Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy định của pháp luật
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
ĐIỀU KIỆN VÀ HỆ QUẢ XÁC LẬP QUYỀN VỀ LỐI ĐI QUA
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
Đặng Lê Phương Uyên*
*ThS. GV. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Quyền đối với bất động
sản liền kề, quyền về lối đi qua.
Xác lập quyền về lối đi qua được xem là vấn đề quan trọng và phức tạp
nhất trong các quyền đối với bất động sản liền kề. Bởi lẽ, quyền về lối
đi qua tác động trực tiếp đến quyền lợi của chủ sở hữu bất động sản liền
kề do mất diện tích đất, ảnh hưởng thường xuyên, liên tục đến cuộc sống
cũng như điều kiện kinh doanh, sản xuất của họ trong suốt quá trình tồn
tại lối đi (nhất là trong trường hợp lối đi xuyên qua diện tích ở hoặc lối đi
chung). Để đảm bảo quyền về lối đi qua được xác lập trên thực tế không
chỉ cần có căn cứ xác lập mà còn phải xác định được các điều kiện xác
lập cũng như những hệ quả pháp lý phát sinh khi xác lập quyền.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 23/12/2020
: 09/01/2021
: 12/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
Establishment of right to passageway is considered to be the most
important and complicated matters of the rights to adjoining real estate.
Because, the right to the passageway directly affects the interests
of the owners of adjoining real estate due to the loss of land area,
constantly and continuously affects the life as well as the business and
production conditions of them during the existence of a passageway
(especially in the case of a passageway through a shared area or shared
passageway). In order to ensure that the right of a passageway is
established in practice, it is not only necessary to have solid grounds
but also to identify the conditions of establishment as well as the legal
consequences arising from the establishment of this right.
Keywords: Rights to adjoining real
estate, right to passageway.
Article History:
Received
Edited
: 23 Dec. 2020
: 09 Jan. 2021
: 12 Jan. 2021
Approved
1. Điều kiện xác lập quyền về lối đi qua
dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần
đất của họ”. Lúc này, “lối đi” được hiểu
là khoảng đất dẫn vào BĐS bị vây bọc mà
diện tích đất này được thiết lập trên phần
diện tích BĐS liền kề1.
Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự
(BLDS) năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu
có bất động sản (BĐS) bị vây bọc bởi các
BĐS của các chủ sở hữu khác mà không có
hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng,
có quyền yêu cầu chủ sở hữu BĐS vây bọc
Theo pháp luật hiện hành, để xác lập
quyền về lối đi qua, BĐS phải ở trong vị
1 Mai Thị Mị, “Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 2014, tr. 11.
Số 07(431) - T4/2021
43
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
trí bị vây bọc bởi các BĐS của các chủ sở
hữu khác mà không có hoặc không đủ lối
đi ra đường công cộng. Từ điển tiếng Việt
giải thích “vây bọc” có nghĩa là “vây kín
bốn phía, không để hở chỗ nào”2. Cách diễn
giải này chỉ phù hợp trong bối cảnh của các
BLDS trước đây; cụ thể, theo khoản 1 Điều
280 BLDS năm 1995 và khoản 1 Điều 275
BLDS năm 2005 thì điều kiện để xác lập
quyền về lối đi qua BĐS liền kề là “chủ sở
hữu BĐS bị vây bọc bởi các BĐS của các
chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra”.
Trên thực tế, việc không có lối đi thường ít
khi xảy ra, hiếm thấy một BĐS bị vây bọc
hoàn toàn đến mức không có đường để con
người ra vào3. Do đó, sự thay đổi của BLDS
năm 2015 là hợp lý. Lúc này, điều kiện đặt
ra là BĐS “không có” lối đi hoặc có nhưng
“không đủ” đến mức không sử dụng được
lối đi đó để ra đường công cộng. Đáng chú
ý là đây không phải điểm mới riêng của
BLDS năm 2015 mà đã xuất hiện từ các Bộ
Dân luật trước năm 1975. Điều 620 Bộ Dân
luật Bắc Kỳ năm 1931, Điều 653 Bộ Dân
luật Trung Kỳ năm 1944 và Điều 472 Bộ
Dân luật Sài Gòn năm 1972 đều theo hướng
xác lập quyền về lối đi qua cho “chủ đất
bị bao bọc xung quanh không có lối đi ra
đường công hoặc có lối đi mà không đủ…”.
Tóm lại, nếu BĐS không tiếp giáp trực tiếp
với đường công cộng, đồng thời không có
lối đi hoặc có lối đi nhưng không đủ, không
đáp ứng được tiêu chuẩn sử dụng bình
thường, thì chủ sở hữu BĐS có thể yêu cầu
mở lối đi qua BĐS liền kề phù hợp nguyên
tắc, điều kiện luật định.
Sự mở rộng của BLDS năm 2015 là một
quy định thực sự có ý nghĩa, có thể thấy
trong hai trường hợp sau: (1) BĐS bị vây
bọc trước nay vẫn có lối ra vào dù nhỏ. Tuy
nhiên, do sự kiện mới xuất hiện như sạt lở
hoặc sụp đổ công trình làm bít một phần lối
đi đó khiến cho con người, xe cộ không thể
ra vào; (2) BĐS bị vây bọc trước là nhà ở
nhưng nay được cho thuê làm nhà kho bến
bãi, xe tải cần có lối ra vào mà lối đi vốn có
thì không đủ độ rộng. Đây là những trường
hợp lối đi cũ vẫn tồn tại nhưng không đủ để
đáp ứng mục đích mà nó được lập ra nên
chủ sở hữu BĐS bị vây bọc có thể yêu cầu
một lối đi qua BĐS khác để thuận tiện cho
việc ra vào BĐS của mình4.
