêu cầu về thủ tục bắt buộc  
phải đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở  
hữu sáng chế và bắt buộc phải đăng ký hợp đồng  
Hiện nay, khi mà Luật SHTT đang được sửa  
đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình  
P. Q. Nguyen / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 1-8  
8
[5] B. Dutoit et P. Mock, Le contrôle administratif des  
contrats de licence et de transfert de technologie,  
Librairie Droz SA, Genève, 1993, tr. 3-6.  
mới, tăng cường sức cạnh tranh và thúc đẩy đổi  
mới sáng tạo, tác giả xin kiến nghị bãi bỏ yêu cầu  
bắt buộc phải đăng ký hợp đồng chuyển giao  
quyền SHCN đối với sáng chế để hợp đồng có  
hiệu lực.  
[6] Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ  
ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi  
hành một số điều của Luật SHTT về SHCN đã được  
sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 122/2010/NĐ–  
CP ngày 31 tháng 12 năm 2010 “Sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ–CP  
ngày 22 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ Quy  
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của  
Luật SHTT về SHCN”.  
Nếu các quy định pháp lý hiện hành về đăng  
ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với  
sáng chế không được sửa đổi, hoạt động CGCN  
và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế sẽ  
tiếp tục kìm hãm nền kinh tế và làm giảm khả  
năng phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ của Việt  
Nam. Nếu các quy định này không được cải thiện  
sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường kinh  
doanh, không khuyến khích các nhà đầu tư nước  
ngoài mang công nghệ cũng như quyền SHCN  
đối với sáng chế có giá trị vào Việt Nam do họ  
không nhận được giá trị công bằng từ công nghệ  
cũng như quyền SHTT của mình. Ngoài ra, Việt  
Nam còn thất thoát một khoản thuế giữ lại đối  
với phí chuyển giao.  
[7] Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN đã được sửa đổi,  
bổ sung bằng Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN  
ngày 30 tháng 06 năm 2016 “Sửa đổi, bổ sung một  
số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày  
14 tháng 02 năm 2007”.  
[8] Theo khoản 14, Điều 2, Luật CGCN năm 2017, Cơ  
sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp  
KHCN là cơ sở cung cấp các điều kiện theo quy  
định của pháp luật về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực  
và dịch vụ cần thiết phục vụ việc ươm tạo công  
nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KHCN.  
[9] Báo cáo thường niên Hoạt động SHTT năm 2018,  
xuất bản 9/2019, tr. 94-97.  
Tài liệu tham khảo  
[10] N. G. Lượng, “Định giá sáng chế trong hoạt động  
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam” (báo cáo tham  
luận), Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công  
nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội thảo do Bộ  
KHCN tổ chức năm 2008.  
[1] Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006, sửa đổi bổ sung năm  
2009, 2012, 2019.  
[2] Theo Điều 47.2 của Thông tư số 01/2007/TT-  
BKHCN, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng  
SHCN còn được gọi là hợp đồng li-xăng SHCN.  
[11] Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2017.  
[3] Theo Điều 48, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN,  
Cục SHTT là nơi tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký  
hợp đồng chuyển giao quyền SHCN.  
[12] Lệnh của Hội đồng Nhà nước quy định về Quản lý  
hoạt động Xuất nhập khẩu Công nghệ của nước  
CHDCND Trung Hoa được thông qua tại kỳ họp  
thứ 46 của Hội đồng Nhà nước ngày 31/10/2001 và  
có hiệu lực ngày 01/01/2002.  
[4] Nghị định số 63/CP của Chính phủ ngày  
24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN.  
pdf 8 trang Thùy Anh 17280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xóa bỏ rào cản pháp lý trong việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxoa_bo_rao_can_phap_ly_trong_viec_dang_ky_hop_dong_chuyen_gi.pdf