Xác lập tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XꢀC LẬP TƯ CꢀCH PHꢀP LÝ CHO TRÍ TUꢁ NHÂN TꢂO  
Bùi Thị Hằng Nga*  
Nguyễn Thảo Linh**  
* Giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Trường Đai học Kinh tế - Luật.  
** Sinh viên ngành Luật Thương mai quốc tế (K18502), Trường Đai học Kinh tế - Luật  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Mặc dù trí tuệ nhân tạo (AI) mới được quan tâm gần đây tại Việt Nam,  
nhưng với những tiềm lực sẵn có, AI hứa hẹn sẽ phát triển vượt bậc trong  
tương lai ở nước ta. Để tận dụng triệt để những lợi thế mà AI mang lại  
cho nền kinh tế thì việc dự báo những thách thức về mặt pháp lý cũng  
như trù liệu giải pháp giải quyết là việc nên làm. Theo đó, việc xác  
định rõ tư cách pháp lý cho AI là vấn đề tiên quyết, tạo nền tảng thiết  
lập khung pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh xung  
quanh AI như quan hệ sở hữu, lao động, sở hữu trí tuệ...  
Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo, Tư  
cách pháp lý.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/5/2021  
: 22/5/2021  
: 27/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Althoughartificialintelligence(AI)hasrecentlybeeninterestedinVietnam,  
with the available potentials, it is expected to develop AI dramatically  
in the future in our country. It is advisable to forecast legal challenges  
as well as plan solutions to take full advantage of the advantages that  
AI providing to the economy. Accordingly, clearly defining the legal  
status for AI is a prerequisite, creating a foundation for establishing a  
legal framework governing legal relationships arising around AI such as  
ownership, employment, intellectual property etc.  
Keywords: Artificial  
Intelligence, legal eligibility.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 May 2021  
: 22 May 2021  
: 27 May 2021  
Approved  
1. Trí tuệ nhân tạo và sự cần thiết xác lập  
tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo  
hiện tại, có rất nhiều định nghĩa về AI được  
đưa ra nhưng chưa có một định nghĩa thống  
nhất. Một số định nghĩa về AI được đưa ra  
như sau:  
1.1. Tổng quan về trí tuệ nhân tạo  
“Trítuệnhântạo”(ArtificialIntelligence-  
AI) được định nghĩa lần đầu vào năm 1955  
bởi John McCarthy - nhà khoa học máy tính  
và khoa học nhận thức của Hoa Kỳ. Theo  
đó, AI là bộ môn khoa học và kỹ thuật chế  
tạo máy thông minh1. Tính tới thời điểm  
(i) AI là các hệ thống suy nghĩ (thông  
minh) như con người2;  
(ii) AI là các hệ thống suy nghĩ một cách  
hợp lý3;  
1 A Brief History of AI (2018), AITopics, retrieved on 17/01/2021, from <https://aitopics.org/misc/brief-history>.  
2 Bellman (1978) định nghĩa: trí tuệ nhân tạo là tự động hóa các hoạt động phù hợp với suy nghĩ con người,  
chẳng hạn các hoạt động ra quyết định, giải bài toán. Xem thêm R. E. Bellma (1978), An Introduction to  
Artificial Intelligence: Can Computers Think?, Boyd & Fraser Publishing Company, San Francisco  
3 Winston (1992) cho rằng trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nghiên cứu các tính toán để máy có thể nhận thức, lập  
luận và hành động. Xem thêm P. H. Winston (1992), Artificial Intelligence (Third Edition), Addison-Wesley,  
Reading, Massachusetts.  
14  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
(iii) AI là các hệ thống hành động, thông minh hơn nhiều so với trí thông minh của  
con người8.  
minh như con người4;  
1.2. Sự cần thiết xác lập tư cách pháp lý  
cho trí tuệ nhân tạo  
(iv) AI là các hệ thống hành động một  
cách hợp lý5.  
