Phát huy di sản văn hóa trong khối tư nhân: Khó khăn và thách thức từ góc nhìn luật học

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
PHꢀT HUY DI SꢁN VĂN HÓA TRONG KHỐI TƯ NHÂN:  
KHÓ KHĂN Vꢂ THꢀCH THꢃC TỪ GÓC NHꢄN LUꢅT HꢆC  
THE PRIVATE PROPERTY IN CULTURAL HERITAGE:  
LEGAL DIFFICULTIES AND CHALLENGES  
ThS. Nguyễn Đình Thúy Hường1, Đặng Hoàng Minh2  
TS. Ngô Hồ Anh Khôi3  
Tóm tắt – Bꢀi viꢁt đꢂ cꢃp tꢄi nhꢅng khꢆ khăn vꢀ thꢇch thꢈc cꢉa cꢇc nhꢀ  
sưu tꢃp tư nhân, mꢊt chꢉ thꢋ không thꢋ thiꢁu trong quꢇ trꢌnh phꢇt huy di sꢍn văn  
hꢆa. Nhꢆm tꢇc giꢍ phân tꢎch vꢂ xu hưꢄng lꢃp phꢇp trong lꢏnh vꢐc bꢍo vꢑ di sꢍn  
văn hꢆa, cꢇc quy đꢒnh cꢉa quꢓc tꢁ vꢂ vꢔn đꢂ bꢍo vꢑ di sꢍn văn hꢆa vꢀ thꢐc tiꢕn  
phꢇp lí tꢖi Viꢑt Nam đꢋ lꢀm rꢗ hơn nhꢅng rꢉi ro phꢇp lí mꢀ cꢇc nhꢀ sưu tꢃp tư  
nhân cꢆ thꢋ phꢍi gꢇnh chꢒu trong quꢇ trꢌnh phát huy nhꢅng giꢇ trꢒ cꢉa di sꢍn văn  
hꢆa, đꢇp ꢈng vꢄi các hoꢖt đꢊng phát triꢋn kinh tꢁ bꢂn vꢅng.  
Từ khóa: công nghiꢑp văn hꢆa, di sꢍn văn hꢆa, sưu tꢃp tư nhân.  
1. DẪN NHꢅP  
Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn  
hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, việc này cho thấy tầm quan  
trọng của các ngành công nghiệp văn hóa trong việc cấu thành nền kinh tế quốc  
dân. Mục đích chính của nó là khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn  
hóa. Vì vậy, Nhà nước tăng cường tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa  
nguồn lực từ các doanh nghiệp xã hội để phát triển các ngành công nghiệp  
văn hóa.  
Kể từ năm 2001, Luật Di sản văn hóa ra đời và việc Việt Nam tham gia  
Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa của UNESCO, sự đóng góp của giới sưu tập tư  
nhân cho việc nghiên cứu cổ vật nói chung và gốm nói riêng là hết sức quan  
trọng. Năm 2009, Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Bảo tồn Cổ vật Việt Nam  
ra đời và đã bắt đầu tổ chức các hoạt động nghiên cứu, phân loại các cổ vật và các  
hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc. Qua hơn 10 năm hoạt động,  
Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Bảo tồn Cổ vật Việt Nam đã tổ chức hàng  
nghìn cuộc triển lãm cá nhân lẫn triển lãm cùng Nhà nước, hàng trăm bảo tàng tư  
1 Trường Đại học Hàng hải Việt Nam  
2 Trường Đại học FPT  
3 Trường Đại học Nam Cần Thơ; Email: ngohoanhkhoi@gmail.com  
445  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
nhân, nhà trưng bày tư nhân, các cuộc giao lưu văn hóa quốc tế, góp phần tạo ra  
một làn sóng du lịch văn hóa nở rộ trên cả nước, đóng góp cho việc phát huy giá  
trị các hiện vật văn hóa trong sưu tập cá nhân vào sự phát triển của xã hội và kinh  
tế đất nước.  
