Từ sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đến “Chủ nghĩa dân tộc” Hồ Chí Minh

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT  
NHỮNG LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC  
VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA CỦA V.I. LÊNIN ĐẾN  
“CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” HỒ CHÍ MINH  
ĐINH NGỌC THẠCH*  
LÊ THỊ MINH THY**  
Việc ti p c n với bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc  
và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin có ý nghĩa đặc biệt đối với sự lựa chọn chính  
trị của Nguyễn Ái Quốc vào cuối năm 1920 tại Đại hội Tours. Đó là sự lựa chọn  
có tính chất sống còn, quy t định con đường cách mạng Việt Nam sau này. Sự  
nhạy bén và bản lĩnh chính trị đã tạo nên một Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với  
chủ thuy t phát triển đáp ứng yêu cầu của dân tộc là đánh đuổi thực dân Pháp  
và ti n lên chủ nghĩa xã hội.  
Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nói về “chủ nghĩa dân tộc” Hồ Chí  
Minh. Tuy nhiên, đó không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa  
dân túy, mà là sự k t tinh những giá trị dân tộc và thời đại trên nền tảng chủ  
nghĩa Mác - Lênin. K  thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đề cao lợi ích dân tộc, xem  
đó là điều kiện, cơ sở để giải quy t những vấn đề kinh t , chính trị, xã hội, đồng  
thời mở rộng giao lưu, hợp tác quốc t , Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì đường  
lối đổi mới, tích cực và chủ động hội nh p, qua đó thể hiện một cách hài hòa  
biện chứng lợi ích dân tộc và lợi ích nhân loại trong một th  giới mở, th  giới  
“phẳng”, nhưng h t sức phức tạp như hiện nay.  
Từ khóa: Lênin, Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc, hội nhập  
Nh n bài ngày: 19/5/2020; đưa vào biên t p: 20/5/2020; phản biện: 01/6/2020;  
duyệt đăng: 24/6/2020  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
xem là thời kỳ quá độ của lịch sử tư  
tưởng Việt Nam. Trong sự tồn tại, đan  
xen cái cũ và cái mới, cái thuộc về  
quá khứ và cái mở hướng cho tương  
lai, việc hình thành nhiều phương án,  
nhiều học thuyết về con đường,  
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX được  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,  
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.  
** Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại.  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ…  
2
phương thức đấu tranh giải phóng Quốc về “Sơ thảo” của V.I. Lênin và  
dân tộc và cải cách xã hội đã trở xác định con đường cách mạng Việt  
thành hiện tượng phổ biến trong đời Nam trong điều kiện chính trị phức tạp  
sống chính trị - xã hội. Tuy nhiên, sự vào đầu thế kỷ XX có ý nghĩa phương  
ám ảnh của “quả núi truyền thống”(1) pháp luận to lớn. Thứ ba, tìm hiểu “Sơ  
(C. Mác và Ph. Ăngghen, 2005, tập 8: thảo” của V.I. Lênin và sự lựa chọn  
145) đã khiến cho các phong trào yêu chính trị của Nguyễn Ái Quốc trong  
nước lần lượt thất bại. Trong bối cảnh quá trình tiếp nhận tác phẩm đó có tác  
lịch sử đó, bằng sự nhạy bén và bản dụng thiết thực trong cuộc đấu tranh  
lĩnh của mình, Nguyễn Tất Thành đã chống lại những biểu hiện sai lầm,  
lựa chọn hướng đi mới trong công cực đoan trong việc giải quyết mối  
cuộc tìm kiếm con đường giải phóng quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích  
dân tộc với ý tưởng ban đầu là “xem nhân loại trong thời đại hiện nay.  
xét, học hỏi nước Pháp và các nước  
2. SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT NHỮNG  
khác để trở về giúp đồng bào mình”.  
LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC  
VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA  ỦA LÊNIN  
   L A  HỌN  H NH T Ị  ỦA  
NG   N I      
Việc tìm hiểu bước chuyển tư tưởng  
và sự lựa chọn chính trị của Nguyễn  
Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trong  
quá trình bôn ba tìm đường cứu nước,  
từ việc tiếp cận với Sơ thảo lần thứ  
nhất những lu n cương về vấn đề dân  
tộc và vấn đề thuộc địa  dưới đây gọi  
t t là “Sơ thảo”) của V.I. Lênin đến sự  
hình thành “chủ nghĩa dân tộc” đặc  
trưng của Người có ý nghĩa to lớn  
trong điều kiện hiện nay. Thứ nhất,  
Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập,  
chủ trương làm bạn với tất cả nhưng  
không đánh mất cái Tôi dân tộc, trong  
đó có những yếu tố đặc thù về hệ giá  
trị truyền thống, bản s c văn hóa,  
phong tục, tập quán và tâm lý dân tộc.  