Sau nhiều thập kỷ bị xếp vào hàng viễn  
tưởng - những ý tưởng được cho là điên rồ  
không thể thành hiện thực, AI giờ đây đã trở  
thành một phần trong cuộc sống hiện đại của  
chúng ta. Trong thực tiễn một số ứng dụng  
AI có thể kể đến như: Nhận dạng chữ viết,  
nhận dạng tiếng nói, dịch tự động, tìm kiếm  
thông tin, khai phá dữ liệu và phát triển tri  
thức, lái xe tự động, robot... Các lĩnh vực  
sử dụng AI có hiệu quả và chất lượng tăng  
lên rõ rệt, góp phần thay đổi sâu sắc nhiều  
khía cạnh của cuộc sống. Tuy nhiên, việc  
AI đang ngày càng có sức ảnh hưởng đến  
mọi khía cạnh trong cuộc sống cũng tiềm ẩn  
nhiều vấn đề mà hầu hết hệ thống pháp luật  
các nước chưa có cơ chế giải quyết hoặc  
giải quyết chưa triệt để. Đơn cử như AI có  
thể tự mình sáng tạo nên những bức tranh9,  
hiện thực này đặt ra dấu hỏi lớn trong việc  
xác định bản quyền và quyền tác giả đối với  
các tác phẩm đặc biệt này. Thêm vào đó, AI  
tiềm ẩn nguy cơ vượt khỏi sự kiểm soát của  
Hiểu một cách đơn giản, AI là một nhánh  
của khoa học máy tính liên quan đến việc  
xây dựng các máy móc thông minh có khả  
năng thực hiện các tác vụ mang trí tuệ con  
người6. Trí tuệ này tuy do con người tạo ra  
nhưng có thể học hỏi, tư duy như con người.  
AI được chia thành hai loại phổ biến  
sau đây:  
Thứ nhất, theo chức năng, AI được chia  
thành 04 cấp độ: máy phản ứng (Reactive  
machines), AI với bộ nhớ giới hạn (Limited  
memory), AI gắn với lý thuyết về tâm trí  
(Theory of mind) và cấp độ cao nhất: AI có  
khả năng tự nhận thức (Self-awareness)7.  
Thứ hai, theo khả năng tư duy – đây cũng  
là cách phân loại phổ biến hơn khi AI được  
chia thành 3 loại: Narrow AI, General AI và  
Strong AI. Đối với Narrow AI, loại này chỉ  
có thể giải quyết một công việc cụ thể trong  
phạm vi được hướng dẫn. Với General AI,  
trí tuệ nhân tạo này có thể thực hiện bất kỳ  
nhiệm vụ sử dụng trí tuệ nào có độ chính con người, bởi lẽ các máy học có thể đạt  
xác tương đương như con người. Ở cấp tới trình độ tự giải quyết vấn đề. Mặc dù ở  
độ cao nhất - Strong AI, được coi là thông thời điểm hiện tại, AI mới chỉ dừng lại là  
4
Rich và Knight (1991) cho rằng Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm thế nào để máy tính có  
thể thực hiện những công việc mà hiện con người còn làm tốt hơn máy tính. Xem thêm E Rich & K Knight  
E. Rich (1991), Artificial Intelligence (Second Edition), McGraw (Second Edition), McGraw-Hill New York  
Hill, New York.  
5 Thuộc nghiên cứu các hành vi thông minh mô phỏng các vật thể nhân tạo (Nilsson, 1998). Xem thêm N. J.  
Nilsson (1998), Artificial Intelligence: A New Synthesis, Morgan Kaufmann, San Mateo, C lif in California..  
6 What is Artificial Intelligence? How Does AI Work? (2016), retrieved on 17/01/2021, from <https://builtin.  
com/artificial-intelligence>..  
7 Arend Hintze (2016), Understanding the Four Types of Artificial Intelligence, Michigan State University,  
Artificial-Intelligence.html>.  
