Góp ý dự thảo bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của Chính phủ

BÁO CÁO  
GÓP Ý DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)  
ĐỂ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH  
THEO NGHỊ QUYẾT 19 CỦA CHÍNH PHỦ  
RECOMMENDATIONS TO THE DRAFT 2015 CIVIL  
PROCEDURE CODE TO IMPROVE THE ENFORCEMENT  
OF CONTRACTS AND THE BUSINESS ENVIRONMENT  
i
HÀ NỘI, THÁNG 10/2015  
RECOMMENDATION TO THE DRAFT 2015 CIVIL PROCEDURE CODE TO IMPROVE  
ENFORCING CONTRACTS AND THE BUSINESS ENVIRONMENT  
EXECUTIVE SUMMARY  
Enforcing contracts and the security of private property are seen as essential for investment and trade  
around the world. Business investors only feel secured when the national legal and judicial system  
functions effectively to protect their legal rights and interests. Countries seem to share the same view  
on the need for a judicial system with simple and prompt procedures that can bring justice to people  
and is able to meet the expectations and desires of the parties who rely on court to resolve their  
disputes. Many countries have adopted a modernized, digitized, and citizen-friendly procedures during  
the civil and commercial proceedings to better serve their businesses and citizens. “Enforcing  
contracts” is also one among 11 indicators of the World Bank’s Doing Business Report to rank the  
ease of doing businesses among nearly 200 economies worldwide.  
In this context, the Government of Vietnam has issued Resolution 19 in 2014 and 2015, which also  
set the target to improve the quality and efficiency of enforcing contracts. Vietnam set the target for  
“reducing the time of enforcing contracts” to 200 days. This quantified figure is based on the  
calculation at the Civil Procedure Code. Therefore, the revision of the Civil Procedure Code is of high  
importance to achieve the target.  
This report is based on the result of various activities between the Ministry of Planning and Investment  
Central Institute for Economic Management (CIEM) with the USAID Governance for Inclusive  
Growth Program in 2015. Activities included a desk study review of legal documents, the draft 2015  
Civil Procedure Code, data on commercial disputes, international experiences, and field visits to  
selected provinces to discuss contract enforcement issues with provincial courts, commercial lawyers,  
and businesses. The recommendations are specifically intended to support the draft 2015 Civil  
Procedure Code from the perspective of improving the business environment.  
Key recommendations in this report include:  
• Reduce the number of days in each standard procedure for court proceedings.  
• Change the procedures for receiving petitions.  
• Allow electronic filing in the court proceedings.  
• Develop a model process for receiving petitions, accepting cases, and assigning judges to  
ensure judicial publicity, transparency and independence.  
• Issue receipts of the documents and appointment notes.  
• Improve summon procedures for reducing the case settlement time.  
• Reduce the time of transfer of judgments.  
In summary, in order to improve Vietnam’s business environment to increase its competitiveness and  
attract more foreign and domestic investors, the court system should strive to be a system that is "close  
to people, understands people, and helps people."1 All proceedings should become friendly and  
convenient for citizens and businesses. The time for settling disputes needs to be shortened so that the  
dispute settlement becomes efficient for citizens and businesses. These changes will contribute to a  
court system that is a reliable institution to guarantee equity, property rights, and contract enforcement.  
1 Ho Chi Minh. The State and Law, Legal Publishing House, Hanoi, p.188.  
3
LỜI GIỚI THIỆU  
Ngày 18/3/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/2014/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải  
pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tiếp theo những kết  
quả đạt được trong năm 2014, ngày 12 tháng 3 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị quyết  
19/2015/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hai năm  
2015-2016. Trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 19 có 2 chỉ số liên quan tới lĩnh  
vực tư pháp; đó là: (i) Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại; và (ii) Giải quyết phá  
sản doanh nghiệp.  
Nghị quyết 19 yêu cầu rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại xuống còn tối đa  
200 ngày (hiện nay là 400 ngày). Chỉ số này được đánh giá và đo lường dựa trên các quy định của Bộ  
luật tố tụng dân sự, do đó việc sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự ảnh hưởng quyết định tới việc rút ngắn  
thời gian Giải quyết tranh chấp hợp đồng.  
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương được giao nhiệm vụ theo dõi, đánh giá kết quả  
thực hiện Nghị quyết 19; và kiến nghị các giải pháp phù hợp đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Nghị  
quyết. Vì vậy, trong thời gian qua, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã phối hợp cùng Dự  
án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng toàn diện thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)  
tổ chức nghiên cứu, khảo sát, tham vấn và tập hợp các đề xuất, kiến nghị sửa đổi một số điều khoản  
cụ thể trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự trực tiếp tác động đến việc rút ngắn thời gian giải quyết  
tranh chấp hợp đồng. Báo cáo này là những nhận định, phân tích của nhóm chuyên gia, không nhất  
thiết thể hiện quan điểm của USAID và Chính phủ Hoa Kỳ.  
2
1
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH: BẢO ĐẢM THỰC THI HỢP ĐỒNG VÀ NỀN TƯ PHÁP  
HIỆU QUẢ  
An toàn về tài sản và bảo đảm thực thi hợp đồng là những yếu tố then chốt để thúc đẩy hoạt  
động đầu tư và thương mại đã được nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đề cập2. Ngay từ thời kỳ đầu xây  
dựng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã yêu cầu hệ thống tòa án phải “gần dân, hiểu  
dân, giúp dân”3. Điều này cho thấy đều đặt ra yêu cầu về một hệ thống pháp luật và cơ quan tư pháp  
phải hiệu quả để giúp cho người dân và doanh nghiệp4.  
Các quốc gia có những quan điểm khác biệt và tương đồng về triết lý phát triển một nền tư  
pháp hiệu quả nhưng dường như đồng nhất với nhau về việc xây dựng một hệ thống xét xử có thủ tục  
đơn giản, nhanh chóng và đem lại công bằng cho người dân, đáp ứng nguyện vọng, mong muốn của  
các bên nhờ tòa án giải quyết tranh chấp5.  
Nhiều nền kinh tế trên thế giới (bao gồm các quốc gia đang phát triển hay phát triển, như Anh,  
Canada, Trung Quốc, Brazil) gần đây đã tiến hành cải cách thủ tục tố tụng dân sự trong việc giải quyết  
tranh chấp dân sự, thương mại nhằm xây dựng những thủ tục tố tụng đơn giản, dễ tiếp cận cho người  
dân và doanh nghiệp, bằng việc thay đổi pháp luật tố tụng dân sự6.  
Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 đã đặt ra  
mục tiêu: “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng  
bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp  
mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao… Cải cách tư pháp phải  
xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp  
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ: “tiếp tục hoàn thiện  
thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước  
để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi  
ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện  
thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến toà án, toà án có trách nhiệm  
nhận và thụ lý đơn. Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà  
giải, trọng tài; toà án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”.  
2 Montesquieu đề cập đến trong cuốn “Tinh thần luật pháp” (the Sprit of Law) và Adam Smith trong cuốn “Tìm hiểu về  
bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” (An inquiry into the Nature and Causes of the Weath of Nations).  
3 Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1985, trang 188.  
4 Simeon Djankov và các tác giả, Tòa án (Courts). Đây là công trình nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp luận cho  
nghiên cứu Môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới.  
Papers/DB-Methodology-Courts.pdf; John Gillespie, Suy ngẫm lại vai trò của độc lập tư pháp tại các nước xã hội chủ  
nghĩa trong giai đoạn chuyển đổi (Rethinking the role of judicial independence in socialist transforming East Asia),  
International and Comparative Law Quarterly, Vol. 56, pp. 837-870, 2007.  
5 Simeon Djankov và các tác giả, Tòa án (Courts). Đây là công trình nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp luận cho  
nghiên cứu Môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới.  
Papers/DB-Methodology-Courts.pdf  
6 Xem báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới,  
4
Hai Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ năm 2014 và 2015 cũng đặt ra những mục tiêu nhiệm  
vụ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh (sau đây gọi tắt là “Nghị quyết 19”)7: “tiếp tục đẩy mạnh  
việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là xây dựng, sửa  
đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, các cơ chế chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi  
và bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất kinh doanh. Chú trọng  
các cơ chế, chính sách về quyền sở hữu tài sản, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ nhà đầu tư, bảo  
vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, các quy định về phá sản, giải thể, cạnh tranh...”, Nghị quyết yêu  
cầu “rà soát, đánh giá và có ý kiến góp ý về quy trình giải quyết tranh chấp hợp đồng nói riêng và  
tranh chấp dân sự nói chung theo hướng giảm thủ tục, giảm thời gian, giảm chi phí giải quyết tranh  
chấp hợp đồng đối với những vụ việc đơn giản”.  
2
HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ (BLTTDS) ĐỂ THÚC ĐẨY CẢI THIỆN  
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH  
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và khảo sát, tham vấn về môi trường kinh doanh trong  
nước, Báo cáo này đề xuất các nội dung nhằm hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (dự thảo 5  
của BLTTDS) theo hướng thúc đẩy mạnh mẽ môi trường kinh doanh. Phần dưới đây trình bày chi tiết  
các nội dung kiến nghị sửa đổi (Bản góp ý cụ thể vào các điều khoản được trình bày tại Phụ lục 1 của  
Báo cáo này).  
2.1 Thay đổi thủ tục nhận đơn khởi kiện (bao gồm các Điều 190, 191, 192, 196, 198, 199 của  
dự thảo BLTTDS - dự thảo 5)  
1. Dự thảo BLTTDS sửa đổi cần sửa đổi thủ tục nhận đơn theo hướng thời điểm tòa án nhận  
được đơn kiện thì được tính là thời điểm thụ lý vụ án. Tòa án bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng,  
công khai hoạt động tố tụng. Đương sự phải trả lệ phí (hoặc án phí) cho việc xét đơn.  
(i) Quy trình quyết định có thụ lý hay không kể từ khi nhận đơn theo quy định của BLTTDS  
2004 và dự thảo BLTTDS đã không bảo đảm việc tranh tụng. Nếu không đồng ý với quyết định của  
tòa án về việc thụ lý hay không thụ lý, đương sự chỉ có quyền khiếu nại theo phương thức giải quyết  
khiếu nại của ngành tòa án. Phương thức này hạn chế cơ hội trình bày của các đương sự một cách công  
khai, bình đẳng và chủ động với tòa án về những quan điểm pháp lý và bằng chứng đối với việc thụ  
lý vụ án. Xác định thời điểm Tòa án nhận được đơn khởi kiện hợp lệ được tính là thời điểm Tòa án  
thụ lý vụ án là nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự trước các thời hiệu của pháp luật, đồng thời bảo  
đảm tính chặt chẽ của các thủ tục tố tụng.  
(ii) Theo BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi thì khi tòa án nhận đơn khởi kiện nhưng  
chưa thụ lý. Do chưa thụ lý nên vụ án không bị ràng buộc bởi các thời hạn về tố tụng khác và tòa án  
cũng chưa thu án phí. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng người nộp đơn  
không có trách nhiệm nên tạo ra thêm công việc của tòa án nhưng cũng là nguyên nhân khó khăn trong  
7 Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/03/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh  
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 12/03/2015 về những nhiệm  
vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2015-2016.  
5
việc nộp đơn khi mà tòa án không muốn thụ lý vụ án. Việc sửa đổi như đề xuất ở trên sẽ đề cao trách  
nhiệm cả tòa án và đương sự. Đương sự phải tạm nộp án phí cho việc xem xét đơn. Để bảo đảm quyền  
lợi của người có khó khăn về kinh tế và các đối tượng cần được trợ giúp pháp lý (như người khuyết  
tật, người chưa thành niên…), lệ phí xét đơn có thể được miễn hoặc giảm cho những đối tượng này  
theo các tiêu chí của Pháp lệnh và án phí và lệ phí tòa án, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm  
sóc và giáo dục trẻ em (Luật Trẻ em), Pháp lệnh về người có công...  
(iii) Có ý kiến cho rằng theo quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi hiện  
hành thì người dân không phải mất phí, tòa án sàng lọc đơn kiện trước khi thụ lý. Nhưng do chưa thụ  
lý vụ án, các hoạt động và hành vi tố tụng của tòa án chưa vận hành. Việc trả lại đơn vì các loại lí do  
như không thuộc thẩm quyền, chưa đủ điều kiện khởi kiện, chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ  
chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ, hợp pháp vv… không được kiểm soát bằng quy trình tố  
tụng, đánh giá chất lượng hoạt động của thẩm phán. Vấn đề này cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt  
động của toà án và gây nên tình trạng kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp như đã nêu ở trên.  