Ngược lại, nếu BĐS có lối đi thông
thương ra đường công đủ để đáp ứng nhu
cầu sử dụng BĐS của chủ sở hữu thì Tòa
án sẽ bác yêu cầu mở lối đi qua BĐS liền
kề. Ví dụ, Bản án số 59/2018/DS-ST ngày
03/12/2018 của Tòa án nhân dân (TAND)
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp5. Theo đó,
Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà
M1 buộc ông M2 san lấp ngang 0.7m, dài
hết kênh thủy lợi cho bà M1 sử dụng làm
lối đi. Bởi lẽ, bà M1 có thể đi qua bờ đê
phía sau phần đất ông M2 để qua lại giữa
hai phần đất của mình, bờ đê này bà M1 đi
lại không ai tranh cản, cũng thuận tiện và
đi được, đồng thời các hộ canh tác xung
quanh đều đi bờ đê này và vận chuyển
nông sản được.
Nếu chính chủ sở hữu BĐS chặn lối đi
sẵn có của BĐS của mình để yêu cầu mở lối
2 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, năm 2004, tr. 1108.
3 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2017, tr. 412.
4 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, tlđd, tr. 412.
5 http://congbobanan.toaan.gov.vn/5ta265255t1cvn/MAI_MINH.pdf, truy cập ngày 06/4/2021.
44
Số 07(431) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
đi qua BĐS liền kề, hoặc chủ sở hữu tự tạo
ra một mảnh đất khép kín bằng cách phân
chia khu đất của mình rồi yêu cầu mở lối đi
trên BĐS liền kề khác thì không thỏa mãn
đặc điểm “tự nhiên” của tình trạng bị vây
bọc nên không thể xác lập quyền đối với
BĐS liền kề do địa thế tự nhiên. Trường hợp
này có thể gọi là “vây bọc giả tạo”, nghĩa là
“việc vây bọc trong đó chủ sở hữu BĐS tự
mình xây dựng các công trình chắn ngang
nơi mà BĐS có thể trực tiếp thông thương
với đường công cộng, thiết bị công cộng”6.
Đây rõ ràng không phải là sự vây bọc theo
nghĩa pháp lý để có thể sử dụng nó như
là căn cứ xác lập quyền đối với BĐS liền
kề, bởi vì nếu đã có ranh giới tiếp giáp với
các công trình công cộng thì tính vây bọc
không còn nữa, chủ sở hữu BĐS có thể khai
thác, sử dụng BĐS của mình mà không cần
đến sự phiền lụy vào BĐS liền kề7. Pháp
luật Cộng hòa liên bang Đức thể hiện khá
rõ quan điểm này tại Điều 918 BLDS Đức;
theo đó, “nghĩa vụ cho phép quyền về lối đi
do sự cần thiết sẽ không còn nếu thửa đất có
lối đi ra đường công cộng nhưng bị chặn lại
bởi chính hành vi của chủ sở hữu”8.
ra là lối đi mở qua BĐS liền kề chỉ được
sử dụng cho việc đi lại của chủ sở hữu và
những người liên quan đến chủ sở hữu như
người thân, người ở nhờ, khách vãng lai,…
hay còn phục vụ những mục đích khác như
công việc kinh doanh,…; lối đi bộ hay lối đi
cho xe cơ giới;…
Luật La Mã quy định quyền về lối đi
không chỉ cho người; theo đó, quyền iter
là quyền về lối đi cho người và ngựa, actus
là quyền đưa súc vật về nhà ngang qua nhà
hàng xóm, via là tổng hợp của hai quyền
trên9. Pháp luật một số quốc gia quy định
vấn đề này khá rõ. Cụ thể, theo khoản 1 Điều
274 BLDS Liên bang Nga thì “địa dịch có
thể được thiết lập để đảm bảo lối đi qua lô
đất lân cận cả đi bộ và xe cơ giới…”10; Điều
682 BLDS Cộng hòa Pháp quy định: “chủ
sở hữu có tài sản bị bao vây và không có lối
ra đường cao tốc công cộng, hoặc chỉ một
lối đi không đủ cho mục đích sử dụng nông
nghiệp, công nghiệp hoặc thương mại hoặc
để thực hiện các hoạt động xây dựng hoặc
phát triển, được quyền yêu cầu một lối đi
đủ để phục vụ BĐS của mình qua BĐS của
người hàng xóm…”11.
Mặc dù BLDS năm 2015 có những nội
dung tiến bộ về điều kiện mở lối đi qua
nhưng vẫn còn một số bất cập sau đây:
Có thể thấy, pháp luật các nước quy
định theo hướng mở rộng mục đích của
việc sử dụng lối đi qua BĐS liền kề, thay
vì đơn thuần phục vụ việc đi lại từ BĐS ra
đường công cộng, bao gồm cả hình thức
Thứ nhất, tiêu chí nào để xác định lối đi
“đủ” hay “không đủ”. Những câu hỏi đặt
6 Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1999, tr. 360.
7 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 143-144.
8 German Civil Code, https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/, truy cập ngày 29/3/2020.
9 Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luật La Mã, Tp. Hồ Chí Minh, năm 1999,
tr.139.
10 The Civil Code of the Russian Federation (Amendments of 23 December 2003), http://www.russian-civil-
code.com/, truy cập ngày 21/3/2020.
11 French Civil Code (1 July 2013), https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/fr/fr512en.pdf, truy cập ngày
21/3/2020.
