Trách nhiệm giải trình của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
Review Article  
Accountabities of Land-ownership’s  
Representative in Vietnam  
Phan Trung Hien*  
Can Tho University, Xuan Khanh, Ninh Kieu, Can Tho, Vietnam  
Received 17 February 2020  
Revised 28 February 2020; Accepted 26 March 2021  
Abstract: This article focuses on the State's accountability as an owner representative in the  
process of land management in Vietnam. Based on the requirements of building a socialist rule of  
law state and the people’s land ownership, the article points out the gaps in law and barriers in the  
process of exercising accountability in the field of land management. On that basis, the article  
proposes solutions to improve the law to ensure the accountability of the State, through the  
relevant agencies, that are assigned the right to represent the land owner in Vietnam.  
Keywords: Accountability, state's accountability, accountability to land owners.  
D*  
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
43  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
44  
Trách nhiệm giải trình của đại diện chủ sở hữu  
về đất đai ở Việt Nam  
Phan Trung Hiền*  
Cantho University, Xuân Khánh, Ninh Kiều, Cần Thơ, Việt Nam  
Nhận ngày 17 tháng 02 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 28 tháng 02 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Bài viết này tập trung vào trách nhiệm giải trình của Nhà nước với tư cách là đại diện  
chủ sở hữu trong quá trình quản lý đất đai tại Việt Nam. Dựa trên các yêu cầu của việc xây dựng  
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quyền sở hữu đất đai của toàn dân, bài viết chỉ ra những  
lỗ hổng trong luật pháp và rào cản trong quá trình thực hiện trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực  
đất đai. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp cải thiện luật pháp để đảm bảo trách nhiệm  
giải trình của Nhà nước, thông qua các cơ quan liên quan, được giao quyền đại diện cho chủ sở  
hữu đất đai tại Việt Nam.  
Từ khóa: Trách nhiệm giải trình, trách nhiệm giải trình của nhà nước, trách nhiệm giải trình đối  
với chủ sở hữu về đất đai.  
Dẫn nhập *  
nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm  
của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền  
Hiến pháp Việt Nam xác định đất đai  
hạn đó”1. Theo đó, thuật ngữ “trách nhiệm giải  
trình” được nhìn nhận là một thuộc tính của  
người được ủy quyền trước người ủy quyền và  
các bên liên đới. Đây là thuộc tính của người  
được ủy quyền thực thi công vụ, phải có nghĩa  
vụ giải thích và phải chịu trách nhiệm về những  
việc mình làm trước người ủy quyền và các bên  
“thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện  
chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53).  
Vì vậy, trong quá trình xây dựng những khuôn  
khổ pháp lý, thể chế phục vụ cho việc quản lý  
đất đai cần phải bảo đảm để mọi tầng lớp nhân  
dân được tham gia vào việc nắm thông tin, xây  
dựng, thảo luận và đóng góp ý kiến của mình.  
Để đạt được yêu cầu đó, ngoài vấn đề công  
khai, minh bạch thì trách nhiệm giải trình của  
đại diện chủ sở hữu (Nhà nước) đối với chủ sở  
hữu về đất đai (Nhân dân) là yêu cầu tất yếu đặt  
ra.  
có liên quan2.  
Một trong những điểm đặc trưng của nhà  
nước XHCN là “công hữu về tư liệu sản xuất  
chủ yếu” nên đất đai được xác định “thuộc sở  
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu  
và thống nhất quản lý”. Như vậy, khái niệm “sở  
hữu toàn dân” luôn đi liền với cụm từ “do Nhà  
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản  
lý”. Nói cách khác, toàn dân là chủ sở hữu về  
1. Khái niệm trách nhiệm giải trình của đại  
diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam  
_______  
1Khoản 1 Điều 3 Nghị định 90/2013/NĐ-CP ngày  
08/8/2013 của Chính phủ về trách nhiệm giải trình  
của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm  
vụ, quyền hạn được giao.  
“Giải trình là việc cơ quan nhà nước cung  
cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
2Phạm Duy Nghĩa, Quan niệm về trách nhiệm giải  
trình trong thực thi công vụ, Chuyên đề thuộc Đề tài  
cấp bộ, Viện Khoa học Thanh tra, 2015.  
