Những khía cạnh pháp lý về cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự vệ của quốc gia trên không gian mạng trong luật quốc tế
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...
ĐE DỌA SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ QUYỀN TỰ VỆ CỦA QUỐC GIA
TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG LUẬT QUỐC TẾ
ĐỖ THỊ HÀ*
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại những cơ hội chưa từng có trong
lịch sử nhân loại, đồng thời cũng mang đến những thách thức không nhỏ trong việc giữ
gìn hòa bình, an ninh, chủ quyền quốc gia. Để phòng, tránh, và đối phó với các nguy cơ
mất an ninh, đặc biệt là tấn công mạng, pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế
cần thống nhất cách tiếp cận các khía cạnh pháp lý về vũ lực và sử dụng vũ lực trên không
gian mạng, áp dụng quyền tự vệ quốc gia nhằm bảo vệ có hiệu quả chủ quyền quốc gia trên
không gian mạng. Bài viết nghiên cứu các khía cạnh pháp lý về việc cấm dùng vũ lực, đe
dọa sử dụng vũ lực và quyền từ vệ của quốc gia trên không gian mạng cũng như đề cập đến
những khó khăn thách thức khi xác định những yếu tố này.
Từ khóa: Không gian mạng, tấn công mạng, sử dụng vũ lực, quyền tự vệ quốc gia, an
ninh mạng, luật quốc tế.
The 4th industrial revolution brings both unprecedented opportunities and
significant challenges in peacekeeping, security and national sovereignty. In order
to prevent and deal with insecurity risks, especially cyber aꢀacks, national laws and
international law need to agree on an approach to the legal aspects of force and the
use of force in cyberspace, to apply national self-defense to effectively protect national
sovereignty on cyberspace. The paper studies the legal aspects of the prohibition
of force, threats to use force and national self-defense on cyberspace as well as the
difficulties and challenges in identifying these factors.
Keywords: Cyberspace, cyber-aꢀacks, use of force, national self-defense, cyber
security, international law.
hông gian mạng vốn được cho mạng lại mở ra một thế giới ảo rất khác,
là “không có giới hạn không gian
và thời gian” , tuy nhiên môi
làm dấy lên hàng loạt các vấn đề liên quan
đến hoạt động tấn công mạng, kích động
biểu tình, nổi dậy, tiếp tay cho hoạt động
tuyên truyền xuyên tạc sự thật lịch sử, gây
bất ổn hoặc căng thẳng trong quan hệ quốc
tế. Đảm bảo an toàn, an ninh trên không
gian mạng không còn là vấn đề mang tính
quốc gia mà mang tính quốc tế toàn cầu
bởi tính “không giới hạn” của không gian
mạng. Để giải quyết thực tế đó, nhiều
quốc gia có thể trông đợi vào việc kí kết,
tham gia vào các điều ước quốc tế điều
1
K
trường này không phải là nơi “không có
luật lệ” để bất kỳ ai cũng có thể tiến hành
các hoạt động thù địch mà không bị kiểm
soát. Trong khi mọi quốc gia đang nỗ lực
để kiểm soát tình hình an ninh trật tự xã
hội trong thế giới thực thì không gian
1ꢀ Khoản 3 Điều 2 Luật An ninh mạng năm 2018:
“Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông,
mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ
thống xꢀ lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là
nơi con người thực hiện các hành vi xꢁ hội không bị giới * Thạc sĩ, Giảng viên Luật quốc tế, Học viện An
hạn bởi không gian và thời gian.”
ninh nhân dân.
98 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
ĐỖ THỊ HÀ
chỉnh lĩnh vực không gian mạng trên cơ lực, gây thương vong, phá hủy cơ sở vật
sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, chất, hạ tầng, phương tiện, vv… đều được
phù hợp với thực tiễn tập quán quốc tế
nhằm duy trì hòa bình, bảo đảm an ninh
cho các thế hệ tương lai.2
xem như là sử dụng vũ lực.
