Hoàn thiện các quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo luật thương mại năm 2005 trong bối cảnh hội nhập

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP  
ĐỒNG, PHẠT VI PHẠM VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO LUẬT THƯƠNG  
MẠI NĂM 2005 TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP  
ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải1  
Nguyễn Thị Hải Hậu2  
Tóm tắt: Luật Thương mại năm 2005 (“LTM năm 2005”) đã có nhiều cải cách, bổ  
sung so với quy định của Luật Thương mại năm 1997 về chế tài trong thương mại. Tuy  
nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hội nhập, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực  
thương mại cũng biến đổi đa dạng và phức tạp, đòi hỏi các quy định về chế tài trong thương  
mại phải tiếp tục được hoàn thiện nhằm bảo vệ tốt nhất cho các thương nhân; tổ chức, cá  
nhân hoạt động có liên quan đến thương mại trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và để tương  
thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
Do đó, trên cơ sở đánh giá những hạn chế, tồn tại trong quy định của LTM năm  
2005 về chế tài trong thương mại, những điểm còn chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự  
năm 2015 (“BLDS năm 2015”) mà tập trung là ba chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng,  
phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi  
phạm, bài viết sẽ đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện và phát huy hiệu quả quy định  
này trong bối cảnh hội nhập.  
Từ khóa: chế tài trong thương mại, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, buộc thực hiện  
đúng hợp đồng, luật thương mại năm 2005.  
Abstract:  
The 2005 Commercial Law has had breakthrough reforms in commercial remedies  
compared to the 1997 Commercial Law. However, in the context of an integrated  
developing economy, violations in the trade sector also have diverse and complex  
1 Khoa luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
2
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh  
330  
transformations, requiring regulations on trading sanctions must proceed with the purpose  
improving the best protection for traders; other organizations and individuals are  
conducting commerce-related activities of internal and external Vietnam's territory to be  
compatible with international treaties in which Vietnam is a contracting party.  
Therefore, the foundation of assessing the limitations and existing in the provisions  
of the 2005 Commercial Law on commercial remedies, the points are not unified with the  
2015 Civil Code focusing on three commercial remedies: Specific performance of  
contracts; Fines for breaches; Forcible payment of damages and cases of exemption from  
liability for breaching acts; the article will propose numerous solutions in order to promote  
the efficient of these regulations in the context of integration.  
Keywords: commercial remedies, Fines for breaches, Forcible payment of damages,  
Specific performance of contracts, The 2005 Commercial Law.  
1. Đặt vấn đề  
Chế tài trong Luật Thương mại có thể được hiểu một cách chung nhất là hậu quả  
pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu theo thỏa thuận của các bên hoặc  
do luật ấn định; theo đó, LTM năm 2005 cho phép một bên trong hợp đồng thương mại áp  
dụng các biện pháp pháp lý đối với bên kia nhằm yêu cầu bên này chịu trách nhiệm pháp  
lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình3. So với các quy định về chế tài trong Luật  
Thương mại năm 1997 - văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam thống  
nhất quy định có hệ thống về hoạt động thương mại trên lãnh thổ nước ta thì quy định về  
chế tài trong thương mại của LTM năm 2005 đã có nhiều thay đổi. Theo đó, LTM năm  
2005 bổ sung thêm hai loại chế tài là tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện  
hợp đồng4; các chế tài như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và  
hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng đối với vi phạm cơ bản; cho phép các bên được thỏa thuận  
áp dụng các biện pháp khác có bản chất chế tài không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc  
tế (nội dung mà Luật Thương mại năm 1997 chưa ghi nhận); hay những thay đổi về tiểu  
3
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về thương mại, hàng hóa và dịch vụ,  
Nxb. Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr. 434.  
4
Xem Điều 222 Luật Thương mại năm 1997 về “Các chế tài trong thương mại”, bao gồm: 1. Buộc thực hiện đúng  
hợp đồng; 2. Phạt vi phạm; 3. Bồi thường thiệt hại; 4. Huỷ hợp đồng.  
331  
tiết và câu chữ cũng góp phần tạo thuận lợi hơn cho việc áp dụng các chế tài trong thương  
mại,...  
Tuy nhiên, sự ra đời của BLDS năm 2015 đã làm xuất hiện tình trạng quy định về  
chế tài trong thương mại của luật chuyên ngành (LTM năm 2005) có những điểm chưa  
thống nhất (thậm chí là “mâu thuẫn”) so với luật chung (BLDS năm 2015). Đặc biệt là nội  
dung về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm và các chế tài buộc thực  
hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, gây lúng túng và bất lợi cho các  
chủ thể tham gia hoạt động thương mại trong quá trình áp dụng. Hơn nữa, thực tế 15 năm  
thi hành LTM năm 2005 cho thấy những quy định trên có những điểm còn hạn chế, chưa  
rõ ràng hoặc có những nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam  
là thành viên, đòi hỏi LTM năm 2005 phải tiếp tục được điều chỉnh nhằm phát huy được  
hiệu quả nhất chức năng phòng ngừa, khắc phục và xử lý vi phạm của chế tài này trong  
hoạt động thương mại.  
2. Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối  
với hành vi vi phạm; chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm và bồi  
thường thiệt hai  
2.1. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm  
Điều 294 LTM năm 2005 ghi nhận bên vi phạm được miễn trách nhiệm khi xảy ra  
trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận5; đồng thời cũng quy định một số  
điều kiện khác mà bên vi phạm đương nhiên được miễn trách nhiệm bất kể các bên có ghi  
nhận trong hợp đồng hay không. Tuy nhiên, các trường hợp miễn trách nhiệm này đã bộc  
lộ một số hạn chế về khả năng áp dụng trên thực tiễn hoặc chưa tương thích với pháp luật  
quốc tế. Cụ thể như sau:  
Thứ nhất, LTM năm 2005 trước hết thể hiện tinh thần đề cao tự do hợp đồng khi  
công nhận bên vi phạm được miễn trách nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm  
mà các bên đã thỏa thuận, với điều kiện mang tính nguyên tắc là những thỏa thuận này  
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, cũng có khả năng  
sẽ xảy ra trường hợp một trong các bên lợi dụng điều khoản này để cố ý gây thiệt hại cho  
5
Xem điểm a khoản 1 Điều 294 LTM năm 2005.  
