Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
TS. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG  
GIÁO TRÌNH  
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM  
(Phần 2)  
(Tái bản lần thứ hai; có chỉnh sửa, bổ sung)  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế, 2013  
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Đoàn Đức Lương  
Giáo trình luật dân sự Việt Nam / Đoàn Đức Lương. - Tái bản lần  
thứ 2. - Huế : Đại học Huế. - 21cm  
Thư mục: tr. 180  
Ph.2. - 2013. - 180tr.  
1. Luật dân sự 2. Việt Nam 3. Giáo trình  
349.597 - dc14  
DUH0022p-CIP  
Mã số sách: GT/96-2013/T2  
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật Dân sự là một trong những môn học bắt buộc trong chương  
trình đào tạo ngành Luật, ngành Luật Kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu học  
tập của sinh viên, từ năm 2000 khoa Luật trực thuộc Đại học Huế đã biên  
soạn cuốn tài liệu học tập Luật Dân sự (phần 2).  
Từ khi Bộ Luật Dân sự 2005 được ban hành (có hiệu lực từ ngày  
01 tháng 01 năm 2006), đã có hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành.  
Trên cơ sở đó khoa Luật trực thuộc Đại học Huế đã hoàn chỉnh tài liệu  
học tập thành giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (phần 2), dựa vào kết cấu  
chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tham khảo cập  
nhật nội dung các văn bản pháp luật mới ban hành và tiếp thu ý kiến  
đóng góp của các chuyên gia, các sinh viên... Giáo trình là cuốn sách  
dùng cho sinh viên các hệ đào tạo của khoa Luật trực thuộc Đại học Huế.  
Mặc dù tác giả đã cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng không  
thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn nhận  
được các ý kiến đóng góp qua email: [email protected] để cuốn giáo  
trình hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.  
Tác giả  
MỤC LỤC  
PHẦN THỨ BA:  
9
9
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ  
NGOÀI HỢP ĐỒNG  
Chương 5:  
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG  
1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG  
9
9
1.1. Khái niệm và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng  
1.1.1. Khái niệm hợp đồng  
9
1.1.2. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng  
1.2. Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý  
1.2.1. Hợp đồng vô hiệu  
12  
18  
18  
21  
24  
25  
25  
27  
28  
29  
1.2.2. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu  
1.2.3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu  
1.3. Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng  
1.3.1. Hình thức của hợp đồng  
1.3.2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng  
1.3.3. Các loại hợp đồng chủ yếu (Điều 606)  
1.4. Nội dung của hợp đồng  
2. GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP 30  
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG  
2.1. Giao kết, thực hiện hợp đồng  
2.1.1. Giao kết hợp đồng  
30  
30  
2.1.2. Thực hiện hợp đồng và trách nhiệm do không thực hiện  
nghĩa vụ theo hợp đồng  
31  
2.2. Các biện pháp bảo đảm giao kết, thực hiện hợp đồng  
2.2.1. Khái niệm  
39  
39  
40  
2.2.2. Các biện pháp cụ thể  
Chương 6:  
60  
MỘT SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG CỤ THỂ  
1. HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN  
1.1. Những quy định chung về hợp đồng mua bán tài sản  
1.2. Hợp đồng mua bán nhà ở  
60  
60  
64  
2. HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN  
74  
2.1. Khái niệm hợp đồng vay tài sản  
2.2. Nội dung của hợp đồng vay tài sản  
2.3. Họ, hụi, biêu, phường  
74  
75  
78  
3. HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN  
80  
3.1. Những quy định chung về hợp đồng thuê tài sản  
3.2. Hợp đồng thuê nhà ở  
80  
82  
4. HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN TÀI SẢN  
5. HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN  
89  
91  
6. HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ  
92  
7. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH  
8. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÀI SẢN  
9. HỢP ĐỒNG GIA CÔNG  
94  
96  
100  
102  
105  
111  
113  
113  
114  
10. HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN  
11. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM  
12. HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN  
13. CÁC HỢP ĐỒNG VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT  
13.1. Khái niệm và các điều kiện  
13.2. Các loại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất  
PHẦN 4  
137  
137  
137  
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ NGOÀI HỢP ĐỒNG  
Chương 7:  
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI  
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG  
1. KHÁI NIỆM, ĐIỀU KIỆN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA  
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG  
1.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng  
137  
138  
1.2. Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng  
1.2.1. Phải có thiệt hại xảy ra  