Địa chỉ email: [email protected].vn  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
45  
đất đai ở Việt Nam và Nhà nước CHXHXN  
Việt Nam là chủ thể được toàn dân tín nhiệm,  
giao cho quyền quản lý về đất đai ở Việt Nam,  
còn được gọi là chủ thể được ủy quyền quản lý  
về đất đai. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi  
đất đai ở nước ta được kết tinh bằng xương máu  
của biết bao tầng lớp cha ông, để Nhân dân Việt  
Nam ngày nay hoàn toàn tự hào khi nói về đất  
Mẹ tổ quốc thiêng liêng. Mặt khác, dù có dân  
chủ đến đâu đi chăng nữa thì từng người dân  
nhỏ lẻ, riêng biệt không thể tự mình thực hiện  
việc quản lý nhà nước nói chung và quản lý đất  
đai nói riêng trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Từ  
đây, có thể khẳng định chắc chắn rằng “toàn  
dân” là chủ sở hữu chính thức về đất đai ở Việt  
Nam và Nhà nước là chủ thể đại diện chủ sở  
hữu, có trách nhiệm giải trình trước “toàn dân”.  
Tóm lại, trách nhiệm giải trình của đại diện  
chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam là việc Nhà  
nước, thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm  
quyền (được trao quyền), chịu trách nhiệm  
trước toàn dân Việt Nam trong việc cung cấp,  
giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện  
nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm  
của từng cơ quan đó trong việc thực hiện nhiệm  
vụ, quyền hạn với tư cách là đại diện chủ sở  
hữu về đất đai ở Việt Nam.  
thừa, phát triển để trở thành học thuyết về nhà  
nước pháp quyền. Học thuyết đó đã được áp  
dụng ở các mức độ, phạm vi khác nhau ở nhiều  
nước tư sản. Ngày nay, xu thế chung của nhiều  
quốc gia trên thế giới là hướng tới xây dựng  
nhà nước pháp quyền, học thuyết đó đến lượt  
mình lại tiếp tục được lý luận chính trị hiện đại  
bổ sung, phát triển3.  
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn  
quốc lần thứ VII (1991) của Đảng cộng sản  
Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 là bản hiến  
pháp đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến thuật ngữ  
nhà nước pháp quyền XHCN, tức là nội dung  
pháp quyền được ghi nhận và phát huy trong  
điều kiện nhà nước XHCN. Kế thừa quy định  
này, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định:  
“Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước  
pháp quyền XHCN…”. Như vậy, nói xây dựng  
nhà nước pháp quyền XHCN là nói tới một  
phương thức tổ chức nền chính trị XHCN và  
nhà nước XHCN mà mục đích là phát huy cao  
độ dân chủ XHCN, làm cho Nhà nước là của  
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân thật sự  
trong sạch, vững mạnh. Bảo đảm vị trí tối  
thượng của Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ chế  
độ hợp hiến của Nhân dân, thượng tôn pháp  
luật…[4] Khái niệm nhà nước pháp quyền, vì  
vậy, không mâu thuẫn mà bổ trợ cho khái niệm  
Nhà nước XHCN bởi kiểu nhà nước này, theo  
đúng nghĩa, phải ghi nhận và thực hiện quyền  
lực nhân dân. Trong lĩnh vực đất đai, nội dung  
này càng thể hiện rõ bởi chủ sở hữu về đất đai ở  
Việt Nam được xác định thuộc sở hữu toàn dân.  
Chính vì vậy, cụ thể hóa những nội dung về chủ  
sở hữu đất đai ở Việt Nam cũng chính là cụ thể  
hóa chủ trương, chính sách xây dựng nhà nước  
pháp quyền XHCN.  
2. Mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng và  
hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải  
trình của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở  
Việt Nam  
Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về  
trách nhiệm giải trình của đại diện chủ sở hữu  
về đất đai ở Việt Nam có mục đích, ý nghĩa rất  
lớn, cả về phương diện chính trị, pháp lý và  
kinh tế - xã hội, cụ thể như sau:  
Thứ hai, bảo đảm nhân dân tham gia vào  
quản lý nhà nước. Theo V.L.Lê nin, “Với việc  
Thứ nhất, bảo đảm xây dựng nhà nước  
pháp quyền XHCN. Nhà nước pháp quyền như  
là một giá trị xã hội được tích luỹ và phát triển  
trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tư tưởng về  
nhà nước pháp quyền đã xuất hiện rất sớm, các  
nhà tư tưởng thời kỳ cổ đại đã nêu lên những  
khía cạnh này hay khía cạnh khác của nhà nước  
pháp quyền. Đến thời kỳ cách mạng dân chủ tư  
sản, những tư tưởng quý báu đó đã được kế  
_______  
3Hoàng Thị Kim Quế, Tư tưởng Đông, Tây về nhà  
nước và pháp luật – Những nhân tố Nhà nước pháp  
quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3 tháng 3  
năm 2002.  