332  
bên kia nhằm trục lợi cho mình, bởi lẽ khi xảy ra một trường hợp miễn trách nhiệm mà các  
bên đã thỏa thuận thì bên vi phạm sẽ được giải thoát trách nhiệm bất kể vi phạm đó là cố ý  
hay vô ý.  
Về vấn đề này, Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980  
(“CISG”) không trực tiếp điều chỉnh thỏa thuận của các bên về loại trừ hay hạn chế trách  
nhiệm do vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, Điều 40 và khoản 2 Điều 43 Công ước này quy  
định thỏa thuận của các bên về việc người bán không phải chịu trách nhiệm do chất lượng  
của hàng hóa không phù hợp với hợp đồng nếu người mua không tuân thủ thời hạn thông  
báo, do các bên thỏa thuận hay do Công ước quy định, sẽ không có giá trị pháp lý nếu sự  
không phù hợp của hàng hóa với điều kiện của hợp đồng liên quan đến các yếu tố mà người  
bán đã biết hay buộc phải biết nhưng không thông báo cho người mua6. Do đó, cần bổ sung  
để làm rõ hơn quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm giữa các  
bên tham gia hợp đồng bằng những nguyên tắc như “thỏa thuận miễn trừ này chỉ có giá trị  
pháp lý nếu như bên vi phạm chứng minh được rằng mình không cố ý trong việc dẫn đến  
hành vi vi phạm đó”7 nhằm hạn chế khả năng một bên lợi dụng căn cứ loại trừ trách nhiệm  
do các bên thỏa thuận trong hợp đồng để trục lợi.  
Thứ hai, LTM năm 2005 quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm  
khi hành vi vi phạm đó do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền mà các bên không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng tại điểm d khoản 1  
Điều 294; cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan  
ngang bộ, Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh đến cấp xã. Theo nhóm tác giả, quy định này có các  
hạn chế sau đây:  
Vì LTM năm 2005 không quy định minh thị nên có thể hiểu quyết định của cơ quan  
quản lý nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi chung là “quyết định”) trong trường hợp  
miễn trách nhiệm này bao gồm cả quyết định hợp pháp và quyết định bất hợp pháp. Tuy  
nhiên, nếu  
6
Trần Thị Huệ và Nguyễn Văn Cừ (2019), “Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm  
hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, so chiếu với pháp luật của một số quốc gia thuộc liên minh châu Âu”, Kỷ yếu Hội  
thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”, tr.113.  
7
Vũ Thị Hương và Hoàng Tuấn Anh (2019), “Miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Kỷ  
yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”, tr.125.  
333  
trong tình huống một bên vi phạm hợp đồng do đã thực hiện một quyết định bất hợp pháp,  
mà tính bất hợp pháp này nằm trong khả năng nhận biết được của bên vi phạm (do tính bất  
hợp pháp rõ ràng đến mức bất kỳ ai có hiểu biết bình thường đều có thể nhận biết được),  
thì bên vi phạm có được phép viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm này không? Theo đó, quyết  
định của cơ quan nhà nước là căn cứ miễn trách nhiệm phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên  
vi phạm phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định và việc tuân thủ  
nghĩa vụ đó là nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng8. Việc tuân thủ một quyết  
định dẫn tới vi phạm hợp đồng trong khi có thể nhận biết được sự bất hợp pháp của quyết  
định đó, quan điểm của nhóm tác giả cho rằng bên vi phạm hợp đồng không có quyền được  
viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm trong trường hợp này. Tuy nhiên, đối với quy định hiện  
nay của LTM năm 2005, rất khó để đánh giá được trong tình huống như vậy thì bên vi  
phạm hợp đồng có được miễn trách nhiệm hay không.  
Mặt khác, căn cứ miễn trách nhiệm này yêu cầu quyết định mà một bên thực hiện  
phải là quyết định mà “các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng”; đây  
cũng là một nội dung gặp khó khăn trong việc xác định. Theo đó, “không thể biết được”  
có thể là tại thời điểm ký kết hợp đồng chưa có quyết định và không thể biết được sắp tới  
sẽ có quyết định; hoặc quyết định đã có nhưng vì lý do nào đó mà các bên không thể biết  
được quyết định này. Lý do này có thể là do công tác phổ biến thông tin của quyết định  
đến người dân hoặc trình độ tiếp nhận thông tin của người dân; bởi lẽ, khả năng để “biết  
được vào thời điểm giao kết hợp đồng” đối với một địa phương phát triển, phương tiện  
thông tin thuận lợi khác với một địa phương mà phương tiện thông tin và trình độ tiếp nhận  
còn lạc hậu. Hoặc “việc không thể biết” này vì lý do lỗi của các bên như do không theo  
dõi, không cập nhật thông tin để biết về quyết định dẫn tới việc vẫn giao kết hợp đồng thì  
khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng, bên đó có được viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm  
này không?  
Hơn nữa, chủ thể “không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng” là “các  
bên”- bao gồm cả bên vi phạm hợp đồng và bên bị vi phạm hợp đồng; nhóm tác giả cho  
rằng “không thể biết” này chỉ nên được đặt ra với bên bị vi phạm; theo đó, bên vi phạm  
hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp “hành vi vi phạm của một bên do thực  
hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà bên vi phạm đó không  
8
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr.451.  
334  
thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng”. Bởi lẽ, việc bên bị vi phạm hợp đồng có  
biết hoặc không thể biết về quyết định cũng không có ý nghĩa với việc áp dụng trường hợp  
miễn trách nhiệm này. Nếu xảy ra tình huống bên bị vi phạm biết hoặc phải biết về các  
quyết định đó tại thời điểm giao kết hợp đồng nhưng đã không đề cập cho bên kia biết và  
vẫn giao kết hợp đồng dẫn tới bên kia vi phạm hợp đồng thì có căn cứ để áp dụng điểm c  
khoản 1 Điều 294 LTM năm 2005: bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong  
trường hợp “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” mà không phải là  
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 294 đã nêu trên.  
Ngoài ra, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản  
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết vào thời điểm giao kết hợp đồng về  
bản chất có thể xem là một trường hợp miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng khi đáp  
ứng các điều kiện: yếu tố khách quan; không lường trước được; không thể khắc phục được  
mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép9. Việc LTM năm 2005  
ghi nhận đây là một trường hợp miễn trách nhiệm độc lập nhằm tạo sự thuận lợi cho các  
bên áp dụng trực tiếp khi gặp phải thay vì phải thông qua một bước chứng minh sự kiện  
bất khả kháng, cũng như khuyến khích các bên nghiêm túc tuân thủ quyết định của cơ quan  
quản lý nhà nước trước tiên. Tuy nhiên, việc quy định không thật sự rõ ràng như đã trình  
bày ở trên có thể khiến cho việc áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm này trở nên không  
khó khăn trên thực tế; và các bên lại quay về căn cứ về sự kiện bất khả kháng để chứng  
minh.  
