Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy định của pháp luật

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
ĐIỀU KIỆN VÀ HỆ QUẢ XÁC LẬP QUYỀN VỀ LỐI ĐI QUA  
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT  
Đặng Lê Phương Uyên*  
*ThS. GV. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Quyền đối với bất động  
sản liền kề, quyền về lối đi qua.  
Xác lập quyền về lối đi qua được xem là vấn đề quan trọng và phức tạp  
nhất trong các quyền đối với bất động sản liền kề. Bởi lẽ, quyền về lối  
đi qua tác động trực tiếp đến quyền lợi của chủ sở hữu bất động sản liền  
kề do mất diện tích đất, ảnh hưởng thường xuyên, liên tục đến cuộc sống  
cũng như điều kiện kinh doanh, sản xuất của họ trong suốt quá trình tồn  
tại lối đi (nhất là trong trường hợp lối đi xuyên qua diện tích ở hoặc lối đi  
chung). Để đảm bảo quyền về lối đi qua được xác lập trên thực tế không  
chỉ cần có căn cứ xác lập mà còn phải xác định được các điều kiện xác  
lập cũng như những hệ quả pháp lý phát sinh khi xác lập quyền.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 23/12/2020  
: 09/01/2021  
: 12/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Establishment of right to passageway is considered to be the most  
important and complicated matters of the rights to adjoining real estate.  
Because, the right to the passageway directly affects the interests  
of the owners of adjoining real estate due to the loss of land area,  
constantly and continuously affects the life as well as the business and  
production conditions of them during the existence of a passageway  
(especially in the case of a passageway through a shared area or shared  
passageway). In order to ensure that the right of a passageway is  
established in practice, it is not only necessary to have solid grounds  
but also to identify the conditions of establishment as well as the legal  
consequences arising from the establishment of this right.  
Keywords: Rights to adjoining real  
estate, right to passageway.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 23 Dec. 2020  
: 09 Jan. 2021  
: 12 Jan. 2021  
Approved  
1. Điều kiện xác lập quyền về lối đi qua  
dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần  
đất của họ”. Lúc này, “lối đi” được hiểu  
là khoảng đất dẫn vào BĐS bị vây bọc mà  
diện tích đất này được thiết lập trên phần  
diện tích BĐS liền kề1.  
Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự  
(BLDS) năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu  
có bất động sản (BĐS) bị vây bọc bởi các  
BĐS của các chủ sở hữu khác mà không có  
hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng,  
có quyền yêu cầu chủ sở hữu BĐS vây bọc  
Theo pháp luật hiện hành, để xác lập  
quyền về lối đi qua, BĐS phải ở trong vị  
1 Mai Thị Mị, “Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố  
Hồ Chí Minh, năm 2014, tr. 11.  
Số 07(431) - T4/2021  
43  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trí bị vây bọc bởi các BĐS của các chủ sở  
hữu khác mà không có hoặc không đủ lối  
đi ra đường công cộng. Từ điển tiếng Việt  
giải thích “vây bọc” có nghĩa là “vây kín  
bốn phía, không để hở chỗ nào”2. Cách diễn  
giải này chỉ phù hợp trong bối cảnh của các  
BLDS trước đây; cụ thể, theo khoản 1 Điều  
280 BLDS năm 1995 và khoản 1 Điều 275  
BLDS năm 2005 thì điều kiện để xác lập  
quyền về lối đi qua BĐS liền kề là “chủ sở  
hữu BĐS bị vây bọc bởi các BĐS của các  
chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra”.  
Trên thực tế, việc không có lối đi thường ít  
khi xảy ra, hiếm thấy một BĐS bị vây bọc  
hoàn toàn đến mức không có đường để con  
người ra vào3. Do đó, sự thay đổi của BLDS  
năm 2015 là hợp lý. Lúc này, điều kiện đặt  
ra là BĐS “không có” lối đi hoặc có nhưng  
“không đủ” đến mức không sử dụng được  
lối đi đó để ra đường công cộng. Đáng chú  
ý là đây không phải điểm mới riêng của  
BLDS năm 2015 mà đã xuất hiện từ các Bộ  
Dân luật trước năm 1975. Điều 620 Bộ Dân  
luật Bắc Kỳ năm 1931, Điều 653 Bộ Dân  
luật Trung Kỳ năm 1944 và Điều 472 Bộ  
Dân luật Sài Gòn năm 1972 đều theo hướng  
xác lập quyền về lối đi qua cho “chủ đất  
bị bao bọc xung quanh không có lối đi ra  
đường công hoặc có lối đi mà không đủ…”.  
Tóm lại, nếu BĐS không tiếp giáp trực tiếp  
với đường công cộng, đồng thời không có  
lối đi hoặc có lối đi nhưng không đủ, không  
đáp ứng được tiêu chuẩn sử dụng bình  
thường, thì chủ sở hữu BĐS có thể yêu cầu  
mở lối đi qua BĐS liền kề phù hợp nguyên  
tắc, điều kiện luật định.  
Sự mở rộng của BLDS năm 2015 là một  
quy định thực sự có ý nghĩa, có thể thấy  
trong hai trường hợp sau: (1) BĐS bị vây  
bọc trước nay vẫn có lối ra vào dù nhỏ. Tuy  
nhiên, do sự kiện mới xuất hiện như sạt lở  
hoặc sụp đổ công trình làm bít một phần lối  
đi đó khiến cho con người, xe cộ không thể  
ra vào; (2) BĐS bị vây bọc trước là nhà ở  
nhưng nay được cho thuê làm nhà kho bến  
bãi, xe tải cần có lối ra vào mà lối đi vốn có  
thì không đủ độ rộng. Đây là những trường  
hợp lối đi cũ vẫn tồn tại nhưng không đủ để  
đáp ứng mục đích mà nó được lập ra nên  
chủ sở hữu BĐS bị vây bọc có thể yêu cầu  
một lối đi qua BĐS khác để thuận tiện cho  
việc ra vào BĐS của mình4.  
