Trách nhiệm công khai thông tin môi trường ở Việt Nam hiện nay

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
TRÁCH NHIỆM CÔNG KHAI THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG  
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Tạ Thị Thùy Trang*  
*ThS. Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường trước hết phụ thuộc vào quyền  
tiếp cận thông tin, sự tham gia tích cực của người dân và tiếp cận tư pháp  
trong lĩnh vực môi trường. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích  
những ưu điểm, bất cập trong quy định của pháp luật về công khai thông  
tin môi trường và đưa ra một số kiến nghị góp phần tăng cường trách  
nhiệm công khai thông tin môi trường, thúc đẩy sự phát triển theo hướng  
bền vững ở Việt Nam.  
Từ khóa: Công khai thông tin  
môi trường, Luật Bảo vệ môi  
trường năm 2020.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 03/6/2021  
: 12/7/2021  
: 15/7/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Keywords: Publication  
Effective environmental protection firstly depends on the right to access  
information, active participation of the people and access to justice in the  
field of environment. The article focuses on clarifying related concepts  
and initially analyzes the advantages and disadvantages of the law on  
environmental information disclosure. On that basis, the author sets out a  
number of requirements in order to perfect policies and laws, strengthen  
the responsibility of disclosing environmental information, and promote  
sustainable development in Vietnam.  
of  
environmental information; Law  
on Environmental Protection of  
2020.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 03 Jun 2021  
: 12 Jul. 2021  
: 15 Jul. 2021  
Approved  
1. Khái quát về công khai thông tin môi  
trường theo quy định của Luật bảo vệ môi  
trường năm 2020  
là điều kiện tiên quyết của sự dân chủ trong  
các hoạt động của xã hội loài người. Theo  
Đại từ điển Tiếng Việt, công khai là “không  
giấu diếm, bí mật mà cho mọi người cùng  
biết”1. Với ý nghĩa và bản chất như vậy nên  
“công khai thông tin môi trường” luôn được  
sử dụng như một biện pháp hữu hiệu để  
phòng, chống các hành vi tiêu cực trong hoạt  
động bảo vệ môi trường. Do đó, có thể hiểu,  
“công khai thông tin môi trường là việc công  
bố, cung cấp thông tin, giải trình về thông tin  
môi trường”.  
Để bảo vệ, bảo đảm quyền tiếp cận thông  
tin, thông tin cần phải được công khai càng  
sớm, càng tốt, dưới hình thức thích hợp về  
ngôn ngữ, hình ảnh, tư liệu, phù hợp với quy  
định của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu  
nhận và sử dụng thông tin của người dân.  
Chính vì vậy, từ năm 1993 tới nay, pháp luật  
về bảo vệ môi trường (BVMT) của nước ta  
đều thể hiện rõ nguyên tắc công khai thông  
tin. Công khai là một khái niệm có tính lịch  
sử mà sự ra đời, phát triển của nó là tiền đề,  
Mục đích công khai thông tin môi trường là  
đảm bảo quyền được thông tin về môi trường  
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb. Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2007, tr.346.  
Số 16(440) - T8/2021  
49  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
của người dân. Đây là cơ sở để cộng đồng  
dân cư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
mình cũng như thực hiện các quyền tham vấn,  
giám sát, khiếu nại, tố cáo liên quan đến môi  
trường. Việc công khai, minh bạch đầy đủ các  
thông tin môi trường sẽ giúp cho người dân  
và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đồng thời  
chú trọng đổi mới hình thức thực hiện theo  
quy định của pháp luật và phù hợp với tình  
hình địa phương. Ngoài ra, công khai thông  
tin môi trường sẽ giúp cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền cũng như tổ chức, cá nhân liên  
quan nhận được những báo cáo chính thức về  
thông tin môi trường thuộc đối tượng bị quản  
lý hoặc đối tượng có ảnh hưởng đến đời sống  
cộng đồng, qua đó đảm bảo hiệu quả công tác  
bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ quyền lợi  
của cộng đồng dân cư.  
bảo tồn thiên nhiên và cơ sở bảo tồn đa dạng  
sinh học; vùng đất ngập nước quan trọng.  
Như vậy, có thể thấy rằng, thông tin môi  
trường được công khai chủ yếu là những thông  
tin do cơ quan có thẩm quyền nắm giữ như Bộ  
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân  
(UBND) các cấp, Bộ, các cơ quan ngang Bộ,  
các cơ quan thuộc Chính phủ. Vì vậy, yêu cầu  
đầu tiên là những thông tin này phải được thu  
thập, xử lý một cách thường xuyên, định kỳ và  
thống kê, lưu trữ dưới những hình thức thích  
hợp cho khả năng tiếp cận của công chúng.  