138  
138  
138  
139  
140  
1.2.1.1. Thiệt hại vật chất  
1.2.1.2. Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần)  
1.2.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật  
1.2.3. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại  
1.2.4. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi  
trái pháp luật  
141  
1.3. Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng  
1.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân  
1.5. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại  
2. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI  
141  
143  
143  
144  
2.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm  
144  
2.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm  
145  
149  
151  
151  
2.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm  
2.4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  
2.5. Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần)  
3. TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI VÀ TRÁCH NHIỆM RIÊNG RẼ 153  
3.1. Trách nhiệm liên đới  
3.2. Trách nhiệm riêng rẽ  
Chương 8:  
153  
155  
156  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP  
CỤ THỂ  
1. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC  
NHÀ NƯỚC GÂY RA VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO  
NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ  
TỤNG GÂY RA  
156  
2. BỒI THƯỜNG THIỆY HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO  
ĐỘ GÂY RA  
162  
3. NHỮNG TRƯỜNG HỢP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHÁC 166  
3.1. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn  
phòng vệ chính đáng  
166  
3.2. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của  
tình thế cấp thiết  
166  
3.3. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra  
3.4. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra  
167  
167  
168  
168  
3.5. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi  
3.6. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra  
3.7. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất  
năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh  
viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý  
169  
3.8. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra  
3.9. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường  
3.10. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra  
169  
169  
169  
170  
3.11. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra  
3.12. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xâydựng khác gâyra 170  
3.13. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể  
3. 14. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả  
170  
171  
3.15. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người  
tiêu dùng  
171  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
172  
180  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHẦN THỨ BA  
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG  
VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ NGOÀI HỢP ĐỒNG  
Chương 5  
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG  
1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG  
1.1. Khái niệm và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng  
1.1.1. Khái niệm hợp đồng  
Thuật ngữ hợp đồng (contractus) trong tiếng Latinh có nghĩa là  
“ràng buộc”. Ở Việt Nam, thuật ngữ “khế ước” được sử dụng phổ biến  
trong các Bộ dận luật Giản yếu Nam kỳ (1883), Bộ dân luật Bắc kỳ  
(1931), Bộ dân luật Trung kỳ (1936), theo đó khế ước là một sự thoả  
thuận giữa hai hay nhiều người muốn tạo ra một hậu quả pháp lý.  
Theo cuốn Danh từ Pháp luật lược giải để phân biệt giữa khế ước  
(contrac) với hợp đồng (convention): Tất cả các khế ước là hợp đồng,  
đều có sự thoả thuận đồng ý của mọi người kết ước để tạo ra một hậu  
quả pháp lý. Nhưng tất cả các hợp đồng không hẳn là kế ước vì khế ước  
thoả thuận để tạo ra nghĩa vụ; còn hợp đồng có thể thoả thuận để chấm  
dứt một nghĩa vụ, tạo ra hay thay đổi hay chấm dứt một quyền gì. Trong  
thực tế người ta hay dùng lẫn hai danh từ khế ước và hợp đồng 1.  
Từ năm 1959, trên cơ sở Chỉ thị số 772-CT/TATC ngày 10 tháng 7  
năm 1959 về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc phong kiến thì  
khái niệm “hợp đồng dân sự” và “hợp đồng kinh tế” được sử dụng trong  
các văn bản pháp luật và trong thực tiễn. Theo Pháp lệnh Hợp đồng dân  
1. Trần Thúc Linh – Danh từ Pháp luật lược giải. Nhà sách Khai trí, tr. 266.  
9
sự 1990 (có hiệu lực từ 01.7.1991) thì khái niệm hợp đồng dân sự được  
quy định như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về  
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên  
trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm  
một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một trong các  
bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng". Bên cạnh đó, Pháp lệnh  
Hợp đồng kinh tế cũng đưa ra khái niệm riêng về hợp đồng kinh tế và các  
quy định tương ứng để điều chỉnh các giao dịch trong lĩnh vực kinh tế.  