(iv) Thời điểm tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện là thời điểm thụ lý vụ án. Điều này được công  
nhận tại mô hình tố tụng dân sự của nhiều nước theo hệ thống dân luật như Việt Nam, ví dụ như Pháp  
(Điều 25 và Điều 70)8, Nhật Bản (các điều 133 đến điều 143-BLTTDS Nhật bản); Trung Quốc (Điều  
119 và 121 – BLTTDS Trung Quốc); Đức (Điều 129a – BLTTDS Đức).  
(v) Để xác nâng cao trách nhiệm nộp đơn khởi kiện của đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho  
các bên được tranh tụng ngay từ giai đoạn nhận đơn khởi kiện, thủ tục tố tụng dân sự nên có thêm thủ  
tục mở phiên tòa xét đơn đối với những trường hợp mà Tòa án cần phải xác định thêm về thẩm quyền  
thụ lý và nội dung khởi kiện. Đương sự phải trả lệ phí xét đơn khởi kiện để trang trải chi phí cho hoạt  
động của Tòa án và nâng cao trách nhiệm nộp đơn của đương sự. Việc miễn giảm các loại án phí, lệ  
phí Tòa án được quy định tại Pháp lệnh về Án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.  
2. Ngay khi nộp Đơn khởi kiện không cần thiết đòi hỏi đương sự phải có đầy đủ các bằng  
chứng cho việc khởi kiện là có căn cứ.  
(i) Thủ tục nhận đơn trong BLTTDS 2004 và trong dự thảo BLTTDS yêu cầu “kèm theo đơn  
khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và  
hợp pháp” gây khó khăn cho đương sự khi phải thu thập tài liệu, chứng cứ mà tòa án coi là hợp pháp.  
Cơ chế này sẽ làm mất thêm thời gian cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình nộp đơn. Mặc dù  
nghĩa vụ chứng minh chứng cứ thuộc về đương sự nhưng trên thực tế, nhiều trường hợp, đương sự cần  
sự hỗ trợ của tòa án hoặc các cơ quan, tổ chức để có thể thu thập chứng cứ.  
(ii) Quy định nộp đơn khởi kiện phải “kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ  
chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp” sẽ làm khó khăn đối với những  
trường hợp giao dịch dân sự bằng hành vi (rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt với người nghèo, cư dân  
ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận với các dịch vụ pháp lý). Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao  
đã có nghị quyết mang tính nội bộ ngành hướng dẫn về bằng chứng nộp cùng với đơn khởi kiện nhưng  
8 Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Điều 25 và Điều 70; Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân  
dân Trung hoa 2012, Điều 119 và Điều 121; Bộ luật tố tụng dân sự Nhật Bản 1996, từ Điều 133 đến Điều 143; Bộ luật tố  
tụng dân sự Cộng hòa liên bang Đức, Điều 129a.  
6
thực tế người dân không biết đến nghị quyết này và các tòa án vẫn khó khăn trong việc áp dụng quy  
định này9. Ngoài ra, nhiều trường hợp người dân muốn nhờ tòa án xác minh chứng cứ thì tòa án lại  
không thể thực hiện vì vụ án chưa được thụ lý.  
(iii) Đòi hỏi đơn khởi kiện phải kèm theo các bằng chứng hợp pháp cũng là một trở ngại nếu  
tòa án áp dụng hình thức nhận đơn khởi kiện trực tuyến (xem nhận xét cụ thể dưới đây) và gây khó  
khăn cho các thẩm phán phải đánh giá, đưa ra kết luận quá sớm về vụ án.  
(iv) Tại các quốc gia theo hệ thống dân luật khác10, việc nộp đơn khởi kiện được coi như là thụ  
lý vụ án. Trong trường hợp điều kiện chủ quan và khách quan mà Tòa án Việt Nam e ngại những rủi  
ro liên quan đến chất lượng của đơn kiện chưa được rõ ràng (do dân trí, khả năng đáp ứng của trợ giúp  
pháp lý...) thì Tòa án có thể có thêm một phiên họp xét đơn kiện đối với những vụ án mà tòa án nơi  
nhận đơn thấy còn băn khoăn về thẩm quyền, nội dung vụ án...  
(v) Mô hình phiên họp xét thẩm quyền giải quyết này nhằm bảo đảm tính tranh tụng, tính minh  
bạch và trách nhiệm giải trình ngay từ giai đoạn nộp đơn khởi kiện, xác định thẩm quyền của Tòa án  
(như đã phân tích ở trên). Mô hình này không làm thay đổi quá nhiều phương thức xử lý đơn kiện và  
giải quyết bất đồng với quyết định của tòa án đối với đơn kiện hiện tại. Tuy nhiên, phương thức mới  
cho phép các đương sự có quyền trình bày quan điểm, bằng chứng của mình một cách hợp lệ thay vì  
chỉ có quyền khiếu nại và Tòa án chỉ giải quyết việc khiếu nại cũng thông qua cơ chế xử lý nội bộ như  
hiện nay. Phương thức mới cũng không gây thêm gánh nặng về tuân thủ của người dân, doanh nghiệp  
vì thực tế hiện nay Tòa án cũng buộc đương sự phải chứng minh là Tòa án có thẩm quyền trước khi  
quyết định thụ lý mà không có một cơ chế công khai, có tính tranh tụng để giải quyết.  
(vi) Đề xuất này việc thụ lý ngay cũng nhằm tăng cường khả năng tiếp cận công lý của người  
dân và khả năng bảo đảm quyền tiếp cận công lý vì người dân có thể nộp đơn kiện ra bất kỳ tòa án  
nào mà người dân thấy thuận tiện hoặc vì năng lực nhận thức còn hạn chế của mình. Các toà án sẽ  
giúp người dân trong việc xác định thẩm quyền và chuyển hồ sơ khởi kiện tới tòa án có thẩm quyền.  
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, tòa án cấp sơ thẩm của Trung Quốc còn hỗ trợ người dân đến  
tòa khởi kiện nhưng không có khả năng viết đơn thì tòa án sẽ viết đơn kiện giúp người dân.  
(vii) Đề xuất này không làm phát sinh gánh nặng về chi phí của Tòa án đối với việc xét đơn,  
chuyển hồ sơ khi Pháp lệnh về Án phí, lệ phí Tòa án sửa đổi cho phép Tòa án thu thêm lệ phí xét đơn.  
Như vậy hạn chế từ khoán chi hành chính của ngành tòa án dẫn đến thực tế từ chối chuyển hồ sơ của  
đương sự tới tòa án có thẩm quyền có thể được hạn chế.  