Trong việc xem xét hành vi có sử dụng
vũ lực hay không, phải đánh giá các yếu tố
tác động bao gồm bối cảnh sự kiện, nhân
tố gây ra hoạt động thù địch (để nhận
diện những vấn đề khó khăn trong việc
quy kết cho hoạt động trên không gian
mạng), mục tiêu, địa điểm, ý định và hệ
quả, những vấn đề khác có khả năng xảy
ra. Các hoạt động thường được dẫn chiếu
làm ví dụ điển hình cho việc quy kết hành
vi sử dụng vũ lực trên không gian mạng
là: (1) tổ chức kích động chương trình vũ
khí hạt nhân; (2) tổ chức kích động phá
hủy các con đập (hồ chứa nước), mạng
lưới điện, gây nguy hại cho khu vực dân
cư trong phạm vi lưu vực ảnh hưởng,
hoặc hành vi tổ chức các hoạt động vô
hiệu hóa hoạt động kiểm soát không lưu
dẫn đến làm rơi máy bay và các hậu quả
nặng nề khác. Những hành vi sử dụng vũ
lực trong thực tế như bắn phá các mục
tiêu, thả bom, tấn công bạo lực,… trong
thực tế gây ra hậu quả vật chất như thế
nào thì hành vi bạo lực trên không gian
mạng cũng có thể dẫn đến hậu quả nguy
hại như vậy. Hành vi tấn công trên không
gian mạng còn nhắm đến các trung tâm
điều khiển một cách có hệ thống hơn cả
hành vi bạo lực đơn thuần diễn ra ngoài
xã hội, dẫn đến hậu quả khôn lường và
khó khắc phục. Thực tiễn cho thấy, trong
nhiều trường hợp, các hoạt động trên
không gian mạng đã cấu thành hành vi
đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực theo
quy định của Điều 2(4) Hiến chương Liên
hợp quốc năm 1945.
1. Cấm dùng vũ lực, đe dọa sử dụng
vũ lực và quyền tự vệ quốc gia trên
không gian mạng
1.1. Các hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa
sử dụng vũ lực trên không gian mạng
Cấm dùng vũ lực, đe dọa sử dụng
vũ lực trong luật quốc tế hiện đại là một
trong những nguyên tắc giữ vị trí trung
tâm trong hệ thống nguyên tắc cơ bản của
luật quốc tế có tính Jus Cogens. Việc nhận
diện các hành vi dùng vũ lực và đe dọa sử
dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế không
phải bao giờ cũng dễ dàng xuất phát
từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trên
không gian mạng, việc xác định được đâu
là hành vi dung vũ lực, đâu là hành vi
đe dọa sử dụng vũ lực càng trở nên khó
khăn hơn. Hành vi “tấn công vũ lực” hay
“đe dọa dùng vũ lực” trên không gian mạng
được xác định không chỉ bởi các hành vi
mà bằng cách đánh giá chuỗi các hậu quả
gây ra bởi các hành vi cụ thể trên không
gian mạng3. Biểu hiện của chuỗi các hậu
quả này rất đa dạng. Đó có thể là những
tổn hại về người, tài sản, cơ sở vật chất
trên thực tế nhưng có nguồn gốc từ hành
vi tác động của chủ thể trên không gian
mạng, nghĩa là hậu quả từ hành vi “ảo”
nhưng có tác động “thật” giống như các
hành vi sử dụng vũ lực thông thường. Ví
dụ, hành vi diễn ra trên không gian mạng
lại gây ra các hậu quả làm kích động bạo
2ꢀ Lời mở đầu, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945.
3ꢀ Hongju Koh, Harold, “International Law in
Cyberspace” (2012). Faculty Scholarship Series. 4854.