4Nguyễn Đăng Dung - Trịnh Quốc Toản - Đặng  
Minh Tuấn, Bình luận khoa học Hiến pháp nước  
CHXHCN Việt Nam năm 2013, Nxb.Chính trị quốc  
gia, Hà Nội, 2016, tr. 84.  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
46  
phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ,  
nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng  
nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự  
rộng rãi vào mọi công việc quản lý nhà  
chủ sở hữu về đất đai (Nhà nước) đối với chủ  
sở hữu về đất (toàn dân). Hiện nay, cơ quan tài  
nguyên và môi trường Việt Nam chưa xây dựng  
Bộ hệ thống tiêu chí theo dõi và đánh giá đất  
đai. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc cụ  
thể hóa trách nhiệm giải trình của Nhà nước  
trước toàn dân về hoạt động quản lý và sử dụng  
đất đai ở Việt Nam.  
nước”[5]. Khoản 1 Điều 28 Hiến pháp năm  
2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia  
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận  
và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn  
đề của cơ sở, địa phương và cả nước”. Quản lý  
nhà nước được Hiến pháp khẳng định không  
giới hạn bởi các lĩnh vực nào ngoại trừ những  
lĩnh vực thuộc bí mật theo quy định pháp luật  
[6]. Lĩnh vực đất đai là một trong những lĩnh  
vực có nhiều nguy cơ phát sinh tham nhũng  
đồng thời là lĩnh vực có nhiều bất đồng giữa  
các cơ quan nhà nước ở địa phương[7] nên hoạt  
động quản lý này càng cần có sự tham gia của  
người dân. Đây là một trong những dấu hiệu thể  
hiện tính ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa  
trong việc phát huy “quyền làm chủ tập thể”  
của nhân dân lao động.  
Thứ tư, bảo đảm yêu cầu về công khai,  
minh bạch trong quản lý nhà nước về đất đai.  
Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp năm 2013 xác  
định: “Nhà nước tạo điều kiện để công dân  
tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai,  
minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý  
kiến, kiến nghị của công dân”. Điều này cho  
thấy, hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam  
phải gắn với yếu tố “công khai, minh bạch”.  
Công khai là không giữ kín, mà để cho mọi  
người đều có thể biết[9]. Trong khi đó, minh  
bạch là sự tường minh, rõ ràng. Khi đề cập đến  
công khai, minh bạch, các nhà khoa học thường  
đề cập đến vấn đề cơ hội, tính bình đẳng  
trong tiếp cận thông tin, tính tin cậy,  
nhất quán của thông tin, tính dự đoán  
trước được và sự cởi mở của cơ quan  
Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý nói  
chung và khai thác nguồn lực đất đai một cách  
hiệu quả. Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt  
Nam xác định cần phải khơi dậy nguồn tài  
nguyên từ đất đai…[8]. Vì lẽ đó, ngoài những  
nhiệm vụ về chính trị, quốc phòng thì vấn đề  
khơi dậy tiềm lực đất đai để phát triển kinh tế là  
một những yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay. Để  
hoàn thành điều đó, chúng ta không chỉ có cơ  
chế, chính sách thông thoáng, dỡ bỏ các rào cản  
trong quá trình kêu gọi thu hút đầu tư mà quan  
trọng hơn là ghi nhận trách nhiệm giải trình của  
cung cấp thông tin.[10]. Điều 28 Luật đất  
đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà  
nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin  
đất đai. Trong đó, việc cung cấp thông tin bao  
gồm cả việc thông báo các quyết định hành  
chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản  
lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng  
quyền và lợi ích hợp pháp. Có thể nói, công  
khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình là các  
nhân tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chủ  
sở hữu về đất đai không thể thực hiện hoạt động  
giải trình nếu thông tin về quản lý đất đai không  
được công khai; tuy nhiên, các chủ sở hữu đất  
đai yêu cầu giải trình dựa trên các quy định về  
_______  
5V.L.Lê nin, Toàn tập, nxb.Tiến bộ, Matsxcơva,  
1981, tr.93.  
6 Luật bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018.  
7Hương Giang, Để giảm được khiếu nại về đất đai,  
Báo Đồng Nai, link:  
18-02-2019 [truy cập ngày 22-3-2019].  
[8]. Bộ Chính trị, Nghị quyết về nâng cao hiệu quả  
các nguồn lực của nền kinh tế ngày 15-01-2019, Thời báo  
_______  
[9]. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà  
Nẵng, 2005, tr. 208.  
tài  
chính  
Việt  
Nam,  
[10]. Đậu Anh Tuấn, Ban Pháp chế VCCI, Minh bạch  
16/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-nang-cao-hieu-qua-cac-  
nguon-luc-cua-nen-kinh-te-66786.aspx, cập nhật ngày 16-  
01-2019 [truy cập ngày 22-3-2019].  
và  
công  
khai,  
Diễn  
đàn  
doanh  
nghiệp,  
cuu/minh_bach_va_cong_khai-f.html, [truy cập ngày 22-  
3-2019]  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
47  
công khai, minh bạch thông tin trong quản lý  
đất đai  
quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.”  