Theo đó, Luật BVMT năm 2020 đặt ra nguyên  
tắc các cơ quan, tổ chức, cá nhân công khai  
thông tin về môi trường theo quy định trên cổng  
thông tin của cơ quan, tổ chức hoặc bằng hình  
thức khác, bảo đảm thuận tiện cho đối tượng  
có liên quan tiếp nhận thông tin. Luật BVMT  
năm 2020 cũng quy định cụ thể về nghĩa vụ  
của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh  
tế trong việc xây dựng báo cáo đánh giá môi  
trường chiến lược; báo cáo đánh giá tác động  
môi trường; báo cáo hiện trạng môi trường cấp  
tỉnh; báo cáo hiện trạng môi trường của ngành,  
lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường  
quốc gia... Nội dung các báo cáo này chứa  
đựng những thông tin hữu ích về hiện trạng  
môi trường, nguyên nhân và những nhân tố  
tác động lên các thành phần môi trường và sức  
khỏe con người như: Hiện trạng môi trường  
khu đô thị, dân cư tập trung, khu kinh doanh,  
dịch vụ, làng nghề; các khu vực môi trường bị  
ô nhiễm, suy thoái; danh mục các cơ sở gây ô  
nhiễm môi trường nghiêm trọng; những vấn đề  
môi trường bức xúc... Mặt khác, Luật BVMT  
năm 2020 cũng quy định rõ nghĩa vụ pháp lý  
trong thống kê, lưu trữ số liệu, thông tin về môi  
trường (khoản 2 Điều 114).  
Theo quy định của Luật BVMT năm  
2020, thông tin môi trường cần công khai  
bao gồm2:  
a) Thông tin về chất ô nhiễm, dòng thải  
các chất ô nhiễm ra môi trường, nguồn ô  
nhiễm; công tác bảo vệ môi trường của dự  
án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh,  
dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp;  
b) Thông tin về chất thải rắn, chất thải  
nguy hại, nước thải, khí thải và các loại chất  
thải khác theo quy định của pháp luật;  
c) Thông tin về quyết định phê duyệt kết  
quả thẩm định, báo cáo đánh giá tác động  
môi trường, trừ bí mật thương mại, bí mật  
kinh doanh, thông tin thuộc bí mật nhà nước;  
nội dung cấp phép, đăng ký, chứng nhận, xác  
nhận; kết quả kiểm tra, thanh tra về bảo vệ  
môi trường đối với dự án đầu tư, cơ sở, khu  
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm  
công nghiệp theo quy định;  
Có thể đánh giá quy định của Luật BVMT  
năm 2020 về công khai thông tin môi trường  
như sau:  
d) Thông tin về chỉ tiêu thống kê môi  
trường, chất lượng môi trường, ô nhiễm  
môi trường;  
Thứ nhất, vấn đề công khai thông tin đã  
được quy định xuyên suốt, thống nhất trong  
Luật BVMT năm 2020 theo các nội dung cụ  
thể về BVMT. Luật đã bổ sung nguyên tắc  
đ) Thông tin về di sản thiên nhiên, hệ sinh  
thái tự nhiên, loài sinh vật và nguồn gen; khu  
2 Điều 114 Luật BVMT năm 2020.  
50  
Số 16(440) - T8/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
hoạt động BVMT phải được công khai, minh  
bạch; quy định trách nhiệm công khai thông  
tin liên quan đến chất lượng môi trường  
không khí, chất lượng môi trường đất, chất  
thải nguy hại, kết quả quan trắc chất thải;  
quy định chủ trương của Nhà nước là khuyến  
khích tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp,  
cung cấp thông tin về môi trường; quy định  
trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ,  
UBND cấp tỉnh và của chủ dự án, cơ sở sản  
xuất, kinh doanh, khu sản xuất, kinh doanh  
tập trung, cụm công nghiệp trong việc cung  
cấp, công khai thông tin về môi trường.  
kỳ và chi phí không phải là một yếu tố cản  
trở quá trình tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, để  
bảo đảm các quy định của Luật BVMT năm  
2020 thực thi có hiệu quả, tác giả cho rằng,  
cần chú ý tới một số yêu cầu sau:  
Thứ nhất, cần xác định rõ nội hàm của  
khái niệm công khai thông tin môi trường.  
