Trách nhiệm công khai thông tin môi trường ở Việt Nam hiện nay
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
TRÁCH NHIỆM CÔNG KHAI THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tạ Thị Thùy Trang*
*ThS. Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại.
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường trước hết phụ thuộc vào quyền
tiếp cận thông tin, sự tham gia tích cực của người dân và tiếp cận tư pháp
trong lĩnh vực môi trường. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích
những ưu điểm, bất cập trong quy định của pháp luật về công khai thông
tin môi trường và đưa ra một số kiến nghị góp phần tăng cường trách
nhiệm công khai thông tin môi trường, thúc đẩy sự phát triển theo hướng
bền vững ở Việt Nam.
Từ khóa: Công khai thông tin
môi trường, Luật Bảo vệ môi
trường năm 2020.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 03/6/2021
: 12/7/2021
: 15/7/2021
Abstract:
Article Infomation:
Keywords: Publication
Effective environmental protection firstly depends on the right to access
information, active participation of the people and access to justice in the
field of environment. The article focuses on clarifying related concepts
and initially analyzes the advantages and disadvantages of the law on
environmental information disclosure. On that basis, the author sets out a
number of requirements in order to perfect policies and laws, strengthen
the responsibility of disclosing environmental information, and promote
sustainable development in Vietnam.
of
environmental information; Law
on Environmental Protection of
2020.
Article History:
Received
Edited
: 03 Jun 2021
: 12 Jul. 2021
: 15 Jul. 2021
Approved
1. Khái quát về công khai thông tin môi
trường theo quy định của Luật bảo vệ môi
trường năm 2020
là điều kiện tiên quyết của sự dân chủ trong
các hoạt động của xã hội loài người. Theo
Đại từ điển Tiếng Việt, công khai là “không
giấu diếm, bí mật mà cho mọi người cùng
biết”1. Với ý nghĩa và bản chất như vậy nên
“công khai thông tin môi trường” luôn được
sử dụng như một biện pháp hữu hiệu để
phòng, chống các hành vi tiêu cực trong hoạt
động bảo vệ môi trường. Do đó, có thể hiểu,
“công khai thông tin môi trường là việc công
bố, cung cấp thông tin, giải trình về thông tin
môi trường”.
Để bảo vệ, bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin, thông tin cần phải được công khai càng
sớm, càng tốt, dưới hình thức thích hợp về
ngôn ngữ, hình ảnh, tư liệu, phù hợp với quy
định của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu
nhận và sử dụng thông tin của người dân.
Chính vì vậy, từ năm 1993 tới nay, pháp luật
về bảo vệ môi trường (BVMT) của nước ta
đều thể hiện rõ nguyên tắc công khai thông
tin. Công khai là một khái niệm có tính lịch
sử mà sự ra đời, phát triển của nó là tiền đề,
Mục đích công khai thông tin môi trường là
đảm bảo quyền được thông tin về môi trường
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb. Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2007, tr.346.
Số 16(440) - T8/2021
49
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
của người dân. Đây là cơ sở để cộng đồng
dân cư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình cũng như thực hiện các quyền tham vấn,
giám sát, khiếu nại, tố cáo liên quan đến môi
trường. Việc công khai, minh bạch đầy đủ các
thông tin môi trường sẽ giúp cho người dân
và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đồng thời
chú trọng đổi mới hình thức thực hiện theo
quy định của pháp luật và phù hợp với tình
hình địa phương. Ngoài ra, công khai thông
tin môi trường sẽ giúp cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cũng như tổ chức, cá nhân liên
quan nhận được những báo cáo chính thức về
thông tin môi trường thuộc đối tượng bị quản
lý hoặc đối tượng có ảnh hưởng đến đời sống
cộng đồng, qua đó đảm bảo hiệu quả công tác
bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ quyền lợi
của cộng đồng dân cư.
bảo tồn thiên nhiên và cơ sở bảo tồn đa dạng
sinh học; vùng đất ngập nước quan trọng.