Năm 2010, sâu máy tính Stuxnet là
htps://digitalcommons.law.yale.edu/fss_papers/4854 một loại mã độc lây lan qua phần cứng
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 99
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...
của hệ thống máy tính điều hành, tấn ngoài chiếm đoạt, một số màn hình hiển
công vào ít nhất 14 cơ sở công nghiệp
của Iran, trong đó có cả một nhà máy
làm giàu uranium, gây ra hậu quả thiệt
hại nghiêm trọng làm cho công tác khắc
phục kéo dài hàng năm sau đó.4 Quá
trình điều tra, truy tìm hành vi phát hiện
mã độc Stuxnet liên hệ với hai máy chủ
thị thông tin chuyến bay của các Sân bay
quốc tế bị chèn những nội dung xuyên tạc
về Việt Nam, dữ liệu của 411.000 thành
viên là các lãnh đạo, quản lý cơ quan
Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp lớn
bị đánh cắp.7 Theo thống kê của Cục An
toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền
ở Malaysia và Đan Mạch. Năm 2011, thông), Việt Nam ghi nhận hơn 1000 cuộc
hãng phim ảnh Sony Pictures của Nhật tấn công mạng trong khoảng 4 tháng đầu
năm 2020 vào hệ thống thông tin8.
Bản đối mặt với vụ tấn công mạng gây
hậu quả thiệt hại chưa từng có trong lịch
sử kinh doanh gây ra bởi nhóm hacker
#GOP được cho là từ Bắc Triều Tiên5.
Năm 2014, Hàn Quốc phát hiện khoảng
100 triệu tài khoản ngân hàng đã bị đánh
cắp thông tin trong vài năm trước đó, 20
triệu tài khoản khách hàng bị “hack”, hậu
quả gây xáo trộn tình hình kinh doanh
của hệ thống ngân hàng, hơn hai triệu
chủ thẻ đã chấm dứt hoạt động hoặc
thay thế tài khoản tín dụng.6 Năm 2017,
công ty Equifax – một trong những trung
tâm thông tin tín dụng lớn nhất nước Mỹ
để lộ thông tin cá nhân của 147,9 triệu
người do lỗ hổng bảo mật. Ở Việt Nam,
các công ty truyền thông và công nghệ
lớn như VCCorp, Bkav, VNG đều đã
bị tấn công mạng, gây ảnh hưởng hàng
chục tỷ đồng. Vụ việc nghiêm trọng nhất
tính đến nay xảy ra vào năm 2015 khi hệ
thống thông báo sân bay bị hacker nước
Hàng loạt các cuộc tấn công mạng lớn,
nhỏ trên thế giới hiện nay làm dấy lên mối
lo ngại rất lớn là các mã độc/sâu máy tính
giờ đây có thể được sử dụng để phá hoại
nền an ninh, trật tự quản lý nhà nước, hoạt
động kinh doanh sản xuất chứ không chỉ
dùng cho mục đích thăm dò hay đánh cắp
thông tin như trước đây.
1.2. Quyền tự vệ quốc gia (national
self-defense) trên không gian mạng trong
Luật quốc tế
Quyền tự vệ của quốc gia được ghi
nhận tại Điều 51 Hiến chương Liên hợp
quốc. Quyền này được quốc gia áp dụng
khi có đủ điều kiện về về việc tồn tại các
hoạt động tấn công mạng máy tính đạt đến
mức cấu thành hành vi tấn công hoặc đe
dọa tấn công mạng. Ví dụ, năm 2011, Hoa
Kỳ đã ban bố Chiến lược Quốc tế về Không
gian mạng năm và khẳng định vấn đề tự
vệ theo quy chế Điều 51: “Khi được cho phép,
Hoa Kỳ sẽ phản ứng lại hành động tấn công
thù địch trên không gian mạng giống như bất
4ꢀ Xem Câu chuyện về mã độc Stuxnet – vũ khí nguy
hiểm trong thế giới mạng - <hꢁps://securitydaily.