Ngược lại, nếu BĐS có lối đi thông  
thương ra đường công đủ để đáp ứng nhu  
cầu sử dụng BĐS của chủ sở hữu thì Tòa  
án sẽ bác yêu cầu mở lối đi qua BĐS liền  
kề. Ví dụ, Bản án số 59/2018/DS-ST ngày  
03/12/2018 của Tòa án nhân dân (TAND)  
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp5. Theo đó,  
Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà  
M1 buộc ông M2 san lấp ngang 0.7m, dài  
hết kênh thủy lợi cho bà M1 sử dụng làm  
lối đi. Bởi lẽ, bà M1 có thể đi qua bờ đê  
phía sau phần đất ông M2 để qua lại giữa  
hai phần đất của mình, bờ đê này bà M1 đi  
lại không ai tranh cản, cũng thuận tiện và  
đi được, đồng thời các hộ canh tác xung  
quanh đều đi bờ đê này và vận chuyển  
nông sản được.  
Nếu chính chủ sở hữu BĐS chặn lối đi  
sẵn có của BĐS của mình để yêu cầu mở lối  
2 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, năm 2004, tr. 1108.  
3 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2017, tr. 412.  
4 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, tlđd, tr. 412.  
5 http://congbobanan.toaan.gov.vn/5ta265255t1cvn/MAI_MINH.pdf, truy cập ngày 06/4/2021.  
44  
Số 07(431) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đi qua BĐS liền kề, hoặc chủ sở hữu tự tạo  
ra một mảnh đất khép kín bằng cách phân  
chia khu đất của mình rồi yêu cầu mở lối đi  
trên BĐS liền kề khác thì không thỏa mãn  
đặc điểm “tự nhiên” của tình trạng bị vây  
bọc nên không thể xác lập quyền đối với  
BĐS liền kề do địa thế tự nhiên. Trường hợp  
này có thể gọi là “vây bọc giả tạo”, nghĩa là  
“việc vây bọc trong đó chủ sở hữu BĐS tự  
mình xây dựng các công trình chắn ngang  
nơi mà BĐS có thể trực tiếp thông thương  
với đường công cộng, thiết bị công cộng”6.  
Đây rõ ràng không phải là sự vây bọc theo  
nghĩa pháp lý để có thể sử dụng nó như  
là căn cứ xác lập quyền đối với BĐS liền  
kề, bởi vì nếu đã có ranh giới tiếp giáp với  
các công trình công cộng thì tính vây bọc  
không còn nữa, chủ sở hữu BĐS có thể khai  
thác, sử dụng BĐS của mình mà không cần  
đến sự phiền lụy vào BĐS liền kề7. Pháp  
luật Cộng hòa liên bang Đức thể hiện khá  
rõ quan điểm này tại Điều 918 BLDS Đức;  
theo đó, “nghĩa vụ cho phép quyền về lối đi  
do sự cần thiết sẽ không còn nếu thửa đất có  
lối đi ra đường công cộng nhưng bị chặn lại  
bởi chính hành vi của chủ sở hữu”8.  
ra là lối đi mở qua BĐS liền kề chỉ được  
sử dụng cho việc đi lại của chủ sở hữu và  
những người liên quan đến chủ sở hữu như  
người thân, người ở nhờ, khách vãng lai,…  
hay còn phục vụ những mục đích khác như  
công việc kinh doanh,…; lối đi bộ hay lối đi  
cho xe cơ giới;…  
Luật La Mã quy định quyền về lối đi  
không chỉ cho người; theo đó, quyền iter  
là quyền về lối đi cho người và ngựa, actus  
là quyền đưa súc vật về nhà ngang qua nhà  
hàng xóm, via là tổng hợp của hai quyền  
trên9. Pháp luật một số quốc gia quy định  
vấn đề này khá rõ. Cụ thể, theo khoản 1 Điều  
274 BLDS Liên bang Nga thì “địa dịch có  
thể được thiết lập để đảm bảo lối đi qua lô  
đất lân cận cả đi bộ và xe cơ giới…”10; Điều  
682 BLDS Cộng hòa Pháp quy định: “chủ  
sở hữu có tài sản bị bao vây và không có lối  
ra đường cao tốc công cộng, hoặc chỉ một  
lối đi không đủ cho mục đích sử dụng nông  
nghiệp, công nghiệp hoặc thương mại hoặc  
để thực hiện các hoạt động xây dựng hoặc  
phát triển, được quyền yêu cầu một lối đi  
đủ để phục vụ BĐS của mình qua BĐS của  
người hàng xóm…”11.  
Mặc dù BLDS năm 2015 có những nội  
dung tiến bộ về điều kiện mở lối đi qua  
nhưng vẫn còn một số bất cập sau đây:  
Có thể thấy, pháp luật các nước quy  
định theo hướng mở rộng mục đích của  
việc sử dụng lối đi qua BĐS liền kề, thay  
vì đơn thuần phục vụ việc đi lại từ BĐS ra  
đường công cộng, bao gồm cả hình thức  
Thứ nhất, tiêu chí nào để xác định lối đi  
“đủ” hay “không đủ”. Những câu hỏi đặt  
6 Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,  
năm 1999, tr. 360.  
7 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 143-144.  
8 German Civil Code, https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/, truy cập ngày 29/3/2020.  
9 Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luật La Mã, Tp. Hồ Chí Minh, năm 1999,  
tr.139.  
10 The Civil Code of the Russian Federation (Amendments of 23 December 2003), http://www.russian-civil-  
code.com/, truy cập ngày 21/3/2020.  