(viii) Đề xuất sửa đổi này không làm mất đi các quyền của đương sự trong việc Tòa án xác  
định mình có thẩm quyền hay không trong việc giải quyết vụ án. Đề xuất cũng nhằm củng cố cơ chế  
thụ lý vụ án thông qua bộ phận hành chính tư pháp của Tòa án (tương tự như bộ phận một cửa của cơ  
quan hành chính) để tiếp nhận đơn khởi kiện. Cơ chế hành chính tư pháp hiện nay đã được áp dụng  
tại một số tòa án ở Việt Nam như: Tổ thụ lý của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Tổ hành  
chính tư pháp của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Tòa án  
9 Điều 6 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
10 Các nước theo hệ thống dân luật được nghiên cứu bao gồm Cộng hòa Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa  
Liên bang Đức và Nhật Bản.  
7
nhân dân tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ... Cơ chế này đã được Chánh án Tòa án  
nhân dân tối cao ghi nhận11.  
3. Xây dựng mô hình tiếp nhận đơn, thụ lý vụ án và phân công án nhằm bảo đảm công khai,  
minh bạch và độc lập xét xử  
Mô hình tiếp nhận đơn và phân công thẩm phán thụ lý vụ án hiện nay tại điều 167 của BLTTDS  
2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi hiện nay chưa thực sự là đổi mới theo các mô hình nhận đơn của  
các cơ quan hành chính nhà nước, như mô hình “một cửa_một đầu mối”, cấp giấy biên nhận hồ sơ,  
giấy hẹn….12 Do đó, dự thảo BLTTDS cần sửa đổi theo hướng để các tòa án có thể xây dựng bộ phận  
chuyên trách xử lý việc tiếp nhận đơn và quyết định thụ lý (như bộ phận Hành chính tư pháp như đề  
cập ở trên). Thẩm phán tiếp nhận đơn và quyết định thụ lý không phải là thẩm phán giải quyết vụ án.  
Có như vậy sẽ bảo đảm tính độc lập của mỗi hoạt động tố tụng, hạn chế tiêu cực. Mô hình “một cửa”  
của bộ phận hành chính tư pháp cần được thiết lập tại các tòa án và đây cũng là điều kiện để có thể áp  
dụng mô hình tiếp nhận đơn khởi kiện trực tuyến như quy định tại dự thảo BLTTDS.  
4. BLTTDS không nên phân tách thủ tục tiếp nhận đơn với thụ lý vụ án để bảo vệ Thẩm phán  
khỏi những áp lực về thời gian không thích hợp.  
Việc quy định tách thủ tục nhận đơn với thủ tục thụ lý vụ án cũng sẽ làm tăng áp lực công việc  
cho Thẩm phán khi phải xem xét đơn trong thời gian ngắn trong trường hợp vụ kiện có tính chất phức  
tạp. Cơ chế phân tách 2 giai đoạn tiếp nhận đơn và thụ lý như hiện nay đã tạo ra thực tiễn là nhiều tòa  
án không tiếp nhận đơn khởi kiện với nhiều lý do. Do đó, không nên phân tách các thời hạn Chánh án  
phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện với thời hạn Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện vì toàn  
bộ 2 công việc này là công việc nội bộ mang tính hành chính và quản lý nghiệp vụ của Tòa án. Tòa án  
nên cải cách sao cho các thủ tục đối với người dân được nhanh chóng và thuận tiện.  
5. Cần cấp giấy hẹn, giấy biên nhận hồ sơ khởi kiện hay thông báo nhận đơn khởi kiện  
(i) Quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS không bắt buộc tòa án khi tiếp nhận hồ  
sơ vụ án phải cấp giấy hẹn hay giấy biên nhận, thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện mà chỉ yêu  
cầu khi tiếp nhận hồ sơ phải ghi vào Sổ nhận đơn (Điều 167, BLTTDS 2004 và Điều 192-Dự thảo  
BLTTDS). đã dẫn đến tình trạng công dân nộp đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ tới toà án nhưng không  
có giấy biên nhận, giấy hẹn về thời gian trả lời là đơn khởi kiện, hồ sơ khởi kiện. Người dân phải đến  
toà nhiều lần mới biết được tình trạng đơn khởi kiện của mình có được chấp nhận hay không. Người  
dân không có bất kỳ chứng cứ nào để có thể khiếu nại nếu trong quá trình xem xét đơn khởi kiện, cán  
bộ toà án làm mất đơn hoặc hồ sơ khởi kiện. Người dân mất quyền khởi kiện nếu hồ sơ không được  
nhận và thụ lý vì bất kỳ lý do nào đó. Trong khi yêu cầu cấp giấy hẹn, giấy biên nhận trong các thủ  
11  
Chánh án TANDTC Trương Hoà Bình, “Đổi mới thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của tòa án nhân dân”,  
12  
Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/09/ 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 3; Nghị quyết 30c/NQ-CP của  
Chính phủ ngày 08/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Điều 4,  
khoản 1 đoạn đ.  
8
tục hành tại các cơ quan hành chính nhà nước là một chế định bắt buộc và áp dụng khá phổ biến13.  
Các giấy tờ này là cơ sở để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện hành chính nhằm  
bảo đảm quyền lợi của mình thì BLTTDS lại chưa quy định về vấn đề này. Do vậy, việc cấp giấy xác  
nhận đã nhận đơn và xác định về thời hạn trả lời đơn cần phải được cấp cho mọi hình thức nộp đơn  
(trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua trực tuyến) là cần thiết đối với mọi hình thức tiếp nhận đơn  
khởi kiện. Việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn nhằm củng cố quyền lợi và trách nhiệm của đương sự  
khi nộp đơn tới tòa án và tăng trách nhiệm giải trình, công khai hoạt động của Tòa án.  
(ii) Việc thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện có tính chất thông báo quyết định thụ lý  
vụ án như hiện nay được tống đạt tới các bên đương sự ngay từ giai đoạn sớm của vụ án sẽ giúp các  
đương sự tham gia tích cực hơn vào việc giải quyết vụ án để xác định Tòa án có thẩm quyền hay  
không, đơn khởi kiện đã đủ điều kiện hay chưa. Trong trường hợp, Tòa án khó khăn trong việc tống  
đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn này thì  
Tòa án và nguyên đơn xác định địa chỉ bị đơn trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Bị đơn không bị  
mất quyền phản đối về thẩm quyền của Tòa án trong các hoạt động tố tụng tiếp theo.  
2.2 Quy định hợp lý các thủ tục hành chính tư pháp để bảo đảm rút ngắn thời gian tố tụng  
(Điều 97, 171, 180, 192, 196, 197, 198, 201, 480 - dự thảo 5)  
1. BLTTDS cần phải bảo đảm tính hợp lý, thuận tiện và rút ngắn thời gian của hoạt động hành  
chính tư pháp.  