Thứ ba, về nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm; khoản 2  
Điều 295 LTM năm 2005 quy định: “khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi  
phạm hợp đồng phải thꢀng báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm khꢀng thꢀng báo  
hoặc thꢀng báo khꢀng kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại”; theo đó, nội dung  
này được hiểu là nếu không thông báo kịp thời thì bên gặp trường hợp miễn trách nhiệm  
sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do việc không thông báo kịp thời gây ra cho bên kia.  
Tuy nhiên, LTM năm 2005 diễn đạt “nếu bên vi phạm khꢀng thꢀng báo hoặc thꢀng báo  
khꢀng kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại” rất dễ gây hiểu lầm rằng nếu bên  
9
Xem khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015.  
335  
vi phạm không thông báo hoặc không thông báo kịp thời cho bên kia thì sẽ phải bồi thường  
thiệt hại hợp đồng (có thể xem là mất quyền viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm).  
Mặt khác, việc dựa vào căn cứ nào để xác định là đã “thông báo ngay” hoặc “thông  
báo không kịp thời” vẫn là nội dung chưa rõ ràng trong quy định nói trên của LTM năm  
2005. Về các vấn đề này, nhóm tác cho rằng có thể tham khảo quy định của CISG tại khoản  
4 Điều 79:“Bên nào khꢀng thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết  
về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thꢀng báo khꢀng  
tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên khꢀng thực hiện nghĩa vụ đã biết hay  
đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc  
bên kia khꢀng nhận được thꢀng báo”; theo đó, CISG đưa ra căn cứ “thời hạn hợp lý từ khi  
bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết” để xác định bên không thực  
hiện nghĩa vụ hợp đồng có vi phạm nghĩa vụ thông báo hay không. CISG không giải thích  
như thế nào là “thời hạn hợp lý” nhưng hiện nay theo pháp luật Việt Nam “thời hạn hợp  
lý” có thể hiểu là khoảng thời gian được hình thành theo thói quen đã được xác lập giữa  
các bên hoặc là khoảng thời gian mà trong điều kiện bình thường, các bên trong hợp đồng  
thương mại, hoặc chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan có thể thực hiện được quyền,  
nghĩa vụ của mình10.  
Do đó, đối với nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm, nhóm  
tác giả cho rằng có thể được sửa đổi như sau: “1. Bên vi phạm hợp đồng phải thꢀng báo  
ngay bằng văn bản cho bên kia trong một thời hạn hợp lý về trường hợp được miễn trách  
nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra; 2. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên  
vi phạm hợp đồng phải thꢀng báo ngay cho bên kia biết trong một thời hạn hợp lý; Nếu  
bên vi phạm khꢀng thꢀng báo hoặc thꢀng báo trong một thời hạn khꢀng hợp lý thì phải bồi  
thường những thiệt hại do việc bên kia khꢀng nhận được thꢀng báo”.  
2.2. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng  
Điều 297 LTM năm 2005 quy định bên bị vi phạm hợp đồng có thể áp dụng chế tài  
buộc thực hiện đúng hợp đồng thông qua hai cách thức là yêu cầu bên vi phạm thực hiện  
đúng hợp đồng (cách thức thứ nhất) hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực  
10  
Xem khoản 7 Điều 3 Nghị định 22/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.  
336  
hiện và bên vi phạm phải chịu các chi phí phát sinh (cách thức thứ hai). Xem xét quy định  
tại khoản 2, 3 Điều 297 LTM năm 2005, đối với loại hợp đồng mua bán hàng hóa và cung  
ứng dịch vụ thì bên bị vi phạm trước hết phải yêu cầu bên vi phạm hợp đồng thực hiện  
đúng hợp đồng, và chỉ khi bên vi phạm không thực hiện yêu cầu đó thì mới được dùng các  
biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện11. Tuy nhiên, cách thức thứ hai còn một số hạn  
chế như sau:  
Một là, khoản 3 Điều 297 LTM năm 2005 liệt kê một số cách thức khác để hợp  
đồng được thực hiện như mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế  
theo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải hoàn trả khoản  
tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng  
hóa, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí hợp lý phải chăng đã “vô tình  
giới hạn các tình huống có khả năng phát sinh mà các nhà làm luật tại thời điểm soạn thảo  
không lường trước được”12; do đó nhóm tác giả cho rằng LTM năm 2005 ngoài các biện  
pháp phổ biến nêu trên thì nên bổ sung việc công nhận “các biện pháp khác do các bên  
thỏa thuận để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu các chi phí phát sinh”,  
giúp pháp luật “bắt nhịp” tốt hơn với bối cảnh xã hội phát triển và hội nhập.  
Hai là, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ được thực hiện thông qua hai cách  
thức đã nêu trên mà không minh thị việc bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu Tòa  
án hoặc Trọng tài (trong trường hợp có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài)  
buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hay không. Bởi lẽ, trên thực tế rất có khả năng  
xảy ra tình huống các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là vật đặc định và không  
thể thực hiện biện pháp dùng hàng hóa khác để thay thế khi bên bán không thực hiện nghĩa  
vụ giao hàng. Bên bán cố tình không giao hàng cho bên mua và sẵn sàng chịu các chế tài  
khác13 để được thanh lý hợp đồng vì xuất hiện một bên thứ ba đã trả một số tiền cao gấp  
nhiều lần cho vật đặc định đó. Như vậy, nếu bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu Tòa  
án hay Trọng tài buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng thì quyền lợi hợp pháp của bên bị  
11  
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr. 456.  
12  
Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Quyền buộc thực hiện hợp đồng theo quy định của Công  
ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp  
lý số 07 (110), tr. 56.  
13  
Xem khoản 2 Điều 299 LTM năm 2005: “Trường hợp bên vi phạm khꢀng thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng  
hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền  
lợi chính đáng của mình”.  
337  
vi phạm sẽ không được bảo vệ và có thể dẫn tới tình trạng bên vi phạm hợp đồng lợi dụng  
nhằm trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.  
