Những khía cạnh pháp lý về cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự vệ của quốc gia trên không gian mạng trong luật quốc tế

NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...  
ĐE DỌA SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ QUYỀN TỰ VỆ CỦA QUỐC GIA  
TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG LUẬT QUỐC TẾ  
ĐỖ THỊ HÀ*  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại những cơ hội chưa từng có trong  
lịch sử nhân loại, đồng thời cũng mang đến những thách thức không nhỏ trong việc giữ  
gìn hòa bình, an ninh, chủ quyền quốc gia. Để phòng, tránh, và đối phó với các nguy cơ  
mất an ninh, đặc biệt là tấn công mạng, pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế  
cần thống nhất cách tiếp cận các khía cạnh pháp lý về vũ lực và sử dụng vũ lực trên không  
gian mạng, áp dụng quyền tự vệ quốc gia nhằm bảo vệ có hiệu quả chủ quyền quốc gia trên  
không gian mạng. Bài viết nghiên cứu các khía cạnh pháp lý về việc cấm dùng vũ lực, đe  
dọa sử dụng vũ lực và quyền từ vệ của quốc gia trên không gian mạng cũng như đề cập đến  
những khó khăn thách thức khi xác định những yếu tố này.  
Từ khóa: Không gian mạng, tấn công mạng, sử dụng vũ lực, quyền tự vệ quốc gia, an  
ninh mạng, luật quốc tế.  
The 4th industrial revolution brings both unprecedented opportunities and  
significant challenges in peacekeeping, security and national sovereignty. In order  
to prevent and deal with insecurity risks, especially cyber aꢀacks, national laws and  
international law need to agree on an approach to the legal aspects of force and the  
use of force in cyberspace, to apply national self-defense to effectively protect national  
sovereignty on cyberspace. The paper studies the legal aspects of the prohibition  
of force, threats to use force and national self-defense on cyberspace as well as the  
difficulties and challenges in identifying these factors.  
Keywords: Cyberspace, cyber-aꢀacks, use of force, national self-defense, cyber  
security, international law.  
hông gian mạng vốn được cho mạng lại mở ra một thế giới ảo rất khác,  
là “không có giới hạn không gian  
và thời gian” , tuy nhiên môi  
làm dấy lên hàng loạt các vấn đề liên quan  
đến hoạt động tấn công mạng, kích động  
biểu tình, nổi dậy, tiếp tay cho hoạt động  
tuyên truyền xuyên tạc sự thật lịch sử, gây  
bất ổn hoặc căng thẳng trong quan hệ quốc  
tế. Đảm bảo an toàn, an ninh trên không  
gian mạng không còn là vấn đề mang tính  
quốc gia mà mang tính quốc tế toàn cầu  
bởi tính “không giới hạn” của không gian  
mạng. Để giải quyết thực tế đó, nhiều  
quốc gia có thể trông đợi vào việc kí kết,  
tham gia vào các điều ước quốc tế điều  
1
K
trường này không phải là nơi “không có  
luật lệ” để bất kỳ ai cũng có thể tiến hành  
các hoạt động thù địch mà không bị kiểm  
soát. Trong khi mọi quốc gia đang nỗ lực  
để kiểm soát tình hình an ninh trật tự xã  
hội trong thế giới thực thì không gian  
1ꢀ Khoản 3 Điều 2 Luật An ninh mạng năm 2018:  
“Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ  
tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông,  
mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ  
thống xꢀ lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là  
nơi con người thực hiện các hành vi xꢁ hội không bị giới * Thạc sĩ, Giảng viên Luật quốc tế, Học viện An  
hạn bởi không gian và thời gian.”  
ninh nhân dân.  
98 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
ĐỖ THỊ HÀ  
chỉnh lĩnh vực không gian mạng trên cơ lực, gây thương vong, phá hủy cơ sở vật  
sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, chất, hạ tầng, phương tiện, vv… đều được  
phù hợp với thực tiễn tập quán quốc tế  
nhằm duy trì hòa bình, bảo đảm an ninh  
cho các thế hệ tương lai.2  
xem như là sử dụng vũ lực.  