Thứ hai, trong quá trình phát triển đất  
nước, hướng đến mục tiêu dân giàu,  
V
Bước chuyển tư tưởng Việt Nam vào  
đầu thế kỷ XX g n liền với sự nhận  
thức lại và sự thử nghiệm các phương  
án tìm kiếm con đường giải phóng  
dân tộc, cải cách xã hội. Ý thức hệ  
Nho gia, được triều đình nhà Nguyễn  
sùng bái đã không còn thích hợp. Nho  
gia dưới triều Nguyễn trở thành lực  
cản đối với sự phát triển đất nước.  
Hàng loạt tư tưởng cải cách do Phan  
Phú Thứ (1821 - 1882), Nguyễn Trường  
Tộ (1830 - 1871) nêu ra đã bị chìm  
vào quên lãng, khiến đất nước bỏ qua  
cơ hội mở rộng giao lưu với thế giới  
bên ngoài, cải cách xã hội theo hướng  
mở. Những bản điều trần, những dự  
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn án canh tân đất nước của Nguyễn  
minh, chúng ta lấy chủ nghĩa Mác - Trường Tộ không được đón nhận như  
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng của  ukuzawa  ukichi tại  
định hướng cơ bản, do đó việc tìm Nhật Bản, bởi l  đứng đầu đất nước  
là một ông vua nặng óc s ng Nho, bài  
hiểu cách tiếp cận của Nguyễn Ái  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (262) 2020  
3
Thiên Chúa giáo. Sự thất bại của Pháp thực hiện cải lương... chẳng  
phong trào Cần vương theo tinh thần khác gì xin giặc rủ lòng thương. Cụ  
“vua còn nước còn”, “trung quân ái Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ  
quốc” là tiếng nói cuối cùng của các sĩ  
để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm,  
phu yêu nước. Sự nhận thức lại này chẳng khác gì „đưa hổ cửa trước,  
rước beo cửa sau‟. Cụ Hoàng Hoa  
Thám... nặng cốt cách phong kiến”  
(theo Trần Dân Tiên, 1995: 12-13).  
tạo nên thời kỳ quá độ về tư tưởng,  
với sự ra đời các phong trào yêu  
nước của Phan Bội Châu, Phan Chu  
Trinh, Nguyễn Thái Học và của những  
trí thức “Tây học” như Phan Văn  
Trường, Nguyễn An Ninh, các tổ chức  
xã hội như Đông Kinh Nghĩa Thục,  
Công hội Đỏ, trước khi Đảng Cộng  
sản Việt Nam ra đời. Đó là tính đa  
dạng hướng đến mục tiêu thống nhất  
của phong trào yêu nước Việt Nam.  
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,  
Lương Văn Can vốn là những nho sĩ,  
nhưng tìm cách vượt qua khuôn khổ ý  
thức hệ Nho gia, trở thành những nhà  
yêu nước có tư tưởng cải cách, biết  
tiếp thu tinh hoa và kinh nghiệm của  
nhân loại trong quá trình xác lập lý  
luận về giải phóng dân tộc. Có thể nói,  
ở những mức độ nhất định, họ đều là  
những nhà dân tộc chủ nghĩa, lấy lợi  
ích dân tộc làm nền tảng lý luận của  
mình. Tuy nhiên tư tưởng yêu nước  
của họ, từ “khai dân trí, chấn dân khí,  
hậu dân sinh”  Phan Chu Trinh), đến  
“khai sáng dân tộc”  các đại diện của  
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục),  
kết hợp giải phóng dân tộc với việc  
hướng đến chế độ cộng hòa, dân chủ  
(Phan Bội Châu) đều không thành  
công.  
Nhận thấy những hạn chế lịch sử của  
các bậc tiền bối, với sự nhạy bén, bản  
lĩnh và tầm nhìn của một thanh niên  
yêu nước, nung nấu ý chí giải phóng  
dân tộc, năm 1911 Nguyễn Tất Thành  
đã rời bến Nhà Rồng, đến nước Pháp  
với mục đích ban đầu là xem xét, học  
hỏi nước Pháp và các nước khác để  
trở về giúp đồng bào mình (xem Trần  
Dân Tiên, 1995: 14).  