Luật hiện hành chưa quy định rõ chủ thể  
nào có quyền tiếp cận thông tin môi trường, có  
thể tiếp cận trực tiếp hay bắt buộc tiếp cận gián  
tiếp thông qua đại diện. Bên cạnh đó, chúng ta  
đều hiểu quyền tiếp cận thông tin không phải là  
quyền không giới hạn. Quyền tiếp cận thông tin  
cũng có giới hạn nhất định. Luật tiếp cận thông  
tin ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều  
quy định về những thông tin, tài liệu mật liên  
quan đến an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh,  
nghề nghiệp… không được công bố công khai  
hay không được tiếp cận. Khoản 1 Điều 2 Luật  
Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 quy định:  
“Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan  
trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có  
thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của  
Luật này, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có  
thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc”.  
Bí mật nhà nước được quy định cả thông tin  
về tài nguyên và môi trường, theo đó “Thông  
tin về tài nguyên và môi trường bao gồm tài  
nguyên nước, môi trường, địa chất, khoáng  
sản, khí tượng thủy văn, đất đai, biển, hải đảo,  
đo đạc và bản đồ”3. Tuy nhiên, do các quy định  
hiện hành chưa giải thích hay xác định cụ thể  
về tiêu chí, điều kiện của thông tin được coi là  
“thông tin gây nguy hại hoặc ảnh hưởng đến  
lợi ích của Nhà nước, quốc phòng, an ninh  
quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã  
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;  
tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người  
khác”, hay thông tin nào là “cần thiết vì lợi ích  
công cộng, sức khỏe của cộng đồng” nên rất  
khó hình dung nội hàm thông tin môi trường bị  
hạn chế công khai.  
Thứ hai, lần đầu tiên Luật BVMT năm  
2020 quy định việc công khai danh sách hội  
đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động  
môi trường (ĐTM); quy định công khai  
thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong  
phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. Việc  
công bố, công khai quyết định phê duyệt kết  
quả thẩm định báo cáo ĐTM của cơ quan  
thẩm định, công khai báo cáo ĐTM sau khi  
được phê duyệt kết quả thẩm định của chủ  
dự án, nội dung báo cáo, trừ thông tin liên  
quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh  
nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý  
kiến của các bên liên quan cũng đã được quy  
định cụ thể trong Luật.  
Thứ ba, Luật BVMT năm 2020 quy định  
hình thức công khai được thực hiện thông qua  
cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các  
phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình  
thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những đối  
tượng có liên quan tiếp nhận thông tin; giao  
Chính phủ quy định chi tiết nội dung và việc  
quản lý thông tin về môi trường; trình tự, thủ  
tục, thời điểm và hình thức cung cấp, công  
khai thông tin về môi trường.  
2. Một số kiến nghị  
Những phân tích trên đây cho thấy, ở Việt  
Nam, công khai thông tin môi trường đã  
được quy định rõ ràng về mặt pháp lý. Nhiều  
loại thông tin về môi trường đã được các cơ  
quan có thẩm quyền công bố công khai, định  
Do đó, việc xác định những yếu tố cần  
thiết hoặc gây ảnh hưởng, nguy hại đều xác  
định trên yếu tố chủ quan. Điều này dẫn đến  
3 Điều 7 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018.  
Số 16(440) - T8/2021  
51  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
tâm lý e ngại cho chính cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền khi công khai thông tin môi  
trường, thậm chí đây có thể được coi là lý do  
để từ chối công khai thông tin. Vì vậy, để bảo  
đảm cho quy định về công khai thông tin môi  
trường được thực thi có hiệu quả, trước hết  
Nhà nước cần bảo đảm quyền tiếp cận thông  
tin của người dân, trên cơ sở giới hạn phạm vi  
tiếp cận thông tin của công dân. Cụ thể, Nhà  
nước phải rà soát và hệ thống lại các tiêu chí  
xác định những thông tin thuộc bí mật nhà  
nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh nào là  
những thông tin không được phép tiếp cận,  
nhằm hạn chế tối đa việc viện dẫn các lý do  
không chính đáng để từ chối việc cung cấp  
thông tin cho công dân, tổ chức. Thêm vào  
đó, Nhà nước cần quy định cụ thể hình thức,  
trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện quyền  
này nhằm đảm bảo rằng công dân được thực  
hiện quyền tiếp cận thông tin một cách thuận  
tiện, nhanh chóng và ít tốn kém nhất.  
cả phía cơ quan nhà nước và người dân thực  
hiện hoạt động tiếp cận thông tin môi trường  
đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của  
người dân. Tuy nhiên, đối với việc cung cấp  
thông tin môi trường theo yêu cầu, pháp  
luật hiện hành chưa quy định cụ thể về thẩm  
quyền, trình tự tiếp cận thông tin; thời hạn  
phải trả lời; cung cấp thông tin môi trường.  