Trong việc xem xét hành vi có sử dụng  
vũ lực hay không, phải đánh giá các yếu tố  
tác động bao gồm bối cảnh sự kiện, nhân  
tố gây ra hoạt động thù địch (để nhận  
diện những vấn đề khó khăn trong việc  
quy kết cho hoạt động trên không gian  
mạng), mục tiêu, địa điểm, ý định và hệ  
quả, những vấn đề khác có khả năng xảy  
ra. Các hoạt động thường được dẫn chiếu  
làm ví dụ điển hình cho việc quy kết hành  
vi sử dụng vũ lực trên không gian mạng  
là: (1) tổ chức kích động chương trình vũ  
khí hạt nhân; (2) tổ chức kích động phá  
hủy các con đập (hồ chứa nước), mạng  
lưới điện, gây nguy hại cho khu vực dân  
cư trong phạm vi lưu vực ảnh hưởng,  
hoặc hành vi tổ chức các hoạt động vô  
hiệu hóa hoạt động kiểm soát không lưu  
dẫn đến làm rơi máy bay và các hậu quả  
nặng nề khác. Những hành vi sử dụng vũ  
lực trong thực tế như bắn phá các mục  
tiêu, thả bom, tấn công bạo lực,… trong  
thực tế gây ra hậu quả vật chất như thế  
nào thì hành vi bạo lực trên không gian  
mạng cũng có thể dẫn đến hậu quả nguy  
hại như vậy. Hành vi tấn công trên không  
gian mạng còn nhắm đến các trung tâm  
điều khiển một cách có hệ thống hơn cả  
hành vi bạo lực đơn thuần diễn ra ngoài  
xã hội, dẫn đến hậu quả khôn lường và  
khó khắc phục. Thực tiễn cho thấy, trong  
nhiều trường hợp, các hoạt động trên  
không gian mạng đã cấu thành hành vi  
đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực theo  
quy định của Điều 2(4) Hiến chương Liên  
hợp quốc năm 1945.  
1. Cấm dùng vũ lực, đe dọa sử dụng  
vũ lực và quyền tự vệ quốc gia trên  
không gian mạng  
1.1. Các hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa  
sử dụng vũ lực trên không gian mạng  
Cấm dùng vũ lực, đe dọa sử dụng  
vũ lực trong luật quốc tế hiện đại là một  
trong những nguyên tắc giữ vị trí trung  
tâm trong hệ thống nguyên tắc cơ bản của  
luật quốc tế có tính Jus Cogens. Việc nhận  
diện các hành vi dùng vũ lực và đe dọa sử  
dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế không  
phải bao giờ cũng dễ dàng xuất phát  
từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trên  
không gian mạng, việc xác định được đâu  
là hành vi dung vũ lực, đâu là hành vi  
đe dọa sử dụng vũ lực càng trở nên khó  
khăn hơn. Hành vi “tấn công vũ lực” hay  
“đe dọa dùng vũ lực” trên không gian mạng  
được xác định không chỉ bởi các hành vi  
mà bằng cách đánh giá chuỗi các hậu quả  
gây ra bởi các hành vi cụ thể trên không  
gian mạng3. Biểu hiện của chuỗi các hậu  
quả này rất đa dạng. Đó có thể là những  
tổn hại về người, tài sản, cơ sở vật chất  
trên thực tế nhưng có nguồn gốc từ hành  
vi tác động của chủ thể trên không gian  
mạng, nghĩa là hậu quả từ hành vi “ảo”  
nhưng có tác động “thật” giống như các  
hành vi sử dụng vũ lực thông thường. Ví  
dụ, hành vi diễn ra trên không gian mạng  
lại gây ra các hậu quả làm kích động bạo  
2ꢀ Lời mở đầu, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945.  
3ꢀ Hongju Koh, Harold, “International Law in  
Cyberspace” (2012). Faculty Scholarship Series. 4854.  