Bản Sơ thảo(2) của Lênin đến tay  
Nguyễn Ái Quốc vào m a thu năm  
1920, khi phong trào công nhân thế  
giới trải qua những chuyển biến phức  
tạp, với sự lựa chọn giữa hai đường  
lối, thể hiện ở sự phân biệt Quốc tế  
Xã hội chủ nghĩa  Quốc tế II) và Quốc  
tế Cộng sản (Quốc tế III), sự nổi lên  
của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cải  
lương và chủ nghĩa xét lại. Nhiều lãnh  
đạo của Quốc tế II về hình thức tuyên  
bố theo lập trường cộng sản chủ  
nghĩa, song trên thực tế lại xuyên tạc  
bản chất của chủ nghĩa Mác, phủ  
nhận cách mạng xã hội và đấu tranh  
giai cấp, chủ trương thỏa hiệp với  
chính quyền tư sản, biện minh cho  
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ  
nghĩa sôvanh nước lớn (chauvinism),  
bênh vực các thế lực thực dân, đế  
quốc trong chính sách cướp bóc, nô  
Đánh giá về các nhà yêu nước thời kỳ  
này, Nguyễn Tất Thành nhận định:  
“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ…  
4
dịch các dân tộc thuộc địa. Chính vô c ng nhanh hơn trước, nhưng nói  
trong bối cảnh ấy, Nguyễn Ái Quốc đã chung thì sự phát triển đó không  
những trở thành không đồng đều hơn  
trước, mà sự phát triển không đồng  
đều này nói riêng biểu hiện cả ở sự  
thối nát của các nước có nhiều tư bản  
nhất. Thứ hai, quan hệ giữa cách  
mạng vô sản và các phong trào đấu  
tranh vì độc lập dân tộc, hay quan hệ  
giữa đấu tranh giai cấp ở “chính  
quốc” và đấu tranh giải phóng dân tộc  
ở các nước thuộc địa. Các đại biểu  
của Quốc tế II đã xem nhẹ mối quan  
hệ này, chủ trương thỏa hiệp với giai  
cấp thống trị nhằm xoa dịu mâu thuẫn  
xã hội, đồng thời biện hộ cho các thế  
lực thực dân mới trong nô dịch các  
dân tộc. Đối lập với quan điểm của  
các đại diện Quốc tế II, Lênin và  
những nhà mácxít khác trong Quốc tế  
Cộng sản xem quan hệ giữa vấn đề  
giai cấp và vấn đề dân tộc, giữa cách  
mạng vô sản và phong trào đấu tranh  
giải phóng dân tộc tại các nước thuộc  
địa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối  
của mình. Trong Sơ thảo, từ việc  
thừa nhận quyền bình đẳng giữa các  
dân tộc, quyền tự quyết dân tộc, V.I.  
Lênin kêu gọi nâng cao trách nhiệm  
của các tổ chức quốc tế một mặt vạch  
trần tội ác của chủ nghĩa đế quốc,  
bênh vực các dân tộc bị áp bức, mặt  
khác tìm các biện pháp, phương thức  
ủng hộ, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức  
trong cuộc đấu tranh chính nghĩa vì  
độc lập và quyền tự quyết. Phong  
trào vô sản “chính quốc” cần liên kết  
chặt ch  với phong trào giải phóng ở  
các nước thuộc địa, các nhà cách  
mạng vô sản cần phối hợp, liên kết  
tiếp cận với bản “Sơ thảo” của Lênin.  
Sự kiện này trở thành điểm ngoặt  
trong chuyển biến tư tưởng của Người.  
Về nội dung, bản “Sơ thảo” chứa  
đựng những tư tưởng lớn, trong đó  
nổi bật 4 luận điểm g n kết với nhau.  
Thứ nhất, quan hệ giữa các quốc gia,  
dân tộc trong quá trình chủ nghĩa tư  
bản chuyển sang giai đoạn phát triển  
cao nhất của nó - chủ nghĩa đế quốc.  
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước,  
Nguyễn Tất Thành đã suy nghĩ về sự  
bất công giữa các dân tộc, sự khác  
nhau giữa người Pháp “ở nước  
Pháp”, quê hương của các nhà khai  
sáng, các nhà cách mạng như Ch.  
Montesquieu, F.M. Voltaire, J.J.  
Rousseau, M. Robespierre, và người  
Pháp đi “khai hóa” các dân tộc, trong  
đó có Việt Nam. Đọc Sơ thảo của V.I.  
Lênin, Nguyễn Ái Quốc càng thấm  
thía sự khác nhau này. Trong Sơ thảo,  
V.I. Lênin (1977: 199) nhấn mạnh sự  
cần thiết phân biệt một cách rõ ràng  
“những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc,  
không được hưởng quyền bình đẳng,  
với những dân tộc đi áp bức, bóc lột,  
được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi”.  