Việc sử dụng các khái niệm này xuất phát từ quan điểm ngự trị thời đó về  
mối liên quan đặc biệt giữa vai trò của hợp đồng và kế hoạch trong nền  
2
kinh tế tập trung bao cấp xã hội chủ nghĩa . Do vậy, hợp đồng kinh tế  
đảm bảo cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch trong thời kỳ này, còn  
hợp đồng dân sự chỉ bó hẹp trong phạm vi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,  
tiêu dùng của công dân. Đối với từng loại hợp đồng “dân sự” hay “kinh  
tế” khẳng định vai trò và chức năng của từng loại hợp đồng trong nền  
kinh tế tập trung bao cấp, còn là căn cứ để xác định thẩm quyền giải  
quyết khi có tranh chấp xảy ra (nếu là tranh chấp hợp đồng kinh tế do thì  
giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế, nếu là tranh chấp hợp đồng dân sự  
thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự).  
Theo các văn bản có hiệu lực pháp luật có hiệu lực trong thời kỳ  
này có phân biệt khá rõ hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Bên cạnh  
đó, từ ngày 01/7/1994 vụ án kinh tế do Tòa án nhân dân giải quyết (thay  
cho Trọng tài kinh tế nhà nước trước đây). Việc phân biệt hợp đồng dân  
sự và hợp đồng kinh tế còn là cơ sở để xác định thẩm quyền, thủ tục,  
pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Các văn bản pháp luật chủ  
yếu là cơ sở xác định hợp đồng kinh tế là Công văn số 442/KHXX ngày  
18 tháng 7 năm 1994 của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên ngành  
số 04/TTLN ngày 7 tháng 01 năm 1995 của TANDTC và VKSNDTC,  
công văn số 46/KHXX ngày 15 tháng 7 năm 1997 của TANDTC,... Cơ  
sở xác định hợp đồng kinh tế:  
- Một là, Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hợp đồng kinh tế  
2. Nguyễn Ngọc Khánh - Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam. NXB Tư  
pháp, năm 2007, tr 36.  
10  
được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân  
có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; còn hợp đồng dân sự  
thì các chủ thể xác lập hợp đồng không bị giới hạn.  
- Hai là, các hợp đồng nào nhằm mục đích kinh doanh, sản xuất mà  
có tranh chấp về vi phạm thực hiện hợp đồng và yêu cầu Tòa án giải  
quyết; còn các tranh chấp hợp đồng nhằm mục đích tiêu dùng có vi phạm  
trong việc thực hiện hợp đồng thì đó là hợp đồng dân sự (Thông tư 04  
ngày 26 tháng 8 năm 1996).  
- Ba là, về hình thức thì hợp đồng kinh tế được lập thành văn bản,  
tài liệu; còn hợp đồng dân sự có thể bàng văn bản, bằng hành vi cụ thể,  
bằng lời nói,..  
Văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là Pháp lệnh  
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1990 đối với tranh chấp hợp đồng  
dân sự; còn tranh chấp hợp đồng kinh tế áp dụng Pháp lệnh Thủ tục giải  
quyết các vụ án kinh tế 1994. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Nhà nước thừa nhận  
nhiều hình thức sở hữu, nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác  
nhau có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật nên các loại  
hợp đồng ngày càng đa dạng, phong phú việc phận định hợp đồng dân sự  
và hợp đồng kinh tế hết sức khó khăn, dẫn đến sự đùn đẩy giữa các cơ  
quan khi có tranh chấp.  
Ở các nước có kinh tế thị trường phát triển, nhìn chung không có  
khái niệm hợp đồng thương mại hay hợp đồng kinh doanh (hay còn gọi là  
hợp đồng kinh tế). Pháp luật của các nước Anh - Mỹ hay các nước chịu  
ảnh hưởng của truyền thống luật Anh –Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Sĩ,... không có  
sự phân biệt hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự. Mọi hợp đồng  
bất luận ký két để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hay chỉ phục vụ cho  
mục đích sinh hoạt tiêu dùng đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật chung  
nhất. Tuy vậy, không có nghĩa pháp luật của các quốc gia này hoàn toàn  
không có những quy định riêng về chủ thể kinh doanh và những giao  
3
dịch mà họ thực hiện trong hoạt động kinh doanh của mình . Pháp luật  
3. Bùi Ngọc Cuờng - Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế ở nước ta hiện nay.  
Tạp chí Khoa học Pháp lý, trường Đại học Luật Hà Nội,. Số4/2001.  