Điểm a khoản 3 Điều 114 Luật BVMT năm  
2020 chỉ quy định: “Nhà nước khuyến khích  
tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp thông tin  
về môi trường”. Hơn nữa, cung cấp thông tin  
về môi trường với việc công khai thông tin  
về môi trường là hai việc khác nhau. Các quy  
định hiện hành mới chỉ nhắc tới trách nhiệm  
cung cấp thông tin của chủ dự án về báo cáo  
ĐTM cho cơ quan nhà nước về BVMT mà  
không quy định cụ thể bắt buộc về việc công  
khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình các  
thông tin về báo cáo ĐTM; chưa quy định  
thời điểm nào chủ dự án, cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền phải công khai, công khai sau  
khi phê duyệt hay lúc nào; công khai trên hệ  
thống dữ liệu quốc gia hay trên cổng thông tin  
của cơ quan, tổ chức nào; chưa quy định về  
thời hạn công khai thông tin; chưa quy định  
nếu không công khai, chủ dự án, cơ quan nhà  
nước sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý gì. Quy  
định thiếu cụ thể này sẽ làm giảm hiệu quả  
chủ trương toàn dân giám sát và bảo vệ môi  
trường. Chuyện “tránh, né” công khai báo cáo  
đánh giá tác động môi trường với các dự án,  
đặc biệt là những dự án có tác động lớn về  
môi trường, khiến cộng đồng, các chuyên gia  
và xã hội thiếu thông tin để giám sát.  
Thứ hai, quy định cụ thể về thời điểm,  
hình thức công khai thông tin môi trường  
theo yêu cầu.  
Luật BVMT năm 2020 chưa quy định  
thời điểm công khai, hình thức công khai,  
dẫn đến các chủ thể phải công khai thông tin  
môi trường có thể “tránh, né” công khai. Như  
đã nêu, khoản 2 Điều 114 Luật BVMT năm  
2020 quy định yêu cầu hình thức công khai  
phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng  
có liên quan tiếp nhận thông tin. Nghị định  
số 19/2015 ngày 14/2/2015 của Chính phủ  
quy định một số điều của Luật BVMT năm  
2020 đã cụ thể hóa các hình thức cung cấp  
thông tin môi trường như: tài liệu, ấn phẩm,  
xuất bản phẩm phát hành trên các phương tiện  
thông tin đại chúng; trang thông tin điện tử  
chính thức của cơ quan quản lý, chủ đầu tư,  
chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; niêm  
yết công khai tại cơ sở sản xuất, kinh doanh  
dịch vụ, trụ sở UBND cấp xã; họp báo công  
bố công khai; họp phổ biến cho cộng đồng  
dân cư; các hình thức khác theo quy định của  
pháp luật. Như vậy, các hình thức công khai  
thông tin môi trường đã được quy định khá  
linh hoạt, đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho  
Thứ ba, quy định rõ ràng trách nhiệm của  
các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước liên  
quan đến công khai thông tin môi trường.  
Mặc dù Luật BVMT năm 2020 quy định  
người dân có quyền được biết thông tin về  
dự án và được tham gia quá trình thực hiện  
đánh giá tác động môi trường cũng như giám  
sát các vấn đề môi trường, nhưng thực tế cho  
thấy, số lượng người dân biết đến dự án trước  
khi xây dựng không nhiều, thậm chí chỉ các  
đơn vị quản lý mới có thông tin. Một số sự cố  
môi trường trong những năm gần đây như:  
52  
Số 16(440) - T8/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
sự cố cháy nhà máy Rạng Đông, sự cố dầu  
thải bẩn làm ô nhiễm nước Sông Đà, vấn nạn  
ô nhiễm không khí ở thành phố lớn… mặc  
dù ảnh hưởng trực tiếp đến người dân nhưng  
họ lại là đối tượng được biết thông tin sau  
cùng, khi sự cố xảy ra mới có cảnh báo và  
bản thân người dân cũng không biết nên gọi  
đến cơ quan, đơn vị nào để xác minh vấn đề  
và ai sẽ là đối tượng chịu trách nhiệm cho  
các sự cố môi trường xảy ra do chậm trễ về  
công khai thông tin hoặc thông tin công khai  
không chính xác.  