Trước đó, khi Chiến tranh thế giới lần  
thứ nhất đang diễn ra, trong tác phẩm  
Chủ nghĩa đ  quốc giai đoạn tột cùng  
của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã  
vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế  
quốc và số phận của các dân tộc bị áp  
bức. Lênin (1981: 536) viết: “Xét toàn  
bộ, chủ nghĩa tư bản  giai đoạn chủ  
nghĩa đế quốc - người viết) phát triển  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (262) 2020  
5
chặt ch  với các đại diện cho phong Chủ nghĩa đ  quốc giai đoạn tột cùng  
trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin  
các nước khác. Sự phối hợp, liên kết (1981: 532) cũng đã nhấn mạnh rằng  
này tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự áp bức dân tộc và vi phạm quyền  
quá trình đấu tranh cách mạng trên độc lập của các dân tộc đã thức tỉnh  
bình diện toàn cầu. Nước Nga Xô-viết nhiều dân tộc đứng lên liên kết với  
cần đóng vai trò tiên phong trong  
nhau thành một mặt trận chống kẻ thù  
cách mạng toàn thế giới, là cơ sở, chung và tự giải phóng.  
nền tảng và nguồn cổ vũ lớn lao cho  
Bốn luận điểm cơ bản ấy trong Sơ  
các dân tộc bị áp bức (xem V.I. Lênin,  
1977: 295). Thứ ba, đối với các cuộc  
đấu tranh tại các nước thuộc địa cần  
thực hiện hai nhiệm vụ song song là  
giải phóng dân tộc và giải phóng giai  
cấp, giành lấy độc lập và cải tạo xã  
hội theo con đường xã hội chủ nghĩa.  
Các lực lượng cách mạng, xuất thân  
từ giai cấp công nhân, nông dân, các  
tầng lớp xã hội tiến bộ, không chỉ liên  
kết với nhau để đánh đuổi kẻ xâm  
lược ngoại bang, mà còn đấu tranh  
loại bỏ chính quyền bù nhìn, các thế  
lực tay sai cho đế quốc, thực dân.  
Thứ tư, liên kết các dân tộc bị áp bức,  
sát cánh bên nhau chống kẻ thù  
chung và hợp tác trong quá trình khôi  
phục đất nước, lựa chọn con đường  
phát triển theo xu thế chung và lấy lợi  
ích dân tộc, với những đặc thù về  
truyền thống, bản s c, tâm lý làm nền  
tảng. Tình trạng áp bức và bất bình  
đẳng dân tộc chỉ được kh c phục khi  
nào “vô sản và quần chúng lao động  
của tất cả các dân tộc và tất cả các  
nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc  
đấu tranh cách mạng chung nhằm lật  
đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản.  
Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo  
đảm việc chiến th ng chủ nghĩa tư  
bản”  V.I. Lênin, 1977: 199). Trong  
thảo của Lênin có giá trị thời đại sâu  
s c, nhất là đối với các dân tộc trong  
cuộc đấu tranh giành độc lập và xây  
dựng xã hội mới. Bản Sơ thảo đã  
được Nguyễn Ái Quốc đón nhận, xem  
đây là nguồn cổ vũ và kim chỉ nam  
cho các dân tộc bị áp bức, trong đó có  
dân tộc Việt Nam. Trong Lời phát biểu  
tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII của  
Đảng Xã hội Pháp, diễn ra vào cuối  
tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc đứng  
về phía Quốc tế thứ III, vì theo lập  
luận của Người, tổ chức ấy “đánh giá  
đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc  
địa”  Hồ Chí Minh, 2000, tập 1: 23).  
B t đầu từ đây, “sự nghiệp của người  
bản xứ g n mật thiết với sự nghiệp  
của vô sản toàn thế giới”  Hồ Chí  
Minh, 2000, tập 1: 469).  
Nhận thức đúng đ n mối quan hệ biện  
chứng giữa giải phóng dân tộc và giải  
phóng giai cấp, chủ nghĩa yêu nước  
và chủ nghĩa xã hội là điểm nhấn đầu  
tiên, và cũng là nền tảng của tư tưởng  
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Đối  
với Người, giải quyết vấn đề dân tộc  
không tách rời những vấn đề mang  
tính nhân loại. Người nhấn mạnh:  
“vận mệnh của giai cấp vô sản thế  
giới g n chặt với vận mệnh của giai  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ…  
6
cấp bị áp bức ở các nước thuộc địa” thông qua Sơ thảo của Lênin đã từng  
bước tiếp thu chủ nghĩa Mác, đồng  
thời nhấn mạnh sự cần thiết “bổ sung  
cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng  
dân tộc học phương Đông”  Hồ Chí  
Minh, 2000, tập 1: 465).  
(Hồ Chí Minh, 2000, tập 1: 273). Luận  
điểm nền tảng này xuyên suốt quá  
trình hoạt động cách mạng của Người.  