11 French Civil Code (1 July 2013), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/fr/fr512en.pdf, truy cập ngày  
21/3/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
45  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đi bộ và đi xe cơ giới, lối đi này cần đủ  
rộng để đáp ứng những mục đích khác  
như chuyên chở hàng hóa, nông sản,…  
Trên thực tế, BLDS năm 2015 không hề  
giới hạn lối đi qua BĐS của người khác  
chỉ dành cho con người, nghĩa là gia súc  
của người đó, phương tiện vận chuyển, xe  
cộ của người đó cũng có thể sử dụng lối đi  
ấy12. Mặt khác, với sự phát triển kinh tế -  
xã hội như hiện nay thì quy định quyền về  
lối đi cho chủ sở hữu BĐS bị vây bọc cần  
đảm bảo các nhu cầu về sản xuất, kinh  
doanh, phù hợp với ý nghĩa của việc xác  
lập địa dịch đó là để đảm bảo cho việc sử  
dụng BĐS được bình thường. Như vậy,  
“quy định lối đi không đủ để khai thác  
BĐS mà chủ sở hữu BĐS được yêu cầu  
lối đi cho đủ là một dạng quy định động,  
có thể thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh  
và mục đích sử dụng của BĐS, điều này  
còn phụ thuộc cả vào sự phát triển của  
khoa học kỹ thuật và sự phát triển của nền  
kinh tế”13.  
Thứ hai, hiểu khái niệm “đường công  
cộng” như thế nào, chỉ giới hạn là đường bộ  
hay mở rộng ra đường thủy và những loại  
hình giao thông khác.  
Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và  
Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1944, “đường  
công” được giải thích bao gồm “các sông  
ngòi thuyền bè đi được”. Quan điểm này  
được kế thừa trong Bộ Dân luật Sài Gòn  
năm 1972 tại Điều 472: “Sở hữu chủ một  
địa sản bị vây bọc không có hoặc không  
đủ lối ra công lộ hay thủy đạo cần cho sự  
khai thác địa sản của mình được quyền đòi  
các địa chủ lân cận để cho mình qua lại  
trên phần đất của họ, với điều kiện phải bồi  
thường những thiệt hại gây ra”.  
Thừa nhận đường thủy cũng là đường  
giao thông công cộng khá phù hợp với đặc  
thù Việt Nam - một quốc gia nhiều sông  
ngòi, đường bờ biển dài, hơn 1/3 số tỉnh  
thành giáp biển và việc người dân di chuyển  
bằng thuyền bè rất phổ biến. Tuy nhiên, cần  
cân nhắc xem một mặt sông, biển... có được  
coi là đường giao thông cho chủ sở hữu  
BĐS bị vây bọc sử dụng thuận tiện không  
bởi không phải lúc nào giao thông đường  
thủy cũng có thể sử dụng được14.  
Thật ra, ý tưởng này đã từng tồn tại  
trong pháp luật Việt Nam. Theo Điều 620  
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Điều 653  
Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1944, “người  
chủ đất nào bị bao bọc chung quanh không  
có lối đi ra đường công (kể cả các sông  
ngòi thuyền bè đi được) hay có lối đi mà  
không đủ cho sự kinh lý các việc nông công  
trong nhà đất mình thì có thể yêu cầu đặt  
lối đi trên đất của người láng giềng được,  
nhưng thiệt hại cho người ta bao nhiêu thì  
phải bồi thường bấy nhiêu”.  
Về vấn đề này, khoản 2 Điều 210 BLDS  
Nhật Bản quy định quyền đi qua đất xung  
quanh để ra đường công cộng được áp dụng  
trong cả trường hợp “chủ sở hữu không thể  
tiếp cận các con đường công cộng trừ khi họ  
đi qua ao, hồ, sông, đường thủy hoặc biển,  
hoặc có sự chênh lệch đáng kể về chiều cao  
12 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), tlđd, tr. 413.  
13 Phạm Công Lạc (2006), tlđd, tr. 168.  
14 Nguyễn Tấn Hoàng Hải, “Quyền về lối đi qua theo Bộ luật Dân sự và ảnh hưởng của nó đến các chế định,  
ngành luật khác có liên quan”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quy định về tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015 và  
ảnh hưởng của nó đến các quy định khác trong pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí  
Minh, năm 2017, tr. 36-37.  
46  
Số 07(431) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Hệ quả xác lập quyền về lối đi qua  
giữa vùng đất và đường công cộng do dốc  
đứng”15. Điều khoản trên được các nhà bình  
luận giải thích như sau: “Nếu đất thuộc sở  
hữu là cô lập, lọt giữa các địa phận của chủ  
sở hữu khác hoặc là bị cô lập một nửa, còn  
một nửa không phụ thuộc của người nào cả,  
mà không thể đi qua đó được, thì chủ sở  
hữu có quyền đi qua địa phận xung quanh  
để đến đường công cộng”16. Từ đó cho thấy,  
để kết luận đường thủy có phải đường công  
cộng hay không cần xem xét khả năng sử  
dụng con đường đó, nếu người dân trong  
khu vực vẫn sử dụng đường thủy này để lưu  
thông thì BĐS bị vây bọc trên bộ nhưng giáp  
sông, hồ, biển… không bị xem là “không có  
lối đi” ra đường công cộng. Ngược lại, nếu  
BĐS tiếp giáp với đường thủy nhưng không  
có phương tiện giao thông đường thủy được  
sử dụng phổ biến, dẫn đến khó khăn trong di  
chuyển công cộng và sinh hoạt cộng đồng  
thì vẫn được hưởng quyền về lối đi qua.  
Khi áp dụng căn cứ luật định để xác lập  
quyền về lối đi qua sẽ làm phát sinh những  
hệ quả sau: một là xác định lối đi trên thực  
tế và hai là đền bù cho chủ sở hữu BĐS  
chịu hưởng quyền.  