8 Kateryna Nekit, Vira Tokareva & Volodymyr Zubar (2020), “Artificial intelligence as a potential subject of  
property and intellectual property relations”, Ius Humani Law Journal, vol 9 no 1, pp. 237-238.  
9
Bức tranh “Chân dung của Edmond Belamy” được sáng tác bởi AI do nhóm 3 nghệ sĩ Pháp sở hữu. Xem  
thêm: Is artificial intelligence set to become art’s next medium? (2018), retrieved on 19/01/2021, from <https://  
www.christies.com/features/A-collaboration-between-two-artists-one-human-one-a-machine-9332-1.aspx>.  
Số 12(436) - T6/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hệ thống máy móc với khả năng giới hạn,  
nhưng trong tương lai, vấn đề xảy ra khi các  
hệ thống có thể tự học để thực hiện những  
nhiệm vụ mà không có định hướng hay giám  
sát từ con người được một số nghiên cứu gọi  
là sự tự trị10. Stephen Hawking - Nhà vật lý  
người Anh, nhận định rằng: “Trí tuệ nhân  
tạo có thể là một sự kiện (tốt) lớn nhất trong  
lịch sử nhân loại, hoặc nó có thể là một sự  
kiện tồi nhất mà chúng ta vẫn chưa biết”11.  
Do đó, để quản lý, kiểm soát AI một cách  
tối ưu và tận dụng triệt để lợi ích nó mang  
lại thì việc dự trù, thiết lập khung pháp lý  
điều chỉnh những vấn đề phát sinh liên quan  
đến AI là điều cần thiết. Theo đó, việc cấp  
bách đầu tiên cần giải quyết là “định vị” AI  
trong hệ thống pháp luật.  
trở thành “người lao động” thực thụ là hoàn  
toàn có căn cứ. Do đó, sẽ là thiếu thuyết phục  
nếu coi AI là một tài sản, công cụ hay sản  
phẩm, chúng cần được trao tư cách pháp lý  
và các quyền, nghĩa vụ tương ứng khi tham  
gia vào các quan hệ xã hội. Mặt khác, do tồn  
tại định kiến với AI, trên thực tế con người  
đã có những hành động bạo lực đối với  
những cỗ máy này. Trong tương lai khi AI  
tiên tiến hơn, chúng có khả năng suy nghĩ  
và hành động gần như con người thì việc đặt  
ra cơ chế bảo vệ AI là cần thiết. Ngược lại,  
trường hợp AI gây hại cho con người cũng  
hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, việc xác định  
tư cách pháp lý của AI sẽ là tiền đề để quản  
lý, giám sát AI, tránh việc AI gây tổn hại đến  
đời sống xã hội.  
Khi AI đạt đến trình độ phát triển nhất  
định, chúng không còn là những thực thể vô  
tri vô giác, chúng có khả năng nhận thức, học  
hỏi, tự đưa ra quyết định, có khả năng độc lập  
sáng tạo. Nhu cầu của mọi người đối với các  
cỗ máy thông minh ngày càng cao chính là  
động lực thúc đẩy sự phát triển củaAI. Trong  
tương lai, việc AI tham gia vào các quan hệ  
xã hội cùng với các chủ thể khác là hoàn toàn  
có thể, điều này sẽ làm phát sinh các quan hệ  
pháp luật mới cần điều chỉnh. Điều gì sẽ xảy  
ra khi một robot tích hợp AI thực hiện cách  
hành vi gây hại cho con người, chế tài đối với  
thực thể này như thế nào hay một khiAI tham  
gia vào các quan hệ xã hội làm phát sinh các  
vấn đề pháp lý thì sẽ được điều chỉnh như thế  
nào? Điển hình là khả năng tham gia xác lập  
quan hệ lao động củaAI. Năm 2018, Báo cáo  
về thị trường việc làm của Diễn đàn Kinh  
tế thế giới dự đoán, vào năm 2025, robot và  
máy móc được điều khiển bởi AI sẽ thực  
hiện phân nửa các chức năng sản xuất tại nơi  
làm việc; ở viễn cảnh xa hơn, triển vọng AI  
Trao tư cách pháp lý cho AI đồng nghĩa  
với việc trao một số quyền nhất định tương  
xứng với những đặc tính mà AI có và hỗ trợ  
cho những đóng góp của nó trong xã hội.  