Số 07(431) - T4/2021
45
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
đi bộ và đi xe cơ giới, lối đi này cần đủ
rộng để đáp ứng những mục đích khác
như chuyên chở hàng hóa, nông sản,…
Trên thực tế, BLDS năm 2015 không hề
giới hạn lối đi qua BĐS của người khác
chỉ dành cho con người, nghĩa là gia súc
của người đó, phương tiện vận chuyển, xe
cộ của người đó cũng có thể sử dụng lối đi
ấy12. Mặt khác, với sự phát triển kinh tế -
xã hội như hiện nay thì quy định quyền về
lối đi cho chủ sở hữu BĐS bị vây bọc cần
đảm bảo các nhu cầu về sản xuất, kinh
doanh, phù hợp với ý nghĩa của việc xác
lập địa dịch đó là để đảm bảo cho việc sử
dụng BĐS được bình thường. Như vậy,
“quy định lối đi không đủ để khai thác
BĐS mà chủ sở hữu BĐS được yêu cầu
lối đi cho đủ là một dạng quy định động,
có thể thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh
và mục đích sử dụng của BĐS, điều này
còn phụ thuộc cả vào sự phát triển của
khoa học kỹ thuật và sự phát triển của nền
kinh tế”13.
Thứ hai, hiểu khái niệm “đường công
cộng” như thế nào, chỉ giới hạn là đường bộ
hay mở rộng ra đường thủy và những loại
hình giao thông khác.
Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và
Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1944, “đường
công” được giải thích bao gồm “các sông
ngòi thuyền bè đi được”. Quan điểm này
được kế thừa trong Bộ Dân luật Sài Gòn
năm 1972 tại Điều 472: “Sở hữu chủ một
địa sản bị vây bọc không có hoặc không
đủ lối ra công lộ hay thủy đạo cần cho sự
khai thác địa sản của mình được quyền đòi
các địa chủ lân cận để cho mình qua lại
trên phần đất của họ, với điều kiện phải bồi
thường những thiệt hại gây ra”.
Thừa nhận đường thủy cũng là đường
giao thông công cộng khá phù hợp với đặc
thù Việt Nam - một quốc gia nhiều sông
ngòi, đường bờ biển dài, hơn 1/3 số tỉnh
thành giáp biển và việc người dân di chuyển
bằng thuyền bè rất phổ biến. Tuy nhiên, cần
cân nhắc xem một mặt sông, biển... có được
coi là đường giao thông cho chủ sở hữu
BĐS bị vây bọc sử dụng thuận tiện không
bởi không phải lúc nào giao thông đường
thủy cũng có thể sử dụng được14.
Thật ra, ý tưởng này đã từng tồn tại
trong pháp luật Việt Nam. Theo Điều 620
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Điều 653
Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1944, “người
chủ đất nào bị bao bọc chung quanh không
có lối đi ra đường công (kể cả các sông
ngòi thuyền bè đi được) hay có lối đi mà
không đủ cho sự kinh lý các việc nông công
trong nhà đất mình thì có thể yêu cầu đặt
lối đi trên đất của người láng giềng được,
nhưng thiệt hại cho người ta bao nhiêu thì
phải bồi thường bấy nhiêu”.
Về vấn đề này, khoản 2 Điều 210 BLDS
Nhật Bản quy định quyền đi qua đất xung
quanh để ra đường công cộng được áp dụng
trong cả trường hợp “chủ sở hữu không thể
tiếp cận các con đường công cộng trừ khi họ
đi qua ao, hồ, sông, đường thủy hoặc biển,
hoặc có sự chênh lệch đáng kể về chiều cao
12 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), tlđd, tr. 413.
13 Phạm Công Lạc (2006), tlđd, tr. 168.
14 Nguyễn Tấn Hoàng Hải, “Quyền về lối đi qua theo Bộ luật Dân sự và ảnh hưởng của nó đến các chế định,
ngành luật khác có liên quan”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quy định về tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015 và
ảnh hưởng của nó đến các quy định khác trong pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2017, tr. 36-37.
46
Số 07(431) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
2. Hệ quả xác lập quyền về lối đi qua
giữa vùng đất và đường công cộng do dốc
đứng”15. Điều khoản trên được các nhà bình
luận giải thích như sau: “Nếu đất thuộc sở
hữu là cô lập, lọt giữa các địa phận của chủ
sở hữu khác hoặc là bị cô lập một nửa, còn
một nửa không phụ thuộc của người nào cả,
mà không thể đi qua đó được, thì chủ sở
hữu có quyền đi qua địa phận xung quanh
để đến đường công cộng”16. Từ đó cho thấy,
để kết luận đường thủy có phải đường công
cộng hay không cần xem xét khả năng sử
dụng con đường đó, nếu người dân trong
khu vực vẫn sử dụng đường thủy này để lưu
thông thì BĐS bị vây bọc trên bộ nhưng giáp
sông, hồ, biển… không bị xem là “không có
lối đi” ra đường công cộng. Ngược lại, nếu
BĐS tiếp giáp với đường thủy nhưng không
có phương tiện giao thông đường thủy được
sử dụng phổ biến, dẫn đến khó khăn trong di
chuyển công cộng và sinh hoạt cộng đồng
thì vẫn được hưởng quyền về lối đi qua.
Khi áp dụng căn cứ luật định để xác lập
quyền về lối đi qua sẽ làm phát sinh những
hệ quả sau: một là xác định lối đi trên thực
tế và hai là đền bù cho chủ sở hữu BĐS
chịu hưởng quyền.