Mặt khác, điểm b khoản 1 Điều 10 Luật phòng,  
chống tham nhũng năm 2018 quy định phải  
công khai: “Việc bố trí, quản lý, sử dụng tài  
chính công, tài sản công” thông tin về quản lý  
và sử dụng đất đai. Trong đó, “đất và các loại  
Thứ năm, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin  
của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi  
nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự  
do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội,  
biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp  
luật quy định.” Như vậy, tiếp cận thông tin là  
một quyền hiến định được trang trọng quy định  
trong Chương II “Quyền con người, quyền và  
nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Theo khoản 1  
Điều 2 Luật tiếp cận thông tin năm 2016 thì:  
Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong  
văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng  
bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ,  
băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng  
khác do cơ quan nhà nước tạo ra. Mặt khác,  
khoản 3 Điều 2 Luật tiếp cận thông tin năm  
2016 quy định: Tiếp cận thông tin là việc đọc,  
xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin.  
Quyền tiếp cận thông tin là khả năng của cá  
nhân, công dân trong phạm vi luật định được  
tiếp nhận, tìm kiếm, phổ biến các thông tin, bao  
gồm những thông tin do các cơ quan nhà nước  
nắm giữ[11]. Như vậy, quyền tiếp cận thông tin  
trong lĩnh vực đất đai bao gồm hai nội dung  
chính: (i) Cơ quan nhà nước có trách nhiệm  
phải công khai các thông tin đến người dân trên  
địa bàn; (ii) Khi người dân có đề nghị chi tiết  
hơn về những nội dung này để nắm rõ các nội  
dung về quản lý đất đai có liên quan đến quyền  
và lợi ích hợp pháp của họ thì phải được cung  
cấp, được hướng dẫn chi tiết. Đây chính là khía  
cạnh thể hiện quyền yêu cầu giải trình trong các  
lĩnh vực nói chung và lĩnh vực đất đai nói riêng.  
Ngoài ra, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn năm 2007 với phương châm  
“dân bàn, dân làm và dân kiểm tra” cũng quy  
định những nội dung công khai bao gồm: “Dự  
án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ  
thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng  
mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công  
trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch  
sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh,  
tài nguyên khác” đều là tài sản công[12] nên  
phải công khai và người dân có quyền yêu cầu  
cơ quan có thẩm quyền phải giải trình.  
Như vậy, mặc dù có sử dụng những cụm từ  
khác nhau, song các quy định trong pháp Việt  
Nam có liên quan đều yêu cầu phải công khai  
thông tin và trách nhiệm giải trình liên quan đến  
quản lý đất đai của Nhà nước, mà đại diện là  
các cơ quan nhà nước được giao quyền, trước  
toàn thể nhân dân.  
3. Chủ thể giải trình  
Như đã phân tích phần trên, Nhà nước là  
chủ thể có trách nhiệm giải trình với tư cách là  
đại diện chủ sở hữu về đất đai. Vấn đề ở chỗ là  
Nhà nước cũng là một thực thể trừu tượng, bao  
gồm toàn bộ hệ thống bộ máy thực hiện các  
chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp và đại  
diện quốc gia trong một cơ chế phối hợp nhịp  
nhàng. Như vậy, khi nói đến trách nhiệm quản  
lý nhà nước nói chung, tất yếu phải xác định  
cho được cơ quan nào của Nhà nước phải chịu  
trách nhiệm về các nội dung quản lý này. Điều  
21 Luật đất đai hiện hành quy định các chủ thể  
chịu trách nhiệm thực hiện quyền đại diện chủ  
sở hữu về đất đai ở Việt Nam bao gồm: Quốc  
hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban  
nhân dân các cấp là các chủ thể phải chịu trách  
nhiệm giải trình liên quan đến về hoạt động  
quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam. Về  
nguyên tắc, chủ thể được “nghe” giải trình là  
Nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, tùy theo quy  
định về phân cấp thẩm quyền quản lý mà chủ  
thể giải trình có phạm vi giải trình khác nhau.  
Ví dụ: Quốc hội và Chính phủ có trách nhiệm  
giải trình trước toàn dân nhưng Hội đồng nhân  
dân và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm  
_______  
[11]. Đào Trí Úc, Vũ Công Giao (Đồng chủ biên),  
Những điều cần biết về pháp luật tiếp cận thông tin, Nxb.  