(i) Các quy định về thời hạn cần phải quy định cụ thể, có tính tiêu chuẩn về thời hạn tố tụng  
cho từng hoạt động tố tụng. Thời gian tố tụng là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới môi  
trường kinh doanh. Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ có đề ra mục tiêu “hoàn thiện các văn bản  
pháp luật có liên quan đến việc tranh chấp thương mại và phá sản doanh nghiệp theo hướng đơn  
giản hóa thủ tục, quy trình và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại xuống còn tối đa  
200 ngày (hiện nay là 400 ngày), nhất là đối với các tranh chấp quy mô nhỏ và giữa các doanh  
nghiệp nhỏ và vừa thông qua Tòa án; và thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp là 24 tháng (hiện  
nay là 60 tháng)”. Xin lưu ý rằng thời gian giải quyết tranh chấp thực tế ở Việt Nam được đánh giá  
là 400 ngày căn cứ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS). Như vậy, nếu  
muốn giảm được thời gian giải quyết tranh chấp thì ngoài những biện pháp cải cách tư pháp khác thì  
dự thảo BLTTDS sửa đổi cũng cần phải theo hướng giảm số lượng ngày trong mỗi thời hạn tố tụng.  
Theo quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử cho việc  
giải quyết tranh chấp là 4 tháng (khoảng 120 ngày), không tính đến các lần hoãn thủ tục tố tụng…  
Vi phạm thời hạn là vi phạm tố tụng. Như vậy, khoảng cách thời gian thực tế trung bình mà đương  
sự phải bỏ ra với thời hạn do BLTTDS 2004 quy định là quá lớn (trên 200 ngày). Nhưng khoảng thời  
gian này chỉ có thể phát sinh ở những hoạt động tố tụng không bị nằm trong thời hiệu về tố tụng, như  
thủ tục nhận đơn và xử lý đơn khởi kiện.  
(ii) Tuy nhiên, theo dự thảo BLTTDS, một số thời gian hoạt động tố tụng của tòa án tăng hơn  
so với BLTTDS 2004. Ví dụ như thủ tục nhận đơn trong dự thảo BLTTDS được tách ra làm 2 giai  
13  
Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/09/ 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 3; Nghị quyết 30c/NQ-CP của  
Chính phủ ngày 08/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Điều 4,  
khoản 1 đoạn đ.  
9
đoạn: (i) Chánh án phân công thẩm phán xem xét đơn trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tòa án nhận  
đơn; (ii) Thẩm phán xem xét đơn và có quyết định thụ lý hay không trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày  
được phân công. Trong khi BLTTDS 2004 quy định trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận  
đơn, Tòa án phải ra quyết định thụ lý hay không (Điều 167). Các thời hạn về niêm yết… cũng có thể  
nghiên cứu giảm xuống vì mục đích kéo dài thời hạn nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự nhưng  
thực chất lại là bảo đảm quyền lợi của một bên không muốn tòa án giải quyết vụ án mà không công  
bằng cho một bên muốn tòa án giải quyết. Nếu quy định như Dự thảo hiện nay thì thời gian giải quyết  
tranh chấp ở Việt Nam sẽ khó có thể giảm.  
(iii) Thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua tòa án được xác định trên tổng số  
ngày nộp hồ sơ tại tòa án, số ngày xét xử và ra bản án, số ngày để bản án được thi hành. Thời gian  
để tòa án giải quyết tranh chấp càng ngắn thì càng được coi là hệ thống tòa án làm việc hiệu quả.  
Đồng thời thời gian giải quyết tranh chấp ngắn cũng sẽ giảm chi phí cho các đương sự của tranh  
chấp.  
2. BLTTDS cần hoàn thiện quy định về thủ tục tống đạt để rút ngắn thời gian xử lý vụ án  
Thủ tục tống đạt cần được quy định rõ ràng, cho phép nhiều phương thức tống đạt (như tống  
đạt trực tiếp, trực tuyến, qua dịch vụ thừa phát lại…_ và rút ngắn một số thời gian tống đạt sẽ giúp  
cho việc giảm thời gian xử lý vụ án. Các hình thức tống đạt theo BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS  
sửa đổi chưa cho phép luật sư đại diện cho đương sự tiếp nhận các thông báo của tòa án. Tại nhiều  
quốc gia, khi luật sư đã được đương sự ủy quyền sẽ là bên giao dịch trực tiếp với tòa án và tòa án gửi  
thông báo cho đương sự thông qua luật sư. Hình thức này sẽ bảo đảm hiệu quả của việc tống đạt,  
tăng trách nhiệm công việc của luật sư và bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự. Áp dụng phương  
thức tống đạt trực tuyến sẽ giảm chi phí, thời gian cho tòa án và cả đương sự. Phương thức tống đạt  
điện tử tại nhiều quốc gia áp dụng đó là trên cơ sở chấp thuận của đương sự về hình thức tống đạt  
trực tuyến, tòa án sẽ gửi các thông báo qua email của đương sự hoặc email của luật sư của đương sự.  
Ngoài ra, BLTTDS cần cho phép việc tống đạt thông qua luật sư, người bào chữa.  
3. BLTTDS cần thay đổi phương thức chấp thuận yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của  
đương sự trong vụ án  
BLTTDS 2004 (Điều 176,177,178) và Dự thảo BLTTDS (Điều 196, Điều 197) đều quy định:  
trước khi tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có  
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu độc lập. Quy định như vậy  
chưa thực sự hợp lý vì tạo kẽ hở cho đương sự không có thiện chí có thể lợi dụng để kéo dài thời  
gian. Ví dụ như trong khi giải quyết tranh chấp đương sự sẽ chờ đến thời điểm tòa án chuẩn bị ban  
hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì mới đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, dẫn đến tòa án  
phải quay lại giai đoạn thụ lý. Vụ án có thể kéo dài thêm hàng tháng nữa mới kết thúc được. Do vậy,  
dự thảo BLTTDS cần sửa đổi theo hướng trong một thời hạn nhất định (có thể là 15 ngày) kể từ ngày  
nhận được thông báo về đơn khởi kiện của nguyên đơn, người được thông báo cho tòa án ý kiến của  
mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, nếu có. Sửa đổi như trên  
không xâm phạm, không hạn chế quyền dân sự, cũng như quyền tố tụng của đương sự, mà lại đề cao  
trách nhiệm và lợi ích của đương sự. Bởi vì yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người  
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các quan hệ pháp luật có liên quan đến vụ án, nếu giải quyết cùng  
10  
trong một vụ án sẽ tiện lợi cho đương sự. Nhưng nếu đương sự không yêu cầu giải quyết hoặc không  
yêu cầu trong thời hạn luật quy định, đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án độc lập khác. Quyền  
khởi kiện của đương sự vẫn được bảo đảm.  