Để mở lối đi trên thực tế, điều kiện tiên
quyết là xác định vị trí cũng như kích thước
lối đi và việc xác định này phụ thuộc vào
thỏa thuận giữa các bên, nếu không thỏa
thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án can
thiệp. “Đó không phải là thỏa thuận để tạo ra
quyền đối với BĐS liền kề mà là thỏa thuận
về các thể thức thực hiện một quyền đối với
BĐS liền kề đã sẵn có được pháp luật thừa
nhận”17. Tuy những thỏa thuận này chỉ là
hệ quả việc mở lối đi, nhưng “một quyền
của chủ thể không thể tồn tại nếu không xác
định đối tượng của quyền đó và khi chưa có
thỏa thuận hoặc chưa có quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thì không có
đối tượng của quyền và do đó cũng không
thực sự có quyền đó”18. Các quy trình “yêu
cầu có lối đi” và “xác định lối đi” thường
được tiến hành đồng thời mà không phải
tách biệt làm hai giai đoạn19.
Theo tác giả, điều kiện xác lập quyền về
lối đi qua là “không có lối đi” hoặc “lối đi
không đủ” cần giải thích như sau:
“Không có lối đi” được hiểu là BĐS bị
bao vây hoàn toàn bởi các BĐS thuộc sở
hữu của những người khác, hoặc có một
phần không do ai sở hữu nhưng không thể
đi qua hoặc việc đi qua đó quá khó khăn đến
mức bất hợp lý.
Trong quá trình xây dựng BLDS năm
2015, một trong những tranh luận được
quan tâm nhiều nhất liên quan đến quyền
đối với BĐS liền kề xác lập căn cứ vào địa
thế tự nhiên là cách thức xác định lối đi qua
BĐS liền kề. Có ý kiến đề nghị “quy định
cụ thể về vị trí, giới hạn chiều dài, chiều
“Lối đi không đủ” được hiểu là không
thể khai thác BĐS một cách bình thường,
theo mục đích và công dụng của BĐS đó.
15
detail/?id=2057&vm=2&re=02, truy cập ngày 19/3/2020.
16 Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tr. 242.
17 Nguyễn Ngọc Điện, tlđd, tr. 365.
18 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 159.
19 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 155.
Số 07(431) - T4/2021
47
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
rộng, chiều cao của lối đi; quy định cụ thể
về chiều rộng, bồi thường thiệt hại và việc
mở lối đi qua nhiều BĐS”20. Trong lịch sử,
từng có văn bản ghi nhận kích thước giới
hạn đối với lối đi qua BĐS của người khác.
Cụ thể, Luật 12 bảng - văn bản cổ xưa nhất
của pháp luật La Mã có đề cập địa dịch, quy
định “chiều rộng của đường đi, chỗ thẳng
được quy định là 8 chân, chỗ vòng là 16
chân”, với 1 chân (pes) = 29,6 cm21. Như
vậy, vào thời kỳ này, chiều rộng lối đi trên
đường thẳng là khoảng hơn 2m, khá tương
đồng với phán quyết của các Tòa án trong
thực tiễn xét xử hiện nay.
BĐS để mở lối đi phù hợp, cân bằng giữa
việc đáp ứng nhu cầu cho bên có quyền với
việc hạn chế thiệt hại cho chủ sở hữu BĐS
chịu hưởng quyền.
Tính thuận tiện thông thường trùng với
tính hợp lý nhưng có thể xảy ra trường hợp
không đồng nhất trong các quan niệm này.
Nếu xem lối đi “thuận tiện” là lối đi ngắn
nhất ra đến đường công cộng thì “hợp lý”
có thể còn phụ thuộc vào thiệt hại gây ra do
việc mở lối đi là ít nhất đối với chủ sở hữu
BĐS liền kề, đồng thời không gây ra sự bất
tiện trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh
của họ. Xét theo logic thông thường thì với
cùng một chiều rộng, chiều cao, lối đi ngắn
nhất có diện tích nhỏ nhất và chiếm không
gian ít nhất, do đó thiệt hại cho chủ sở hữu
BĐS chịu hưởng quyền sẽ là ít nhất. Nhưng
nếu để mở lối đi đó mà phải phá đổ công
trình xây dựng hay cây cối thì thiệt hại có
thể nhiều hơn so với việc mở lối đi dài và
nhiều khi không thể thực hiện trên thực tế24.
Tuy nhiên, với sự phát triển phức tạp
của kinh tế - xã hội, cũng như nhu cầu đa
dạng trong việc mở lối đi qua, việc cố định
kích thước lối đi trong luật trở nên không
khả thi. Do đó, giải pháp của BLDS năm
2015 vẫn là trao quyền thỏa thuận cho các
bên. BLDS năm 2015 vẫn giữ nguyên quan
điểm từ BLDS năm 2005 là không quy
định cụ thể tiêu chuẩn chiều rộng, chiều
cao của lối đi, cũng như không áp đặt vị
trí cố định để mở lối đi. Tùy thuộc vào đặc
điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của BĐS
bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho
BĐS có mở lối đi mà lối đi được mở trên
BĐS liền kề nào mà được coi là thuận tiện
và hợp lý nhất22. Về nguyên tắc, việc xác
lập lối đi trước tiên do các bên thỏa thuận,
còn các tiêu chí sau đó là cơ sở và định
hướng cho việc thỏa thuận23. Ưu điểm của
cách quy định này là khá linh hoạt, các bên
có thể dựa vào tình hình thực tế của các
Do chưa có tiêu chuẩn cố định để xác
định lối đi như thế nào là “thuận tiện” và
“hợp lý” nên thực tế thường xảy ra tranh
chấp và Tòa án cũng không có căn cứ nào để
giúp các bên chọn vị trí mở lối đi phù hợp.