Trong bài Cách mạng Nga và các dân  
tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc viết về  
bản chất của chủ nghĩa tư bản và sự  
cần thiết đoàn kết giai cấp vô sản ở  
chính quốc và giai cấp vô sản thuộc  
địa: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa  
có một cái vòi bám vào giai cấp vô  
sản ở chính quốc và một cái vòi khác  
bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc  
địa. Nếu người ta muốn giết con vật  
ấy, người ta phải đồng thời c t cả hai  
vòi”  Hồ Chí Minh, 2000, tập 1: 298).  
Người tiếp tục làm rõ vấn đề này trong  
nhiều bài viết, tác phẩm khác, từ  
Đường Kách mệnh - tác phẩm có tính  
chất tiền đề lý luận cho quá trình hình  
thành các tổ chức cách mạng mácxít -  
đến Di chúc, di huấn chính trị cuối  
cùng.  
3. TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT  
NHỮNG LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ  
DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA  
 ỦA LÊNIN ĐẾN “ HỦ NGHĨA DÂN  
TỘ ” HỒ CHÍ MINH  
Xin được nhấn mạnh rằng, không nên  
đồng nhất chủ nghĩa dân tộc với quan  
điểm, hay lý luận về dân tộc. Trong cội  
nguồn sâu xa và biểu hiện phổ biến  
chủ nghĩa dân tộc (từ tiếng Pháp:  
nationalisme; tiếng Anh: nationalism)  
được xem là hệ tư tưởng và khuynh  
hướng trong chính trị, với nguyên t c  
nền tảng là khẳng định giá trị dân tộc  
như hình thức cao nhất của sự thống  
nhất xã hội, tính thứ nhất của nó trong  
quá trình hình thành nhà nước có chủ  
quyền. Cơ sở của chủ nghĩa dân tộc  
là tuyên truyền về lòng tin và sự trung  
thành đối với dân tộc, sự độc lập về  
chính trị và cống hiến cho lợi ích nhân  
dân, cho sự phát triển văn hóa và tinh  
thần, sự liên kết tự ý thức dân tộc  
nhằm bảo vệ những điều kiện sinh tồn  
của dân tộc, lãnh thổ, tài nguyên kinh  
tế và giá trị tinh thần. Chủ nghĩa dân  
tộc dựa trên tình cảm dân tộc, g n kết  
với chủ nghĩa yêu nước. Hệ tư tưởng  
này hướng đến việc thống nhất các  
tầng lớp xã hội khác nhau, vượt qua  
những lợi ích giai cấp đối lập. Nó có  
khả năng huy động sức mạnh của  
dân tộc nhằm đạt được mục tiêu  
Lựa chọn chính trị của Nguyễn Ái  
Quốc có điểm khác với Tôn Trung  
Sơn, d  Người đánh giá cao nhà cách  
mạng này, xem tư tưởng Tam dân  
của ông rất gần với mục tiêu phấn đấu  
của dân tộc Việt Nam. Tôn Trung Sơn  
(1866 - 1925) trong chủ nghĩa Tam  
dân đã đánh giá cao C. Mác, xem học  
thuyết của Mác là tập đại thành của tư  
tưởng nhân loại  Tôn Trung Sơn,  
1995: 323), nhưng ông không tán  
thành học thuyết đấu tranh giai cấp,  
học thuyết giá trị thặng dư của Mác,  
nếu vận dụng vào điều kiện xã hội  
đương đại  xem Tôn Trung Sơn, 1995:  
332-338). Ngược lại, Nguyễn Ái Quốc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (262) 2020  
7
chính trị chung. Nếu hiểu chủ nghĩa Hiện nay trên thế giới nhiều phong  
dân tộc như vậy, thì một số yếu tố trào chính trị nhấn mạnh màu s c dân  
của nó hiện diện trong tư tưởng Hồ tộc chủ nghĩa của mình, dẫn đến tính  
Chí Minh về giải phóng dân tộc và  
những giá trị mang tính bản s c của  
dân tộc. “Chủ nghĩa dân tộc” Hồ Chí  
Minh, nếu có thể gọi như vậy, khác  
với chủ nghĩa dân tộc “thuần túy” hay  
các biến tướng cực đoan của chủ  
nghĩa dân tộc. Hơn nữa, căn cứ nội  
hàm của chủ nghĩa dân tộc như đã  
nêu trên, Hồ Chí Minh chưa bao giờ  
là một người dân tộc chủ nghĩa theo  
nghĩa trực tiếp của từ đó. Người đề  
cao sự g n kết cách mạng xã hội và  
cách mạng giải phóng dân tộc, nên  
trong Đại hội Tua (Tours), Người đã  
chọn Quốc tế III, do V.I. Lênin tổ  
chức và lãnh đạo. Trong quá trình  
hình thành tư tưởng về giải phóng  
dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn  
nhấn mạnh biện chứng giữa lợi ích  
giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích nhân  
loại, biện chứng cái phổ biến - cái  
đặc thù, mà Lênin là người đã truyền  
lửa vào tính thống nhất biện chứng  
đó. Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong con  
m t của các dân tộc thuộc địa, trong  
lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất  
quyền của các dân tộc thuộc địa, V.I.  