net/cau-chuyen-xung-quanh-stuxnet-vu-khi-
nguy-hiem-trong-the-gioi-mang/> truy nhập ngày 7ꢀ Xem “Thông cáo báo chí về vụ hacker tấn công
13 tháng 11 năm 2020.
vào hệ thống Vietnam Airlines” < hꢁps://vnisa.
org.vn/thong-cao-bao-chi-ve-vu-hacker-tan-cong-
5ꢀ Xem “Toàn cảnh vụ tấn công Sony Pictures”
6ꢀ Xem “Nửa số dân Hàn Quốc bị trộm thông tin vao-he-thong-vietnam-airlines/> truy nhập ngày
thẻ tín dụng” <hꢁps://infonet.vietnamnet.vn/the- 13 tháng 11 năm 2020.
gioi/nua-so-dan-han-quoc-bi-trom-thong-tin-the- 8ꢀ Xem “hꢁp://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-
tin-dung-122927.html> truy nhập ngày 13 tháng luat/viet-nam-ghi-nhan-hon-1000-cuoc-tan-cong-
11 năm 2020.
mang-trong-4-thang-dau-nam-322683.html”
100 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
ĐỖ THỊ HÀ
trước bất kỳ đe dọa nào khác đối với quốc gia”. như các phương thức phổ biến khác.
Trong bất kỳ hoàn cảnh xung đột nào,
Trong đó, hành vi tự vệ quốc gia tại
pháp luật quốc tế cho phép nguyên tắc
Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc có
giới hạn hợp pháp về tính cần thiết và hợp
liên hệ chặt chẽ đến nguyên tắc jus in bello
– công lý trong chiến tranh, yêu cầu các
lý trong sử dụng vũ lực để tự vệ. Thực tế,
luật quốc tế không có quy định pháp lý
quốc gia phải tuân thủ nghiêm ngặt trong
nào yêu cầu hành vi phản ứng lại tấn công
hoạt động sử dụng vũ lực để tự vệ. Jus in
bello được giải thích là một trong hai nhóm
quy tắc trong Luật chiến tranh, do học
giả kiệt xuất người Hà Lan Hugo Grotius
mạng cũng phải tương ứng là một hành vi
trên không gian mạng, chỉ cần thực hiện
đúng nguyên tắc cần thiết và hợp lý trong
tự vệ (necessity and proportionality).
(1583-1645) khởi xướng. Ông là một trong
Nguyên tắc jus in bello về phân biệt
mục tiêu áp dụng cả trong cuộc xung đột
vũ trang dùng đến phương thức tấn công
mạng máy tính. Với bất kỳ hình thức xung
đột vũ trang nào thì nguyên tắc phân biệt
mục tiêu đòi hỏi hành vi tấn công đó chỉ
nhằm vào mục tiêu quân sự, và truy cứu
trách nhiệm đối với những khu vực phục
vụ cho quân sự hoặc khu vực nếu bị phá
hủy sẽ có lợi cho mục đích quân sự bao
gồm cả mục tiêu dân sự. Về nguyên tắc,
pháp luật quốc tế bảo vệ hoàn toàn các
khu vực dân sinh khỏi mọi hoạt động tấn
công vũ lực. Nguyên tắc jus in bello về tính
hợp lý của hành vi tấn công chống trả
áp dụng trên không gian mạng máy tính
trong mọi trường hợp tấn công chống trả
để tự vệ. Nguyên tắc này cấm hành vi tấn
công đe dọa gây ra thiệt hại ngẫu nhiên
ảnh hưởng đến đời sống dân cư, thương
vong hoặc phá hủy các mục tiêu dân sự
mà sự thiệt hại đó có liên quan đến khả
năng mang lại lợi ích cho hoạt động tấn
công quân sự, ví dụ tấn công vào khu
vực dân cư sản xuất lương thực, phương
tiện hậu cần phục vụ quân đội,… Các bên
tham chiến được yêu cầu phải đánh giá kỹ
lưỡng nguy cơ ảnh hưởng hoặc gây thiệt
hại đến các mục tiêu dân sự9.