4. BLTTDS cần hạn chế việc hoãn phiên tòa không có lý do hoặc vì những lý do không hợp lệ  
(i) BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS đều quy định tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà có  
đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt  
và không có đơn đề nghị xử vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu  
đương sự vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mới được xử vắng mặt bị đơn, người liên quan.  
Các quy định này nhằm bảo đảm tối đa quyền bào chữa và tham gia tố tụng của người dân trong các  
vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động.  
(ii) Việc hoãn phiên tòa không có lý do hoặc lý do không hợp lệ của đương sự là một nguyên  
nhân kéo dài thời gian xét xử khi mà đương sự không hợp tác với tòa án hoặc cố tình giấu địa chỉ  
liên lạc để tòa án có thể tống đạt. Việc giấu địa chỉ buộc tòa án phải thực hiện nhiều thủ tục (bao gồm  
tống đạt, tiếp đến là niêm yết giấy triệu tập). Việc này tốn kém về thời gian và chi phí cho tòa án,  
làm chậm quá trình xét xử. Xét một góc độ thì cơ chế này nhằm bảo đảm công bằng cho các đương  
sự vì bảo đảm đương sự được tham gia vào hoạt động xét xử. Nhưng ở góc độ khác thì cơ chế này là  
bất công khi mà một bên đương sự thì cố ý trốn tránh việc ra tòa và một bên đương sự phải chờ đợi,  
nghiêm chỉnh thực hiện đúng quy định pháp luật để vụ án được xét xử.  
2.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương thức giao dịch trực tuyến trong hoạt  
động tố tụng, bao gồm tiếp nhận đơn, cấp bản án, tống đạt… (Điều 171, 173, 181, 191,  
192 - dự thảo 5)  
(i) Áp dụng phương thức giao dịch trực tuyến được nhiều nền kinh tế trên thế giới chọn lựa áp  
dụng trong việc cải cách hoạt động tư pháp và cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian gần  
đây. Cả 6 quốc gia dẫn đầu về môi trường kinh doanh của ASEAN (Singapore, Malaysia, Indonesia,  
Thái Lan, Philippine, Brunei) đều áp dụng phương thức nộp hồ sơ khởi kiện trực tuyến. Tùy theo hệ  
thống trực tuyến của mỗi quốc gia, có quốc gia cho phép thêm việc thanh toán án phí trực tuyến, thông  
báo tình trạng xử lý vụ án, công khai bản án và gửi bản án cho đương sự qua hệ thống điện tử14. Trong  
bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, việc khai báo thuế cá nhân, doanh nghiệp đã thực hiện được trực tuyến  
trên phạm vi cả nước. Phần lớn các ngân hàng ở Việt Nam đã cung cấp các dịch vụ thanh toán trực  
tuyến cùng với hệ thống thanh toán thông qua hệ thống điện thoại di động đã giúp người dân rất nhiều  
về thời gian, công sức, chi phí trong việc thực hiện các giao dịch thanh toán. Phương thức giao dịch  
trực tuyến đã giúp cho các cơ quan nhà nước được “gần dân” hơn bất kỳ phương thức truyền thống  
nào.  
(ii) Quản lý hoạt động tố tụng thông qua các phương tiện điện tử sẽ giúp cho lãnh đạo tòa án  
và thẩm phán quản lý được thời gian giải quyết vụ án, các công đoạn, hành vi tố tụng mà thẩm phán  
14 Có thể xem thông tin về hồ sơ trực tuyến của các nước như sau: Singapore  
11  
cần phải thực hiện để giúp cho tòa án hoạt động hiệu quả. Hệ thống quản lý vụ án điện tử cũng sẽ giúp  
cho tòa án có thể công khai một số hoạt động, hành vi tố tụng ra bên ngoài để giúp cho người dân  
được thuận tiện khi làm việc với tòa án. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình đã đặt ra  
“trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 ngành Tòa án tiếp tục xây  
dựng, hoàn thiện các thủ tục hành chính tư pháp theo hướng đơn giản, đồng bộ, thuận tiện trong xử lý,  
giải quyết công việc giữa Tòa án với người dân; Tối đa hóa việc ứng dụng công nghệ thông tin trong  
hoạt động của Tòa án; Xây dựng các điều kiện cần thiết về cơ sở pháp lý, phát triển nguồn nhân lực  
và xây dựng cơ sở vật chất, môi trường làm việc hiện đại khoa học để hướng tới xây dựng và vận hành  
mô hình, phương thức “Tòa án điện tử” trong hoạt động của Tòa án” 15.  
(iii) Hiện nay, Việt Nam có hơn 10 tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao đã có  
cổng thông tin điện tử để thông tin các hoạt động của tòa án. Một số cổng thông tin đã có chức năng  
nhận hồ sơ trực tuyến như cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh16. Đây  
là điều kiện thuận lợi để có thể triển khai các mô hình tòa án điện tử (bao gồm việc nhận hồ sơ của các  
vụ án và vụ việc dân sự, kinh doanh-thương mại, thu phí án phí, lệ phí tòa án… và công khai các hoạt  
động của tòa án).  
2.4 Hạn chế sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự (Điều 58, 297 - dự thảo 5)  
Quan hệ tranh chấp dân sự, thương mại là quan hệ tư, quyền định đoạt là thuộc về đương sự,  
nên phải hạn chế sự can thiệp của cơ quan nhà nước. Viện kiểm sát chỉ nên tham gia vào các vụ án có  
liên quan đến lợi ích của Nhà nước (như tiền thuế, khoản đóng góp cho nhà nước, tài sản công) hoặc  
một bên đương sự là người chưa thành niên, có nhược điểm thể chất, tâm thần. Tuy nhiên, theo các  
quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị xem xét lại tất  
cả các vụ án tạo cơ hội để việc giải quyết tranh chấp dân sự bị kéo dài. Vì vậy, dự thảo BLTTDS cần  
giới hạn các trường hợp tham gia của Viện kiểm sát.  