Đối với vấn đề này, BLDS năm 2015 quy định biện pháp “Buộc thực hiện nghĩa vụ”  
cho phép bên có quyền khi đã yêu cầu thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ vẫn không  
thực hiện thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc  
bên kia phải thực hiện nghĩa vụ dân sự14. Do đó, quan điểm của nhóm tác giả cho rằng để  
tương thích với quy định của BLDS năm 2015 và tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi của bên  
bị vi phạm hợp đồng thuận lợi hơn trong việc áp dụng chế tài này, LTM năm 2005 nên quy  
định minh thị việc cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài  
buộc bên kia thực hiện đúng hợp đồng.  
Tiếp theo, về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài  
khác, LTM năm 2005 quy định trong thời hạn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp  
đồng, bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nhưng  
không được áp dụng các chế tài khác là tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp hợp  
đồng và hủy bỏ hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận khác15; có thể hiểu là trong trường  
hợp các bên có thỏa thuận thì bên bị vi phạm có quyền được áp dụng chế tài đình chỉ thực  
hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng trong thời gian đang áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng  
hợp đồng. Điều này là không khả thi bởi vì các bên không thể thỏa thuận đồng thời áp dụng  
chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (không làm thay đổi hiệu lực hợp đồng) và chế tài  
đình chỉ thực hiện hợp đồng (làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng kể từ thời điểm hợp đồng bị  
đình chỉ) hay chế tài hủy bỏ hợp đồng (làm hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm  
giao kết), vì chức năng của các chế tài này là trái ngược nhau16.  
Mặt khác, quy định tại khoản 1 Điều 299 nêu trên cũng có điểm mâu thuẫn với quy  
định tại khoản 3 Điều 51 LTM năm 2005, cụ thể điều khoản này cho phép bên mua nếu có  
bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có quyền  
tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó. Theo  
đó, việc khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa này có thể xảy ra trong hai trường hợp:  
14  
Xem Điều 11 BLDS năm 2005 về “Các phương thức bảo vệ quyền dân sự”.  
15  
Xem khoản 1 Điều 299 LTM năm 2005.  
16  
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr.460.  
338  
(1) tại khoản 1 Điều 41 LTM năm 200517 (bên bán được chủ động khắc phục) và (2) khi  
bên mua áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và yêu cầu bên bán phải khắc phục  
hàng hóa không phù hợp. Do đó, nếu là trường hợp (2) thì có thể thấy rằng LTM năm 2005  
cho phép bên mua được thực hiện chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng (ở đây là tạm  
ngừng nghĩa vụ thanh toán) trong thời gian đang thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp  
đồng (yêu cầu bên bán khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa).  
Về vấn đề này, nhóm tác giả đồng ý với quan điểm bên bị vi phạm phải được áp  
dụng đồng thời chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và buộc thực hiện đúng hợp đồng  
nếu đủ điều kiện áp dụng ngay cả khi không thỏa thuận việc áp dụng đồng thời hai chế tài  
này với bên vi phạm. Bởi vì “quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng không mâu thuẫn với  
quyền buộc thực hiện hợp đồng, mà còn thúc đẩy bên vi phạm nghiêm túc thực hiện đúng  
nghĩa vụ để được hưởng lợi ích kỳ vọng theo hợp đồng và giảm thiểu khả năng bị tổn thất  
đối với bên không vi phạm” và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng “cho phép các bên  
có quyền được tạm ngừng thực hiện hợp đồng hơn là tiếp tục thực hiện và tự đưa mình vào  
tình thế không nhận được những kỳ vọng từ hợp đồng được giao kết”18 (khác với hậu quả  
pháp lý của các chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, chế tài hủy bỏ hợp đồng). Do đó, từ  
những quan điểm nêu trên, nhóm tác giả cho rằng, LTM năm 2005 nên sửa đổi khoản 1  
Điều 299 theo hướng “Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên  
bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và tạm ngừng thực hiện  
hợp đồng nhưng khꢀng được áp dụng các chế tài khác”.  
Ngoài ra, một vấn đề mà nhóm tác giả cho rằng là sự thiếu sót trong quá trình soạn  
thảo là phải chăng nhà làm luật đã vô tình “quên” không đề cập tới nội dung “trừ các trường  
hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này” đối với Điều 297 về chế tài  
buộc thực hiện đúng hợp đồng trong khi vẫn đề cập trong quy định về các chế tài khác?  
Bởi lẽ không có khả năng chế tài này được áp dụng mà không loại trừ các trường hợp miễn  
trách nhiệm; do đó, nếu LTM năm 2005 đã thống nhất quy định “trừ các trường hợp miễn  
17  
Xem khoản 1 Điều 41 LTM năm 2005: “1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời  
hạn giao hàng và khꢀng xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng  
và giao thiếu hàng hoặc giao hàng khꢀng phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc  
thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự khꢀng phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại”.  
18  
Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), Tlđd (10), tr.54 và tr.56.  
339  
trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này” đối với các chế tài còn lại thì cũng nên  
bổ sung nội dung này vào Điều 297 LTM năm 2005 để tránh gây nhầm lẫn khi áp dụng.  
2.3. Chế tài phạt vi phạm  
2.3.1. Điều kiện áp dụng phạt vi phạm  
LTM năm 2005 quy định chế tài phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên  
vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận  
và không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 29419; theo đó theo đó  
điều kiện để áp dụng chế tài này là (1) hợp đồng phải có hiệu lực; (2) có hành vi vi phạm  
hợp đồng; (3) có thỏa thuận áp dụng trong hợp đồng. Quyền phạt vi phạm chỉ có thể được  
áp dụng khi và chỉ khi các bên có thỏa thuận từ trước hoặc trong quá trình thực hiện hợp  
đồng. Tuy nhiên, nội dung “nếu trong hợp đồng có thỏa thuận” khiến câu hỏi đặt ra là việc  
thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm này của các bên có bắt buộc phải ghi nhận trong  
hợp đồng hay không? Giả thiết trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc áp dụng chế  
tài phạt vi phạm trước khi vi phạm xảy ra nhưng lại ghi nhận ở phụ lục hợp đồng hay một  
văn bản độc lập với hợp đồng; hoặc trường hợp khác là sau khi thực hiện xong hợp đồng  
và các bên thỏa thuận về phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có được áp dụng chế tài phạt vi  
phạm hay không?  