11  
nhiều nước trên thế giới quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật dân  
sự hay Luật hợp đồng. Điều 420 Bộ luật dân sự Cộng hoà Liên bang Nga  
quy định “hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác  
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ”. Bộ luật dân sự Cộng  
hoà Pháp 1804 quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều  
bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một việc”.  
Bộ luật dân sự 2005 được ban hành đã mở rộng phạm vi điều chỉnh  
các quan hệ hợp đồng, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực dân sự mà bao  
gồm cả lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Cũng từ thời điểm này pháp  
lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực thi hành nên các hợp đồng kinh  
doanh, thương mại đều được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự 2005 và các  
văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Thương mại, luật Kinh doanh  
bảo hiểm, luật Đầu tư, luật Nhà ở, luật Kinh doanh bất động sản,… Pháp  
luật tố tụng để giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh- thương mại là Bộ  
luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).  
Tuy nhiên, do còn bị ảnh hưởng của các văn bản pháp luật trước  
đây và nhiều yếu tố khác nên các quy định trong Bộ luật dân sự 2005 vẫn  
nghiêng về hợp đồng dân sự, tại Điều 388 đưa ra định nghĩa hợp đồng  
dân sự như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc  
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".  
Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ  
xác định là sự thỏa thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong  
muốn của họ. Nguyên tắc này tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các  
nước. Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn,... là không  
phù hợp với ý muốn của các bên. Việc xác định các bên có mong muốn  
thực sự khi tham gia vào quan hệ hợp đồng trong thực tiễn hết sức khó  
khăn. Do vậy, khi giải quyết các cơ quan có thẩm quyền cần phải dựa vào  
những biểu hiện khách quan (những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, cán  
cứ khác,...) để xác định mong muốn thực sự của các bên giao kết.  
1.1.2. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng  
Theo Điều 121 Bộ luật dân sự 2005 thì giao dịch dân sự là hợp  
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc  
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.  
12  
Hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể  
thì hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí đa phương (ít nhất là hai bên chủ  
thể) thông qua sự thỏa thuận, hay nói cách khác các bên phải thông nhất  
ý chí với nhau để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ.  
Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005, hợp đồng được  
pháp luật thừa nhận có hiệu lực pháp lý khi đảm bảo các điều kiện sau:  
a. Chủ thể tham gia hợp đồng có đủ tư cách theo quy định của  
pháp luật  
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân,  
hộ gia đình và tổ hợp tác. Các chủ thể này phải có đủ tư cách chủ thể theo  
quy định của pháp luật dân sự.  
Xác định tư cách chủ thể thực chất là xác định ý chí (mong muốn)  
đích thực của các chủ thể tham gia hợp đồng, nếu không đảm bảo tư cách  
chủ thể thì không thể hiện hết yếu tố ý chí nên hợp đồng. Do vậy, năng  
lực hành vi dân sự của từng chủ thể được xem xét như sau:  
- Đối với cá nhân, thì hợp đồng có hiệu lực khi phù hợp với mức độ  
hành vi dân sự của họ bởi lẽ, bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý  
chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia. Trong xã hội những cá nhân  
khác nhau có những nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành  
vi do họ thực hiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân dựa  
vào ý chí - lý trí - độ tuổi nghĩa là “khả năng hiểu và làm chủ của chính  
họ”. Như vậy, xem xét tư cách của chủ thể của cá nhân có ý nghĩa quan  
trọng trong việc xác định yếu tố ý chí, nên Bộ luật dân sự quy định năng  
lực hành vi của cá nhân với nhiều mức độ khác nhau tương ứng với mức  
độ thể hiện mong muốn của họ.  
- Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và làm  
chủ hành vi của mình có quyền tự mình tham gia hợp đồng, bởi lẽ những  
người này khi tham gia hợp đồng có khả năng tự mình thể hiện mong  
muốn đầy đủ, toàn diện.  