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015, tr. 17.  
_______  
[12]. Khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản  
công năm 2017.  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
48  
giải trình trước nhân dân địa phương trên địa  
bàn được giao quản lý.  
Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa xác  
định về trách nhiệm giải trình nên hình thức,  
phương pháp giải trình không được hệ thống  
hóa. Tuy nhiên, khi khảo sát các nội dung liên  
quan đến quản lý và sử dụng đất đai, có thể tập  
hợp được một số hình thức giải trình như sau:  
+ Hình thức lấy ý kiến và tiếp thu giải trình  
ý kiến  
Theo quy định pháp luật, khi lập dự thảo  
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm  
các nguyên tắc chung của quy hoạch, cụ thể  
như là: nguyên tắc tính nhân dân trong quy  
hoạch[13]. Hơn nữa, trong quá trình lập các quy  
hoạch, kể cả quy hoạch sử dụng đất, đều phải  
lấy ý kiến của Nhân dân. Khoản 4 Điều 19 Luật  
quy hoạch năm 2017 quy định: “Ý kiến đóng  
góp phải được nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và  
báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi  
thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt quy  
hoạch. Cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm  
công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp  
thu, giải trình ý kiến đóng góp.”  
Tuy nhiên, điểm đáng nói ở đây là việc lấy  
ý kiến chỉ mang tính tham khảo. Thậm chí, một  
số địa phương chưa bảo đảm thực thi các quy  
định về trách nhiệm giải trình khi cơ quan, cá  
nhân có thẩm quyền đồng ý hoặc không đồng ý  
các ý kiến góp ý. Kết quả là, trong nhiều trường  
hợp, các ý kiến góp ý mang tính hình thức. Khi  
chủ đầu tư đã được chính quyền địa phương  
đồng ý để đầu tư vào khu quy hoạch, thì việc  
sửa quy hoạch, kế hoạch, theo ý nhà đầu tư với  
danh nghĩa là để “khuyến khích đầu tư” tại một  
4. Nội dung giải trình  
Trong phạm vi điều chỉnh, Luật đất đai năm  
2013 xác định “Luật này quy định về chế độ sở  
hữu đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đại  
diện chủ sở hữu về đất đai và thống nhất quản  
lý về đất đai…” Thông qua nội dung cụ thể của  
của đại diện chủ sở hữu trong quản lý nhà nước  
về đất đai được quy định tại Điều 13 Luật đất  
đai năm 2013, có thể xác định nội dung của  
trách nhiệm giải trình bao gồm các vấn đề sau:  
(1). Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế  
hoạch sử dụng đất.  
(2). Quyết định mục đích sử dụng đất.  
(3). Quy định hạn mức sử dụng đất, thời  
hạn sử dụng đất.  
(4). Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất.  
(5). Quyết định giá đất.  
(6). Quyết định trao quyền sử dụng đất cho  
người sử dụng đất.  
(7). Quyết định chính sách tài chính về đất  
đai.  
(8). Quy định quyền và nghĩa vụ của người  
sử dụng đất.”  
Như vậy, tám vấn đề nêu trên là các nội  
dung mà Nhà nước, với tư cách là chủ thể đại  
diện sở hữu đất đai ở Việt Nam, phải giải trình  
việc thực hiện các nội dung đó trước toàn thể  
nhân dân. Như vậy, mặc dù Hiến pháp và pháp  
luật không xác định cụ thể nội dung của việc  
giải trình của đại diện chủ sở hữu. Song, thông  
qua phân tích các quy định pháp luật có thể thấy  
đây là tám nội dung mà Nhà nước, thông qua  
các chủ thể như: Quốc hội, Chính phủ, Hội  
đồng các cấp và Ủy ban nhân dân các cấp, trong  
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có  
trách nhiệm giải trình trước Nhân dân. Điều này  
bảo đảm khái niệm “sở hữu toàn dân về đất đai”  
là khái niệm pháp lý, có nội hàm xác định  
quyền và nghĩa vụ với các nội dung cần thực  
hiện.  
số địa phương ở Việt Nam[14]. Tương tự như  
vậy, các nội dung về “thu hồi đất” thì phương  
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đều phải được  
lấy ý kiến của người thuộc phạm vi khu vực có  
đất bị thu hồi.[15] Tuy nhiên, việc lấy ý kiến  
này cũng chỉ là để tham khảo. Ở đây pháp luật  
có quy định việc lấy ý kiến này phải được giải  
trình nhưng thực tế nhiều dự án thực hiện qua  
_______  
[13]. Khoản 4 Điều 4 Luật quy hoạch năm 2017.  