Trong thực tiễn xét xử, đã có bản án theo
hướng đề cao sự thuận tiện cho chủ sở hữu
BĐS hưởng quyền, mặc dù thiệt hại gây ra
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền có
thể lớn hơn. Ví dụ, tại Bản án số 346/2018/
DS-PT ngày 30/10/2018 của TAND tỉnh
Tiền Giang, Tòa án chấp nhận mở lối đi
20 Văn phòng Quốc hội, Báo cáo Tổng hợp ý kiến tham gia dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Hà Nội, năm
2015, tr. 17.
21 The Twelve Tables, https://avalon.law.yale.edu/ancient/twelve_tables.asp, truy cập ngày 29/3/2020.
22 Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015.
23 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 155.
24 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 152, 154.
48
Số 07(431) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
có diện tích 47,13m2 thay vì lối đi có diện
tích 32,3m2 trên BĐS của bị đơn25. Theo lập
luận của Tòa phúc thẩm, việc Tòa sơ thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
L (nguyên đơn), nhưng ghi nhận việc ông
G (bị đơn) tự nguyện giao cho bà L phần
đất có diện tích 32,3m2 vừa không hợp lý
mà còn gây khó khăn cho việc đi lại của
gia đình bà L. Bởi nếu bà L sử dụng lối đi
có diện tích 32,3m2 thì phải khởi kiện hoặc
thỏa thuận với ông Huỳnh Văn Th để xin
mở 01 lối đi có diện tích khoảng 30m2, rồi
lại tiếp tục thỏa thuận hoặc khởi kiện ông
Huỳnh Văn X xin mở một lối đi nữa mới ra
tới đường công cộng. Trong khi nếu buộc
ông G mở cho bà L lối đi ngang 1m dài 46m
như bà L yêu cầu thì bà L chỉ cần thỏa thuận
với ông X mở cho bà một lối đi qua đất ông
X là có thể ra đường công cộng mà không
cần phải xin mở lối đi thêm qua hai chủ đất
nữa mới ra đường công cộng.
thì Tòa án đã áp dụng hình thức đặt ống
dẫn nước, vì lý do: “sẽ không làm thiệt hại
năng suất lúa bên phần đất của bà Đ vì nếu
đào mương bên đất bà Đ để dẫn nước vào
phần đất lúa của anh D, chị T thì dẫn đến
nước trên thửa ruộng 868 của bà Đ sẽ bị rút
hết xuống mương gây mất nước và năng
suất lúa không đạt làm thiệt hại đến quyền
lợi chính đáng của bà Đ”. Rõ ràng là việc
đào mương trên mặt đất sẽ tiết kiệm chi phí
và dễ dàng sử dụng cũng như bảo trì hơn,
tức là thuận tiện hơn cho chủ sở hữu BĐS
hưởng quyền. Thế nhưng, Tòa án vẫn lựa
chọn hình thức đặt ống dẫn nước dưới lòng
đất để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền. Có
thể áp dụng tương tự quan điểm này khi
giải quyết tranh chấp quyền về mở lối đi
qua, bởi lẽ, “sự phiền lụy phải có giới hạn”.
Có quan điểm cho rằng, “để tính toán,
xem xét như thế nào là “thuận tiện và hợp
lý nhất” và “thiệt hại gây ra là ít nhất” cần
phải xét đến cả BĐS hưởng quyền và BĐS
chịu hưởng quyền, nhưng rõ ràng, chủ thể
chịu hưởng quyền là chủ thể chịu những
hạn chế nhất định, nên trong mối quan hệ
của hai bên, cần phải ưu tiên hơn quyền lợi
của chủ thể này”27. Tác giả đồng tình với
quan điểm này, khi giải quyết tranh chấp
về xác định vị trí và kích thước của lối đi,
cần phải cân nhắc những phiền lụy mà chủ
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền phải gánh
chịu. Lý do là quyền đối với BĐS liền kề,
trong đó có quyền về lối đi qua, thực chất
bảo đảm lợi ích công cộng vì khai thác có
hiệu quả BĐS không chỉ đáp ứng nhu cầu
Ngược lại, cũng có Tòa án đề cao quyền
lợi của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền
so với quyền lợi của chủ sở hữu BĐS hưởng
quyền. Các quyền đối với BĐS liền kề cụ
thể khác hoặc chỉ đề cập tính “hợp lý”,
“thích hợp”, hoặc không nói rõ tính “hợp
lý” hay tính “thuận tiện” là quan trọng hơn.
Trong thực tiễn xét xử tranh chấp về quyền
tưới nước, tiêu nước trong canh tác, dường
như Tòa án nghiêng về bảo vệ quyền lợi
của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.
Tại Bản án số 271/2017/DS-PT ngày
06/11/2017 của TAND tỉnh Tiền Giang26,
khi phải lựa chọn giữa đặt ống dẫn nước
dưới lòng đất hay đào mương trên mặt đất
25 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta171561t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.
26 https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-2712017dspt-ngay-06112017-ve-tranh-chap-mo-loi-dan-
nuoc-cho-viec-tuoi-tieu-trong-canh-ta-5857, truy cập ngày 06/4/2021.
27 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế,
Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019, tr. 295-296.
Số 07(431) - T4/2021
49
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
của chủ sở hữu BĐS mà còn tạo ra của cải
vật chất cho xã hội. Mục đích trên sẽ không
thể đạt được nếu để làm lợi cho BĐS này
mà gây ra bất lợi quá lớn cho BĐS khác; bởi
lẽ, cùng với khoản lợi có được từ việc khai
thác BĐS hưởng quyền, xã hội có nguy cơ
mất đi lợi ích từ BĐS chịu hưởng quyền.