Năm 2010, sâu máy tính Stuxnet là  
htps://digitalcommons.law.yale.edu/fss_papers/4854 một loại mã độc lây lan qua phần cứng  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 99  
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...  
của hệ thống máy tính điều hành, tấn ngoài chiếm đoạt, một số màn hình hiển  
công vào ít nhất 14 cơ sở công nghiệp  
của Iran, trong đó có cả một nhà máy  
làm giàu uranium, gây ra hậu quả thiệt  
hại nghiêm trọng làm cho công tác khắc  
phục kéo dài hàng năm sau đó.4 Quá  
trình điều tra, truy tìm hành vi phát hiện  
mã độc Stuxnet liên hệ với hai máy chủ  
thị thông tin chuyến bay của các Sân bay  
quốc tế bị chèn những nội dung xuyên tạc  
về Việt Nam, dữ liệu của 411.000 thành  
viên là các lãnh đạo, quản lý cơ quan  
Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp lớn  
bị đánh cắp.7 Theo thống kê của Cục An  
toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền  
ở Malaysia và Đan Mạch. Năm 2011, thông), Việt Nam ghi nhận hơn 1000 cuộc  
hãng phim ảnh Sony Pictures của Nhật tấn công mạng trong khoảng 4 tháng đầu  
năm 2020 vào hệ thống thông tin8.  
Bản đối mặt với vụ tấn công mạng gây  
hậu quả thiệt hại chưa từng có trong lịch  
sử kinh doanh gây ra bởi nhóm hacker  
#GOP được cho là từ Bắc Triều Tiên5.  
Năm 2014, Hàn Quốc phát hiện khoảng  
100 triệu tài khoản ngân hàng đã bị đánh  
cắp thông tin trong vài năm trước đó, 20  
triệu tài khoản khách hàng bị “hack”, hậu  
quả gây xáo trộn tình hình kinh doanh  
của hệ thống ngân hàng, hơn hai triệu  
chủ thẻ đã chấm dứt hoạt động hoặc  
thay thế tài khoản tín dụng.6 Năm 2017,  
công ty Equifax – một trong những trung  
tâm thông tin tín dụng lớn nhất nước Mỹ  
để lộ thông tin cá nhân của 147,9 triệu  
người do lỗ hổng bảo mật. Ở Việt Nam,  
các công ty truyền thông và công nghệ  
lớn như VCCorp, Bkav, VNG đều đã  
bị tấn công mạng, gây ảnh hưởng hàng  
chục tỷ đồng. Vụ việc nghiêm trọng nhất  
tính đến nay xảy ra vào năm 2015 khi hệ  
thống thông báo sân bay bị hacker nước  
Hàng loạt các cuộc tấn công mạng lớn,  
nhỏ trên thế giới hiện nay làm dấy lên mối  
lo ngại rất lớn là các mã độc/sâu máy tính  
giờ đây có thể được sử dụng để phá hoại  
nền an ninh, trật tự quản lý nhà nước, hoạt  
động kinh doanh sản xuất chứ không chỉ  
dùng cho mục đích thăm dò hay đánh cắp  
thông tin như trước đây.  
1.2. Quyền tự vệ quốc gia (national  
self-defense) trên không gian mạng trong  
Luật quốc tế  
Quyền tự vệ của quốc gia được ghi  
nhận tại Điều 51 Hiến chương Liên hợp  
quốc. Quyền này được quốc gia áp dụng  
khi có đủ điều kiện về về việc tồn tại các  
hoạt động tấn công mạng máy tính đạt đến  
mức cấu thành hành vi tấn công hoặc đe  
dọa tấn công mạng. Ví dụ, năm 2011, Hoa  
Kỳ đã ban bố Chiến lược Quốc tế về Không  
gian mạng năm và khẳng định vấn đề tự  
vệ theo quy chế Điều 51: “Khi được cho phép,  
Hoa Kỳ sẽ phản ứng lại hành động tấn công  
thù địch trên không gian mạng giống như bất  
4ꢀ Xem Câu chuyện về mã độc Stuxnet – vũ khí nguy  
hiểm trong thế giới mạng - <hꢁps://securitydaily.  