những người quan trọng đóng góp nền
móng lý luận xây dựng học thuyết phát
triển Luật quốc tế trên thế giới. Để ngăn
cản các cuộc chiến tranh phi nghĩa trong
thời kỳ trung đại, ông dựa trên lý thuyết
và thực tiễn lịch sử cổ đại và trung đại để
xây dựng nên hai nhóm quy tắc: jus ad
bellum (quyền gây chiến tranh) và jus in
bello (công lý trong chiến tranh). Quy tắc
jus ad bellum đặt ra những chuẩn mực mà
theo đó, một nhà lãnh đạo chính trị có thể
quyết định một cuộc chiến tranh có chính
nghĩa hay không. Quy tắc jus in bello miêu
tả những hành động quân sự nào được
phép từ phương diện niềm tin chính
nghĩa và hợp pháp từ phương diện pháp
lý quốc tế khi xảy ra các cuộc chiến tranh,
đặc biệt là các cuộc chiến phản công tự vệ.
Như vậy, đối chiếu với quy định Luật
quốc tế hiện đại ngày nay, học thuyết các
về nguyên tắc jus in bello còn nguyên giá trị
trong vấn đề định đoạt những trường hợp
ngoại lệ nào được sử dụng vũ lực trong
quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh của một
cuộc xung đột vũ trang, pháp luật quốc tế
được áp dụng để điều chỉnh phạm vi sử
dụng vũ lực (trong một số hệ thống luật
khác còn gọi là luật chiến tranh – the law of
war/armed conflict) trên không gian mạng
khi gây ra các hoạt động thù địch, giống
9ꢀ
Trên không gian mạng, trước khi tiến hành tấn
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 101
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...
1.3. Trách nhiệm pháp lý quốc tế của khoản về trách nhiệm quốc tế của quốc gia cho
quốc gia đối với hành vi tấn công mạng
thực hiện thông qua máy chủ ủy nhiệm
(proxy server)
hành vi sai phạm quốc tế - Phụ lục của Nghị
quyết Hội đồng Liên hợp quốc số 56/83
ngày 12/12/2001, và trong án lệ Bosnia
and Herzegovina v. Serbia and Montenegro
(Merits) 2007 của Tòa công lý quốc tế số
I.C.J. 43, 207–08 (Feb. 26, 2007) về áp dụng
Công ước ngăn ngừa và trừng phạt tội
phạm diệt chủng của Liên hợp quốc. Theo
đó, các quy định pháp luật quốc tế này
nhằm mục đích điều chỉnh hành vi che
giấu sai phạm quốc tế thực hiện bởi các tổ
chức tư nhân (thuộc quốc gia) gây ra hậu
quả thiệt hại đến cộng đồng quốc tế.
Các quốc gia phải chịu trách nhiệm
pháp lý cho mọi hoạt động diễn ra
thông qua các máy chủ ủy nhiệm (proxy
actors), chịu trách nhiệm do những cá
nhân, tổ chức hành động dưới sự điều
khiển của quốc gia đó. Không gian mạng
tạo ra khả năng ngụy tạo tài khoản giả,
địa điểm ảo gây khó khăn cho việc phát
hiện, nhận dạng, đánh giá các nguy cơ
tấn công mạng. Tuy nhiên, trong phạm
vi điều chỉnh của mình, pháp luật quốc
tế cho phép cơ chế truy cứu trách nhiệm
pháp lý quốc tế khi tồn tại các tổ chức tư
nhân (private actors) của quốc gia gây ảnh
hưởng đến hòa bình và an ninh thế giới.