- Đối với người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình  
tham gia hợp đòng có giá trị nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày. Đối với  
những hợp đồng tài sản có giá trị nhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà  
13  
không cần thông qua người đại diện như học sinh (13 tuổi) mua đồ dùng  
học tập có thể nhận thức được giá cả, chất lượng, đối với những giao dịch  
dân sự tài sản có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo pháp  
luật mới coi là hợp pháp, nếu không hợp đồng bị vô hiệu khi có yêu cầu.  
- Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực  
hành vi dân sự thì trong một số trường hợp họ có thể thực hiện những  
hành vi nhưng pháp luật không cho phép họ tự mình tham gia hợp đồng  
mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật. Đối với những người  
này do họ không có hoặc chưa có khả năng nhận thức để xác lập hợp  
đồng, do vậy ý chí của họ trong hợp đồng chính là ý chí của người đại  
diện theo pháp luật. Pháp luật quy định người đại diện phải có đủ tư cách  
mới được đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự, người không  
có năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện hợp đồng.  
- Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có  
khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi nhưng khi có những căn  
cứ tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và có yêu cầu thì Tòa án  
tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Những hợp đồng liên quan  
đến tài sản của người này phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý  
mới có hiệu lực pháp luật, nếu không có sự đồng ý thì hợp đồng về  
nguyên tắc bị vô hiệu. Quy định của pháp luật dân sự nhằm đảm bảo sự  
kiểm soát của người đại diện theo pháp luật, hạn chế việc tẩu tán tài sản  
để hút sách hoặc xác lập hợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên  
không thể nhận thức được toàn diện.  
- Đối với trường hợp xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không  
thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Tòa  
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.  
- Đối với các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác  
thì phải bảo đảm tư cách chủ thể khi tham gia giao hợp đồng. Khi tham  
gia hợp đồng, các chủ thể này thông qua người đại diện (đại diện theo  
pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền). Ý chí của các chủ thể này trong  
khi xác lập hợp đồng chính là ý chí của người đại diện hợp pháp phù hợp  
với phạm vi, mục đích hoạt động do pháp luật quy định (trừ một số  
14  
trường hợp pháp luật có quy định bổ sung các điều kiện như quy định Tổ  
trưởng Tổ hợp tác khi xác lập hợp đồng phải được đa số tổ viên đồng ý.  
Nếu hợp đồng do người không có thẩm quyền xác lập, thực hiện  
hoặc do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền thì không làm phát  
sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện mà đây chính là trách  
nhiệm của cá nhân đã xác lập, trừ trường hợp người được đại diện chấp  
thuận.  
- Đối với hộ gia đình thì người đại diện theo pháp luật là chủ hộ,  
nhưng pháp luật chỉ cho phép chủ hộ đại diện hợp pháp trong một số  
quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất, sản xuất nông - lâm - ngư  
nghiệp, vay vốn,... còn đối với các hợp đồng liên quan đến tài sản khác  
không phải là người đại diện theo pháp luật.  
Như vậy, xác định tư cách chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc  
xác định ý chí đích thực của các chủ thể, đây là cơ sở xác định diều kiện  
có hiệu lực của hợp đồng.  
b. Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của  
pháp luật không trái đạo đức xã hội  
Mục đích của hợp đồng là lợi ích mà các bên mong muốn đạt tới  
khi xác lập.  
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản cam kết trong  
hợp đồng, quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể (ví dụ  
như: đối tượng, giá, phương thức thanh toán,…).  
Hợp đồng có có mục đích và nội dung vi phạm quy định của pháp  
luật dân sự nói riêng, pháp luật nói chung hoặc trái đạo đức xã hội thì  
không được thừa nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự  
của các bên: mua bán tài sản pháp luật cấm (mua bán đất đai, ma tuý),  
cho vay tiền để đánh bạc, đòi các khoản tiền do việc bán dâm, đánh bạc  
mang lại.  