net/cau-chuyen-xung-quanh-stuxnet-vu-khi-  
nguy-hiem-trong-the-gioi-mang/> truy nhập ngày 7ꢀ Xem “Thông cáo báo chí về vụ hacker tấn công  
13 tháng 11 năm 2020.  
vào hệ thống Vietnam Airlines” < hꢁps://vnisa.  
org.vn/thong-cao-bao-chi-ve-vu-hacker-tan-cong-  
5ꢀ Xem “Toàn cảnh vụ tấn công Sony Pictures”  
6ꢀ Xem “Nửa số dân Hàn Quốc bị trộm thông tin vao-he-thong-vietnam-airlines/> truy nhập ngày  
thẻ tín dụng” <hꢁps://infonet.vietnamnet.vn/the- 13 tháng 11 năm 2020.  
gioi/nua-so-dan-han-quoc-bi-trom-thong-tin-the- 8ꢀ Xem “hꢁp://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-  
tin-dung-122927.html> truy nhập ngày 13 tháng luat/viet-nam-ghi-nhan-hon-1000-cuoc-tan-cong-  
11 năm 2020.  
mang-trong-4-thang-dau-nam-322683.html”  
100 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
ĐỖ THỊ HÀ  
trước bất kỳ đe dọa nào khác đối với quốc gia”. như các phương thức phổ biến khác.  
Trong bất kỳ hoàn cảnh xung đột nào,  
Trong đó, hành vi tự vệ quốc gia tại  
pháp luật quốc tế cho phép nguyên tắc  
Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc có  
giới hạn hợp pháp về tính cần thiết và hợp  
liên hệ chặt chẽ đến nguyên tắc jus in bello  
– công lý trong chiến tranh, yêu cầu các  
lý trong sử dụng vũ lực để tự vệ. Thực tế,  
luật quốc tế không có quy định pháp lý  
quốc gia phải tuân thủ nghiêm ngặt trong  
nào yêu cầu hành vi phản ứng lại tấn công  
hoạt động sử dụng vũ lực để tự vệ. Jus in  
bello được giải thích là một trong hai nhóm  
quy tắc trong Luật chiến tranh, do học  
giả kiệt xuất người Hà Lan Hugo Grotius  
mạng cũng phải tương ứng là một hành vi  
trên không gian mạng, chỉ cần thực hiện  
đúng nguyên tắc cần thiết và hợp lý trong  
tự vệ (necessity and proportionality).  
(1583-1645) khởi xướng. Ông là một trong  
Nguyên tắc jus in bello về phân biệt  
mục tiêu áp dụng cả trong cuộc xung đột  
vũ trang dùng đến phương thức tấn công  
mạng máy tính. Với bất kỳ hình thức xung  
đột vũ trang nào thì nguyên tắc phân biệt  
mục tiêu đòi hỏi hành vi tấn công đó chỉ  
nhằm vào mục tiêu quân sự, và truy cứu  
trách nhiệm đối với những khu vực phục  
vụ cho quân sự hoặc khu vực nếu bị phá  
hủy sẽ có lợi cho mục đích quân sự bao  
gồm cả mục tiêu dân sự. Về nguyên tắc,  
pháp luật quốc tế bảo vệ hoàn toàn các  
khu vực dân sinh khỏi mọi hoạt động tấn  
công vũ lực. Nguyên tắc jus in bello về tính  
hợp lý của hành vi tấn công chống trả  
áp dụng trên không gian mạng máy tính  
trong mọi trường hợp tấn công chống trả  
để tự vệ. Nguyên tắc này cấm hành vi tấn  
công đe dọa gây ra thiệt hại ngẫu nhiên  
ảnh hưởng đến đời sống dân cư, thương  
vong hoặc phá hủy các mục tiêu dân sự  
mà sự thiệt hại đó có liên quan đến khả  
năng mang lại lợi ích cho hoạt động tấn  
công quân sự, ví dụ tấn công vào khu  
vực dân cư sản xuất lương thực, phương  
tiện hậu cần phục vụ quân đội,… Các bên  
tham chiến được yêu cầu phải đánh giá kỹ  
lưỡng nguy cơ ảnh hưởng hoặc gây thiệt  
hại đến các mục tiêu dân sự9.  