Dưới góc độ chuyên môn của người nghiên cứu trong lĩnh vực các bộ sưu  
tập tư nhân, chúng tôi cho rằng, để phát huy được các di sản văn hóa hiện đang  
nằm trong tay các nhà sưu tập tư nhân, không gì quan trọng hơn là sự minh bạch  
và hoàn thiện Luật Di sản văn hóa. Tuy nhiên, trong tình hình đất nước còn khó  
khăn, nhất là khâu quản lí di sản, việc các bộ luật này cần được phản biện, hoàn  
thiện hơn nữa là điều có thể hiểu được. Để hoàn thành mục tiêu của công nghiệp  
văn hóa do Chính phủ đề ra, không thể không nhắc đến sự hoàn bị của Luật Di sản  
văn hóa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vì vậy, Trung tâm UNESCO Nghiên  
cứu và Bảo tồn Cổ vật Việt Nam liên kết cùng Trường Đại học Hàng hải Việt  
Nam nghiên cứu sâu hơn về Luật Di sản văn hóa, nhằm đề xuất những giải pháp  
thích hợp, cũng như chỉ ra những điểm cần suy nghĩ của những nhà sưu tập tư  
nhân, đứng dưới góc độ luật học.  
2. KHꢀI QUꢀT Vꢇ PHꢀP LUꢅT QUỐC Tꢈ ĐỐI VꢉI VꢊN Đꢇ BꢁO Vꢋ  
DI SꢁN VĂN HÓA  
Điều ước quốc tế có hiệu lực trong lĩnh vực bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên  
của thế giới có tính ràng buộc và phổ quát toàn cầu chính là Công ước về việc bảo  
vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới, đã được thông qua tại kì họp thứ 17 của  
Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972. Theo đó, Công ước bao gồm  
38 điều, chia làm 08 mục, quy định cụ thể về: I. Định nghĩa di sản văn hoá và tự  
nhiên; II. Sự bảo vệ của quốc gia và quốc tế đối với di sản văn hoá và tự nhiên:  
III. Ủy ban liên chính phủ về sự bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới;  
IV. Quꢀ bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới; V. Các điều kiện và thể  
thức của viện trợ quốc tế; VI. Các chương trình giáo dục; VI. Các chương trình  
giáo dục; VII. Báo cáo; VIII. Các điều khoản cuối cùng [1].  
Trước Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới của  
UNESCO 1972, lịch sử thế giới đã ghi nhận sự có mꢁt của Hiến chương Athens  
(Athens Charte) và Hiến chương Venise (Venise Charte) về bảo vệ di sản văn hóa.  
Tuy nhiên, hai văn bản trên không được phổ cập nhiều. Nguyên nhân là do phạm  
vi áp dụng của hai hiến chương này chỉ nằm ở các công trình kiến trꢂc lịch sử.  
Nếu Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới của  
UNESCO 1972 là điều ước quốc tế tổng quát chung, theo chiều ngang cho lĩnh  
vực bảo vệ di sản thì hiện nay, trên thế giới, tồn tại một số công ước chuyên  
ngành, lĩnh vực hꢃp hơn quy định về bảo vệ di sản cho các ngành theo chiều dọc.  
Một trong những ví dụ nổi bật của bảo vệ di sản theo ngành dọc là: Công  
ước về bảo vệ các di sản văn hoá dưới nước được UNESCO thông qua vào năm  
446  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
2001 được coi là một công cụ pháp lí hiệu quả để chống lại sự phá huỷ và khai  
thác thương mại trên phạm vi toàn cầu những di sản văn hoá dưới đáy đại dương.  
Phạm vi của Công ước này hướng đến việc bảo tồn các di sản văn hoá dưới  
nước đã góp phần củng cố lỗ hổng pháp lí của Công ước về Luật biển (UNCLOS)  
1982, công ước quốc tế duy nhất có giá trị ràng buộc và đang được áp dụng để xác  
định các ranh giới các vùng biển.  
Bên cạnh đó, một số văn bản pháp luật quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa thế  
giới đáng chꢂ ꢄ bao gồm: Tuyên bố thế giới về đa dạng văn hoá được UNESCO  
thông qua năm 2001 [2], Công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể được  
UNESCO thông qua ngày 17/10/2003 [3], Công ước bảo vệ và khuyến khích sự  
đa dạng của các biểu hiện văn hoá được UNESCO thông qua ngày 27/10/2005  
[4].  