[14]. Đình Thi, Xót lòng nhìn thắng cảnh hồ Tuyền  
canh-quoc-gia-ho-tuyen-lam-2018100419330193.htm,  
đăng tải ngày 05-10-2018, truy cập ngày 22-3-2019].  
[15]. Khoản 2 Điều 69 Luật đất đai năm 2013.  
a) Hình thức giải trình  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
49  
loa, chiếu lệ. Thêm vào đó, việc quyết định giá  
đất cụ thể để tính bồi thường về đất, quyết định  
giá đất để thu tiền sử dụng đất khi nhận nền tái  
định cư hoàn toàn không được quy định là phải  
tin đại chúng và thông báo đến Trưởng thôn, Tổ  
trưởng tổ dân phố về thời gian, địa điểm, nội  
dung của hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân  
dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày tổ chức  
hội nghị.” (Điều 125). Điều này cho thấy, nội  
dung đối thoại có thể tổng hợp nhiều vấn đề  
liên quan đến thẩm quyền quản lý của UBND  
cấp xã. Tuy nhiên, một trong những nội dung  
thu hút sự quan tâm của người dân là vấn đề  
“quản lý nhà nước về đất đai” bởi khiếu nại,  
khiếu kiện về đất đai ở Việt Nam trong những  
năm gần đây luôn chiếm tỷ lệ hơn 70% trong  
có ý kiến của người dân.[16]. Theo GS.Đặng  
Hùng Võ, giá đất vẫn do các cơ quan hành  
chính nhà nước quyết định. Người bị thu hồi  
đất nếu không đồng ý với giá đất này cũng  
không có cơ sở nào để chứng minh được ý  
kiến của mình là đúng. Cuối cùng, quyết định  
của cơ quan hành chính nhà nước vẫn phải  
thi hành. Những ý kiến khác nhau về giá đất  
chỉ làm chậm lại quá trình tiếp cận quỹ đất  
tổng số các loại khiếu nại, khiếu kiện.19  
+ Hình thức giải trình bằng văn bản và giải  
trình trên báo chí  
của chủ đầu tư.[17]  
Như vậy, có thể kết luận rằng, trong lĩnh  
vực đất đai, trách nhiệm giải trình còn rất mờ  
nhạt, chủ yếu mang tính tham khảo, không có  
tính quyết định và một số địa phương thực hiện  
chưa nghiêm. Điều này cho thấy, nếu pháp luật  
đất đai không thừa nhận quyền sở hữu của  
người sử dụng đất thì phải cho họ quyền tham  
gia hoạch định chính sách đất đai và quyền đàm  
phán trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền  
Theo Điều 15 Luật phòng, chống  
tham nhũng năm 2015, trách nhiệm giải  
trình được quy định như sau:  
“Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách  
nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của  
mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ  
được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức,  
đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết  
định, hành vi đó. Người thực hiện trách nhiệm  
giải trình là người đứng đầu cơ quan, tổ chức,  
đơn vị hoặc người được phân công, người được  
ủy quyền hợp pháp để thực hiện trách nhiệm  
giải trình.  
Trường hợp báo chí đăng tải thông tin về vi  
phạm pháp luật và có yêu cầu trả lời các vấn đề  
liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ  
được giao thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân  
có thẩm quyền phải giải trình và công khai nội  
dung giải trình trên báo chí theo quy định của  
pháp luật.  
thu hồi đất.[18]  
+ Hình thức hội nghị trao đổi, đối thoại của  
UBND cấp xã  
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương  
năm 2016 thì: “Hằng năm, Ủy ban nhân dân  
cấp xã có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần  
hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân ở địa  
phương về tình hình hoạt động của Ủy ban nhân  
dân và những vấn đề liên quan đến quyền và  
nghĩa vụ của công dân ở địa phương; trường  
hợp quy mô đơn vị hành chính cấp xã quá lớn,  
có thể tổ chức trao đổi, đối thoại với Nhân dân  
theo từng cụm thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân  
dân phải thông báo trên các phương tiện thông  
_______  
[19].GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, Giải pháp hoàn thiện  
chính sách đất đai trong giai đoạn hiện nay, Cổng thông  
_______  
[16]. Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về thu  
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, 2018 (tái bản lần  
thứ nhất), tr.121, 122.  
tin  
điện  
tử  
Bộ  
Tài  
chính,  
[17]. Ngân hàng Thế giới, Cơ chế Nhà nước thu hồi  
đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương  
pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân,  
Hà Nội, 2011, tr.23.  
state%3D47tyzs8zv_4, đăng tải ngày 26-9-2017 [truy cập  
ngày 16-03-2020].  