Việc xác định vi phạm điều cấm của pháp luật hay không phải căn  
cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật, chẳng hạn: Hợp đồng mua bán  
đất (trái pháp luật vì Luật Đất đai và Bộ Luật dân sự quy định đất đai  
thuộc sở hữu Nhà nước),…  
15  
c. Các bên tham gia giao hợp đồng hoàn toàn tự nguyện  
Bản chất của quan hệ dân sự mang yếu tố ý chí, đó là sự thống nhất  
ý chí của các chủ thể tham gia. Do vậy, muốn xác định các chủ thể có tự  
nguyện hay không cần dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố  
ý chí và bày tỏ ý chí. Đây là hai mặt của một vấn đề có quan hệ khăng  
khít với nhau. Sự tự nguyện hoàn toàn đó chính là sự thống nhất ý chí  
bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài; chỉ khi sự biểu lộ ý chí ra bên  
ngoài phản ánh khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của  
các chủ thể mới coi là tự nguyện. Nếu thiếu sự tự nguyện thì trái với bản  
chất của quan hệ hợp đồng và về nguyên tắc hợp đồng vô hiệu trong  
trường hợp sau:  
Hợp đồng giả tạo là hợp đồng nhằm che dấu một hợp đồng khác thì  
hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực nếu  
hợp đồng đó tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực được quy định tại  
Điều 121, trừ trường hợp hợp đồng đó không nhằm làm phát sinh quyền  
và nghĩa vụ của các bên thì cũng vô hiệu. Chẳng hạn: hai bên xác lập hợp  
đồng mua bán tài sản, nhưng thực chất là tặng cho (còn gọi là hợp đồng  
giả cách) thì hợp đồng tặng cho vẫn có giá trị pháp lý hoặc trường hợp để  
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hai bên xác lập hợp đồng mua bán tài sản  
nhưng thực chất bên kia chỉ giữ hộ tài sản mà không làm phát sinh quyền  
và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (còn gọi là hợp đồng tưởng tượng).  
Như vậy, giả tạo còn được hiểu là không có sự thỏa thuận và thống nhất  
ý chí của các bên nhằm làm phát sinh một quan hệ hợp đồng thực tế mà  
những loại hợp đồng này thường nhằm mục đích che dấu, trốn tránh  
pháp luật.  
Trong thực tế các hợp đồng giả tạo thường nhằm mục đích trốn  
tránh các nghĩa vụ tài sản, chẳng hạn A vay B 500 triệu đồng, khi B đang  
khởi kiện đòi nợ thì B thỏa thuận bán nhà ở cho H là em trai. Hai bên lập  
hợp đồng có công chứng (đây là việc lập hợp đồng giả tạo để trốn việc  
trả nợ),…  
Hợp đồng được xác lập do nhầm lẫn là trường hợp các bên hình  
dung sai về chủ thể hoặc nội dung của hợp đồng mà tham gia hợp đồng  
16  
gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia. Do nhầm lẫn mà làm mất đi tính  
chất thỏa thuận không phải là mong muốn đạt tới. Nhầm lẫn có thể dưới  
những dạng sau:  
- Nhầm lẫn chủ thể.  
- Nhầm lẫn nội dung của hợp đồng do hình dung sai về chất lượng,  
nhầm lẫn về đối tượng, giá cả (bên bán hiểu là đôla Mỹ, bên mua hiểu là  
đôla Hồng Kông).  
Nguyên nhân của sự nhầm lẫn thường do các bên thiếu sự rõ ràng  
về các điều khoản của hợp đồng hoặc do kém hiểu biết về đối tượng của  
giao dịch nhất là đối tượng liên quan kỹ thuật.  
Hợp đồng được xác lập do bị lừa dối, đe dọa.  
Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia nhằm  
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội  
dung của hợp đồng nên đã xác lập giao dịch đó. Do vậy, khác với nhầm  
lẫn thì lừa dối do thủ đoạn cố ý của một bên làm cho bên kia tin tưởng  
nên thúc đẩy việc xác lập hợp đồng.  
Tuy nhiên, việc xác định lừa dối trong thực tiễn hết sức khó khăn,  
thông thường dựa vào các căn cứ sau:  
- Có sự giới thiệu và có sai lệch trong sự giới thiệu đó;  
- Người giới thiệu biết sự sai lệch nhưng bỏ qua sự thật;  
- Người nghe không biết sự sai lệch nên tin vào sự giới thiệu;  
- Có thiệt hại xảy ra của một bên do sự giới thiệu.  