Như vậy, có thể thấy rằng, thông tin môi
trường được công khai chủ yếu là những thông
tin do cơ quan có thẩm quyền nắm giữ như Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân
(UBND) các cấp, Bộ, các cơ quan ngang Bộ,
các cơ quan thuộc Chính phủ. Vì vậy, yêu cầu
đầu tiên là những thông tin này phải được thu
thập, xử lý một cách thường xuyên, định kỳ và
thống kê, lưu trữ dưới những hình thức thích
hợp cho khả năng tiếp cận của công chúng.
Theo đó, Luật BVMT năm 2020 đặt ra nguyên
tắc các cơ quan, tổ chức, cá nhân công khai
thông tin về môi trường theo quy định trên cổng
thông tin của cơ quan, tổ chức hoặc bằng hình
thức khác, bảo đảm thuận tiện cho đối tượng
có liên quan tiếp nhận thông tin. Luật BVMT
năm 2020 cũng quy định cụ thể về nghĩa vụ
của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh
tế trong việc xây dựng báo cáo đánh giá môi
trường chiến lược; báo cáo đánh giá tác động
môi trường; báo cáo hiện trạng môi trường cấp
tỉnh; báo cáo hiện trạng môi trường của ngành,
lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường
quốc gia... Nội dung các báo cáo này chứa
đựng những thông tin hữu ích về hiện trạng
môi trường, nguyên nhân và những nhân tố
tác động lên các thành phần môi trường và sức
khỏe con người như: Hiện trạng môi trường
khu đô thị, dân cư tập trung, khu kinh doanh,
dịch vụ, làng nghề; các khu vực môi trường bị
ô nhiễm, suy thoái; danh mục các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng; những vấn đề
môi trường bức xúc... Mặt khác, Luật BVMT
năm 2020 cũng quy định rõ nghĩa vụ pháp lý
trong thống kê, lưu trữ số liệu, thông tin về môi
trường (khoản 2 Điều 114).
Theo quy định của Luật BVMT năm
2020, thông tin môi trường cần công khai
bao gồm2:
a) Thông tin về chất ô nhiễm, dòng thải
các chất ô nhiễm ra môi trường, nguồn ô
nhiễm; công tác bảo vệ môi trường của dự
án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp;
b) Thông tin về chất thải rắn, chất thải
nguy hại, nước thải, khí thải và các loại chất
thải khác theo quy định của pháp luật;
c) Thông tin về quyết định phê duyệt kết
quả thẩm định, báo cáo đánh giá tác động
môi trường, trừ bí mật thương mại, bí mật
kinh doanh, thông tin thuộc bí mật nhà nước;
nội dung cấp phép, đăng ký, chứng nhận, xác
nhận; kết quả kiểm tra, thanh tra về bảo vệ
môi trường đối với dự án đầu tư, cơ sở, khu
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm
công nghiệp theo quy định;
Có thể đánh giá quy định của Luật BVMT
năm 2020 về công khai thông tin môi trường
như sau:
d) Thông tin về chỉ tiêu thống kê môi
trường, chất lượng môi trường, ô nhiễm
môi trường;
Thứ nhất, vấn đề công khai thông tin đã
được quy định xuyên suốt, thống nhất trong
Luật BVMT năm 2020 theo các nội dung cụ
thể về BVMT. Luật đã bổ sung nguyên tắc
đ) Thông tin về di sản thiên nhiên, hệ sinh
thái tự nhiên, loài sinh vật và nguồn gen; khu
2 Điều 114 Luật BVMT năm 2020.
50
Số 16(440) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
hoạt động BVMT phải được công khai, minh
bạch; quy định trách nhiệm công khai thông
tin liên quan đến chất lượng môi trường
không khí, chất lượng môi trường đất, chất
thải nguy hại, kết quả quan trắc chất thải;
quy định chủ trương của Nhà nước là khuyến
khích tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp,
cung cấp thông tin về môi trường; quy định
trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ,
UBND cấp tỉnh và của chủ dự án, cơ sở sản
xuất, kinh doanh, khu sản xuất, kinh doanh
tập trung, cụm công nghiệp trong việc cung
cấp, công khai thông tin về môi trường.
kỳ và chi phí không phải là một yếu tố cản
trở quá trình tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, để
bảo đảm các quy định của Luật BVMT năm
2020 thực thi có hiệu quả, tác giả cho rằng,
cần chú ý tới một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, cần xác định rõ nội hàm của
khái niệm công khai thông tin môi trường.