những người quan trọng đóng góp nền  
móng lý luận xây dựng học thuyết phát  
triển Luật quốc tế trên thế giới. Để ngăn  
cản các cuộc chiến tranh phi nghĩa trong  
thời kỳ trung đại, ông dựa trên lý thuyết  
và thực tiễn lịch sử cổ đại và trung đại để  
xây dựng nên hai nhóm quy tắc: jus ad  
bellum (quyền gây chiến tranh) và jus in  
bello (công lý trong chiến tranh). Quy tắc  
jus ad bellum đặt ra những chuẩn mực mà  
theo đó, một nhà lãnh đạo chính trị có thể  
quyết định một cuộc chiến tranh có chính  
nghĩa hay không. Quy tắc jus in bello miêu  
tả những hành động quân sự nào được  
phép từ phương diện niềm tin chính  
nghĩa và hợp pháp từ phương diện pháp  
lý quốc tế khi xảy ra các cuộc chiến tranh,  
đặc biệt là các cuộc chiến phản công tự vệ.  
Như vậy, đối chiếu với quy định Luật  
quốc tế hiện đại ngày nay, học thuyết các  
về nguyên tắc jus in bello còn nguyên giá trị  
trong vấn đề định đoạt những trường hợp  
ngoại lệ nào được sử dụng vũ lực trong  
quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh của một  
cuộc xung đột vũ trang, pháp luật quốc tế  
được áp dụng để điều chỉnh phạm vi sử  
dụng vũ lực (trong một số hệ thống luật  
khác còn gọi là luật chiến tranh – the law of  
war/armed conflict) trên không gian mạng  
khi gây ra các hoạt động thù địch, giống  
9ꢀ  
Trên không gian mạng, trước khi tiến hành tấn  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 101  
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...  
1.3. Trách nhiệm pháp lý quốc tế của khoản về trách nhiệm quốc tế của quốc gia cho  
quốc gia đối với hành vi tấn công mạng  
thực hiện thông qua máy chủ ủy nhiệm  
(proxy server)  
hành vi sai phạm quốc tế - Phụ lục của Nghị  
quyết Hội đồng Liên hợp quốc số 56/83  
ngày 12/12/2001, và trong án lệ Bosnia  
and Herzegovina v. Serbia and Montenegro  
(Merits) 2007 của Tòa công lý quốc tế số  
I.C.J. 43, 207–08 (Feb. 26, 2007) về áp dụng  
Công ước ngăn ngừa và trừng phạt tội  
phạm diệt chủng của Liên hợp quốc. Theo  
đó, các quy định pháp luật quốc tế này  
nhằm mục đích điều chỉnh hành vi che  
giấu sai phạm quốc tế thực hiện bởi các tổ  
chức tư nhân (thuộc quốc gia) gây ra hậu  
quả thiệt hại đến cộng đồng quốc tế.  
Các quốc gia phải chịu trách nhiệm  
pháp lý cho mọi hoạt động diễn ra  
thông qua các máy chủ ủy nhiệm (proxy  
actors), chịu trách nhiệm do những cá  
nhân, tổ chức hành động dưới sự điều  
khiển của quốc gia đó. Không gian mạng  
tạo ra khả năng ngụy tạo tài khoản giả,  
địa điểm ảo gây khó khăn cho việc phát  
hiện, nhận dạng, đánh giá các nguy cơ  
tấn công mạng. Tuy nhiên, trong phạm  
vi điều chỉnh của mình, pháp luật quốc  
tế cho phép cơ chế truy cứu trách nhiệm  
pháp lý quốc tế khi tồn tại các tổ chức tư  
nhân (private actors) của quốc gia gây ảnh  
hưởng đến hòa bình và an ninh thế giới.  