Để mở lối đi trên thực tế, điều kiện tiên  
quyết là xác định vị trí cũng như kích thước  
lối đi và việc xác định này phụ thuộc vào  
thỏa thuận giữa các bên, nếu không thỏa  
thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án can  
thiệp. “Đó không phải là thỏa thuận để tạo ra  
quyền đối với BĐS liền kề mà là thỏa thuận  
về các thể thức thực hiện một quyền đối với  
BĐS liền kề đã sẵn có được pháp luật thừa  
nhận”17. Tuy những thỏa thuận này chỉ là  
hệ quả việc mở lối đi, nhưng “một quyền  
của chủ thể không thể tồn tại nếu không xác  
định đối tượng của quyền đó và khi chưa có  
thỏa thuận hoặc chưa có quyết định của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền thì không có  
đối tượng của quyền và do đó cũng không  
thực sự có quyền đó”18. Các quy trình “yêu  
cầu có lối đi” và “xác định lối đi” thường  
được tiến hành đồng thời mà không phải  
tách biệt làm hai giai đoạn19.  
Theo tác giả, điều kiện xác lập quyền về  
lối đi qua là “không có lối đi” hoặc “lối đi  
không đủ” cần giải thích như sau:  
“Không có lối đi” được hiểu là BĐS bị  
bao vây hoàn toàn bởi các BĐS thuộc sở  
hữu của những người khác, hoặc có một  
phần không do ai sở hữu nhưng không thể  
đi qua hoặc việc đi qua đó quá khó khăn đến  
mức bất hợp lý.  
Trong quá trình xây dựng BLDS năm  
2015, một trong những tranh luận được  
quan tâm nhiều nhất liên quan đến quyền  
đối với BĐS liền kề xác lập căn cứ vào địa  
thế tự nhiên là cách thức xác định lối đi qua  
BĐS liền kề. Có ý kiến đề nghị “quy định  
cụ thể về vị trí, giới hạn chiều dài, chiều  
“Lối đi không đủ” được hiểu là không  
thể khai thác BĐS một cách bình thường,  
theo mục đích và công dụng của BĐS đó.  
15  
detail/?id=2057&vm=2&re=02, truy cập ngày 19/3/2020.  
16 Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb. Chính  
trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tr. 242.  
17 Nguyễn Ngọc Điện, tlđd, tr. 365.  
18 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 159.  
19 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 155.  
Số 07(431) - T4/2021  
47  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
rộng, chiều cao của lối đi; quy định cụ thể  
về chiều rộng, bồi thường thiệt hại và việc  
mở lối đi qua nhiều BĐS”20. Trong lịch sử,  
từng có văn bản ghi nhận kích thước giới  
hạn đối với lối đi qua BĐS của người khác.  
Cụ thể, Luật 12 bảng - văn bản cổ xưa nhất  
của pháp luật La Mã có đề cập địa dịch, quy  
định “chiều rộng của đường đi, chỗ thẳng  
được quy định là 8 chân, chỗ vòng là 16  
chân”, với 1 chân (pes) = 29,6 cm21. Như  
vậy, vào thời kỳ này, chiều rộng lối đi trên  
đường thẳng là khoảng hơn 2m, khá tương  
đồng với phán quyết của các Tòa án trong  
thực tiễn xét xử hiện nay.  
BĐS để mở lối đi phù hợp, cân bằng giữa  
việc đáp ứng nhu cầu cho bên có quyền với  
việc hạn chế thiệt hại cho chủ sở hữu BĐS  
chịu hưởng quyền.  
Tính thuận tiện thông thường trùng với  
tính hợp lý nhưng có thể xảy ra trường hợp  
không đồng nhất trong các quan niệm này.  
Nếu xem lối đi “thuận tiện” là lối đi ngắn  
nhất ra đến đường công cộng thì “hợp lý”  
có thể còn phụ thuộc vào thiệt hại gây ra do  
việc mở lối đi là ít nhất đối với chủ sở hữu  
BĐS liền kề, đồng thời không gây ra sự bất  
tiện trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh  
của họ. Xét theo logic thông thường thì với  
cùng một chiều rộng, chiều cao, lối đi ngắn  
nhất có diện tích nhỏ nhất và chiếm không  
gian ít nhất, do đó thiệt hại cho chủ sở hữu  
BĐS chịu hưởng quyền sẽ là ít nhất. Nhưng  
nếu để mở lối đi đó mà phải phá đổ công  
trình xây dựng hay cây cối thì thiệt hại có  
thể nhiều hơn so với việc mở lối đi dài và  
nhiều khi không thể thực hiện trên thực tế24.  
Tuy nhiên, với sự phát triển phức tạp  
của kinh tế - xã hội, cũng như nhu cầu đa  
dạng trong việc mở lối đi qua, việc cố định  
kích thước lối đi trong luật trở nên không  
khả thi. Do đó, giải pháp của BLDS năm  
2015 vẫn là trao quyền thỏa thuận cho các  
bên. BLDS năm 2015 vẫn giữ nguyên quan  
điểm từ BLDS năm 2005 là không quy  
định cụ thể tiêu chuẩn chiều rộng, chiều  
cao của lối đi, cũng như không áp đặt vị  
trí cố định để mở lối đi. Tùy thuộc vào đặc  
điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của BĐS  
bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho  
BĐS có mở lối đi mà lối đi được mở trên  
BĐS liền kề nào mà được coi là thuận tiện  
và hợp lý nhất22. Về nguyên tắc, việc xác  
lập lối đi trước tiên do các bên thỏa thuận,  
còn các tiêu chí sau đó là cơ sở và định  
hướng cho việc thỏa thuận23. Ưu điểm của  
cách quy định này là khá linh hoạt, các bên  
có thể dựa vào tình hình thực tế của các  
Do chưa có tiêu chuẩn cố định để xác  
định lối đi như thế nào là “thuận tiện” và  
“hợp lý” nên thực tế thường xảy ra tranh  
chấp và Tòa án cũng không có căn cứ nào để  
giúp các bên chọn vị trí mở lối đi phù hợp.  