Theo quy định của Luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì phân thành lừa  
dối trực diện (hợp đồng vô hiệu) và lừa dối không trực diện (hợp đồng có  
thể bị vô hiệu).  
Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa.  
Đe dọa trong hợp đồng là hành vi cố ý, có ý thức của một bên làm  
cho bên kia sợ hãi mà phải giao kết, thực hiện hợp đồng nhằm tránh  
những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của  
mình hoặc của những người thân thích. Hợp đồng được xác lập do bị đe  
dọa không phù hợp với lợi ích của bên bị đe dọa, nói cách khác thiếu sự  
17  
thể hiện ý chí đích thực của các chủ thể tham hợp đồng. Các căn cứ để  
xác định hợp đồng có sự đe dọa bao gồm:  
- Có sự sợ hãi (về thể chất hoặc tinh thần);  
- Có hành vi cố ý đe dọa của một bên;  
- Sự đe dọa là bất hợp pháp (trái pháp luật).  
Ngoài ra, điều kiện về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp  
luật có quy định phải đảm bảo điều kiện hình thức (khoản 2 Điều 122).  
Trong các hợp đồng có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu chung, hợp  
nhất của nhiều người thì việc xác lập hợp đồng ngoài đảm bảo tư cách chủ  
thể của mình còn phải có đủ tư cách đại diện cho các đồng sở hữu chủ  
khác. Chẳng hạn: bán nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng  
ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu, việc xác lập, thực hiện và chấm  
dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được  
vợ, chồng bàn bạc thỏa thuận (Điều 28, khoản 3 Luật Hôn nhân và gia  
đình năm 2000). Trong trường hợp này nếu chỉ có một người đứng ra xác  
lập thực hiện hợp đồng thì phải được sự ủy quyền hoặc đồng ý của các chủ  
đồng sở hữu khác. Nếu không được sự đồng ý mà tự mình định đoạt toàn  
bộ tài sản chung hợp nhất thì hợp đồng có thể vô hiệu.  
1.2. Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý  
1.2.1. Hợp đồng vô hiệu  
Hợp đồng vô hiệu do vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều  
122 Bộ luật dân sự 2005. Về phương diện lý luận cũng như theo pháp  
luật của một số nước khi nghiên cứu các loại hợp đồng vô hiệu có thể  
phân chia thành các trường hợp vô hiệu:  
- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;  
- Vô hiệu do giả tạo;  
- Vô hiệu do nhầm lẫn;  
- Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa;  
- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành  
vi của mình;  
- Vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức.  
18  
Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của sự vô hiệu hợp đồng, hợp  
đồng vô hiệu có thể phân chia thành:  
- Hợp đồng vô hiệu toàn bộ;  
- Hợp dồng vô hiệu từng phần;  
- Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối: hợp đồng này không có hiệu lực  
ngay từ thời điểm giao kết nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công  
cộng. Chẳng hạn hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật (mua bán  
đất đai);  
- Hợp đồng vô hiệu tương đối: hợp đồng vô hiệu tương đối tuy có  
vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực nhưng vẫn coi là có giá trị  
pháp lý nếu các bên tham gia vẫn tự nguyện thực hiện, Tòa án chỉ hủy bỏ  
khi có yêu cầu của các bên tham gia. Đối với hợp đồng vô hiệu tương đối  
không đương nhiên vô hiệu mà có thể bị vô hiệu, vì vậy, không phải bất  
cứ hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu thì Tòa án cũng tuyên bố vô  
hiệu mà tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm và do yêu cầu của các bên mà  
Tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trong trường hợp hợp đồng có vi  
phạm các điều kiện có hiệu lực mà có thể sửa chữa được phần vi phạm  
đó cho phù hợp với quy định của pháp luật hoặc trong một số trường hợp  
bên tham gia không yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình (mặc dù  
biết bị thiệt hại) thì sẽ không hủy bỏ mà chỉ xem xét quyền và nghĩa vụ  
của các bên có được thỏa thuận đúng với quy định của pháp luật không;  
nếu pháp luật quy định mà các bên không sửa chữa cho phù hợp thì mới  
vô hiệu.  