3. KHꢀI QUꢀT LUꢅT HꢆC Vꢇ VꢊN Đꢇ BꢁO Vꢋ DI SꢁN VĂN HÓA ꢌ  
VIꢋT NAM TRONG CꢀC Bꢍ SƯU TꢅP Cꢀ NHÂN  
Quá trình thực hiện Luật Di sản văn hóa, gồm hai nhóm hành động là bảo  
tồn và phꢅng chống không chỉ là của riêng Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá  
nhân công vụ mà còn của của mỗi một công dân, từng cá nhân riêng lẻ sống trên  
mảnh đất Việt Nam, có mang quốc tịch Việt Nam, đối với các di sản văn hóa  
‘được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà Xã hội Chủ  
nghĩa Việt Nam’ [5].  
Chú trọng bảo vệ di sản, hành vi sưu tầm các cổ vật thông qua việc thành lập  
các bộ sưu tầm mang tính chất cá nhân, thuộc sở hữu tư nhân là quyền công dân  
đã được Nhà nước thừa nhận tại bộ luật gốc của mọi ngành luật như Luật Dân sự,  
Luật Di sản văn hóa. Theo đó: ‘Tổ chức, cá nhân có quyền: sở hữu hợp pháp di  
sản văn hoá [5].  
3.1. Hꢎ thꢏng cꢐc văn bꢑn phꢐp luꢒt điꢓu chꢔnh hoꢕt đꢖng sưu tꢗm đồ vꢒt di  
sꢑn  
Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động sưu tầm đồ vật di sản bao gồm:  
Luật Di sản văn hóa, Luật số 32/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của  
Luật Di sản văn hóa [6]; Nghị định số 86/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quản lí  
và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước [7]; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính  
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa [8]; Quyết định số 23/2016/QĐ-  
TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định việc đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài  
có thời hạn để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoꢁc bảo quản [9]; Thông tư số  
07/2004/TT-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin hướng dẫn trình tự,  
thủ tục đăng kí di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [10]; Quyết định số 47/2008/QĐ-  
BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành  
Quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ và người thực hành bảo quản hiện  
447  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
vật bảo tàng [11]; Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật  
quốc gia [12]; Thông tư số 22/2011/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám  
định cổ vật [13]; Thông tư số 19/2012/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước  
ngoài [14]; Nghị định số 01/2012/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay  
thế hoꢁc bãi bỏ, hủy bỏ các Quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc  
phạm vi chức năng quản lí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [15]; Thông tư số  
07/2011/TT-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin sửa đổi, thay thế  
hoꢁc bãi bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức  
năng quản lí của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch [16]; Thông tư số 18/2012/TT-  
BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một  
số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích [17].  
3.2. Nhꢘng rꢙi ro phꢐp lí thường gặp đꢏi vꢚi cꢐc cꢐ nhân sưu tꢗm cꢛ vꢒt  
Việc sở hữu bộ sưu tập cá nhân hiện nay, ở Việt Nam, đối với các cá nhân  
sưu tầm, tiềm ẩn những rủi ro pháp lí trong quá trình sưu tầm như vấn đề đánh  
giá, định giá đồ di sản, vấn đề xác minh nguồn gốc đồ di sản.  
3.2.1. Vấn đề đánh giá, định giá đồ di sản  
Trên thực tế, khi sưu tầm, việc định giá và định lượng đối với một đồ vật  
luôn gꢁp nhiều khó khăn. Hệ quả của việc không đánh giá đꢂng giá trị, niên đại,  
đꢁc điểm, tính chất của đồ di sản sẽ dẫn đến một trong những hệ quả không mong  
muốn dưới đây:  
- Khả năng lưu trữ đồ vật không phải là di sản như bức tranh được cho là  
của Picassso vì có nhiều điểm tương đồng về phong cách, kĩ thuật xử lí màu. Tuy  
nhiên, đây chỉ là một bức vẽ của một hoạ sĩ có cùng phong cách với Picasso.  
- Khả năng lưu trữ hàng giả mạo, nhà sưu tầm đã không sở hữu được món  
đồ gốc mà là đồ giả như nhà sưu tầm đã không thận trọng khi cho rằng chiếc  
vương miện gai của chúa Jesus khi bị hành hình đã nằm trọn vꢃn trong bộ sưu tập  
của mình. Vương miện gai là một đồ vật di sản được coi như truyền thuyết khi  
chꢂa Jesus bị quân La Mã đội lên đầu, để chế nhạo Jesus sau khi bị bắt do Judas  
phản bội. Chiếc vương miện gai đã theo chꢂa Jesus trong suốt quá trình bị đóng  
đinh trên cây thập tự đến tận khi chết và được Đức mꢃ Marie chôn cất.  