Về vấn đề này, quan điểm thứ nhất cho rằng nếu trong hợp đồng các bên không  
quy định về việc phạt vi phạm hợp đồng, nhưng sau đó một bên thừa nhận vi phạm và chấp  
nhận mức phạt do bên bị vi phạm đưa ra thì có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm bởi vì xét  
cho cùng đây là biện pháp răn đe các bên trong việc vi phạm hợp đồng khi bên vi phạm  
hợp đồng đã thừa nhận vi phạm và chịu phạt thì không có lý do gì để chấp nhận điều đó20.  
Mặt khác, quan điểm thứ hai cho rằng nếu sau khi thực hiện xong hợp đồng và các bên  
thỏa thuận về phạt vi phạm thì phạt vi phạm có thể xem như một “phương thức” các bên  
áp dụng để giải quyết hậu quả do vi phạm hợp đồng21.  
19  
Xem Điều 300 LTM năm 2005.  
20  
Nguyễn Thị Hằng Nga (2009), “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực tiễn giải  
quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 9, tr.26.  
21  
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr.347.  
340  
Từ hai quan điểm trên có thể thấy, nếu các bên thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi  
phạm sau khi hành vi vi phạm xảy ra và hợp đồng đã thực hiện xong (không thể sửa đổi  
hợp đồng để ghi nhận chế tài này vào trong hợp đồng) thì phạt vi phạm vẫn sẽ được áp  
dụng với tư cách là một chế tài mang tính chất răn đe, “trừng phạt” hay chỉ với tư cách là  
một “phương thức” theo ý chí tự do thỏa thuận của các bên để giải quyết hậu quả do vi  
phạm hợp đồng?  
Quan điểm của nhóm tác giả cho rằng, quy định tại Điều 300 LTM năm 2005 hay  
khoản 1 Điều 418 BLDS năm 201522 đều cho thấy thỏa thuận phạt vi phạm phải được thỏa  
thuận từ trước quá trình thực hiện hợp đồng để ghi nhận vào “trong hợp đồng” hoặc trong  
quá trình thực hiện hợp đồng và ghi nhận vào hợp đồng bằng cách sửa đổi hợp đồng. Còn  
việc áp dụng chế tài phạt vi phạm được thỏa thuận trước nhưng không được ghi nhận trong  
hợp đồng mà chỉ ghi nhận ở phụ lục hợp đồng hay một văn bản độc lập thì bên bị vi phạm  
có quyền được áp dụng phạt vi phạm với tư cách một chế tài đối với bên vi phạm khi có vi  
phạm xảy ra hay không thì vẫn còn bỏ ngỏ và cách hiểu như thế nào vẫn còn tùy thuộc vào  
quan điểm như đã trình bày ở trên. Chính vì điều này, nhóm tác giả đánh giá đây là hạn chế  
trong quy định của tại Điều 300 LTM năm 2005 và khoản 1 Điều 418 BLDS năm 2005,  
chúng tôi đề xuất nên sửa đổi LTM năm 2005 theo hướng minh thị không bắt buộc thỏa  
thuận áp dụng phạt vi phạm phải “xuất hiện” trong hợp đồng, mà có thể được ghi nhận ở  
phần phụ lục hợp đồng, hay ở một văn bản thỏa thuận độc lập của các bên từ trước hoặc  
trong quá trình thực hiện hợp đồng. Còn sau khi thực hiện xong hợp đồng mà các bên có  
thỏa thuận phạt vi phạm thì “phạt vi phạm” chỉ được xem là một phương thức giải quyết  
hậu quả vi phạm hợp đồng theo ý chí tự do của các bên mà không phải với tư cách một chế  
tài thương mại mang tính răn đe, “trừng phạt”.  
2.3.2. Mức phạt vi phạm  
Vấn đề mức phạt vi phạm trong quy định của LTM năm 2005 không có sự đồng  
nhất so với quy định của BLDS23 đã được đặt ra từ thời điểm BLDS năm 2005 có hiệu lực  
và hiện nay là BLDS năm 2015, được rất nhiều các học giả nghiên cứu và trình bày quan  
điểm. Theo đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 418 BLDS năm 2015: “Mức phạt vi  
22  
Xem khoản 1 Điều 418 BLDS năm 2015: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó  
bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”.  
23  
Xem khoản 2 Điều 422 BLDS năm 2005 và khoản 2 Điều 418 BLDS năm 2005, Điều 301 LTM năm 2005.  
341  
phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” và Điều 301  
LTM năm 200524 thì các bên được thỏa thuận mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng  
hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm nhưng khoản tiền này bị khống chế ở mức tối  
đa bằng 8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm. Trong trường hợp các bên thỏa thuận mức  
phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều hành vi vi phạm  
vượt quá mức 8% thì mức vượt quá đó sẽ bị vô hiệu, còn phần không vượt quá sẽ vẫn có  
hiệu lực.  
Đối với việc khống chế mức trần 8% đối với thỏa thuận phạt vi phạm trong LTM  
năm 2005, có nhiều quan điểm đánh giá và đề xuất. Theo đó, có học giả cho rằng “cần loại  
bỏ mức phạt tối đa 8% rất cứng nhắc tại Điều 301 của LTM năm 2005, một lần nữa dành  
cho các bên quyền được tự do thỏa thuận về mức phạt phù hợp với đặc điểm, tính chất của  
giao dịch, và phù hợp với “chức năng” của điều khoản phạt mà các bên lựa chọn. Đồng  
thời, cần bổ sung cơ chế kiểm soát thỏa thuận phạt vi phạm theo cách thức khác, đó là khả  
năng để tòa án/trọng tài giảm mức phạt xuống nếu mức phạt trong hợp đồng là quá cao  
so với thiệt hại thực tế”25. Quan điểm này có sự tham khảo và phù hợp với quy định tại  
Điều 7.4.13 PICC26: “1. Khi hợp đồng có một điều khoản quy định bên khꢀng thực hiện  
nghĩa vụ phải trả một khoản tiền bồi thường27 cố định cho bên bị thiệt hại do việc khꢀng  
thực hiện, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu số tiền đó bất kể mức độ thiệt hại thực tế như  
thế nào; 2. Tuy vậy, khoản tiền bồi thường cố định trên đây có thể được giảm28, nếu nó  
vượt xa mức độ thiệt hại thực tế và những chi tiết khác gây ra do việc khꢀng thực hiện  
nghĩa vụ”.  