2.5 Cần quy định rõ tiêu chí “đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài”  
(Điều 317 - dự thảo 5)  
Việc áp dụng thủ tục rút gọn là rất cần thiết trong giải quyết tranh chấp và được nhiều quốc gia  
trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên, việc quy định tiêu chí “đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh  
chấp ở nước ngoài” (Điều 317) là quá rộng và chưa thực sự rõ ràng. Vì nhiều trường hợp, đương sự  
cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng các đương sự tham gia tranh chấp đã có  
những thỏa thuận về giải quyết tranh chấp nhưng muốn nhờ Tòa án công nhận thỏa thuận đó của các  
đương sự trong giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống tín dụng hiện nay.  
Việc Tòa án xem xét vụ việc theo thủ tục rút gọn đối với những trường hợp này sẽ hỗ trợ các doanh  
nghiệp, người dân Việt Nam bảo vệ được tài sản của mình khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài.  
15 Chánh án TANDTC Trương Hoà Bình, “Đổi mới thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của tòa án nhân dân”,  
16 http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/142  
12  
2.6 Một số vấn đề liên quan đến tính thống nhất của BLTTDS với các luật chuyên ngành  
khác (Điều 30, 31, 69, 112, 173, 191 - dự thảo 5)  
(i) Một số quy định của dự thảo BLTTDS vẫn còn chưa được thống nhất hoặc phản ánh hết  
các nội dung mà các luật chuyên ngành khác đã có quy định, như quy định về đóng dấu vào đơn khởi  
kiện17, quy định về “bưu điện” mà không sử dụng khái niệm “dịch vụ bưu chính”18...  
(ii) Tòa án cần cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài nhằm bảo  
đảm tính thống nhất với các quy định tại Điều 48, Điều 53 của Luật Trọng tài Thương mại (2010).  
(iii) BLTTDS cần có quy định về thủ tục tố tụng giải quyết nhanh cho vụ kiện giá trị nhỏ bên  
cạnh quy định về thủ tục rút gọn cho các vụ án thỏa mãn các điều kiện của Điều 317-dự thảo BLTTDS.  
Tóm lại, để môi trường kinh doanh của Việt Nam có sức cạnh tranh và thu hút nhà đầu tư trong  
nước và nước ngoài thì hệ thống tòa án phải là một hệ thống “gần dân, hiểu dân, giúp dân”19. Mọi thủ  
tục tố tụng trở nên thân thiện và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Thời gian giải quyết tranh  
chấp cần phải được rút ngắn sao cho hoạt động giải quyết tranh chấp trở nên có hiệu quả cho người  
dân và doanh nghiệp. Hệ thống tòa án là thể chế đáng tin cậy để bảo đảm công bằng, quyền tài sản và  
việc thực thi hợp đồng./.  
17 Luật Doanh nghiệp 2014 đã cho phép doanh nghiệp được tự quyết định số lượng, hình thức và chế độ sử dụng con dấu  
(Điều 44). Như vậy, thực tế sẽ có những doanh nghiệp có sử dụng và không sử dụng con dấu. Ngoài ra, với sự phát triển  
mạnh mẽ của phương thức xác nhận điện tử về hồ sơ, Bộ Tài chính đã chấp thuận chữ ký số của các doanh nghiệp trong  
việc nộp tờ khai thuế và tờ khai hải quan trực tuyến. Phương thức này được coi là đột phá và giảm nhiều thủ tục phiền hà  
cho doanh nghiệp. Có đến 98% doanh nghiệp trên mọi miền đất nước đã áp dụng phương thức nộp thuế qua mạng, xem  
thêm Báo Nhân dân, Để cải cách thủ tục hành chính thuế đi vào thực chất, http://www.nhandan.com.vn/kinhte/tin-  
tuc/item/27050402-de-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-thue-di-vao-thuc-chat.html; Truyền hình Quốc hội, Cải cách thủ tục  
thue/80333  
18  
Khái niệm bưu điện đã không được sử dụng trong Luật Bưu chính 2010 mà thay vào đó là khái niệm “dịch vụ bưu  
chính” (Điều 3, Luật Bưu chính)  
19 Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1985, trang 188.  
13  
PHỤ LỤC 1. ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
Dự thảo Bộ luật tố tụng Dân sự - Dự thảo 5  
Đề xuất sửa đổi  
Lý do  
(các sửa đổi được in nghiêng và có gạch chân)  
(xin ý kiến các Đoàn ĐBQH)  
Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh,  
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của  
Tòa án (sửa đổi, bổ sung)  
Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh,  
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa  
án (sửa đổi, bổ sung)  
Luật Doanh nghiệp (2014) lần  
đầu đưa vào khái niệm cổ  
đông/thành viên công ty được  
quyền nhân danh doanh nghiệp  
kiện người quản lý khi cho  
rằng những người này vi phạm  
nghĩa vụ của người quản lý,  
v.v.. theo các Điều 72 và 161  
của Luật Doanh Nghiệp  
(2014). Các quy định này của  
Luật Doanh nghiệp (2014) đã  
quy định rõ “trình tự, thủ tục  
khởi kiện thực hiện tương ứng  
theo quy định pháp luật về tố  
tụng dân sự”.  
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh  
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng  
ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi  
nhuận.  
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh,  
thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh  
doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.  
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao  
công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có  
mục đích lợi nhuận.  
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao  
công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều  
có mục đích lợi nhuận.  
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên  
công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần  
vốn góp của công ty hay thành viên công ty.  
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên  
công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng  
phần vốn góp của công ty hay thành viên công ty.  
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của  
công ty, tranh chấp giữa công ty với người quản lý  
trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên  
hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong  
công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với  
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải  
thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản  
của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công  
ty.  
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của  
công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau  
liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,  
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của  
công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.  
Do đó, việc bổ sung thêm các  
loại tranh chấp này để bảo đảm  
tính thống nhất của các quy  
định pháp luật và tạo điều kiện  
cho hoạt động kinh doanh của  
các doanh nghiệp.  
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại,  
trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thuộc  
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.  
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại,  
trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thuộc  
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.  
14  
Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương  
mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (sửa  
(sửa đổi, bổ sung)  
đổi, bổ sung)  
Đề nghị bổ sung thẩm quyền  
của Tòa án đối với việc hủy bỏ  
nghị quyết của Hội đồng thành  
viên theo quy định tại khoản 8,  
đoạn d của Điều 50 của Luật  
Doanh nghiệp (2014).  
1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ 1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ  
đông theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. đông hoặc nghị quyết của Hội đồng thành viên theo  
quy định của pháp luật về doanh nghiệp.  