(2) Xử phạt hành vi không cung cấp thông  
tin đối với trường hợp nhà phân phối không  
cung cấp thông tin cho nhà sản xuất theo quy  
định, cung cấp thông tin sai lệch trong hồ sơ  
đăng ký cấp phép khảo nghiệm sinh vật biến  
đổi gen, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận an toàn  
sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, hồ  
sơ cấp Giấy xác nhận; hành vi cung cấp sai  
thông tin, số liệu về dự án trong báo cáo đánh  
giá tác động môi trường; không thực hiện kê  
khai chứng từ chất thải nguy hại trực tuyến  
trên hệ thống thông tin của Tổng cục Môi  
trường hoặc thông qua thư điện tử khi có  
yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm  
quyền. Ngoài hình thức xử phạt tiền, các tổ  
chức cá nhân vi phạm sẽ bị áp dụng biện  
pháp công khai thông tin trên trang thông  
tin điện tử hoặc báo của Bộ Tài nguyên và  
Môi trường, Tổng cục Môi trường, Sở Tài  
nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh nơi  
xảy ra vi phạm hành chính hoặc cơ quan chủ  
quản của người có thẩm quyền đã xử phạt  
vi phạm hành chính trong các trường hợp  
sau: bị tước quyền sử dụng Giấy phép môi  
trường; bị đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm  
môi trường hoặc bị đình chỉ hoạt động của  
cơ sở gây ô nhiễm môi trường; bị áp dụng  
biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm buộc  
di dời địa điểm đến vị trí phù hợp với quy  
hoạch và sức chịu tải của môi trường; vi  
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi  
trường gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng  
xấu về dư luận xã hội.  
Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi  
trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng đến  
hoạt động phê duyệt, triển khai các dự án,  
các công trình xây dựng diễn ra trong thực  
tế, việc xảy ra sai phạm trong bất kỳ trường  
hợp nào đối với hoạt động thẩm định báo cáo  
ĐTM cũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm  
trọng đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi  
trường hiện nay của cơ quan nhà nước và  
đây lại là những thông tin sẽ được công khai.  
Tuy nhiên, theo quy định của Luật BVMT  
năm 2020, ý kiến của Hội đồng thẩm định  
hiện nay chỉ có giá trị tư vấn ở góc độ khoa  
học môi trường và các góc độ liên quan, do  
đó, chưa có giá trị pháp lý cao, chưa đủ cơ sở  
để quy trách nhiệm pháp lý.  
Thứ tư, bổ sung chế tài xử phạt đối với  
cơ quan quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh  
doanh, dịch vụ vi phạm công khai thông tin  
môi trường.  
Theo quy định của pháp luật xử phạt vi  
phạm hành chính, các hành vi không công  
khai thông tin và không cung cấp thông tin  
sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:  
Quy định trên cho thấy, việc xử phạt vi  
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chỉ  
liên quan tới các bên không cung cấp thông  
tin, cung cấp thông tin không đúng cho cơ  
quan quản lý nhà nước; trong khi đó, thiếu  
chế tài đối với cơ quan quản lý hay các cơ  
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không công  
khai thông tin môi trường cho người dân theo  
quy định của pháp luật. Do đó, để bảo đảm  
tính răn đe đối với hành vi không công khai  
thông tin môi trường, cần bổ sung quy định  
về chế tài xử lý vi phạm công khai thông tin  
môi trường đối với cả cơ quan quản lý, các  
(1) Xử phạt hành vi không công khai  
thông tin về danh sách các điểm thu hồi, xử  
lý sản phẩm thải bỏ theo quy định; dữ liệu về  
môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh  
doanh, dịch vụ theo quy định; không công  
khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp  
quản lý rủi ro đối với môi trường và đa dạng  
sinh học khi nghiên cứu tạo ra, phát triển  
công nghệ sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di  
truyền của sinh vật biến đổi gen;  
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ  
Số 16(440) - T8/2021  
53  
pdf 5 trang Thùy Anh 10500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm công khai thông tin môi trường ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_cong_khai_thong_tin_moi_truong_o_viet_nam_hien_n.pdf