Quy định về trách nhiệm pháp lý quốc tế  
của quốc gia về hành vi sai phạm của các  
yếu tố tư nhân hoạt động dưới sự chỉ đạo,  
hỗ trợ, khống chế của quốc gia. Nếu hành  
vi sai trái gây ra trên không gian mạng  
được chứng minh là có liên quan đến sự  
chỉ đạo, khống chế của một quốc gia thì  
quốc gia đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp  
lý quốc tế giống với trách nhiệm cho hành  
vi gây ra bởi các cơ quan, tổ chức của Nhà  
nước được quy định trong Điều 8, Các điều  
2. Những khó khăn, thách thức trong  
việc áp dụng nguyên tắc cấm sử dụng  
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trên không  
gian mạng trong Luật quốc tế  
2.1. Khó khăn trong nhận diện hành vi dùng  
vũ lực (use of force) trên không gian mạng  
Hành vi sử dụng vũ lực trong quan  
hệ quốc tế cần được mở rộng nội hàm với  
các dấu hiệu mới. Trên không gian mạng,  
hành vi có thể là một cú nhấp chuột hoặc  
bấm nút. Hành vi ảo trên mạng hoàn toàn  
có thể gây ra hậu quả thiệt hại vật chất  
nghiêm trọng giống như hành vi cơ học  
thông thường, ví dụ như phương thức  
tấn công truyền thống bằng bom phá hủy  
được cả mạng lưới hoặc một công trình  
trọng điểm quốc gia, gây hậu quả nghiêm  
trọng thì việc thêm mã độc vào phần mềm  
công (chống trả hoặc tự vệ), các bên thường đánh  
giá các yếu tố:  
i) hậu quả ảnh hưởng của công cụ vũ khí trên  
không gian mạng đến các mục tiêu quân sự và hệ vận hành từ một máy tính từ xa cũng gây  
thống cơ sở hạ tầng dân sinh, gồm cả hạ tầng dùng  
chung ví dụ như đập thủy điện hoặc mạng lưới  
tế, có nhiều dạng hành vi trong không gian  
năng lượng,…;  
ra hậu quả nguy hại tương tự. Trong thực  
mạng không xác định được yếu tố “cơ học”  
ii) khả năng gây ra hậu quả thiệt hại vật chất  
mà cuộc tấn công mạng đem lại, số lượng thương để tác động lên mục tiêu ví dụ như việc  
vong ước tính;  
lây lan mã độc, virus, cài cắm phần mềm  
iii) thiệt hại riêng đối với mục tiêu là các hệ thống  
phá hoại hệ thống mạng, tấn công chương  
mạng máy tính dân sự, không có tầm quan trọng  
phục vụ quân sự, quốc phòng nhưng lại có kết nối  
với mục tiêu quân sự.  
trình điều khiển hệ thống không lưu của  
sân bay quốc tế,… Điều này làm dấy lên  
102 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
ĐỖ THỊ HÀ  
câu hỏi về phạm vi nhận thức thuật ngữ làm giả, thậm chí làm cho lực lượng điều  
“vũ lực” trong giai đoạn mới.  
tra mạng không thể truy xuất được chính  
xác nguồn tấn công đến từ đâu, thông qua  
hệ thống máy chủ ủy nhiệm proxies. Mặc  
dù luật quốc tế có các công cụ pháp lý để  
quy kết hành vi vi phạm pháp luật quốc  
tế đã gây ra hậu quả sai trái, chứng minh  
sự tồn tại của hành vi đó thông qua hậu  
quả vi phạm gây ra trên thực tế, tuy nhiên,  
vấn đề đặt ra trong tình huống này không  
phải là quy định pháp luật về bản chất mà  
là quy trình kỹ thuật để quy kết được cho  
chủ thể hành vi thực hiện qua không gian  
mạng, nơi mà các quy định pháp lý chưa  
đầy đủ, chưa theo kịp sự phát triển của  
công nghệ. Ví dụ như vấn đề chủ quyền  
quốc gia trên không gian mạng thực sự tồn  
tại theo quy định của luật quốc tế, được  
các quốc gia thừa nhận. Tuy nhiên, phạm  
vi chủ quyền đó đến đâu vẫn là câu hỏi bỏ  
ngỏ, vấn đề áp dụng biện pháp cưỡng chế  
của pháp luật quốc tế, vấn đề trách nhiệm  
của quốc gia liên quan đến các nhóm theo  
chủ nghĩa tin tặc (hacktivists) trên lãnh thổ  
quốc gia mình, vv… Đây chính là các câu  
hỏi chưa có lời giải thỏa đáng mà không chỉ  
riêng các nước phát triển hơn về công nghệ  
như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc đang  
nghiên cứu mà các quốc gia đang phát  
triển như Việt Nam, Ấn Độ,… cũng cần  
phải khởi động các cuộc thảo luận, dự kiến  
chương trình bồi dưỡng, đào tạo chuyên  
viên pháp lý quốc tế, cán bộ chuyên trách  
về tổ chức, thi hành, các nhà hoạch định  
chính sách liên quan đến vấn đề hoạt động  
trên không gian mạng. Đối với chiến lược  
quốc gia, muốn tạo ra được môi trường  
hòa bình ổn định trên không gian mạng,  
quốc gia đó phải có sẵn các chính sách và  
phương án tiếp cận, đối phó với các hình  
Rõràng,vũlựcphảiđượchiểutheonghĩa  
rộng và thống nhất một thuật ngữ pháp lý  
được chấp thuận rộng rãi giữa các quốc gia.  