- Khả năng lưu trữ đồ di sản nhưng không đꢂng với mô tả của nhà sưu tầm.  
Đây là trường hợp đồ di sản không mang đꢂng giá trị như nhà sưu tầm  
khꢆng định. Việc định giá và thẩm định sai đồ di sản có thể dẫn tới trường hợp  
nhà sưu tầm sở hữu đồ di sản nhưng hoꢁc giá trị hoꢁc phẩm chất của đồ vật không  
đạt được như kì vọng của nhà sưu tầm.  
448  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Có lẽ không nhất thiết phải đi sâu thêm về rủi ro mà nhà sưu tầm gꢁp phải  
nếu thẩm định và đánh giá sai giá trị món đồ. Việc cần làm là tiến hành thẩm định  
chính xác nhất có thể các thông tin có liên quan đến món đồ muốn xác định. Hiện  
nay, chưa có một văn bản luật nào cụ thể quy định về quá trình thẩm định, định  
giá đồ vật di sản ở Việt Nam. Chỉ tồn tại duy nhất Nghị định số 61 [18] của Chính  
phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu  
bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là văn bản dưới luật  
quy định về giám định cổ vật. Sự thiếu hụt này không thể được nhìn nhận là một  
lỗ hổng pháp lí bởi các đồ vật di sản là muôn hình vạn trạng và xuất hiện trên tất  
cả các lĩnh vực của đời sống. Không thể tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật  
nào áp dụng chung cho tất cả các dạng đồ vật di sản, về mꢁt nội dung. Về mꢁt  
hình thức, cách thức thẩm định, đánh giá các đồ vật di sản cũng hoàn toàn khác  
nhau tùy vào dạng thức của đồ vật. Vì lẽ đó, các văn bản quy phạm pháp luật quy  
định trình tự, thủ tục thẩm định cũng rất khó có thể được xuất hiện trong lĩnh vực  
bảo tồn di sản.  
Phương án đề xuất, trên thực tế, vì là nhà sưu tầm nên bản thân các cá nhân  
sưu tầm cũng có một khối lượng kiến thức chuyên sâu đꢁc biệt liên quan đến lĩnh  
vực. Chính nhóm đối tượng này sẽ là chủ thể hiểu rꢇ nhất chuyên gia nào, ai là  
người có khả năng thẩm định cho từng trường hợp di sản cụ thể sau khi đã tự  
chính mình đánh giá. Do đó, trách nhiệm của bên thẩm định, đánh giá nếu tiến  
hành sai thủ tục hoꢁc đưa ra kết quả định giá sai, ngoài sự ràng buộc về mꢁt pháp  
lí, quan trọng hơn hết là danh tiếng sẽ bị ảnh hưởng của người thẩm định sai.  
Quả thực, trên thế giới, việc đánh giá, định giá, thẩm định đồ di sản đã trở  
thành một ngành công nghiệp (chủ yếu trong khâu môi giới đánh giá) và một  
ngành khoa học mang lại cho nhân loại nói chung những hiểu biết quan trọng về  
quá khứ.  
3.2.2. Vấn đề xác minh nguồn gốc đồ di sản  
Một trong những vấn đề làm đau đầu các nhà sưu tầm là nguồn gốc đồ di  
sản. Thực tế sẽ có các trường hợp: đồ di sản có các chứng cứ chứng minh nguồn  
gốc, đồ di sản không có các chứng cứ chứng minh nguồn gốc.  
Đꢘ di sꢍn cꢆ cꢇc chꢈng cꢈ chꢈng minh nguꢘn gꢓc: Đây là trường hợp hoàn  
hảo và lí tưởng với tất cả các nhà sưu tầm. Chứng cứ chứng minh có thể tồn tại  
dưới nhiều hình thức, văn bản (sắc phong, chứng nhận quyền sở hữu, hình ảnh có  
liên quan) đi kꢈm với sự tồn tại của đồ di sản. Từ đó, nhà sưu tầm sẽ có khả năng  
đưa ra được các quyết định thích hợp nhất. Tuy nhiên, nếu đồ vật cần xác định lại  
đi cùng với các giấy tờ giả mạo, khiến việc xác minh nguồn gốc di sản đang từ  
minh bạch trở nên không thể thực hiện được thì chꢂng ta cần phải tìm hiểu trường  
hợp thứ hai, đồ di sản không có các chứng cứ chứng minh nguồn gốc.  