Lênin là người đã sáng tạo ra cuộc  
đời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con  
đường đi tới giải phóng cho toàn thể  
nhân loại bị áp bức”  Hồ Chí Minh,  
2000, tập 1: 137). Chính Lênin “là  
người đầu tiên đã nhận thức rằng  
nếu không có sự tham gia của nhân  
dân các nước thuộc địa thì không thể  
có cách mạng xã hội”  Hồ Chí Minh,  
2000, tập 2: 219).  
bất khoan dung về s c tộc, văn hóa,  
tôn giáo. Hai biến tướng cực đoan  
trong chủ nghĩa dân tộc thường thấy  
là “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”  chỉ  
thấy tính đặc thù dân tộc, xem nhẹ  
tính nhân loại, chủ trương biệt lập,  
khép kín, bài ngoại), và chủ nghĩa  
sôvanh (tuyên truyền về tính ưu việt  
của dân tộc nhằm luận chứng cho  
quyền phân biệt đối xử và nô dịch các  
dân tộc khác). Bên cạnh đó còn xuất  
hiện chủ nghĩa dân tộc dân túy trong  
đời sống chính trị hiện nay, tạo nên  
bức tranh phức tạp và đa dạng về vấn  
đề dân tộc, mối quan hệ giữa các vấn  
đề dân tộc và nhân loại  xem Đinh  
Ngọc Thạch, 2019: 315-323).  
Trong bài viết Chủ nghĩa dân tộc trong  
tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ  
nghĩa dân tộc vô sản, tác giả Dương  
Quốc Dũng  19/5/2011) cho rằng:  
“Luận điểm „thực chất tư tưởng Hồ  
Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc‟ là một  
luận điệu có ý đồ chính trị rõ ràng,  
muốn „lập lờ đánh lận con đen‟, muốn  
tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ  
nghĩa Mác - Lênin, tách rời độc lập  
dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt  
Nam, thực chất là cổ súy cho quan  
điểm muốn nước ta từ bỏ định hướng  
xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu chủ  
nghĩa xã hội”.  
Chúng tôi chia sẻ với sự cảnh giác  
của tác giả Dương Quốc Dũng đối với  
mưu đồ “tách rời” như trên. Tuy nhiên,  
trong lịch sử, trên nền chung của một  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ…  
8
học thuyết “chính thống” thường tồn vì những tuyên bố mang nặng tính  
giáo huấn một chiều và định kiến. Tư  
tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, về sự  
lựa chọn con đường đấu tranh cách  
mạng trong điều kiện những năm 20 -  
30 của thế kỷ XX đương nhiên chứa  
đựng những yếu tố g n với chủ nghĩa  
dân tộc, xét theo nội hàm của khái  
niệm đó, song Người đã thoát ra khỏi  
hình thức chật hẹp của nó. Vì thế,  
chúng tôi đặt vấn đề về “chủ nghĩa  
dân tộc” Hồ Chí Minh  chúng tôi đưa  
thuật ngữ này vào ngoặc kép trong bài  
viết của mình) như một cách diễn đạt  
về vị trí của vấn đề dân tộc trong tư  
tưởng của Người, hơn là một bản  
thiết kế hoàn bị về “chủ nghĩa dân tộc”  
Hồ Chí Minh như một chủ thuyết  
chính trị.  
tại các phương án khác nhau, những  
“dị bản” từ bản chính xét trong những  
điều kiện cụ thể. Chủ nghĩa Mác sau  
khi C. Mác qua đời đã được phổ biến  
tại nhiều khu vực, từ đó hình thành  
các phương án “khu vực hóa”, thậm  
chí “bản địa hóa” Mác cho ph  hợp  
với không gian xã hội mới. Điều này là  
bình thường, vì không thể có một hình  
mẫu chung, một thứ chân lý cho mọi  
dân tộc, mọi thời đại, như Ph. Ăngghen  
từng nhấn mạnh khi phê phán học  
thuyết về chân lý “tuyệt đỉnh” do  
Đuyrinh  Duhring) nêu ra  xem C. Mác  
và Ph. Ăngghen, 1994, tập 20: 124,  
127, 128, 129, 132). G. Đêriđa  
(Jacques Derrida) trong tác phẩm  
Những bóng ma của Mác đã xem học  
thuyết của Mác là học thuyết “cứu thế  
mới”, “sự đảm bảo cho tương lai nhân  
loại”  xem G. Đêriđa, 1994: 140, 190,  
191). Trong tác phẩm này Đêriđa  
phân biệt “chủ nghĩa Mác của Mác” và  
chủ nghĩa Mác “cực quyền hóa”, “toàn  
trị hóa”  mô hình Liên Xô), đồng thời  
xem chủ nghĩa Mác “nguyên bản” là  
sự “cứu thế mới” vì nó dựa trên thực  
tiễn xã hội, và có cơ sở khoa học  
trong các luận giải về con người và  
giải phóng con người.  