Quy định về trách nhiệm pháp lý quốc tế
của quốc gia về hành vi sai phạm của các
yếu tố tư nhân hoạt động dưới sự chỉ đạo,
hỗ trợ, khống chế của quốc gia. Nếu hành
vi sai trái gây ra trên không gian mạng
được chứng minh là có liên quan đến sự
chỉ đạo, khống chế của một quốc gia thì
quốc gia đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp
lý quốc tế giống với trách nhiệm cho hành
vi gây ra bởi các cơ quan, tổ chức của Nhà
nước được quy định trong Điều 8, Các điều
2. Những khó khăn, thách thức trong
việc áp dụng nguyên tắc cấm sử dụng
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trên không
gian mạng trong Luật quốc tế
2.1. Khó khăn trong nhận diện hành vi dùng
vũ lực (use of force) trên không gian mạng
Hành vi sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế cần được mở rộng nội hàm với
các dấu hiệu mới. Trên không gian mạng,
hành vi có thể là một cú nhấp chuột hoặc
bấm nút. Hành vi ảo trên mạng hoàn toàn
có thể gây ra hậu quả thiệt hại vật chất
nghiêm trọng giống như hành vi cơ học
thông thường, ví dụ như phương thức
tấn công truyền thống bằng bom phá hủy
được cả mạng lưới hoặc một công trình
trọng điểm quốc gia, gây hậu quả nghiêm
trọng thì việc thêm mã độc vào phần mềm
công (chống trả hoặc tự vệ), các bên thường đánh
giá các yếu tố:
i) hậu quả ảnh hưởng của công cụ vũ khí trên
không gian mạng đến các mục tiêu quân sự và hệ vận hành từ một máy tính từ xa cũng gây
thống cơ sở hạ tầng dân sinh, gồm cả hạ tầng dùng
chung ví dụ như đập thủy điện hoặc mạng lưới
tế, có nhiều dạng hành vi trong không gian
năng lượng,…;
ra hậu quả nguy hại tương tự. Trong thực
mạng không xác định được yếu tố “cơ học”
ii) khả năng gây ra hậu quả thiệt hại vật chất
mà cuộc tấn công mạng đem lại, số lượng thương để tác động lên mục tiêu ví dụ như việc
vong ước tính;
lây lan mã độc, virus, cài cắm phần mềm
iii) thiệt hại riêng đối với mục tiêu là các hệ thống
phá hoại hệ thống mạng, tấn công chương
mạng máy tính dân sự, không có tầm quan trọng
phục vụ quân sự, quốc phòng nhưng lại có kết nối
với mục tiêu quân sự.
trình điều khiển hệ thống không lưu của
sân bay quốc tế,… Điều này làm dấy lên
102 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
ĐỖ THỊ HÀ
câu hỏi về phạm vi nhận thức thuật ngữ làm giả, thậm chí làm cho lực lượng điều
“vũ lực” trong giai đoạn mới.