Như vậy, nguyên tắc là phải xác lập quyền
đối với BĐS liền kề trên cơ sở dung hòa
lợi ích các bên, do đó cần “xét đến cả BĐS
hưởng quyền và BĐS chịu hưởng quyền”.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đạt
được sự cân bằng này nên một bên sẽ chịu
thiệt thòi hơn bên còn lại. Thật ra, “bản thân
việc thiết lập trên một BĐS một hệ thống
phục vụ cho một BĐS khác đã là việc làm
có tác dụng gây thiệt hại cho chủ sở hữu
BĐS đó”28; vì vậy, sẽ không hợp lý khi tiếp
tục buộc chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền
gánh chịu phần thiệt thòi để nhường lợi ích
cho chủ sở hữu BĐS hưởng quyền. Do đó,
trong trường hợp buộc phải lựa chọn ưu tiên
tính “thuận tiện” hay tính “hợp lý” khi mở
lối đi qua thì nên đề cao tính “hợp lý” hơn.
Tòa án quyền áp đặt địa dịch lên một BĐS
xác định nhưng theo khoản 3 Điều 180 Đạo
luật tài sản của bang này thì Tòa án chỉ được
tuyên bố xác lập quyền địa dịch khi đáp ứng
được ba điều kiện và một trong ba điều kiện
đó là “chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền
được bồi thường thỏa đáng bằng tiền cho bất
kỳ mất mát hoặc bất lợi nào mà chủ sở hữu
có thể phải chịu khi bị áp đặt địa dịch”29.
Khi sử dụng thuật ngữ “đền bù”, thay vì
“bồi thường”, pháp luật đã phân biệt bản
chất các khoản tiền này. Theo pháp luật Nhật
Bản, người có quyền đi qua phải đền bù cho
vùng đất mà người đó đi qua và khoản tiền
đền bù có thể được trả theo hàng năm, trừ
những thiệt hại gây ra do việc xây dựng lối
đi30. Điều luật này được hiểu là những thiệt
hại xảy ra khi xây dựng lối đi (ví dụ như
chặt bỏ cây cối, làm hư hại công trình xây
dựng khác,…) cần được bồi thường theo
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, chỉ có khoản tiền bù
đắp cho thiệt hại lên đất mở lối đi mới được
áp dụng cách thức thanh toán hàng năm.
Luật quy định nghĩa vụ đền bù dựa trên
những tổn thất mà chủ sở hữu BĐS chịu
hưởng quyền phải gánh chịu, thường là lớn
hơn rất nhiều so với những quyền đối với
BĐS liền kề khác. Tổn thất này có thể đến
từ những bất tiện đối với cuộc sống do phải
mở lối cho nhiều người qua lại, hoặc đến từ
sự sụt giảm giá trị BĐS. Thực tế cho thấy,
việc xác định giá trị cần đền bù gặp trở ngại
vì rất khó để cân bằng lợi ích giữa chủ sở
hữu BĐS hưởng quyền với chủ sở hữu BĐS
chịu hưởng quyền vì lý do sau:
Bên cạnh việc định hình lối đi sẽ mở, một
vấn đề khác mà các bên cũng cần đạt được
sự thống nhất là giá trị đền bù cho chủ sở
hữu BĐS chịu hưởng quyền. Đây là điểm
đặc biệt đáng chú ý vì quyền về lối đi qua là
quyền duy nhất trong các quyền đối với BĐS
liền kề được liệt kê trong BLDS năm 2015
có yêu cầu chủ sở hữu BĐS hưởng quyền
phải “đền bù”, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác. Yêu cầu này cũng được tìm thấy trong
pháp luật các quốc gia theo hệ thống thông
luật. Cụ thể, bang Queensland, Úc trao cho
28 Nguyễn Ngọc Điện, tlđd, tr. 384.
29 Property Law Act 1974 of Queensland (current as at 27 September 2016), https://www.legislation.qld.gov.
au/view/pdf/inforce/2016-09-27/act-1974-076, truy cập ngày 25/3/2020.
30
detail/?id=2057&vm=2&re=02, truy cập ngày 22/3/2020.
50
Số 07(431) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Thứ nhất, việc mở lối đi không làm chủ
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền mất đất.
Trên lý thuyết, quyền sử dụng đất đối với
phần đất dùng làm lối đi vẫn thuộc về chủ
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền và người
này hoàn toàn có thể cùng sử dụng31. Nhưng
chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền gần như
không thể khai thác phần diện tích đất đã
dùng làm lối đi. Bên cạnh đó, giá trị thửa
đất không còn trọn vẹn, nếu chủ đất bán đất
thì khả năng có người mua toàn bộ thửa đất,
bao gồm cả phần đất đã cho người khác làm
lối đi, là rất thấp.
do hệ thống dịch vụ định giá đất cung cấp,
Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, khởi kiện tranh chấp về các
quyền đối với BĐS liền kề có thể áp dụng
trong trường hợp các bên tranh chấp không
thể thống nhất về phương án đền bù33.
Trong khi đó, thực tiễn xét xử dường như
có xu hướng áp dụng giá đất do Nhà nước
quy định để tính giá trị đền bù phần đất mở
lối đi. Tại Bản án số 78/2017/DS-ST ngày
24/8/2017 của TAND huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre34, Tòa án chấp nhận yêu cầu
mở lối đi qua BĐS của người khác. Diện tích
lối đi là 125,9m2 và mức đền bù được Hội
đồng định giá tài sản xác định là 5.539.600
đồng, nghĩa là 44.000 đồng/m2. Đối chiếu
với bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh
Bến Tre giai đoạn 2015 - 2019 (Ban hành
kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND
ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Bến Tre) thì mức giá trên đúng bằng giá đất
ở huyện Giồng Trôm do Nhà nước quy định.