24  
Xem Điều 301 LTM năm 2005: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi  
phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ  
trường hợp quy định tại Điều 266 (về phạt vi phạm trong trường hợp kết quả giám định sai thì mức phạt do các bên  
thỏa thuận nhưng không quá mười lần thù lao dịch vụ giám định).  
25  
Nguyễn Minh Hằng và Lê Như Ý (2017), “Phạt vi phạm và CISG”, Tạp chí khoa học pháp lý số 07/(110), tr.17.  
26  
Điều 7.4.13 PICC (Principles of international commercial contracts), (bản dịch của Lê Nết), Nxb. Thành phố Hồ  
Chí Minh năm 1999.  
27  
Xem bình luận chính thức của PICC, Tlđd (24): (bình luận 1) “Điều 7.4.13 đưa ra một số quy tắc được áp dụng  
rộng rãi trong thương mại quốc tế, theo đó các bên có thể thoả thuận trước về khoản tiền phải trả khi khꢀng muốn  
hay khꢀng thể thực hiện hợp đồng, thoả thuận này được định nghĩa bằng nhiều danh từ (bồi thường thiệt hại được ấn  
định theo luật Anglo Saxon), hoặc tiền phạt vi phạm (các điều khoản về phạt vi phạm), hoặc cả hai”. Do đó, “khoản  
tiền bồi thường” trong điều khoản này có thể được hiểu là cả phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.  
28  
Xem bình luận chính thức của PICC, Tlđd (24): (bình luận 3) xác định cơ quan giảm khoản tiền bồi thường cố định  
là Tòa án.  
342  
Tuy nhiên, đánh giá về khả năng cho phép Tòa án/Trọng tài được can thiệp để giảm  
mức thỏa thuận phạt vi phạm của các bên trong hợp đồng thương mại, học giả khác cho  
rằng “đặt trong điều kiện các quy định của LTM năm 2005 vì phạt vi phạm được tiếp cận  
dưới góc độ một chế tài có tính chất răn đe, nhằm buộc các bên thực hiện đúng hợp đồng,  
nên phạt vi phạm được áp dụng khꢀng phụ thuộc vào việc bên bị vi phạm có thiệt hại hay  
khꢀng. Vì vậy, nếu áp dụng LTM năm 2005, bên vi phạm phải trả khoản tiền phạt theo mức  
thỏa thuận của các bên và Tòa án khꢀng thể tự điều chỉnh giảm mức phạt nếu mức này cao  
hơn rất nhiều so với thiệt hại thực tế của bên bị vi phạm”29; từ đó, học giả đánh giá việc  
đặt ra mức phạt theo Điều 301 LTM năm 2005 là cần thiết trong tình huống vừa nêu bởi  
pháp luật không chỉ bảo đảm tự do giao kết hợp đồng mà còn phải hài hòa giữa yếu tố tự  
do giao kết hợp đồng và yếu tố công bằng.  
Có thể thấy, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối  
với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng và pháp luật phải có sự “khống  
chế” đối với thỏa thuận mức phạt này. Nhưng sự “khống chế” này dựa trên cơ chế luật quy  
định một mức trần cố định hay sẽ do Tòa án/Trọng tài điều chỉnh dựa trên một số tiêu chí,  
chẳng hạn như thiệt hại thực tế thì vẫn còn nhiều đánh giá khác nhau. Quan điểm của nhóm  
tác giả cho rằng, nếu Luật Thương mại được sửa đổi, bổ sung theo hướng vẫn giữ nguyên  
cơ chế giới hạn mức phạt vi phạm của các bên bằng một mức trần luật định (và chỉ thay  
đổi mức 8% thành một mức khác) thì có thể quy định này sẽ lại không “bắt nhịp” được với  
sự phát triển của xã hội trong tương lai. Bởi lẽ, tiêu chí nào để các nhà làm luật đưa ra mức  
phạt tối đa này hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ và chưa có cơ sở để đánh giá được mức 8% hay  
một mức khác phù hợp hơn để trở thành mức trần của thỏa thuận phạt vi phạm. Do đó, việc  
“khống chế” mức phạt tối đa của phạt vi phạm linh hoạt nhất vẫn là việc đặt ra các tiêu chí  
chung để đánh giá trong tùy từng vụ việc cụ thể, và Tòa án (hoặc Trọng tài) là cơ quan có  
thể được giao nhiệm vụ giảm mức phạt xuống trong trường hợp xảy ra tranh chấp và mức  
phạt trong hợp đồng là quá cao so với thiệt hại thực tế.  
Về các tiêu chí để đánh giá, có thể tham khảo hướng dẫn trong PICC30 như: i) Tòa  
án chỉ có thể giảm số tiền phạt dựa trên việc xem xét điều khoản tiền phạt vi phạm do các  
bên xác định từ trước mà không phải Tòa án tự mình ra quyết định; ii) Tòa án không được  
29  
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017), “Bản chất pháp lý của thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc trả một khoản  
tiền xác định khi có hành vi vi phạm hợp đồng”, Tạp chí khoa học pháp lý số 04/(207), tr.73.  
30  
Xem bình luận chính thức của PICC, Tlđd (24): (bình luận 4).  
343  
phép tăng khoản tiền phạt vi phạm nếu thiệt hại thực tế cao hơn giá trị khoản tiền hai bên  
đã thỏa thuận; iii) Khoản tiền thoả thuận chỉ được giảm khi có sự bất bình đẳng, có nghĩa  
là một người bình thường trong cùng hoàn cảnh như các bên cũng phải cảm thấy như vậy;  
và iv) Cần xem xét thêm mối liên quan giữa các khoản tiền được thoả thuận và thiệt hại  
thực tế phát sinh.  
2.4. Chế tài bồi thường thiệt hại  
LTM năm 2005 quy định chế tài bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường  
những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm31; và ngoại trừ các  
trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 LTM năm 2005 thì trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: (1) Có hành vi vi phạm hợp đồng;  
(2) Có thiệt hại thực tế; và (3) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra  
thiệt hại32. Đối với chế tài này, nhóm tác giả có những đánh giá và đề xuất dưới đây.  
2.4.1. Giá trị bồi thường thiệt hại  
Nếu chế tài phạt vi phạm được tiếp cận với hai chức năng (i) ngăn ngừa vi phạm  
hợp đồng, thúc đẩy việc thực hiện đúng hợp đồng và (ii) cho phép thiệt hại được đền bù  
kịp thời mà không buộc bên bị vi phạm phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại33 thì  
bồi thường thiệt hại hướng tới mục đích quan trọng nhất là bù đắp tổn thất vật chất bị thiệt  
hại cho bên bị vi phạm, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên khi có vi phạm xảy ra; và bên  
yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất mà bên  
bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng nếu  
không có hành vi vi phạm34. LTM năm 2005 quy định “giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm  
giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và  
khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”35.  