[18]. Nguyễn Tấn Phát, Giải pháp hoàn thiện quan hệ  
tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển  
nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí  
Nghiên cứu kinh tế, số 376-2009, tr.24-37.  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
50  
Việc giải trình khi có yêu cầu của cơ quan  
thức giải trình đa dạng như: trên trang thông tin  
điện tử, trong các cuộc tiếp dân, trong các cuộc  
hội nghị đối thoại, trao đổi… Tất nhiên, với vai  
trò của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền chung, Chính phủ và UBND các cấp  
hoàn toàn có thể ủy quyền cho các cơ quan  
chuyên môn về quản lý đất đai trên địa bàn  
thuộc trách nhiệm quản lý để giải trình. Tuy  
nhiên, kết quả của việc giải trình là căn cứ để  
đánh giá hoạt động của các cơ quan hành chính  
nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan  
hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên  
môn.  
có thẩm quyền giám sát hoặc của cơ quan, tổ  
chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khác được  
thực hiện theo quy định của pháp luật có liên  
quan.”  
Như vậy, tùy theo từng loại hoạt động mà  
trách nhiệm nhiệm giải trình có thể khác nhau.  
Sự khác nhau này không chỉ phụ thuộc vào  
thẩm quyền quản lý mà còn phụ thuộc vào nội  
dung quản lý. Tuy nhiên, công khai, minh bạch  
vừa là tiền đề của hoạt động giải trình, vừa là  
động lực, là mục tiêu của hoạt động giải trình.  
Thứ ba, cần xây dựng Bộ tiêu chí theo dõi,  
đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về đất đai  
làm cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của  
các cơ quan nhà nước, trong đó có đánh giá về  
trách nhiệm giải trình. Trong đó cần quy định  
cụ thể từng nội dung và hình thức, định kỳ thời  
gian giải trình về đất đai của các chủ thể giải  
trình như: Quốc hội, Chính phủ, HĐND và  
UBND các cấp trước Nhân dân. Song song đó,  
những hoạt động phổ biến trong quản lý đất đai  
cần được đánh giá như: lập quy hoạch, kế  
hoạch sử dụng đất, hình thức giao đất và mức  
thu tiền sử dụng đất khi trao quyền sử dụng đất  
cho chủ đầu tư, giá đất tính bồi thường về đất,  
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi  
Nhà nước thu hồi đất... Việc đánh giá hiệu quả  
của việc giải trình theo từng chức vụ, chức danh  
nên xem là căn cứ để quy hoạch, luân chuyển,  
đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.  
Quản đất đất đai ở Việt Nam là hoạt động  
phức tạp với số lượng khiếu nại, khiếu kiện cao  
nhất. Điều này có nhiều nguyên nhân khách  
quan và chủ quan, song không thể kể đến sự  
thiếu công khai, minh bạch và thiếu quy định  
chi tiết về trách nhiệm giải trình trong quản lý  
và sử dụng đất đai. Để bảo đảm sự tham gia  
quản lý của người dân, thực thi hóa nguyên tắc  
công hữu về tư liệu sản xuất là đất đai thì pháp  
luật Việt Nam phải làm rõ trách nhiệm của chủ  
sở hữu về đất đai (Nhân dân) bên cạnh trách  
nhiệm của đại diện chủ sở hữu về đất đai (Nhà  
nước). Trong đó, phải ghi nhận trách nhiệm giải  
trình của các cơ quan thực hiện quyền đại diện  
chủ sở hữu về đất đai trước chủ sở hữu về đất  
đai. Khi đó, hiệu quả quản lý về đất đai ở Việt  
5. Kết luận và kiến nghị  
Để ghi nhận và thực hiện trách nhiệm giải  
trình của Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền, trước toàn dân, Luật Đất  
đai nên bổ sung các nội dung sau:  
Thứ nhất, đề xuất bổ sung Mục 1a “Trách  
nhiệm của nhà nước đối với toàn dân về quản  
lý và sử dụng đất đai. Trong đó, cần xây dựng  
khái niệm trách nhiệm giải trình và nguyên tắc  
giải trình. Để đảm bảo bản chất của quyền sở  
hữu toàn dân về đất đai thì việc giải trình giữa  
các cơ quan nhà nước hữu quan trước Nhân dân  
cần phải bảo đảm nguyên tắc: Dân chủ và công  
bằng; công khai và minh bạch; hợp pháp và hợp  
lý; gắn với trách nhiệm của từng chức vụ, chức  
danh.  