Trong thực tiễn xét xử, đã có bản án theo  
hướng đề cao sự thuận tiện cho chủ sở hữu  
BĐS hưởng quyền, mặc dù thiệt hại gây ra  
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền có  
thể lớn hơn. Ví dụ, tại Bản án số 346/2018/  
DS-PT ngày 30/10/2018 của TAND tỉnh  
Tiền Giang, Tòa án chấp nhận mở lối đi  
20 Văn phòng Quốc hội, Báo cáo Tổng hợp ý kiến tham gia dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Hà Nội, năm  
2015, tr. 17.  
21 The Twelve Tables, https://avalon.law.yale.edu/ancient/twelve_tables.asp, truy cập ngày 29/3/2020.  
22 Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015.  
23 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 155.  
24 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 152, 154.  
48  
Số 07(431) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
có diện tích 47,13m2 thay vì lối đi có diện  
tích 32,3m2 trên BĐS của bị đơn25. Theo lập  
luận của Tòa phúc thẩm, việc Tòa sơ thẩm  
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà  
L (nguyên đơn), nhưng ghi nhận việc ông  
G (bị đơn) tự nguyện giao cho bà L phần  
đất có diện tích 32,3m2 vừa không hợp lý  
mà còn gây khó khăn cho việc đi lại của  
gia đình bà L. Bởi nếu bà L sử dụng lối đi  
có diện tích 32,3m2 thì phải khởi kiện hoặc  
thỏa thuận với ông Huỳnh Văn Th để xin  
mở 01 lối đi có diện tích khoảng 30m2, rồi  
lại tiếp tục thỏa thuận hoặc khởi kiện ông  
Huỳnh Văn X xin mở một lối đi nữa mới ra  
tới đường công cộng. Trong khi nếu buộc  
ông G mở cho bà L lối đi ngang 1m dài 46m  
như bà L yêu cầu thì bà L chỉ cần thỏa thuận  
với ông X mở cho bà một lối đi qua đất ông  
X là có thể ra đường công cộng mà không  
cần phải xin mở lối đi thêm qua hai chủ đất  
nữa mới ra đường công cộng.  
thì Tòa án đã áp dụng hình thức đặt ống  
dẫn nước, vì lý do: “sẽ không làm thiệt hại  
năng suất lúa bên phần đất của bà Đ vì nếu  
đào mương bên đất bà Đ để dẫn nước vào  
phần đất lúa của anh D, chị T thì dẫn đến  
nước trên thửa ruộng 868 của bà Đ sẽ bị rút  
hết xuống mương gây mất nước và năng  
suất lúa không đạt làm thiệt hại đến quyền  
lợi chính đáng của bà Đ”. Rõ ràng là việc  
đào mương trên mặt đất sẽ tiết kiệm chi phí  
và dễ dàng sử dụng cũng như bảo trì hơn,  
tức là thuận tiện hơn cho chủ sở hữu BĐS  
hưởng quyền. Thế nhưng, Tòa án vẫn lựa  
chọn hình thức đặt ống dẫn nước dưới lòng  
đất để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại  
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền. Có  
thể áp dụng tương tự quan điểm này khi  
giải quyết tranh chấp quyền về mở lối đi  
qua, bởi lẽ, “sự phiền lụy phải có giới hạn”.  
Có quan điểm cho rằng, “để tính toán,  
xem xét như thế nào là “thuận tiện và hợp  
lý nhất” và “thiệt hại gây ra là ít nhất” cần  
phải xét đến cả BĐS hưởng quyền và BĐS  
chịu hưởng quyền, nhưng rõ ràng, chủ thể  
chịu hưởng quyền là chủ thể chịu những  
hạn chế nhất định, nên trong mối quan hệ  
của hai bên, cần phải ưu tiên hơn quyền lợi  
của chủ thể này”27. Tác giả đồng tình với  
quan điểm này, khi giải quyết tranh chấp  
về xác định vị trí và kích thước của lối đi,  
cần phải cân nhắc những phiền lụy mà chủ  
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền phải gánh  
chịu. Lý do là quyền đối với BĐS liền kề,  
trong đó có quyền về lối đi qua, thực chất  
bảo đảm lợi ích công cộng vì khai thác có  
hiệu quả BĐS không chỉ đáp ứng nhu cầu  
Ngược lại, cũng có Tòa án đề cao quyền  
lợi của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền  
so với quyền lợi của chủ sở hữu BĐS hưởng  
quyền. Các quyền đối với BĐS liền kề cụ  
thể khác hoặc chỉ đề cập tính “hợp lý”,  
“thích hợp”, hoặc không nói rõ tính “hợp  
lý” hay tính “thuận tiện” là quan trọng hơn.  
Trong thực tiễn xét xử tranh chấp về quyền  
tưới nước, tiêu nước trong canh tác, dường  
như Tòa án nghiêng về bảo vệ quyền lợi  
của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.  
Tại Bản án số 271/2017/DS-PT ngày  
06/11/2017 của TAND tỉnh Tiền Giang26,  
khi phải lựa chọn giữa đặt ống dẫn nước  
dưới lòng đất hay đào mương trên mặt đất  
25 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta171561t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.  
26 https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-2712017dspt-ngay-06112017-ve-tranh-chap-mo-loi-dan-  
nuoc-cho-viec-tuoi-tieu-trong-canh-ta-5857, truy cập ngày 06/4/2021.  
27 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế,  
Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019, tr. 295-296.  
Số 07(431) - T4/2021  
49  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
của chủ sở hữu BĐS mà còn tạo ra của cải  
vật chất cho xã hội. Mục đích trên sẽ không  
thể đạt được nếu để làm lợi cho BĐS này  
mà gây ra bất lợi quá lớn cho BĐS khác; bởi  
lẽ, cùng với khoản lợi có được từ việc khai  
thác BĐS hưởng quyền, xã hội có nguy cơ  
mất đi lợi ích từ BĐS chịu hưởng quyền.  