Bất kỳ hành vi gây hấn mang tính thù địch,  
ảnh hưởng đến quan hệ thân thiện giữa các  
quốc gia và trong mọi lĩnh vực của đời sống  
quốc tế, kể cả trên không gian mạng, gây ra  
hậu quả nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra  
hậu quả đều sẽ được hiểu là hoạt động sử  
dụng vũ lực – use of force. Trong trường hợp  
hành vi tấn công mạng cấu thành hành vi sử  
dụng vũ lực thì quốc gia chịu thiệt hại có thể  
dẫn chiếu để áp dụng mà không nhất thiết  
phải xây dựng một khung pháp lý mới điều  
chỉnh vấn đề sử dụng vũ lực trên không  
gian mạng. Muốn thực hiện được điều này,  
công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về  
nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực, nhận thức  
về hành vi sử dụng vũ lực trên không gian  
mạng, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc  
gia trong việc quản lý các cơ sở, tổ chức hoạt  
động trên không gian mạng nhằm tránh gây  
ra các hoạt động thù địch dẫn đến hậu quả  
nghiêm trọng ảnh hưởng đến quan hệ quốc  
tế phải được thực hiện có hiệu quả hơn là  
tình trạng buông lỏng như hiện nay. Việc sử  
dụng truyền thông trong nước và quốc tế  
để tuyên truyền xây dựng nhận thức chung  
về vấn để bảo đảm an n inh trên không gian  
mạng có thể tạo ra những tập quán quốc tế  
mới giữa các quốc gia, được chấp thuận,  
thực hành và nhân rộng thường xuyên giữa  
các nước sẽ trở thành công cụ chống lại hành  
vi vũ lực trên không gian mạng có hiệu quả.  
2.2. Khó khăn trong xác định trách nhiệm  
pháp lý quốc tế trên không gian mạng  
Không gian mạng là nơi cho phép tạo ra  
công cụ để hợp lý hóa các nguồn phát sinh thức xung đột sẽ xảy ra - điều được dự báo  
hành vi của các chủ thể thực hiện, che giấu, là khó tránh khỏi trong giai đoạn mới.  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 103  
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC,...  
2.3. Khó khăn từ yếu tố lưỡng dụng này sẽ luôn biến đổi cùng với sự thay  
đổi nhanh chóng của nền tảng công  
nghệ trong thời đại cách mạng 4.0. Do  
đó, càng làm rõ được nội hàm của việc  
sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực  
cũng như xác định rõ giới hạn quyền tự  
vệ trên không gian mạng là cơ sở pháp  
lý quan trọng để các nước có thể bảo vệ  
tốt hơn chủ quyền quốc gia./.  