2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương  
mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo 2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại  
quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại. Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định  
của pháp luật về Trọng tài thương mại.  
3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, bắt giữ tàu biển theo  
quy định của pháp luật về hàng không dân dụng 3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, bắt giữ tàu biển theo quy  
Việt Nam, về hàng hải Việt Nam.  
định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt  
Nam, về hàng hải Việt Nam.  
4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của 4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa  
quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết  
nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài  
Nam.  
mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.  
5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam 5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài  
nước ngoài.  
nước ngoài.  
6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại 6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà  
mà pháp luật có quy định. trừ trường hợp theo quy pháp luật có quy định. trừ trường hợp theo quy định  
định của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ  
của cơ quan, tổ chức khác.  
quan, tổ chức khác.  
15  
Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ  
(sửa đổi, bổ sung)  
(sửa đổi, bổ sung)  
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án 1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án  
Đề xuất bổ sung khoản 3 của  
Điều 39 để nhằm hạn chế việc  
trốn tránh (cố ý) hoặc những  
thay đổi khách quan của bị đơn  
hoặc nguyên đơn về địa chỉ cư  
trú hoặc địa điểm đăng ký kinh  
doanh dẫn đến vụ án đang giải  
quyết buộc phải chuyển sang  
tòa án khác để tiếp tục. Có  
nhiều trường hợp bị đơn cố ý  
chuyển địa chỉ nhiều lần làm  
tòa án đã không thể giải quyết  
dứt điểm vụ án.  
theo lãnh thổ được xác định như sau:  
theo lãnh thổ được xác định như sau:  
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là  
cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ  
quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục  
sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và  
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định  
tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;  
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn  
là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là  
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ  
tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân  
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy  
định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;  
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau  
bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc  
của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc  
nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ  
quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân  
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,  
lao động quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của  
Bộ luật này;  
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau  
bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc  
của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc  
nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là  
cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về  
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương  
mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và  
32 của Bộ luật này;  
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa  
án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.  
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa  
án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.  
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án  
theo lãnh thổ được xác định như sau:  
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án  
theo lãnh thổ được xác định như sau:  
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng  
lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi  
dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu  
cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân  
sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;  
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng  
lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành  
vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết  
yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi  
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;  
b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm  
vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích  
hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm  
b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm  
16  
vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người  
vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người  
đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã  
chết;  
hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm  
quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người  
vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người  
đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã  
chết;  
c) Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất  
tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu  
cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã  
chết;  
c) Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất  
tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu  
hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết;  
d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định  
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương  
mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm  
việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi  
người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi  
hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên  
quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa  
án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu  
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,  
quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,  
thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;  
d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết  
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,  
thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư  
trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân  
hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu  
người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc  
nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án,  
quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền  
giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại  
Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và  
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của  
Tòa án nước ngoài;  
đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu  
người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có  
trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có  
thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản  
án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh  
doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài  
không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;  
đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu  
người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn  
có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức  
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công  
nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia  
đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa  
án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt  
Nam;  
e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của  
Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người  
phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành  
có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức  
hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán  
17  
e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải  
quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt  
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;  
Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người  
phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi  
hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan,  
tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi  
g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật  
được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu  
hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm hủy việc kết hôn trái pháp luật;  
quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi  
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước  
ngoài;  
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn,  
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có  
thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình  
ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;  
g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật  
được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về thay  
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú,  
làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công  
nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi  
con sau khi ly hôn;  
hủy việc kết hôn trái pháp luật;  
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn,  
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc  
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận  
tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;  
k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên  
cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu  
hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành  
niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;  
i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về thay  
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú,  
làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công  
nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi  
con sau khi ly hôn;  
l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm  
việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt  
việc nuôi con nuôi;  
k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên  
cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu  
hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành  
niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;  
m) Tòa án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công  
chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sởcó  
thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản  
công chứng vô hiệu;  
n) Tòa án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền  
thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan  
đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu  
cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản,  
l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú,  
làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm  
dứt việc nuôi con nuôi;  
18  
m) Tòa án nơi Phòng công chứng, Văn phòng phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định  
của pháp luật;  
công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ  
sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn  
bản công chứng vô hiệu;  
o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết  
các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại  
Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực  
hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài  
thương mại.  
n) Tòa án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền  
thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan  
đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu  
cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản,  
phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy  
định của pháp luật;  
3. Không thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân  
sự theo lãnh thỗ  
Trong trường hợp vụ việc dân sự đã được một Tòa  
án thụ lý giải quyết theo đúng quy định về thẩm  
quyền của Tòa án theo lãnh thổ do Bộ Luật này quy  
định thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết,  
bao gồm cả trường hợp trong quá trình giải quyết  
vụ việc đương sự có sự thay đổi nơi cư trú hoặc địa  
chỉ giao dịch  
o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết  
các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương  
mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được  
thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài  
thương mại.  
Điều 58: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong  
tố tụng dân sự  
Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát  
viên (sửa đổi, bổ sung)  
Khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân  
theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự,  
Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau  
đây:  
Điều 58 cần viết lại toàn bộ cả  
điều khoản này để bảo đảm  
tính thống nhất trong các quy  
định là Viện kiểm sát chỉ kiểm  
sát hoạt động tư pháp (Điều  
107, Hiến pháp 2013)  
1/ Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo  
pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền  
yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của  
pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân  
sự kịp thời, đúng pháp luật.  
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện;  
2. Kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án;  
2/ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp giải  
quyết việc dân sự, phiên tòa trong các trường hợp  
sau:  
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án theo quy định của Bộ  
luật này.  
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu quan  
điểm của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật  
19  
này;  
a/ vụ việc dân sự trong đó có một bên đương sự là  
người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân  
sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó  
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình.  
5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án  
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các  
hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;  
7. Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm b/ các vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, đối  
quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án tượng tranh chấp là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.  
có vi phạm pháp luật;  
c/ các vụ án tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự  
có khiếu nại, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát  
kháng nghị bản án ,quyết định của tòa án.  
8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia  
tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có  
thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố  
tụng vi phạm pháp luật;  
3/Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm,  
tái thẩm.  
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự  
khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy  
định của Bộ luật này.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 50 trang Thùy Anh 8580 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Góp ý dự thảo bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của Chính phủ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgop_y_du_thao_bo_luat_to_tung_dan_su_sua_doi_de_cai_thien_mo.pdf