tra mạng không thể truy xuất được chính
xác nguồn tấn công đến từ đâu, thông qua
hệ thống máy chủ ủy nhiệm proxies. Mặc
dù luật quốc tế có các công cụ pháp lý để
quy kết hành vi vi phạm pháp luật quốc
tế đã gây ra hậu quả sai trái, chứng minh
sự tồn tại của hành vi đó thông qua hậu
quả vi phạm gây ra trên thực tế, tuy nhiên,
vấn đề đặt ra trong tình huống này không
phải là quy định pháp luật về bản chất mà
là quy trình kỹ thuật để quy kết được cho
chủ thể hành vi thực hiện qua không gian
mạng, nơi mà các quy định pháp lý chưa
đầy đủ, chưa theo kịp sự phát triển của
công nghệ. Ví dụ như vấn đề chủ quyền
quốc gia trên không gian mạng thực sự tồn
tại theo quy định của luật quốc tế, được
các quốc gia thừa nhận. Tuy nhiên, phạm
vi chủ quyền đó đến đâu vẫn là câu hỏi bỏ
ngỏ, vấn đề áp dụng biện pháp cưỡng chế
của pháp luật quốc tế, vấn đề trách nhiệm
của quốc gia liên quan đến các nhóm theo
chủ nghĩa tin tặc (hacktivists) trên lãnh thổ
quốc gia mình, vv… Đây chính là các câu
hỏi chưa có lời giải thỏa đáng mà không chỉ
riêng các nước phát triển hơn về công nghệ
như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc đang
nghiên cứu mà các quốc gia đang phát
triển như Việt Nam, Ấn Độ,… cũng cần
phải khởi động các cuộc thảo luận, dự kiến
chương trình bồi dưỡng, đào tạo chuyên
viên pháp lý quốc tế, cán bộ chuyên trách
về tổ chức, thi hành, các nhà hoạch định
chính sách liên quan đến vấn đề hoạt động
trên không gian mạng. Đối với chiến lược
quốc gia, muốn tạo ra được môi trường
hòa bình ổn định trên không gian mạng,
quốc gia đó phải có sẵn các chính sách và
phương án tiếp cận, đối phó với các hình
Rõràng,vũlựcphảiđượchiểutheonghĩa
rộng và thống nhất một thuật ngữ pháp lý
được chấp thuận rộng rãi giữa các quốc gia.
Bất kỳ hành vi gây hấn mang tính thù địch,
ảnh hưởng đến quan hệ thân thiện giữa các
quốc gia và trong mọi lĩnh vực của đời sống
quốc tế, kể cả trên không gian mạng, gây ra
hậu quả nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra
hậu quả đều sẽ được hiểu là hoạt động sử
dụng vũ lực – use of force. Trong trường hợp
hành vi tấn công mạng cấu thành hành vi sử
dụng vũ lực thì quốc gia chịu thiệt hại có thể
dẫn chiếu để áp dụng mà không nhất thiết
phải xây dựng một khung pháp lý mới điều
chỉnh vấn đề sử dụng vũ lực trên không
gian mạng. Muốn thực hiện được điều này,
công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về
nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực, nhận thức
về hành vi sử dụng vũ lực trên không gian
mạng, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc
gia trong việc quản lý các cơ sở, tổ chức hoạt
động trên không gian mạng nhằm tránh gây
ra các hoạt động thù địch dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng ảnh hưởng đến quan hệ quốc
tế phải được thực hiện có hiệu quả hơn là
tình trạng buông lỏng như hiện nay. Việc sử
dụng truyền thông trong nước và quốc tế
để tuyên truyền xây dựng nhận thức chung
về vấn để bảo đảm an n inh trên không gian
mạng có thể tạo ra những tập quán quốc tế
mới giữa các quốc gia, được chấp thuận,
thực hành và nhân rộng thường xuyên giữa
các nước sẽ trở thành công cụ chống lại hành
vi vũ lực trên không gian mạng có hiệu quả.
2.2. Khó khăn trong xác định trách nhiệm
pháp lý quốc tế trên không gian mạng
Không gian mạng là nơi cho phép tạo ra
công cụ để hợp lý hóa các nguồn phát sinh thức xung đột sẽ xảy ra - điều được dự báo
hành vi của các chủ thể thực hiện, che giấu, là khó tránh khỏi trong giai đoạn mới.
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 103
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...
2.3. Khó khăn từ yếu tố lưỡng dụng này sẽ luôn biến đổi cùng với sự thay
đổi nhanh chóng của nền tảng công
nghệ trong thời đại cách mạng 4.0. Do
đó, càng làm rõ được nội hàm của việc
sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực
cũng như xác định rõ giới hạn quyền tự
vệ trên không gian mạng là cơ sở pháp
lý quan trọng để các nước có thể bảo vệ
tốt hơn chủ quyền quốc gia./.