Luật hiện hành chưa quy định rõ chủ thể
nào có quyền tiếp cận thông tin môi trường, có
thể tiếp cận trực tiếp hay bắt buộc tiếp cận gián
tiếp thông qua đại diện. Bên cạnh đó, chúng ta
đều hiểu quyền tiếp cận thông tin không phải là
quyền không giới hạn. Quyền tiếp cận thông tin
cũng có giới hạn nhất định. Luật tiếp cận thông
tin ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều
quy định về những thông tin, tài liệu mật liên
quan đến an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh,
nghề nghiệp… không được công bố công khai
hay không được tiếp cận. Khoản 1 Điều 2 Luật
Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 quy định:
“Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan
trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của
Luật này, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có
thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Bí mật nhà nước được quy định cả thông tin
về tài nguyên và môi trường, theo đó “Thông
tin về tài nguyên và môi trường bao gồm tài
nguyên nước, môi trường, địa chất, khoáng
sản, khí tượng thủy văn, đất đai, biển, hải đảo,
đo đạc và bản đồ”3. Tuy nhiên, do các quy định
hiện hành chưa giải thích hay xác định cụ thể
về tiêu chí, điều kiện của thông tin được coi là
“thông tin gây nguy hại hoặc ảnh hưởng đến
lợi ích của Nhà nước, quốc phòng, an ninh
quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;
tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người
khác”, hay thông tin nào là “cần thiết vì lợi ích
công cộng, sức khỏe của cộng đồng” nên rất
khó hình dung nội hàm thông tin môi trường bị
hạn chế công khai.
Thứ hai, lần đầu tiên Luật BVMT năm
2020 quy định việc công khai danh sách hội
đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động
môi trường (ĐTM); quy định công khai
thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong
phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. Việc
công bố, công khai quyết định phê duyệt kết
quả thẩm định báo cáo ĐTM của cơ quan
thẩm định, công khai báo cáo ĐTM sau khi
được phê duyệt kết quả thẩm định của chủ
dự án, nội dung báo cáo, trừ thông tin liên
quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý
kiến của các bên liên quan cũng đã được quy
định cụ thể trong Luật.
Thứ ba, Luật BVMT năm 2020 quy định
hình thức công khai được thực hiện thông qua
cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các
phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình
thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những đối
tượng có liên quan tiếp nhận thông tin; giao
Chính phủ quy định chi tiết nội dung và việc
quản lý thông tin về môi trường; trình tự, thủ
tục, thời điểm và hình thức cung cấp, công
khai thông tin về môi trường.
2. Một số kiến nghị
Những phân tích trên đây cho thấy, ở Việt
Nam, công khai thông tin môi trường đã
được quy định rõ ràng về mặt pháp lý. Nhiều
loại thông tin về môi trường đã được các cơ
quan có thẩm quyền công bố công khai, định
Do đó, việc xác định những yếu tố cần
thiết hoặc gây ảnh hưởng, nguy hại đều xác
định trên yếu tố chủ quan. Điều này dẫn đến
3 Điều 7 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018.
Số 16(440) - T8/2021
51
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
tâm lý e ngại cho chính cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khi công khai thông tin môi
trường, thậm chí đây có thể được coi là lý do
để từ chối công khai thông tin. Vì vậy, để bảo
đảm cho quy định về công khai thông tin môi
trường được thực thi có hiệu quả, trước hết
Nhà nước cần bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin của người dân, trên cơ sở giới hạn phạm vi
tiếp cận thông tin của công dân. Cụ thể, Nhà
nước phải rà soát và hệ thống lại các tiêu chí
xác định những thông tin thuộc bí mật nhà
nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh nào là
những thông tin không được phép tiếp cận,
nhằm hạn chế tối đa việc viện dẫn các lý do
không chính đáng để từ chối việc cung cấp
thông tin cho công dân, tổ chức. Thêm vào
đó, Nhà nước cần quy định cụ thể hình thức,
trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện quyền
này nhằm đảm bảo rằng công dân được thực
hiện quyền tiếp cận thông tin một cách thuận
tiện, nhanh chóng và ít tốn kém nhất.
cả phía cơ quan nhà nước và người dân thực
hiện hoạt động tiếp cận thông tin môi trường
đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của
người dân. Tuy nhiên, đối với việc cung cấp
thông tin môi trường theo yêu cầu, pháp
luật hiện hành chưa quy định cụ thể về thẩm
quyền, trình tự tiếp cận thông tin; thời hạn
phải trả lời; cung cấp thông tin môi trường.