Như vậy, nguyên tắc là phải xác lập quyền  
đối với BĐS liền kề trên cơ sở dung hòa  
lợi ích các bên, do đó cần “xét đến cả BĐS  
hưởng quyền và BĐS chịu hưởng quyền”.  
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đạt  
được sự cân bằng này nên một bên sẽ chịu  
thiệt thòi hơn bên còn lại. Thật ra, “bản thân  
việc thiết lập trên một BĐS một hệ thống  
phục vụ cho một BĐS khác đã là việc làm  
có tác dụng gây thiệt hại cho chủ sở hữu  
BĐS đó”28; vì vậy, sẽ không hợp lý khi tiếp  
tục buộc chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền  
gánh chịu phần thiệt thòi để nhường lợi ích  
cho chủ sở hữu BĐS hưởng quyền. Do đó,  
trong trường hợp buộc phải lựa chọn ưu tiên  
tính “thuận tiện” hay tính “hợp lý” khi mở  
lối đi qua thì nên đề cao tính “hợp lý” hơn.  
Tòa án quyền áp đặt địa dịch lên một BĐS  
xác định nhưng theo khoản 3 Điều 180 Đạo  
luật tài sản của bang này thì Tòa án chỉ được  
tuyên bố xác lập quyền địa dịch khi đáp ứng  
được ba điều kiện và một trong ba điều kiện  
đó là “chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền  
được bồi thường thỏa đáng bằng tiền cho bất  
kỳ mất mát hoặc bất lợi nào mà chủ sở hữu  
có thể phải chịu khi bị áp đặt địa dịch”29.  
Khi sử dụng thuật ngữ “đền bù”, thay vì  
“bồi thường”, pháp luật đã phân biệt bản  
chất các khoản tiền này. Theo pháp luật Nhật  
Bản, người có quyền đi qua phải đền bù cho  
vùng đất mà người đó đi qua và khoản tiền  
đền bù có thể được trả theo hàng năm, trừ  
những thiệt hại gây ra do việc xây dựng lối  
đi30. Điều luật này được hiểu là những thiệt  
hại xảy ra khi xây dựng lối đi (ví dụ như  
chặt bỏ cây cối, làm hư hại công trình xây  
dựng khác,…) cần được bồi thường theo  
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng, chỉ có khoản tiền bù  
đắp cho thiệt hại lên đất mở lối đi mới được  
áp dụng cách thức thanh toán hàng năm.  
Luật quy định nghĩa vụ đền bù dựa trên  
những tổn thất mà chủ sở hữu BĐS chịu  
hưởng quyền phải gánh chịu, thường là lớn  
hơn rất nhiều so với những quyền đối với  
BĐS liền kề khác. Tổn thất này có thể đến  
từ những bất tiện đối với cuộc sống do phải  
mở lối cho nhiều người qua lại, hoặc đến từ  
sự sụt giảm giá trị BĐS. Thực tế cho thấy,  
việc xác định giá trị cần đền bù gặp trở ngại  
vì rất khó để cân bằng lợi ích giữa chủ sở  
hữu BĐS hưởng quyền với chủ sở hữu BĐS  
chịu hưởng quyền vì lý do sau:  
Bên cạnh việc định hình lối đi sẽ mở, một  
vấn đề khác mà các bên cũng cần đạt được  
sự thống nhất là giá trị đền bù cho chủ sở  
hữu BĐS chịu hưởng quyền. Đây là điểm  
đặc biệt đáng chú ý vì quyền về lối đi qua là  
quyền duy nhất trong các quyền đối với BĐS  
liền kề được liệt kê trong BLDS năm 2015  
có yêu cầu chủ sở hữu BĐS hưởng quyền  
phải “đền bù”, trừ trường hợp có thỏa thuận  
khác. Yêu cầu này cũng được tìm thấy trong  
pháp luật các quốc gia theo hệ thống thông  
luật. Cụ thể, bang Queensland, Úc trao cho  
28 Nguyễn Ngọc Điện, tlđd, tr. 384.  
29 Property Law Act 1974 of Queensland (current as at 27 September 2016), https://www.legislation.qld.gov.  
au/view/pdf/inforce/2016-09-27/act-1974-076, truy cập ngày 25/3/2020.  
30  
detail/?id=2057&vm=2&re=02, truy cập ngày 22/3/2020.  
50  
Số 07(431) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ nhất, việc mở lối đi không làm chủ  
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền mất đất.  
Trên lý thuyết, quyền sử dụng đất đối với  
phần đất dùng làm lối đi vẫn thuộc về chủ  
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền và người  
này hoàn toàn có thể cùng sử dụng31. Nhưng  
chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền gần như  
không thể khai thác phần diện tích đất đã  
dùng làm lối đi. Bên cạnh đó, giá trị thửa  
đất không còn trọn vẹn, nếu chủ đất bán đất  
thì khả năng có người mua toàn bộ thửa đất,  
bao gồm cả phần đất đã cho người khác làm  
lối đi, là rất thấp.  
do hệ thống dịch vụ định giá đất cung cấp,  
Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền giải  
quyết khiếu nại, khởi kiện tranh chấp về các  
quyền đối với BĐS liền kề có thể áp dụng  
trong trường hợp các bên tranh chấp không  
thể thống nhất về phương án đền bù33.  
Trong khi đó, thực tiễn xét xử dường như  
có xu hướng áp dụng giá đất do Nhà nước  
quy định để tính giá trị đền bù phần đất mở  
lối đi. Tại Bản án số 78/2017/DS-ST ngày  
24/8/2017 của TAND huyện Giồng Trôm,  
tỉnh Bến Tre34, Tòa án chấp nhận yêu cầu  
mở lối đi qua BĐS của người khác. Diện tích  
lối đi là 125,9m2 và mức đền bù được Hội  
đồng định giá tài sản xác định là 5.539.600  
đồng, nghĩa là 44.000 đồng/m2. Đối chiếu  
với bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh  
Bến Tre giai đoạn 2015 - 2019 (Ban hành  
kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND  
ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh  
Bến Tre) thì mức giá trên đúng bằng giá đất  
ở huyện Giồng Trôm do Nhà nước quy định.  