Tuy nhiên, AI cần được xem xét như một chủ  
thể mới trong quan hệ pháp luật chứ không  
xếp nó vào nhóm chủ thể hiện có. Bởi lẽ, AI  
mang những đặc điểm không đồng nhất với  
các chủ thể của quan hệ pháp luật hiện tại:  
mặc nhiên AI không mang đặc điểm của một  
tổ chức, AI là một thực thể nhân tạo, không  
phải thực thể tự nhiên như con người.  
2. Quy định của pháp luật của một số  
nước trên thế giới về tư cách pháp lý của  
trí tuệ nhân tạo  
Trên bình diện quốc tế, song song với  
việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng AI,  
giải quyết các thách thức pháp lý mà AI  
mang lại luôn là vấn đề mà các chính phủ và  
giới học giả quan tâm. Nhiều nước trên thế  
giới đã tiến hành nghiên cứu và có những  
bước đi đáng kể trong việc xây dựng hành  
10 European Group on Ethics in Science and New Technologies, Statement on Artificial Intelligence, Robotics  
and “Autonomous” Systems, Luxembourg: Publications Office of the European Union, 2018.  
11  
Wil M. P. van der Aalst. (2016), Process Mining - Data Science in Action, 2nd edition, Springer.  
16  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội  
liên quan đến AI12.  
quyền tự chủ của robot được hỗ trợ bởi AI và  
mức độ tham gia của bên thứ ba vào việc điều  
khiển robot. Nghị Quyết “[...] lưu ý rằng, ít  
nhất ở giai đoạn hiện tại, trách nhiệm phải  
thuộc về con người chứ không phải robot”14;  
theo đó, khi xung đột pháp lý phát sinh, robot  
không thể chịu trách nhiệm về các hành động  
và/hoặc không hành động mà trách nhiệm  
sẽ thuộc về người dùng, nhà phát triển phần  
mềm hoặc nhà sản xuất. Thêm vào đó, Nghị  
quyết còn đưa các đề xuất “tạo một tình trạng  
pháp lý cụ thể cho robot về lâu dài, để ít nhất  
robot tự động tinh vi nhất có thể được thiết  
lập như có tư cách của những cá nhân điện tử  
chịu trách nhiệm giải quyết mọi thiệt hại mà  
chúng có thể gây ra và có thể áp dụng nhân  
cách điện tử15 (electronic personality) cho các  
trường hợp robot đưa ra quyết định tự chủ  
hoặc tương tác với các bên thứ ba một cách  
độc lập”16.  
Sự kiện đánh dấu cột mốc đầu tiên trong  
lịch sử công nhận quyền công dân cho robot  
trên thế giới là vào năm 2017, tại Ả Rập Xê  
Út, quốc gia này đã trao quyền công dân cho  
robot xã hội Sophia13. Theo David Hanson-  
cha đẻ của robot này, Sophia được tạo ra  
nhằm mục đích “lên tiếng về quyền của phụ  
nữ” ở Ả Rập Xê Út. Hanson cũng tin rằng các  
quyền của robot là tiền đề quan trọng để “trở  
thành con người” - điều này là có khả năng  
khi robot bắt đầu chia sẻ suy nghĩ có ý thức  
với con người. Ông giải thích: “Nó không chỉ  
đòi hỏi khả năng thể chất, mà còn là cảm giác  
khao khát tự chủ, cũng như sự tò mò và nhận  
thức về trạng thái của một người”.  