Có thể thấy, LTM năm 2005 chỉ cho phép bên bị vi phạm được yêu cầu một mức bồi thường  
thiệt hại tương ứng với giá trị tổn thất, mức độ tổn thất phải gánh chịu và khoản lợi trực  
tiếp đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm mà bên bị vi phạm chứng minh  
31  
Xem khoản 1 Điều 302 LTM năm 2005.  
32  
Xem Điều 303 LTM năm 2005.  
33  
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017), Tlđd (27), tr.69.  
34  
Xem Điều 304 LTM năm 2005.  
35  
Xem khoản 2 Điều 302 LTM năm 2005.  
344  
được. Về vấn đề này, theo quy định của CISG thì “tiền bồi thường thiệt hại” bao gồm tổn  
thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng và  
cho phép các bên được thỏa thuận trước số tiền này mà không phải được tính dựa trên giá  
trị tổn thất, khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên bị vi phạm chứng minh được. Đồng thời, sự thỏa  
thuận trước số tiền này chỉ bị giới hạn là“khꢀng thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà  
bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một  
hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc  
đáng lẽ phải biết”36 mà không phải là một số tiền tương ứng với những gì mà bên bị vi  
phạm chứng minh được. Do đó, nhóm tác giả đồng ý với quan điểm nên sửa đổi quy định  
của LTM năm 2005 theo tinh thần đề cao sự tự do thỏa thuận của các bên của CISG, cho  
phép các bên được thỏa thuận trước một khoản tiền bồi thường thiệt hại nhưng cũng đồng  
thời cho phép điều chỉnh nếu khoản tiền xác định trước chênh lệch quá mức so với thiệt  
hại xảy ra37. Trong trường hợp này thì có thể quy định giao quyền cho Tòa án (hoặc Trọng  
tài) giảm mức bồi thường thiệt hại xuống dựa trên các tiêu chí được tham khảo theo hướng  
dẫn trong PICC38 mà nhóm tác giả đã đề cập ở mục 2.3.1 (chú thích số 28).  
2.4.2. Bồi thường thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng  
BLDS năm 2015 ghi nhận thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật  
chất và thiệt hại về tinh thần của một chủ thể39; chủ thể ở đây bao gồm cả cá nhân và pháp  
nhân. Theo quy định tại Điều 360 BLDS năm 2015 thì bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi  
thường toàn bộ thiệt hại trong trường hợp không có thỏa thuận khác hoặc luật không có  
quy định khác. Tham khảo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy  
định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng40 thì có thể cho rằng  
những thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân và pháp nhân cũng là một dạng “tổn  
thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do bên vi phạm gây ra” theo tinh  
thần của LTM năm 2005, cho nên có cơ sở để khẳng định rằng trường hợp các thương nhân  
hoạt động thương mại; tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại bị  
thiệt hại về tinh thần do một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì có quyền yêu cầu bồi  
36  
Xem Điều 74 CISG.  
37  
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Tlđd (01), tr.476.  
38  
Xem bình luận chính thức của PICC, Tlđd (24): (bình luận 4).  
39  
Xem khoản 1 và khoản 3 Điều 361 BLDS năm 2015.  
40  
Xem điểm 1.1 mục I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng.  
345  
thường thiệt hại nếu đáp ứng được đầy đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường  
thiệt hại theo quy định tại Điều 303.  
Đối với bồi thường thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng thương mại, có học  
giả cho rằng đây là một dạng của “thiệt hại phi vật chất” và ngoài thiệt hại về tinh thần thì  
còn có các dạng thiệt hại khác như thiệt hại về mất lợi thế thương mại và thiệt hại về danh  
tiếng, hình ảnh công ty; theo đó, việc mất lợi thế thương mại có thể được xem xét ở khía  
cạnh bên bị vi phạm bị mất lợi nhuận trong tương lai; bị suy giảm danh tiếng, hình ảnh  
trong kinh doanh hoặc khả năng giữ khách hàng41. Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm  
các yếu tố như uy tín, danh tiếng, lợi thế thương mại của thương nhân, tổ chức, cá nhân  
khác tham gia hoạt động thương mại cũng quan trọng như mục tiêu lợi nhuận, thậm chí các  
yếu tố này còn thúc đẩy lợi nhuận tăng cao trong quan hệ hợp đồng. Cho nên, pháp luật  
Việt Nam mà cụ thể là BLDS năm 2015, LTM năm 2005 cần phải xem xét thấu đáo về hai  
dạng bồi thường thiệt hại phi vật chất này bên cạnh bồi thường thiệt hại về tinh thần42 để  
bổ sung vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.  
Mặt khác, mặc dù đã có những căn cứ để một bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt  
hại tổn thất về tinh thần khi bên còn lại vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khi có đủ các điều kiện  
cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại; nhưng cho đến nay Việt Nam chưa có bất kỳ  
một tiền lệ nào về bồi thường thiệt hại về tinh thần do vi phạm hợp đồng nói chung và hợp  
đồng thương mại nói riêng. Trở ngại phổ biến nhất có thể kể đến là khó khăn trong việc  
xác định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần được yêu cầu có tương ứng với thiệt hại  
thực tế hay không. Bởi lẽ theo quy định của LTM năm 2005 thì việc có được bồi thường  
hay không phụ thuộc vào nghĩa vụ chứng minh tổn thất của bên yêu cầu bồi thường thiệt  
hại; dẫn đến Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường nếu bên yêu cầu không  
chứng minh thiệt hại về tinh thần mang đến tổn hại thực tế, trực tiếp như thế nào.  
Đến nay, vấn đề những thiệt hại phi vật chất (trong đó có thiệt hại về tinh thần) có  
được yêu cầu bồi thường thiệu hại theo quy định của CISG hay không vẫn được nhiều các  
41  
Nguyễn Thị Lan Hương và Phạm Thị Hiền (2016), “Vấn đề bồi thường thiệt hại phi vật chất theo Công ước Vienna  
1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa – Lý luận và thực tiễn xét xử”, Tạp chí khoa học pháp lý số 08, tr.75-76.  