Đꢘ di sꢍn không cꢆ cꢇc chꢈng cꢈ chꢈng minh nguꢘn gꢓc: Nếu đã không rꢇ  
nguồn gốc, nhà sưu tầm đứng trước sự lựa chọn đầy rủi ro nếu quyết tâm chọn  
449  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
mua món đồ di sản. Các hậu quả pháp lí không mong muốn có thể xảy đến như: bị  
tịch thu đồ vật do tiêu thụ đồ gian mà thành, bị tiêu hủy đồ vật trong trường hợp  
hàng giả nếu có khiếu nại từ người sở hữu hợp pháp.  
Khả năng thắng kiện dân sự của nhà sưu tầm với bên cung cấp đồ được cho  
là di sản không cao. Trường hợp dễ thắng kiện nhất là khi nhà sưu tầm có đầy đủ  
bằng chứng chứng minh hành vi lừa đảo của bên bán (bằng việc đưa ra bộ chứng  
cứ chứng minh nguồn gốc giả được bên bán đồ di sản cố tình chuẩn bị). Nếu  
thắng kiện, các chi phí mà nhà sưu tầm bỏ ra để mua món đồ di sản không như  
định ước, có thể sẽ được bồi hoàn trả lại. Với các trường hợp chứng cứ lừa đảo  
mong manh, không đầy đủ, không thể tìm lại được người bán, phương án mà các  
nhà sưu tầm thường làm là chịu mất tài sản đã bỏ ra để đổi lấy đồ vật di sản không  
đꢂng với giá định ước. Bởi nếu nhà sưu tầm đã lựa chọn mua một đồ di sản không  
có các chứng cứ chứng minh nguồn gốc, ngay từ ban đầu, cũng là đồng thời, họ  
chấp nhận rủi ro với tư cách là một người chuyên nghiệp sưu tầm trong lĩnh vực  
đã theo đuổi từ lâu của mình. Pháp luật dân sự chỉ có thể bảo vệ họ trong việc  
kiện đꢅi bồi thường do bên bán đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán di  
sản.  
4. KꢈT LUꢅN  
Dưới góc độ luật học, chúng tôi cho rằng Luật Di sản văn hóa vẫn còn rất  
nhiều điểm cần được cải tiến theo hướng tiến bộ hơn, với mục đích hỗ trợ cho  
người sưu tập, chứ không phải đẩy rủi ro về người sưu tập. Người sưu tập tư nhân,  
nói chính xác hơn, chính là thành tố cực kì quan trọng trong việc phát huy di sản  
văn hóa tại Việt Nam. Nếu không thể tháo gỡ được những khúc mắc, để cởi trói  
cho người sưu tập tư nhân, thì không thể nào huy động được toàn bộ nguồn lực xã  
hội, nhằm hiện thực hóa những quyết tâm của Chính phủ trong Quyết định số  
1755/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở  
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.  
TÀI LIꢋU THAM KHꢁO  
[1] Đại hội đồng UNESCO. Công ưꢄc vꢂ viꢑc bꢍo vꢑ di sꢍn văn hoꢇ vꢀ tꢐ nhiên  
cꢉa thꢁ giꢄi. 1972.  
[2] UNESCO. Tuyên ngôn thꢁ giꢄi vꢂ đa dꢖng văn hoꢇ, thông qua tại phiên họp  
toàn thể, kì họp thứ 31, 02/11/2001.  
[3] UNESCO. Công ưꢄc vꢂ bꢍo vꢑ di sꢍn văn hoꢇ phi vꢃt thꢋ, thông qua tại phiên  
họp toàn thể, kì họp thứ 32,17/10/2003.  
[4] UNESCO. Công ưꢄc bꢍo vꢑ và khuyꢁn khích sꢐ đa dꢖng cꢉa các biꢋu hiꢑn  
văn hoꢇ, thông qua tại phiên họp toàn thể, kì họp thứ 33, 27/10/2005.  
[5] Quốc hội. Luꢃt Di sꢍn văn hoꢇ (Luật số 28/2001/QH10); 29/6/2001.  
450  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
[6] Quốc hội. Luꢃt Di sꢍn văn hꢆa năm 2001 (Luật số 32/2009/QH12 sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Di sản văn hóa); 18/6/2009.  