Theo quy định tại Điều 127 đến Điều 138 và Điều 410, hợp đồng  
vô hiệu trong các trường hợp như sau:  
a. Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo  
đức xã hội (Điều 128)  
Hợp đồng vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết không làm phát sinh  
quyền và nghĩa vụ của các bên. Các bên tham gia hợp đồng có thể biết  
hoặc không biết là mình đã tham gia vào hợp đồng trái pháp luật. Tùy  
theo tính chất và mức độ vi phạm thì tài sản và hoa lợi, lợi tức thu được  
từ hợp đồng bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.  
19  
Trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi, thì mỗi bên tự  
chịu phần thiệt hại của mình; nếu chỉ một bên có lỗi, thì bên đó phải bồi  
thường thiệt hại cho bên kia.  
b. Hợp đồng vô hiệu do thiếu sự tự nguyện của các chủ thể  
- Hợp đồng vô hiệu do giả tạo: vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập,  
trừ giao dịch bị che giấu vẫn tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực  
(Điều 129).  
- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131).  
Khi một bên bị có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung  
của hợp đồng thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội  
dung hợp đồng, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có  
quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Nếu lỗi cố ý làm cho  
nhầm lẫn thì xử lý như là trường hợp bị lừa dối hay đe dọa.  
- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối hoặc bị đe dọa (Điều 132) thì bên  
bị lừa dối hoặc bị đe dọa có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó  
vô hiệu.  
c. Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực  
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện  
(Điều 130).  
Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự  
thì pháp luật quy định người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện  
hoặc phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (trừ trường hợp  
pháp luật có quy định tham gia giao dịch dân sự có giá trị nhỏ). Nếu  
trong những trường hợp trên mà tham gia hợp đồng liên quan đến tài sản  
không có người đại diện theo pháp luật thì có thể vô hiệu.  
d. Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ về hình thức (Điều 134)  
Điều 134 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp  
luật quy định hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của  
giao dịch dân sự mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một  
hoặc các bên, vô hiệu, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ra  
quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch  
20  
trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô  
hiệu, bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại”.  
Như vậy, hợp đồng không tuân thủ hình thức pháp luật quy định vô  
hiệu trong trường hợp quá thời hạn ấn định mà các bên không thực hiện  
đúng quy định hình thức do pháp luật quy định thì vô hiệu (chẳng hạn ấn  
định từ một đến ba tháng).  
e. Hợp đồng vô hiệu từng phần (Điều 135)  
Hợp đồng vô hiệu từng phần khi một phần của hợp đồng vô hiệu  
nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợp đồng.  
Việc xác định hợp đồng vô hiệu toàn bộ hay từng phần căn cứ vào  
từng hợp đồng cụ thể. Chẳng hạn, A thoả thuận cho B vay 100 triệu đồng  
(trong hợp đồng vay tài sản) nhưng khi giao tiền lại giao 50 triệu và  
2.500 đôla Mỹ. Việc thực hiện hợp đồng các bên giao bằng ngoại tệ là  
phần hợp đồng vô hiệu.  
Trường hợp vợ chồng anh A có 300 m2 quyền sử dụng đất là tài  
sản chung. Do chị B không đồng ý nên anh A đã cắt 150 m2 sang  
nhượng cho anh K. Tài sản chung của vợ chồng anh A là tài sản chung  
hợp nhất nên phải được sự đồng ý của vợ và chồng. Do đó, hợp đồng này  
vô hiệu toàn bộ.  
f. Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ  
được hành vi của mình  
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào  
đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì  
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu.  
1.2.2. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu  
a. Hậu quả pháp lý trong mối quan hệ giữa các bên chủ thể trong  
hợp đồng  
Về nguyên tắc hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và  
nghĩa vụ của các bên từ thời điểm hợp đồng được xác lập. Khi hợp đồng  
vô hiệu các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu nghĩa là phải hoàn trả  
cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại.  
21  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 135 trang Thùy Anh 8560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_dan_su_viet_nam_phan_2.pdf