(dual-use infrastructure) của cơ sở hạ
tầng trên không gian mạng
Ngày nay, cơ sở hạ tầng về công nghệ
thông tin và truyền thông thường được
sử dụng kết hợp giữa mục đích quân sự
- quốc phòng và dân sự. Trong quy định
của pháp luật quốc tế, các hạ tầng dân sự
phải được phân biệt rõ để không trở thành
mục tiêu tấn công trong các cuộc chiến
tranh, kể cả các cuộc chiến tranh thông tin
trên không gian mạng. Nguyên tắc chiến
tranh chính nghĩa – jus in bello phân biệt
các mục tiêu quân sự và dân sự sẽ được
áp dụng như thế nào trong các cuộc chiến
tranh mạng? Các quốc gia phải đánh giá
được một cách tỉ mỉ về các nguy cơ ảnh
hưởng của các vụ tấn công mạng lên hệ
thống máy tính phục vụ quản lý dân sinh,
không phải mục tiêu quân sự nhưng lại có
sự liên kết đến yếu tố quân sự, ví dụ hệ
thống mạng thông tin truyền thông phục
vụ dân sự nhưng lại được cung cấp bởi
công ty của Bộ quốc phòng, các sân bay,
cảng hàng không dân dụng được vận hành
bởi hệ thống mạng máy tính của quân đội,
vv… Các quốc gia cũng cần đánh giá mức
độ và tính hợp lý của nguyên tắc jus in bello
ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng dùng chung
cho cả dân sự và quân sự trong mỗi tình
huống viễn cảnh tấn công mạng xảy ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. LegalMatch, What is Cyberspace
Law?
library/article/cyberspace-law.html>
cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
truy
2. NghịquyếtsốA/70/455củaĐạihộiđồng
Liên hợp quốc ngày 30/12/2015. Truy cập tại:
<hꢀps://unoda-web.s3-accelerate.amazonaws.
com/wp-content/uploads/2016/01/A-RES-70-
237-Information-Security.pdf> truy cập ngày
12 tháng 11 năm 2020.
3. Quy chế Tòa án Công lý quốc tế 1945.
4. Hiến chương Liên hợp quốc 1945.
5. Quốc hội, Luật quốc phòng năm 2018.
6. Quốc hội, LuậtAn ninh mạng năm 2018.
7. Câu chuyện về mã độc Stuxnet – vũ
khí nguy hiểm trong thế giới mạng - <hꢀps://
securitydaily.net/cau-chuyen-xung-quanh-
stuxnet-vu-khi-nguy-hiem-trong-the-gioi-
mang/> truy nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
8. “Nửa số dân Hàn Quốc bị trộm thông
tin thẻ tín dụng” <hꢀps://infonet.vietnamnet.
vn/the-gioi/nua-so-dan-han-quoc-bi-trom-
thong-tin-the-tin-dung-122927.html>
nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
truy
Tóm lại, các khía cạnh pháp lý về sử
dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và
quyền tự vệ của quốc gia trên không
gian mạng trong luật quốc tế vẫn còn
là vấn đề mới mẻ đối với nhiều quốc
gia, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu
vấn đề này cho thấy những rào cản, khó
khăn trong việc nhận diện hành vi, xác
định trách nhiệm trong việc sử dụng vũ
lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự
vệ của quốc gia trên không gian mạng.
Cần khẳng định rằng những nội dung
9. “Thông cáo báo chí về vụ hacker tấn
công vào hệ thống Vietnam Airlines” <hꢀps://
vnisa.org.vn/thong-cao-bao-chi-ve-vu-hacker-
tan-cong-vao-he-thong-vietnam-airlines/>
truy nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
10. Hongju Koh, Harold, “International
LawinCyberspace”(2012).FacultyScholarship
Series. 4854. <htps://digitalcommons.law.
yale.edu/fss_papers/4854>
104 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Những khía cạnh pháp lý về cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự vệ của quốc gia trên không gian mạng trong luật quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_khia_canh_phap_ly_ve_cam_su_dung_vu_luc_de_doa_su_dung.pdf