Ngày 16/2/2017, Nghị viện châu Âu đã  
thông qua Nghị quyết với các khuyến nghị đối  
với Ủy ban về Quy tắc Luật Dân sự về robot  
(Nghị Quyết). Nội dung của Nghị Quyết này  
bao gồm việc xác định các loại hình sử dụng  
AI, các vấn đề về trách nhiệm pháp lý, đạo  
đức và cung cấp các quy tắc ứng xử cơ bản  
cho các nhà phát triển, nhà điều hành và nhà  
sản xuất trong lĩnh vực robot, các quy tắc  
dựa trên ba định luật về công nghệ rô bốt của  
Azimov (1942). Trong tương lai gần, Nghị  
quyết xác định vấn đề quan trọng đầu tiên là  
Ở Nga, trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân  
sự (BLDS) Liên bang Nga, một dự thảo luật  
về lĩnh vực robot có tên là “Robot-Agent” đã  
được như là một chủ thể của quan hệ dân sự,  
tham gia vào hoạt động dân sự theo quyết định  
của chủ sở hữu và dựa trên các tính năng thiết  
kế của nó17, bất kể quyền tự chủ của robot,  
áp đặt tất cả trách nhiệm cho nhà phát triển,  
người vận hành hoặc nhà sản xuất robot và  
12 A. Atabekov, O. Yastrebov (2018), “Legal Status of Artificial Intelligence Across Countries: Legislation on  
the Move”, European Research Studies Journal, XXI(4), pp.773-782.  
13 Sophia là robot hình người được phát triển bởi Hansen Robotics Technology có trụ sở tại Hồng Kông, Trung  
Quốc. Sophia xuất hiện lần đầu tiên vào tháng tư năm 2015 tại Liên hoan South By Southwest Texas, với cấu  
thành từ ba phần: trí tuệ ở mức rất cơ bản để trả lời những câu hỏi đơn giản, khả năng diễn thuyết với tài liệu  
được cung cấp sẵn và kết hợp thuật toán để ngắt nối câu từ sao cho hợp lý. Ngoài ra, còn có một hệ thống  
sử dụng chatbot kết hợp với cơ khí, giúp Sophia có thể nhận dạng khuôn mặt, lắng nghe để lọc ra những “từ  
khóa”, sau đó lựa chọn những câu trả lời được soạn sẵn để phát ngôn. Sophia chỉ có thể trả lời những câu hỏi  
khi được kết nối với Internet, máy tính và chỉ giới hạn trong những thông tin mình có được.  
14  
European Parliament resolution of 16 February 2017 with recommendations to the Commission on Civil  
eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A52017IP0051>.  
15 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.  
16 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 15.  
17 Xem tài liệu đã dẫn tại chú thích 19.  
Số 12(436) - T6/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
bao gồm các vấn đề về quyền đại diện của  
robot trước tòa án, các cơ quan giám sát...18  
Có thể thấy, sự phát triển mạnh mẽ của  
AI chính là động lực thúc đẩy các nhà lập  
pháp nghiên cứu, thiết lập khung pháp lý  
điều chỉnh các vấn đề phát sinh mà AI mang  
lại ở thời điểm hiện tại cũng như các thách  
thức về mặt pháp lý trong tương lai. Một số  
quốc gia trên thế giới đã có những động thái  
tích cực trong việc giải quyết các vấn đề này.  
Nhìn chung, về tư cách pháp lý của AI có 2  
hướng giải quyết sau đây:  
Thứ nhất, xét AI có các quyền và nghĩa  
vụ như con người, nhưng phần lớn pháp luật  
quốc gia và quốc tế đều không đi theo cách  
tiếp cận này;  
Thứ hai, coi AI là một đối tượng đặc biệt  
trong hệ thống pháp luật với bản chất là một  
công cụ, hoàn toàn không được trao các  
quyền như con người.  
và chuỗi ADN, là robot hội tụ rất nhiều công  
nghệ như AI, dữ liệu lớn, vạn vật kết nối,  
điện toán đám mây... Về khả năng, robot  
này có thể trả lời được kiến thức về hầu hết  
mọi lĩnh vực, có thể nhận dạng khuôn mặt,  
nhận dạng hình ảnh và đo được nhịp tim của  
người đối diện. Có thể nói, Trí Nhân chính  
là thành công lớn của ngành khoa học AI  
tại Việt Nam, hứa hẹn sự phát triển của AI  
và ứng dụng rộng rãi của nó vào cuộc sống  
trong tương lai19.  