Điểm a khoản 3 Điều 114 Luật BVMT năm
2020 chỉ quy định: “Nhà nước khuyến khích
tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp thông tin
về môi trường”. Hơn nữa, cung cấp thông tin
về môi trường với việc công khai thông tin
về môi trường là hai việc khác nhau. Các quy
định hiện hành mới chỉ nhắc tới trách nhiệm
cung cấp thông tin của chủ dự án về báo cáo
ĐTM cho cơ quan nhà nước về BVMT mà
không quy định cụ thể bắt buộc về việc công
khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình các
thông tin về báo cáo ĐTM; chưa quy định
thời điểm nào chủ dự án, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phải công khai, công khai sau
khi phê duyệt hay lúc nào; công khai trên hệ
thống dữ liệu quốc gia hay trên cổng thông tin
của cơ quan, tổ chức nào; chưa quy định về
thời hạn công khai thông tin; chưa quy định
nếu không công khai, chủ dự án, cơ quan nhà
nước sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì. Quy
định thiếu cụ thể này sẽ làm giảm hiệu quả
chủ trương toàn dân giám sát và bảo vệ môi
trường. Chuyện “tránh, né” công khai báo cáo
đánh giá tác động môi trường với các dự án,
đặc biệt là những dự án có tác động lớn về
môi trường, khiến cộng đồng, các chuyên gia
và xã hội thiếu thông tin để giám sát.
Thứ hai, quy định cụ thể về thời điểm,
hình thức công khai thông tin môi trường
theo yêu cầu.
Luật BVMT năm 2020 chưa quy định
thời điểm công khai, hình thức công khai,
dẫn đến các chủ thể phải công khai thông tin
môi trường có thể “tránh, né” công khai. Như
đã nêu, khoản 2 Điều 114 Luật BVMT năm
2020 quy định yêu cầu hình thức công khai
phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng
có liên quan tiếp nhận thông tin. Nghị định
số 19/2015 ngày 14/2/2015 của Chính phủ
quy định một số điều của Luật BVMT năm
2020 đã cụ thể hóa các hình thức cung cấp
thông tin môi trường như: tài liệu, ấn phẩm,
xuất bản phẩm phát hành trên các phương tiện
thông tin đại chúng; trang thông tin điện tử
chính thức của cơ quan quản lý, chủ đầu tư,
chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; niêm
yết công khai tại cơ sở sản xuất, kinh doanh
dịch vụ, trụ sở UBND cấp xã; họp báo công
bố công khai; họp phổ biến cho cộng đồng
dân cư; các hình thức khác theo quy định của
pháp luật. Như vậy, các hình thức công khai
thông tin môi trường đã được quy định khá
linh hoạt, đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho
Thứ ba, quy định rõ ràng trách nhiệm của
các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước liên
quan đến công khai thông tin môi trường.
Mặc dù Luật BVMT năm 2020 quy định
người dân có quyền được biết thông tin về
dự án và được tham gia quá trình thực hiện
đánh giá tác động môi trường cũng như giám
sát các vấn đề môi trường, nhưng thực tế cho
thấy, số lượng người dân biết đến dự án trước
khi xây dựng không nhiều, thậm chí chỉ các
đơn vị quản lý mới có thông tin. Một số sự cố
môi trường trong những năm gần đây như:
52
Số 16(440) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
sự cố cháy nhà máy Rạng Đông, sự cố dầu
thải bẩn làm ô nhiễm nước Sông Đà, vấn nạn
ô nhiễm không khí ở thành phố lớn… mặc
dù ảnh hưởng trực tiếp đến người dân nhưng
họ lại là đối tượng được biết thông tin sau
cùng, khi sự cố xảy ra mới có cảnh báo và
bản thân người dân cũng không biết nên gọi
đến cơ quan, đơn vị nào để xác minh vấn đề
và ai sẽ là đối tượng chịu trách nhiệm cho
các sự cố môi trường xảy ra do chậm trễ về
công khai thông tin hoặc thông tin công khai
không chính xác.