42  
Xem điểm 1.1 mục I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về  
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác khꢀng  
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc  
mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ  
chức phải chịu” không nhắc tới thiệt hại về mất lợi thế thương mại và thiệt hại về danh tiếng của pháp nhân.  
346  
học giả đánh giá với nhiều quan điểm khác nhau43; cho nên việc tham khảo văn bản này ở  
các quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần chưa thật sự khả quan. Do đó, các quy định  
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói  
chung và hợp đồng thương mại nói riêng rất cần được các nhà làm luật cân nhắc kỹ lưỡng  
để có những quy định và hướng dẫn cụ thể, phù hợp; góp phần nâng cao khả năng áp dụng  
quy định này trong thực tiễn.  
2.4.1. Mối quan hệ giữa chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm  
LTM năm 2005 quy định trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị  
vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường  
hợp giám định sai quy định tại Điều 266 LTM năm 200544 và “một bên không bị mất quyền  
yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp  
dụng các chế tài khác”45. Có thể thấy, ngoại trừ các trường hợp bên vi phạm được miễn  
trách nhiệm, LTM năm 2005 cho phép bên bị vi phạm luôn luôn có quyền được yêu cầu  
bồi thường thiệt hại khi có đầy đủ các điều kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại  
theo luật quy định mà không ảnh hưởng tới quyền lợi được áp dụng các chế tài khác.  
Tuy nhiên, nội dung này không thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều Điều 418  
BLDS năm 2015: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu  
phạt vi phạm mà khꢀng phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa  
phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng khꢀng  
thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi  
phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”. Theo đó, BLDS năm 2015 quy định chế tài  
bồi thường thiệt hại có trường hợp không được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận không  
áp dụng mà không phải là luôn luôn bên bị vi phạm có quyền yêu cầu áp dụng như quy  
định của LTM năm 2005.  
Quan điểm của nhóm tác giả cho rằng LTM năm 2005 nên sửa đổi theo hướng  
BLDS năm 2015, cho phép các bên được thỏa thuận áp dụng đồng thời hoặc không đồng  
thời chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thay vì cho bên bị vi phạm được quyền  
43  
Nguyễn Thị Lan Hương và Phạm Thị Hiền (2016), Tlđd (39), tr.74.  
44  
Xem khoản 2 Điều 307 và khoản 2 Điều 266 LTM năm 2005.  
45  
Xem Điều 316 LTM năm 2005.  
347  
yêu cầu áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại trong trường hợp các  
bên có thỏa thuận phạt vi phạm. Bởi lẽ, như đã trình bày ở phần 2.3.2 về mức phạt vi phạm,  
nhóm tác giả đề xuất LTM năm 2005 nên sửa đổi theo hướng cho các bên được tự do thỏa  
thuận về mức phạt vi phạm và việc “khống chế” mức thỏa thuận này Tòa án/Trọng tài sẽ  
dựa trên một số tiêu chí luật định mà không phải mà một mức trần tối đa như trước đây.  
Do đó, việc thay đổi này có khả năng sẽ khiến cho mức phạt vi phạm các bên thỏa thuận  
cao hơn so với khi áp dụng quy định của LTM năm 2005 hiện hành; nếu duy trì quy định  
quy định cho phép bên bị vi phạm được áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và bồi  
thường thiệt hại thì sẽ gây “sức ép” và bất lợi rất lớn cho bên vi phạm hợp đồng vì họ phải  
gánh chịu một số tiền quá lớn. Hơn nữa, việc cho phép các bên được lựa chọn áp dụng  
đồng thời hoặc không đồng thời hai chế tài này cũng góp phần nâng cao tinh thần tự do  
hợp đồng, tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các chủ thể tham gia hoạt động thương  
mại trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hội nhập.  
3. Kết luận  
Trong bối cảnh Việt Nam đang trên đà phát triển sâu rộng, tích cực tham gia các  
Hiệp định thương mại quốc tế và khu vực, ký kết các điều ước song phương và đa phương  
thì việc sửa đổi LTM năm 2005 nhằm “bắt nhịp” với dòng chảy hội nhập của đất nước và  
tương thích với thông lệ quốc tế là đều vô cùng cần thiết. Những quy định về chế tài trong  
thương mại, đặc biệt là các chế tài phổ biến áp dụng như buộc thực hiện đúng hợp đồng,  
phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm phát huy  
hiệu quả nhất chức năng phòng ngừa, khắc phục và xử lý vi phạm của chế tài này trong  
quan hệ hợp đồng thương mại; không chỉ bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của các  
bên tham gia hoạt động thương mại, mà còn góp phần xây dựng một nền kinh tế phát triển  
tiến bộ, lành mạnh; mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài./.  
Danh mục tài liệu tham khảo  
1. Bộ luật Dân sự năm 2005.  
2. Bộ luật Dân sự năm 2015.  
3. Luật thương mại năm 1997.  
348  
4. Luật Thương mại năm 2005.  
5. Nghị định 22/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.  
6. Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.  
7. Trần Thị Huệ và Nguyễn Văn Cừ (2019), “Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, so chiếu với pháp  
luật của một số quốc gia thuộc liên minh châu Âu”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Trách  
nhiệm dân sự và hợp đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”.  
8. Vũ Thị Hương và Hoàng Tuấn Anh (2019), “Miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng  
mua bán hàng hóa quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp  
đồng: kinh nghiệm của Việt Nam và liên minh châu Âu”.  
9. Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Quyền buộc thực hiện  
hợp đồng theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng  
hóa quốc tế - một số đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý số 07 (110).  
10. Nguyễn Thị Hằng Nga (2009), “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường  
thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại”,  
Tạp chí Toà án nhân dân, số 9.  
11. Nguyễn Minh Hằng và Lê Như Ý (2017), “Phạt vi phạm và CISG”, Tạp chí khoa  
học pháp lý số 07 (110).  
12. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017), “Bản chất pháp lý của thỏa thuận trước trong hợp  
đồng về việc trả một khoản tiền xác định khi có hành vi vi phạm hợp đồng”, Tạp  
chí khoa học pháp lý số 04/(207).  
13. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về  
thương mại, hàng hóa và dịch vụ, Nxb. Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam.  
14. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Pháp luật về hợp  
đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, Hội Luật gia Việt  
Nam.  
349  
pdf 20 trang Thùy Anh 13800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo luật thương mại năm 2005 trong bối cảnh hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_ve_che_tai_buoc_thuc_hien_dung_hop_d.pdf