Tích hợp văn hóa Đông - Tây và tinh  
thần quốc tế vô sản là nét tiêu biểu  
của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh,  
làm sống động thêm hệ thống tư  
tưởng của Người, kết tinh những giá  
trị và lý tưởng tốt đẹp của dân tộc và  
nhân loại. Trong tư tưởng Hồ Chí  
Minh, dân tộc và nhân loại, chủ nghĩa  
yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản  
thống nhất với nhau. Đó là thông điệp  
chính trị, hành trang tư tưởng của  
Người từ khi Người tiếp thu cả nội  
dung lẫn tinh thần của Sơ thảo lần thứ  
nhất những lu n cương về vấn đề dân  
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin.  
Nghiên cứu các học thuyết khác nhau,  
Hồ Chí Minh luôn mong muốn g n kết  
chúng với hệ giá trị truyền thống của  
Có nên gọi tư tưởng Hồ Chí Minh về  
dân tộc là chủ nghĩa dân tộc theo  
cách hiểu mới, hay chủ nghĩa dân tộc  
kiểu mới, như Đêriđa từng gọi học  
thuyết của Mác là học thuyết “cứu thế  
mới” hay không? Đây là câu chuyện  
cần được tiếp tục trao đổi, làm rõ và dân tộc Việt Nam. Người nhận thấy,  
bổ sung những ý tưởng thực tế, thay Phật tổ có tư tưởng đại từ đại bi, cứu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (262) 2020  
9
khổ cứu nạn  Hồ Chí Minh, 2000, tập sản Việt Nam  2016: 69), nhấn mạnh  
“phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên  
trên hết”, “bảo đảm lợi ích tối cao của  
quốc gia, dân tộc trên cơ sở các  
nguyên t c cơ bản của luật pháp quốc  
tế”.  
5: 197), Khổng Tử có quan niệm về  
“nhân”, “lễ”, “chính danh” và “thiên hạ  
đại đồng”, Jesus thì “cho loài người  
quyền tự do và dạy loài người lòng  
bác ái”  Hồ Chí Minh, 2000, tập 5:  
333).  
4. THAY LỜI KẾT  
Đồng chí John Golan, Tổng Bí thư  
Đảng Cộng sản Anh, trong thư chia  
buồn về sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh, đã viết: “Không một dân tộc nào  
làm cho tôi cảm xúc như người Việt  
Nam, tận tụy nhưng không cuồng tín,  
nhỏ bé nhưng không hề khuất phục,  
yêu chuộng hòa bình nhưng đã kiên  
quyết tiến hành cuộc đấu tranh giải  
phóng. Đồng chí Hồ Chí Minh đã  
tượng trưng cho tất cả những điều đó”  
 Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ  
Chủ tịch, 1976: 473).  
Bản Sơ thảo lần thứ nhất những lu n  
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề  
thuộc địa của V.I. Lênin có ý nghĩa  
quyết định đối với sự lựa chọn chính  
trị của Nguyễn Ái Quốc. Bốn luận  
điểm cơ bản trong Sơ thảo trở thành  
hành trang tư tưởng, xuyên suốt cuộc  
đời vì nước vì dân của Người. Phát  
huy tinh thần của Sơ thảo và tư tưởng  
Hồ Chí Minh về biện chứng giữa độc  
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ  
nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế  
vô sản, giải phóng dân tộc và giải  
phóng nhân loại bị áp bức, Đảng  
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa yêu nước,  
tinh thần độc lập, ý chí tự cường của Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì  
nhân dân ta đã trở thành máu thịt, đường lối đổi mới, khẳng định quyền  
thành l  sống từ ngàn xưa đến hôm tự quyết và lợi ích dân tộc, đồng thời  
nay. Song làm sao để những giá trị đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Cách tiếp  
thiêng liêng ấy tiếp tục góp lửa cho sự cận như thế là minh chứng về một thế  
nghiệp đổi mới, lại cần đến hàng loạt giới mở, thế giới của sự cộng hưởng  
chính sách đòn bẩy, nhằm nâng cao giá trị trong quan hệ giữa các dân tộc.  
hơn nữa khả năng sáng tạo của con Chủ động và tích cực hội nhập, tự tin  
người, sự tự do và đột phá, hiến kế vươn ra biển lớn của văn hóa - văn  
cho Đảng, Nhà nước trong xây dựng minh nhân loại, tham gia có trách  
và bảo vệ tổ quốc, tích cực và chủ nhiệm vào sinh hoạt quốc tế, đó là  
động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh thông điệp của thời đại mới, được hun  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục đúc, bồi đ p bởi truyền thống dân tộc,  
tiêu lớn của dân tộc.  
tư tưởng Hồ Chí Minh.  