Thứ hai, bên có quyền cũng chỉ được phép
đi qua không gây hại mà không hưởng thêm
bất kỳ lợi ích nào từ phần diện tích đất dùng
để mở lối đi. Giá trị phần đất dùng làm lối đi
không được khai thác triệt để, dẫn đến nhiều
quan điểm trái chiều về việc đền bù theo giá
mua bán đất hay giá thuê đất, căn cứ vào bảng
giá của Nhà nước hay bảng giá thị trường để
tính mức đề bù, giá trị đền bù bằng bao nhiêu
phần giá trị thiệt hại thực tế gây ra cho BĐS
chịu hưởng quyền… đều chưa có câu trả lời
thuyết phục. Hơn nữa, trong một số trường
hợp đặc biệt, giá trị BĐS chịu hưởng quyền
lại tăng thêm nếu qua BĐS đó mở một con
đường giao thông, kênh tưới tiêu nước32.
Vụ việc tại Bản án số 30/2018/DS-
PT ngày 11/7/2018 của TAND tỉnh Ninh
Thuận cũng được giải quyết tương tự35, Tòa
án áp dụng đơn giá 60.000 đồng/m2 để tính
số tiền đền bù mà bên có quyền về lối đi
qua phải trả cho chủ sở hữu BĐS mở lối
đi. Mức giá này phù hợp với giá đất trong
Bảng giá các loại đất kỳ 2015 - 2019 trên
địa bàn tỉnh Ninh Thuận (Ban hành kèm
theo Quyết định số 106/2014/QĐ-UBND
ngày 29/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Ninh Thuận) và Quyết định số 21/2018/
QĐ-UBND ngày 21/02/2018 Về việc quy
Có ý kiến cho rằng, quy định cụ thể
khung giá áp dụng trong việc đền bù đối với
trường hợp thực hiện quyền đối với BĐS
liền kề là khung giá thị trường địa phương
do một cơ quan có chức năng thẩm định trên
cơ sở giá thị trường tại thời điểm tranh chấp
là phù hợp. Trên cơ sở thông tin về giá đất
31 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, tlđd, tr. 415.
32 Phạm Công Lạc, tlđd, tr. 57.
33 Nguyễn Tấn Hoàng Hải, tlđd, tr. 41.
34 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta25593t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.
35 http://congbobanan.toaan.gov.vn/5ta178854t1cvn/AN_SA_HOA.pdf, truy cập ngày 06/4/2021.
Số 07(431) - T4/2021
51
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2018 trên
địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
không trao quyền sở hữu, chủ sở hữu BĐS
chịu hưởng quyền có khả năng lấy lại toàn
quyền sử dụng tài sản khi quyền đối với
BĐS liền kề chấm dứt. Mặt khác, việc đền
bù mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất cho chủ sở
hữu BĐS chịu hưởng quyền khi không thể
khai thác, sử dụng triệt để BĐS của mình
nên khoản tiền này không thể hiểu là trao
đổi ngang giá như trường hợp chủ sở hữu
BĐS chịu hưởng quyền bán phần quyền sở
hữu đối với phần diện tích dành cho lối đi
qua37. Nếu như giá trị đền bù cho việc mở
lối đi lớn hơn hoặc bằng với giá trị của thiệt
hại gây ra cho BĐS chịu hưởng quyền thì
tính chất “phiền lụy” không còn, dẫn đến
không còn tồn tại quan hệ về quyền đối với
BĐS liền kề mà quan hệ giữa hai chủ sở
hữu BĐS trở thành quan hệ mua bán38.
TAND tỉnh Long An có cách giải quyết
khá đặc biệt là lấy trung bình cộng giá
các bên đưa ra làm căn cứ tính giá trị đền
bù, thể hiện tại Bản án số 33/2018/DS-
PT ngày 16/01/201836. Trong vụ việc này,
ông B được sử dụng đất làm lối đi và cấp
thoát nước qua đất của ông Đ. Về giá trị
đền bù, ông B thống nhất kết quả định giá
của Hội đồng định giá huyện G tại biên
bản định giá ngày 21/7/2017; ông Đ muốn
áp dụng giá theo chứng thư định giá tài
sản số 66/31/08/2017 của Công ty cổ phần
thương mại dịch vụ và tư vấn H mà ông
Đ cung cấp. Tuy nhiên, giá ông Đ đưa ra
là giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) chứ
không phải giá để đền bù và bồi thường
thiệt hại nên không có căn cứ chấp nhận.
Tòa phúc thẩm đồng ý cách giải quyết
của Tòa án cấp sơ thẩm là lấy trung bình
cộng mức giá của hai bên cung cấp để làm
cơ sở giải quyết vụ án. Số tiền đền bù và
bồi thường thiệt hại cụ thể là 29.503.500
đồng ((15.100.000 đồng + 43.907.000
đồng)/2).
Có ý kiến cho rằng, nhiều chủ sở hữu
BĐS không hiểu đúng tính chất của địa
dịch khi định giá. Do địa dịch không trao
quyền sở hữu đối cho chủ sở hữu BĐS
hưởng quyền nên giá thị trường hoặc giá có
thể chấp nhận của phần đất được đề xuất sử
dụng để mở lối đi là không phù hợp. Khoản
tiền đền bù thích hợp phải thấp hơn giá trị
của phần đất chịu địa dịch39.
Thông qua Bản án trên, Tòa án đã thể
hiện rõ quan điểm là: không có căn cứ
chấp nhận giá trị QSDĐ là giá đền bù trong
quyền về lối đi qua. Điều này là hợp lý; bởi
lẽ, về bản chất, quyền đối với BĐS liền kề
chỉ cung cấp quyền khai thác hạn chế chứ
Án lệ nước ngoài cũng theo hướng
khoản tiền đền bù phải thấp hơn giá trị của
phần đất chịu địa dịch. Tòa án Việt Nam có
thể tham khảo phương pháp phổ biến mà
các Tòa nước ngoài sử dụng để định giá địa
36 https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta65134t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 06/4/2021.