(dual-use infrastructure) của cơ sở hạ  
tầng trên không gian mạng  
Ngày nay, cơ sở hạ tầng về công nghệ  
thông tin và truyền thông thường được  
sử dụng kết hợp giữa mục đích quân sự  
- quốc phòng và dân sự. Trong quy định  
của pháp luật quốc tế, các hạ tầng dân sự  
phải được phân biệt rõ để không trở thành  
mục tiêu tấn công trong các cuộc chiến  
tranh, kể cả các cuộc chiến tranh thông tin  
trên không gian mạng. Nguyên tắc chiến  
tranh chính nghĩa – jus in bello phân biệt  
các mục tiêu quân sự và dân sự sẽ được  
áp dụng như thế nào trong các cuộc chiến  
tranh mạng? Các quốc gia phải đánh giá  
được một cách tỉ mỉ về các nguy cơ ảnh  
hưởng của các vụ tấn công mạng lên hệ  
thống máy tính phục vụ quản lý dân sinh,  
không phải mục tiêu quân sự nhưng lại có  
sự liên kết đến yếu tố quân sự, ví dụ hệ  
thống mạng thông tin truyền thông phục  
vụ dân sự nhưng lại được cung cấp bởi  
công ty của Bộ quốc phòng, các sân bay,  
cảng hàng không dân dụng được vận hành  
bởi hệ thống mạng máy tính của quân đội,  
vv… Các quốc gia cũng cần đánh giá mức  
độ và tính hợp lý của nguyên tắc jus in bello  
ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng dùng chung  
cho cả dân sự và quân sự trong mỗi tình  
huống viễn cảnh tấn công mạng xảy ra.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. LegalMatch, What is Cyberspace  
Law?  
library/article/cyberspace-law.html>  
cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.  
truy  
2. NghịquyếtsốA/70/455củaĐạihộiđồng  
Liên hợp quốc ngày 30/12/2015. Truy cập tại:  
<hꢀps://unoda-web.s3-accelerate.amazonaws.  
com/wp-content/uploads/2016/01/A-RES-70-  
237-Information-Security.pdf> truy cập ngày  
12 tháng 11 năm 2020.  
3. Quy chế Tòa án Công lý quốc tế 1945.  
4. Hiến chương Liên hợp quốc 1945.  
5. Quốc hội, Luật quốc phòng năm 2018.  
6. Quốc hội, LuậtAn ninh mạng năm 2018.  
7. Câu chuyện về mã độc Stuxnet – vũ  
khí nguy hiểm trong thế giới mạng - <hꢀps://  
securitydaily.net/cau-chuyen-xung-quanh-  
stuxnet-vu-khi-nguy-hiem-trong-the-gioi-  
mang/> truy nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.  
8. “Nửa số dân Hàn Quốc bị trộm thông  
tin thẻ tín dụng” <hꢀps://infonet.vietnamnet.  
vn/the-gioi/nua-so-dan-han-quoc-bi-trom-  
thong-tin-the-tin-dung-122927.html>  
nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.  
truy  
Tóm lại, các khía cạnh pháp lý về sử  
dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và  
quyền tự vệ của quốc gia trên không  
gian mạng trong luật quốc tế vẫn còn  
là vấn đề mới mẻ đối với nhiều quốc  
gia, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu  
vấn đề này cho thấy những rào cản, khó  
khăn trong việc nhận diện hành vi, xác  
định trách nhiệm trong việc sử dụng vũ  
lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự  
vệ của quốc gia trên không gian mạng.  
Cần khẳng định rằng những nội dung  
9. “Thông cáo báo chí về vụ hacker tấn  
công vào hệ thống Vietnam Airlines” <hꢀps://  
vnisa.org.vn/thong-cao-bao-chi-ve-vu-hacker-  
tan-cong-vao-he-thong-vietnam-airlines/>  
truy nhập ngày 13 tháng 11 năm 2020.  
10. Hongju Koh, Harold, “International  
LawinCyberspace”(2012).FacultyScholarship  
Series. 4854. <htps://digitalcommons.law.  
yale.edu/fss_papers/4854>  
104 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 7 trang Thùy Anh 14200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những khía cạnh pháp lý về cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và quyền tự vệ của quốc gia trên không gian mạng trong luật quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_khia_canh_phap_ly_ve_cam_su_dung_vu_luc_de_doa_su_dung.pdf