Thứ hai, bên có quyền cũng chỉ được phép  
đi qua không gây hại mà không hưởng thêm  
bất kỳ lợi ích nào từ phần diện tích đất dùng  
để mở lối đi. Giá trị phần đất dùng làm lối đi  
không được khai thác triệt để, dẫn đến nhiều  
quan điểm trái chiều về việc đền bù theo giá  
mua bán đất hay giá thuê đất, căn cứ vào bảng  
giá của Nhà nước hay bảng giá thị trường để  
tính mức đề bù, giá trị đền bù bằng bao nhiêu  
phần giá trị thiệt hại thực tế gây ra cho BĐS  
chịu hưởng quyền… đều chưa có câu trả lời  
thuyết phục. Hơn nữa, trong một số trường  
hợp đặc biệt, giá trị BĐS chịu hưởng quyền  
lại tăng thêm nếu qua BĐS đó mở một con  
đường giao thông, kênh tưới tiêu nước32.  
Vụ việc tại Bản án số 30/2018/DS-  
PT ngày 11/7/2018 của TAND tỉnh Ninh  
Thuận cũng được giải quyết tương tự35, Tòa  
án áp dụng đơn giá 60.000 đồng/m2 để tính  
số tiền đền bù mà bên có quyền về lối đi  
qua phải trả cho chủ sở hữu BĐS mở lối  
đi. Mức giá này phù hợp với giá đất trong  
Bảng giá các loại đất kỳ 2015 - 2019 trên  
địa bàn tỉnh Ninh Thuận (Ban hành kèm  
theo Quyết định số 106/2014/QĐ-UBND  
ngày 29/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh  
Ninh Thuận) và Quyết định số 21/2018/  
QĐ-UBND ngày 21/02/2018 Về việc quy  
Có ý kiến cho rằng, quy định cụ thể  
khung giá áp dụng trong việc đền bù đối với  
trường hợp thực hiện quyền đối với BĐS  
liền kề là khung giá thị trường địa phương  
do một cơ quan có chức năng thẩm định trên  
cơ sở giá thị trường tại thời điểm tranh chấp  
là phù hợp. Trên cơ sở thông tin về giá đất  
31 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, tlđd, tr. 415.  
32 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 57.  
33 Nguyễn Tấn Hoàng Hải, tlđd, tr. 41.  
34 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta25593t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.  
35 http://congbobanan.toaan.gov.vn/5ta178854t1cvn/AN_SA_HOA.pdf, truy cập ngày 06/4/2021.  
Số 07(431) - T4/2021  
51  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2018 trên  
địa bàn tỉnh Ninh Thuận.  
không trao quyền sở hữu, chủ sở hữu BĐS  
chịu hưởng quyền có khả năng lấy lại toàn  
quyền sử dụng tài sản khi quyền đối với  
BĐS liền kề chấm dứt. Mặt khác, việc đền  
bù mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất cho chủ sở  
hữu BĐS chịu hưởng quyền khi không thể  
khai thác, sử dụng triệt để BĐS của mình  
nên khoản tiền này không thể hiểu là trao  
đổi ngang giá như trường hợp chủ sở hữu  
BĐS chịu hưởng quyền bán phần quyền sở  
hữu đối với phần diện tích dành cho lối đi  
qua37. Nếu như giá trị đền bù cho việc mở  
lối đi lớn hơn hoặc bằng với giá trị của thiệt  
hại gây ra cho BĐS chịu hưởng quyền thì  
tính chất “phiền lụy” không còn, dẫn đến  
không còn tồn tại quan hệ về quyền đối với  
BĐS liền kề mà quan hệ giữa hai chủ sở  
hữu BĐS trở thành quan hệ mua bán38.  
TAND tỉnh Long An có cách giải quyết  
khá đặc biệt là lấy trung bình cộng giá  
các bên đưa ra làm căn cứ tính giá trị đền  
bù, thể hiện tại Bản án số 33/2018/DS-  
PT ngày 16/01/201836. Trong vụ việc này,  
ông B được sử dụng đất làm lối đi và cấp  
thoát nước qua đất của ông Đ. Về giá trị  
đền bù, ông B thống nhất kết quả định giá  
của Hội đồng định giá huyện G tại biên  
bản định giá ngày 21/7/2017; ông Đ muốn  
áp dụng giá theo chứng thư định giá tài  
sản số 66/31/08/2017 của Công ty cổ phần  
thương mại dịch vụ và tư vấn H mà ông  
Đ cung cấp. Tuy nhiên, giá ông Đ đưa ra  
là giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) chứ  
không phải giá để đền bù và bồi thường  
thiệt hại nên không có căn cứ chấp nhận.  
Tòa phúc thẩm đồng ý cách giải quyết  
của Tòa án cấp sơ thẩm là lấy trung bình  
cộng mức giá của hai bên cung cấp để làm  
cơ sở giải quyết vụ án. Số tiền đền bù và  
bồi thường thiệt hại cụ thể là 29.503.500  
đồng ((15.100.000 đồng + 43.907.000  
đồng)/2).  
Có ý kiến cho rằng, nhiều chủ sở hữu  
BĐS không hiểu đúng tính chất của địa  
dịch khi định giá. Do địa dịch không trao  
quyền sở hữu đối cho chủ sở hữu BĐS  
hưởng quyền nên giá thị trường hoặc giá có  
thể chấp nhận của phần đất được đề xuất sử  
dụng để mở lối đi là không phù hợp. Khoản  
tiền đền bù thích hợp phải thấp hơn giá trị  
của phần đất chịu địa dịch39.  