37 Nguyễn Thanh Thư, “Mối liên hệ của quyền về lối đi qua bất động sản liền kề và các chế định khác theo
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quy định về tài sản trong Bộ luật Dân
sự năm 2015 và ảnh hưởng của nó đến các quy định khác trong pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr. 45.
38 Lê Đăng Khoa, “Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền địa dịch trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 6, năm 2017, tr. 27-28.
39 Mersal & Associ,ates PTY LTD Solicitors (2013), “Easements Law”, http://www.mersalsolicitors.com.au/
blog/easements, truy cập ngày 22/3/2020.
52
Số 07(431) - T4/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
dịch, gọi là phương pháp “giảm bớt” hay
phương pháp “trước và sau”. Phương pháp
này bắt nguồn từ vụ việc Rogerson v The
Minister: Tòa án sẽ định giá toàn bộ thửa
đất trước và sau khi có địa dịch, giá trị giảm
bớt chính là sự chênh lệch giữa các lần định
giá và đây cũng là khoản đền bù mà chủ sở
hữu BĐS hưởng quyền phải trả cho chủ sở
hữu BĐS chịu hưởng quyền40.
Sau khi xác định khoản tiền đền bù thì vấn
đề tiếp theo cần giải quyết là phương thức
thanh toán, cụ thể là trả một lần hay trả hàng
năm. Trong trường hợp các bên không thỏa
thuận được, thực tiễn xét xử ở Việt Nam theo
hướng buộc chủ sở hữu BĐS hưởng quyền
thanh toán một lần số tiền đền bù do mở lối
đi cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.
Cách làm này tỏ ra hợp lý vì bảo vệ tốt hơn
quyền lợi của chủ sở hữu BĐS chịu hưởng
quyền - chủ thể gánh chịu thiệt hại do BĐS
của mình phải phục vụ một BĐS khác.
Tòa án Việt Nam có thể xem xét áp
dụng phương pháp này khi tính toán giá
trị đền bù để mở lối đi, thay vì áp dụng
giá đất do Nhà nước quy định. Bởi lẽ, giá
Nhà nước thường thấp hơn giá thị trường
rất nhiều, có thể gây thiệt hại không nhỏ
cho chủ sở hữu BĐS chịu hưởng quyền.
Trong trường hợp không đồng tình với
phán quyết của Tòa án, chủ sở hữu BĐS
chịu hưởng quyền có thể tiếp tục kháng
cáo, làm cho tranh chấp kéo dài, không
có lợi cho kinh tế - xã hội. Hơn nữa, các
bên trong tranh chấp là láng giềng với
nhau nên có thể dễ dàng dẫn đến những
bất lợi sau này nếu không có những giải
pháp thích hợp được sự đồng thuận của
họ. Việc tính giá trị chênh lệch của BĐS
trước và sau khi mở lối đi tỏ ra hợp lý
hơn cả vì phần chênh lệch này không thấp
như giá Nhà nước nhưng cũng không cao
như giá thị trường. Có thể hình dung là
một thửa đất diện tích 100m2 phải chừa
lối đi cho chủ thể khác vẫn có giá trị hơn
thửa đất 90m2. Vì vậy, giá trị chênh lệch
không thể bằng giá chuyển nhượng quyền
sử dụng 10m2 đất.
Hạn chế của biện pháp này là, nếu quyền
đối với BĐS liền kề chấm dứt thì quyền lợi
của chủ sở hữu BĐS hưởng quyền được
bảo vệ như thế nào khi mà người này đã trả
toàn bộ tiền đền bù. Theo tác giả, cần xem
xét khoảng thời gian quyền này tồn tại, nếu
chủ sở hữu BĐS hưởng quyền đã sử dụng
quyền đối với BĐS liền kề trong thời gian
đủ dài thì không có lý do yêu cầu hoàn lại
tiền đã trả khi quyền chấm dứt. Để đánh giá
độ dài ngắn của thời gian tồn tại quyền đối
với BĐS liền kề, tác giả kiến nghị dùng giá
thuê đất hàng năm do Nhà nước quy định
nhân với số năm mà chủ sở hữu BĐS hưởng
quyền khai thác BĐS chịu hưởng quyền,
nếu kết quả vượt quá số tiền đền bù ban đầu
thì không được hoàn lại tiền nữa. Ngược lại,
trong trường hợp quyền đối với BĐS liền
kề chỉ mới tồn tại vài năm, dẫn đến khoản
tiền tính được nhỏ hơn số tiền đã trả thì chủ
sở hữu BĐS chịu hưởng quyền cần hoàn
lại khoản chênh lệch cho chủ sở hữu BĐS
hưởng quyền
40 Trong vụ việc này, bên cạnh gánh nặng địa dịch thì bất động sản chịu hưởng quyền còn có một ống cống
chính chạy qua. Theo đánh giá của các kỹ sư, giá trị bất động sản nếu không có ống cống và địa dịch là
11.000USD, nếu có hai gánh nặng trên là 8.000USD. Tòa án cho rằng, một cách công bằng và hợp lý, thì 2/3
thiệt hại là do ống cống chính, 1/3 còn lại là do địa dịch. Vì vậy, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phải
đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền 1.000USD.
truy cập ngày 23/4/2020.
Số 07(431) - T4/2021
53
Bạn đang xem tài liệu "Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy định của pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dieu_kien_va_he_qua_xac_lap_quyen_ve_loi_di_qua_theo_quy_din.pdf