Tiếp thu và kế thừa tư tưởng Hồ Chí Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về biện  
Minh về sự thống nhất lợi ích dân tộc chứng lợi ích dân tộc và lợi ích nhân  
và chủ nghĩa xã hội, biện chứng giai loại, Đại hội lần thứ XII của Đảng  
cấp - dân tộc - nhân loại, Đảng Cộng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh việc  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TỪ SƠ THẢO LẦN THỨ…  
10  
tiếp thu, tiếp biến các giá trị bên ngoài,  
tách rời nhu cầu mở rộng giao lưu,  
đồng thời quảng bá hệ giá trị truyền hợp tác quốc tế, làm bạn với tất cả  
thống Việt Nam ra thế giới: “Chủ động trên tinh thần hiếu khách. Càng yêu  
mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, càng hy sinh vì nền độc lập,  
nước; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa chúng ta càng thiết tha với hòa bình,  
văn hóa thế giới, làm phong phú thêm càng yêu thương con người, càng ý  
văn hóa dân tộc. Chủ động đón nhận thức sâu s c về sự đoàn kết, tương  
cơ hội phát triển, vượt qua các thách thân tương ái, chia sẻ, nghĩa tình, và  
thức để giữ gìn, hoàn thiện bản s c càng không nhượng bộ với kẻ th ,  
văn hóa dân tộc…”  Đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận những thế  
Việt Nam, 2016: 130).  
lực gây bất ổn định, làm tổn hại đến vị  
thế của đất nước.  
Đối với dân tộc Việt Nam chủ nghĩa  
yêu nước, lòng tự tôn dân tộc không  
CHÚ THÍCH  
(1) Tác giả sử dụng diễn đạt này của C. Mác trong bài viết Ngày 18 tháng sương mù của Lu-i  
Bô-na-pác.  
(2) Bản Sơ thảo lần thứ nhất những lu n cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa được  
V.I. Lênin soạn thảo trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7/1920, trình bày  
tại Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản (từ 19/7 đến 7/8). Trước khi Đại hội diễn ra, nội  
dung của Sơ thảo đã được đăng trên tạp chí Quốc t  Cộng sản, số 11  14/7/1920), sau đó  
được đăng tải trên báo Nhân đạo  L‟Humanité), cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp  
(16 và 17/7/1920).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Dương Quốc Dũng. 2011. “Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất”.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn  
phòng Trung ương Đảng. Hà Nội.  
3. Đêriđa, G. 1994. Những bóng ma của Mác (sách dịch). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc  
gia và Tổng cục II Bộ Quốc phòng.  
4. Đinh Ngọc Thạch (chủ biên). 2019. Tri t học chính trị phương Tây hiện đại - Giá trị và  
ý nghĩa. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.  
5. Hồ Chí Minh. 2000. Toàn t p - tập 1, 2, 5. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
6. V.I. Lênin. 1977. Toàn t p - tập 41. Mátxcơva: Nxb. Tiến bộ.  
7. V.I. Lênin. 1981. Toàn t p - tập 27. Mátxcơva: Nxb. Tiến bộ.  
8. Locke, John. 2007. Khảo lu n thứ hai về chính quyền (Lê Tuấn Huy dịch và giới thiệu)  
Hà Nội: Nxb. Tri thức.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (262) 2020  
11  
9. C. Mác và Ph. Ăngghen. 1994. Toàn t p - tập 20. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
10. Tôn Trung Sơn. 1995. Chủ nghĩa Tam dân (Nguyễn Như Diệm, Nguyễn Tu Tri dịch).  
Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội.  
11. Th  giới ca ngợi và thương ti c Hồ  hủ tịch. 1976. Hà Nội: Nxb. Sự thật.  
12. Trần Dân Tiên. 1995. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Hà Nội:  
Nxb. Chính trị Quốc gia.  
pdf 11 trang Thùy Anh 25120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Từ sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đến “Chủ nghĩa dân tộc” Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_so_thao_lan_thu_nhat_nhung_luan_cuong_ve_van_de_dan_toc_v.pdf