Thông qua Bản án trên, Tòa án đã thể  
hiện rõ quan điểm là: không có căn cứ  
chấp nhận giá trị QSDĐ là giá đền bù trong  
quyền về lối đi qua. Điều này là hợp lý; bởi  
lẽ, về bản chất, quyền đối với BĐS liền kề  
chỉ cung cấp quyền khai thác hạn chế chứ  
Án lệ nước ngoài cũng theo hướng  
khoản tiền đền bù phải thấp hơn giá trị của  
phần đất chịu địa dịch. Tòa án Việt Nam có  
thể tham khảo phương pháp phổ biến mà  
các Tòa nước ngoài sử dụng để định giá địa  
36 https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta65134t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.  
37 Nguyễn Thanh Thư, “Mối liên hệ của quyền về lối đi qua bất động sản liền kề và các chế định khác theo  
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quy định về tài sản trong Bộ luật Dân  
sự năm 2015 và ảnh hưởng của nó đến các quy định khác trong pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật  
TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr. 45.  
38 Lê Đăng Khoa, “Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền địa dịch trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí  
Dân chủ và Pháp luật, số 6, năm 2017, tr. 27-28.  
blog/easements, truy cập ngày 22/3/2020.  
52  
Số 07(431) - T4/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
dịch, gọi là phương pháp “giảm bớt” hay  
phương pháp “trước và sau”. Phương pháp  
này bắt nguồn từ vụ việc Rogerson v The  
Minister: Tòa án sẽ định giá toàn bộ thửa  
đất trước và sau khi có địa dịch, giá trị giảm  
bớt chính là sự chênh lệch giữa các lần định  
giá và đây cũng là khoản đền bù mà chủ sở  
hữu BĐS hưởng quyền phải trả cho chủ sở  
hữu BĐS chịu hưởng quyền40.  
Sau khi xác định khoản tiền đền bù thì vấn  
đề tiếp theo cần giải quyết là phương thức  
thanh toán, cụ thể là trả một lần hay trả hàng  
năm. Trong trường hợp các bên không thỏa  
thuận được, thực tiễn xét xử ở Việt Nam theo  
hướng buộc chủ sở hữu BĐS hưởng quyền  
thanh toán một lần số tiền đền bù do mở lối  
đi cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.  
Cách làm này tỏ ra hợp lý vì bảo vệ tốt hơn  
quyền lợi của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng  
quyền - chủ thể gánh chịu thiệt hại do BĐS  
của mình phải phục vụ một BĐS khác.  
Tòa án Việt Nam có thể xem xét áp  
dụng phương pháp này khi tính toán giá  
trị đền bù để mở lối đi, thay vì áp dụng  
giá đất do Nhà nước quy định. Bởi lẽ, giá  
Nhà nước thường thấp hơn giá thị trường  
rất nhiều, có thể gây thiệt hại không nhỏ  
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.  
Trong trường hợp không đồng tình với  
phán quyết của Tòa án, chủ sở hữu BĐS  
chịu hưởng quyền có thể tiếp tục kháng  
cáo, làm cho tranh chấp kéo dài, không  
có lợi cho kinh tế - xã hội. Hơn nữa, các  
bên trong tranh chấp là láng giềng với  
nhau nên có thể dễ dàng dẫn đến những  
bất lợi sau này nếu không có những giải  
pháp thích hợp được sự đồng thuận của  
họ. Việc tính giá trị chênh lệch của BĐS  
trước và sau khi mở lối đi tỏ ra hợp lý  
hơn cả vì phần chênh lệch này không thấp  
như giá Nhà nước nhưng cũng không cao  
như giá thị trường. Có thể hình dung là  
một thửa đất diện tích 100m2 phải chừa  
lối đi cho chủ thể khác vẫn có giá trị hơn  
thửa đất 90m2. Vì vậy, giá trị chênh lệch  
không thể bằng giá chuyển nhượng quyền  
sử dụng 10m2 đất.  
Hạn chế của biện pháp này là, nếu quyền  
đối với BĐS liền kề chấm dứt thì quyền lợi  
của chủ sở hữu BĐS hưởng quyền được  
bảo vệ như thế nào khi mà người này đã trả  
toàn bộ tiền đền bù. Theo tác giả, cần xem  
xét khoảng thời gian quyền này tồn tại, nếu  
chủ sở hữu BĐS hưởng quyền đã sử dụng  
quyền đối với BĐS liền kề trong thời gian  
đủ dài thì không có lý do yêu cầu hoàn lại  
tiền đã trả khi quyền chấm dứt. Để đánh giá  
độ dài ngắn của thời gian tồn tại quyền đối  
với BĐS liền kề, tác giả kiến nghị dùng giá  
thuê đất hàng năm do Nhà nước quy định  
nhân với số năm mà chủ sở hữu BĐS hưởng  
quyền khai thác BĐS chịu hưởng quyền,  
nếu kết quả vượt quá số tiền đền bù ban đầu  
thì không được hoàn lại tiền nữa. Ngược lại,  
trong trường hợp quyền đối với BĐS liền  
kề chỉ mới tồn tại vài năm, dẫn đến khoản  
tiền tính được nhỏ hơn số tiền đã trả thì chủ  
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền cần hoàn  
lại khoản chênh lệch cho chủ sở hữu BĐS  
hưởng quyền  
40 Trong vụ việc này, bên cạnh gánh nặng địa dịch thì bất động sản chịu hưởng quyền còn có một ống cống  
chính chạy qua. Theo đánh giá của các kỹ sư, giá trị bất động sản nếu không có ống cống và địa dịch là  
11.000USD, nếu có hai gánh nặng trên là 8.000USD. Tòa án cho rằng, một cách công bằng và hợp lý, thì 2/3  
thiệt hại là do ống cống chính, 1/3 còn lại là do địa dịch. Vì vậy, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phải  
đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền 1.000USD.  
truy cập ngày 23/4/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
53  
pdf 11 trang Thùy Anh 12540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy định của pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_kien_va_he_qua_xac_lap_quyen_ve_loi_di_qua_theo_quy_din.pdf