[7] Chính phủ. Nghꢒ đꢒnh sꢓ 86/2005/NĐ-CP Vꢂ quꢍn lí và bꢍo vꢑ di sꢍn văn hꢆa  
dưꢄi nưꢄc; 08/7/2005.  
[8] Chính phủ. Nghꢒ đꢒnh sꢓ 98/2010/NĐ-CP Quy đꢒnh chi tiꢁt thi hành mꢊt sꢓ  
điꢂu cꢉa Luꢃt Di sꢍn văn hꢆa và Luꢃt sửa đổi, bổ sung mꢊt sꢓ điꢂu cꢉa Luꢃt  
Di sꢍn văn hꢆa; 21/9/2010.  
[9] Thủ tướng Chính phủ. Quyꢁt đꢒnh sꢓ 23/2016/QĐ-TTg Quy đꢒnh viꢑc đưa bꢍo  
vꢃt quꢓc gia ra nưꢄc ngoài có thời hꢖn đꢋ trưng bꢀy, triꢋn lãm, nghiên cꢈu  
hoặc bꢍo quꢍn; 07/6/2016.  
[10] Bộ Văn hoá – Thông tin. Thông tư sꢓ 07/2004/TT-BVHTT Hưꢄng dẫn trình  
tꢐ, thꢉ tục đăng kí di vꢃt, cổ vꢃt, bꢍo vꢃt quꢓc gia; 19/2/2004.  
[11] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Quyꢁt đꢒnh sꢓ 47/2008/QĐ-BVHTTDL Vꢂ  
viꢑc ban hꢀnh Quy đꢒnh vꢂ tiêu chuẩn, trách nhiꢑm cꢉa cán bꢊ vꢀ người thꢐc  
hành bꢍo quꢍn hiꢑn vꢃt bꢍo tàng; 03/7/2008.  
[12] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Thông tư sꢓ 13/2010/TT-BVHTTDL Quy  
đꢒnh trình tꢐ, thꢉ tục đꢂ nghꢒ công nhꢃn bꢍo vꢃt quꢓc gia; 30/12/2010.  
[13] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Thông tư sꢓ 22/2011/TT-BVHTTDL Quy  
đꢒnh vꢂ điꢂu kiꢑn thành lꢃp và hoꢖt đꢊng cꢉa cơ sở giꢇm đꢒnh cổ vꢃt;  
30/12/2011.  
[14] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Thông tư sꢓ 19/2012/TT-BVHTTDL Quy  
đꢒnh loꢖi di vꢃt, cổ vꢃt không được mang ra nưꢄc ngoài; 28/12/2012.  
[15] Chính phủ. Nghꢒ đꢒnh sꢓ 01/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung, thay thꢁ hoặc bãi  
bỏ, hꢉy bỏ cꢇc Quy đꢒnh cꢆ liên quan đꢁn thꢉ tục hành chính thuꢊc phꢖm vi  
chꢈc năng quꢍn lí cꢉa Bꢊ Văn hꢆa, Thꢋ thao và Du lꢒch; 04/01/2012.  
[16] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Thông tư sꢓ 07/2011/TT-BVHTTDL Sửa  
đổi, thay thꢁ hoặc bãi bỏ cꢇc quy đꢒnh cꢆ liên quan đꢁn thꢉ tục hành chính  
thuꢊc phꢖm vi chꢈc năng quꢍn lí cꢉa Bꢊ Văn hoꢇ, Thꢋ thao và Du lꢒch;  
07/6/2011.  
[17] Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Thông tư sꢓ 18/2012/TT-BVHTTDL Quy  
đꢒnh chi tiꢁt mꢊt sꢓ quy đꢒnh vꢂ bꢍo quꢍn, tu bổ, phục hꢘi di tích; 28/12/2012.  
[18] Chính phủ. Nghꢒ đꢒnh số 61/2016/NĐ-CP vꢂ Quy đꢒnh điꢂu kiꢑn kinh doanh  
giꢇm đꢒnh cổ vꢃt và hành nghꢂ bꢍo quꢍn, tu bổ, phục hꢘi di tích lꢒch sử – văn  
hóa, danh lam thắng cꢍnh; 01/7/2016.  
451  
pdf 7 trang Thùy Anh 17000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát huy di sản văn hóa trong khối tư nhân: Khó khăn và thách thức từ góc nhìn luật học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_huy_di_san_van_hoa_trong_khoi_tu_nhan_kho_khan_va_thach.pdf