(2) Xử phạt hành vi không cung cấp thông
tin đối với trường hợp nhà phân phối không
cung cấp thông tin cho nhà sản xuất theo quy
định, cung cấp thông tin sai lệch trong hồ sơ
đăng ký cấp phép khảo nghiệm sinh vật biến
đổi gen, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận an toàn
sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, hồ
sơ cấp Giấy xác nhận; hành vi cung cấp sai
thông tin, số liệu về dự án trong báo cáo đánh
giá tác động môi trường; không thực hiện kê
khai chứng từ chất thải nguy hại trực tuyến
trên hệ thống thông tin của Tổng cục Môi
trường hoặc thông qua thư điện tử khi có
yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm
quyền. Ngoài hình thức xử phạt tiền, các tổ
chức cá nhân vi phạm sẽ bị áp dụng biện
pháp công khai thông tin trên trang thông
tin điện tử hoặc báo của Bộ Tài nguyên và
Môi trường, Tổng cục Môi trường, Sở Tài
nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh nơi
xảy ra vi phạm hành chính hoặc cơ quan chủ
quản của người có thẩm quyền đã xử phạt
vi phạm hành chính trong các trường hợp
sau: bị tước quyền sử dụng Giấy phép môi
trường; bị đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm
môi trường hoặc bị đình chỉ hoạt động của
cơ sở gây ô nhiễm môi trường; bị áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm buộc
di dời địa điểm đến vị trí phù hợp với quy
hoạch và sức chịu tải của môi trường; vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng
xấu về dư luận xã hội.
Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi
trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng đến
hoạt động phê duyệt, triển khai các dự án,
các công trình xây dựng diễn ra trong thực
tế, việc xảy ra sai phạm trong bất kỳ trường
hợp nào đối với hoạt động thẩm định báo cáo
ĐTM cũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi
trường hiện nay của cơ quan nhà nước và
đây lại là những thông tin sẽ được công khai.
Tuy nhiên, theo quy định của Luật BVMT
năm 2020, ý kiến của Hội đồng thẩm định
hiện nay chỉ có giá trị tư vấn ở góc độ khoa
học môi trường và các góc độ liên quan, do
đó, chưa có giá trị pháp lý cao, chưa đủ cơ sở
để quy trách nhiệm pháp lý.
Thứ tư, bổ sung chế tài xử phạt đối với
cơ quan quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ vi phạm công khai thông tin
môi trường.
Theo quy định của pháp luật xử phạt vi
phạm hành chính, các hành vi không công
khai thông tin và không cung cấp thông tin
sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:
Quy định trên cho thấy, việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chỉ
liên quan tới các bên không cung cấp thông
tin, cung cấp thông tin không đúng cho cơ
quan quản lý nhà nước; trong khi đó, thiếu
chế tài đối với cơ quan quản lý hay các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không công
khai thông tin môi trường cho người dân theo
quy định của pháp luật. Do đó, để bảo đảm
tính răn đe đối với hành vi không công khai
thông tin môi trường, cần bổ sung quy định
về chế tài xử lý vi phạm công khai thông tin
môi trường đối với cả cơ quan quản lý, các
(1) Xử phạt hành vi không công khai
thông tin về danh sách các điểm thu hồi, xử
lý sản phẩm thải bỏ theo quy định; dữ liệu về
môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ theo quy định; không công
khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp
quản lý rủi ro đối với môi trường và đa dạng
sinh học khi nghiên cứu tạo ra, phát triển
công nghệ sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di
truyền của sinh vật biến đổi gen;
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Số 16(440) - T8/2021
53
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm công khai thông tin môi trường ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trach_nhiem_cong_khai_thong_tin_moi_truong_o_viet_nam_hien_n.pdf