Thứ hai, quy định cụ thể về nội dung và  
hình thức giải trình. Một là, khi tiến hành các  
hoạt động lấy ý kiến về dự thảo quy hoạch, kế  
hoạch hoặc trong quá trình lập phương án bồi  
thường, hỗ trợ, tái định cư cần phải tổ chức hội  
nghị giải trình ý kiến của người dân. Trong đó,  
nếu hơn 2/3 ý kiến không đồng thuận với dự  
thảo, phương án mà chính quyền đưa ra thì phải  
lập Hội đồng tiếp nhận ý kiến góp ý để hoàn  
chỉnh lại dự thảo, phương án đã được góp ý.  
Điều này một mặt vừa bảo đảm tính “nhân  
dân”, tính “dân chủ” trong các dự án, phương  
án quy hoạch, vừa thể hiện tính chất “quyết  
định” của chủ sở hữu đất đai theo nguyên tắc  
đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước  
quản lý. Hai là, đối với các hoạt động thường  
xuyên của cơ quan nhà nước, nên quy định hình  
P.T. Hien / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 43-51  
51  
[8] Phan Trung Hien, Things about land acquisition,  
compensation, support, and resettlement, 2018  
(first edition), p.121, 122. uploaded  
Nam không chỉ được bảo đảm tốt hơn mà các tệ  
tham nhũng trong lĩnh vực đất đai, lãng phí  
nguồn tài nguyên quốc gia sẽ được đầy lùi, góp  
phần hoàn thành các mục tiêu phục vụ cho công  
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
[9] V.L. Lenin, full episode, Publishing House:  
progress, Matsxcơva, 1981, page.93.  
[10] World Bank, State Mechanism of Land  
Acquisition and Voluntary Land Movements in  
Vietnam: Approach, Land Valuation and  
Settlement of People's Complaints, Hanoi, 2011,  
p.23.  
Tài liệu tham khảo  
[11] Dang Hung Vo, Solution to complete land policy  
in the current period, Ministry of Finance Web  
Portal,  
[1] Dao Tri Uc, Vu Cong Giao (Co-Editor), Things  
to know about access to information law,  
Publishing House. Hanoi National University,  
Hanoi, 2015, p. 17  
c/r/m/ncvtd  
[2] Editorial Board Draft Constitution Amendment  
1992, some basic issues of the Constitutions of  
the world (monograph), Publishing House:  
National Politics, Hanoi, 2012, pp.57-60.  
[3] Hoang Thi Kim Que, Eastern and Western  
Thought on the State and the Law - Legal State  
Factors, Legislative Research Magazine, March  
3, 2002.  
/ncvtd_chitiet;jsessionid=v16K5v22h-  
HlgVbuaowo58K06xm_qIFSraPj2EM3JLGkSV  
KoBLUU!76756452!2039893700?dDocName=  
MOFUCM114647&dID=119569&_afrLoop=590  
01558526275262#!%40%40%3FdID%3D11956  
9%26_afrLoop%3D59001558526275262%26dD  
ocName%3DMOFUCM114647%26_adf.ctrl-  
state%3D47tyzs8zv_4, upload on 26-9-2017  
[access March 16, 2017].  
[4] Institute of Linguistics, Vietnamese dictionary,  
Da Nang Publisher, 2005, p. 208  
[12] Dau Anh Tuan, VCCI Legal Department,  
Transparency and Publicity, Business Forum,  
[5] Nguyen Dang Dung - Trinh Quoc Toan - Dang  
Minh Tuan, Scientific commentary on the  
Constitution of the Socialist Republic of Vietnam  
2013, National Political Publishing House,  
Hanoi, 2016, p. 84.  
[6] Nguyen Tan Phat, Solution to improve  
organizational relations - land management in  
agriculture and rural development in the period of  
economic transition in Vietnam, Journal of  
Economic Research, No. 376-2009, p.24 -37.  
cuu/minh_bach_va_cong_khai-f.html,  
March 22, 2019]  
[access  
[13] Đinh Thi, Mercifully seeing the landscape of  
Tuyen Lam lake being crushed  
upload on 05-10-2018, [access March 22, 2019].  
[14] Hương Giang, In order to reduce land claims,  
[7] Pham Duy Nghia, The concept of accountability  
in the enforcement of public duties, Topics under  
the Ministry-level topics, Institute of Science  
Inspectorate, 2015.  
Dong  
Nai  
Newspaper,  
giam-duoc-khieu-nai-ve-dat-dai-2933425/,  
update on18-02-2019 [access on 22-3-2019].  
K
p
pdf 9 trang Thùy Anh 16700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm giải trình của đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_giai_trinh_cua_dai_dien_chu_so_huu_ve_dat_dai_o.pdf