Tuy nhiên, bên cạnh chính sách phát  
triển AI được chú trọng, nhưng việc dự liệu,  
thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các vấn  
đề phát sinh liên quan đến AI lại chưa được  
quan tâm đúng mức. Xét tổng thể, trong hệ  
thống pháp luật của nước ta hiện nay, không  
gian pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp  
luật có sự tham gia của công nghệ còn hạn  
hẹp, không thể xử lý được các vấn đề phát  
sinh liên quan đến AI. Do đó, việc chuẩn  
bị những giải pháp, kịch bản cụ thể trước  
viễn cảnh AI phát triển mạnh tại Việt Nam  
là hết sức cần thiết. Để có những giải pháp  
tối ưu giải quyết các thách thức pháp lý mà  
AI mang lại, theo xu hướng chung, việc đầu  
tiên là xác định tư cách pháp lý cho AI.  
Theo quy định của BLDS của nước ta, chủ  
thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp  
nhân20. DoAI là thực thể nhân tạo, không phải  
thực thể tự nhiên như con người; do đó, không  
thể gộp AI vào nhóm chủ thể là cá nhân; hiển  
nhiên AI cũng không phải là tổ chức, không  
mang các đặc điểm để được công nhận là  
pháp nhân. Mặt khác, cũng không nên coi AI  
chỉ là một công cụ. Bởi lẽ, trong tương lai,  
3. Xác lập tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân  
tạo tại Việt Nam  
Ở Việt Nam, AI được ứng dụng vào  
nhiều lĩnh vực của đời sống và đạt được  
những thành tựu đáng kể. Đặc biệt, vào  
ngày 22/11/2020, trong khuôn khổ Diễn đàn  
công nghệ giáo dục EDU 4.0, Người máy  
Trí Nhân được ra mắt. Đây là người máy  
“make in VietNam” đầu tiên. Trí Nhân ra  
đời với mục đích giáo dục, hỗ trợ cho việc  
dạy và học của giảng viên và học sinh, sinh  
viên. Về cấu tạo, Trí Nhân là một robot nam  
có kích thước của một người trưởng thành,  
được in 3D với 5 giác quan và các yếu tố  
mô phỏng sinh học như tim phổi nhân tạo  
18 A.Atabekov, Oleg Aleksandrovich Yastrebov (2018), Legal status of artificial intelligence across countries:  
Legislation on the move, European Research Studies Journal, Volume XXI, Issue 4, p. 778–779, retrieved  
intelligence_across_countries_Legislation_on_the_move>.  
19 Trí Nhân: Người máy AI “Make in Vietnam” lần đầu ra mắt (2020), Thông tin và Truyền thông, truy cập  
2172125704.htm >.  
20 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 24/11/2015, Điều 1 đã quy định các chủ thể tham  
gia vào các quan hệ dân sự phải là cá nhân hoặc pháp nhân.  
18  
Số 12(436) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
viễn cảnh AI tự mình tham gia vào các quan  
hệ xã hội một cách độc lập là hoàn toàn có thể  
xảy ra. Việc coi AI là tài sản, công cụ hay sản  
phẩm là chưa phù hợp với trình độ phát triển  
của AI. Từ các lập luận này, có thể thấy rằng,  
giải pháp tối ưu nhất cho vấn đề là trao tư cách  
pháp lý cho AI, coi nó là một chủ thể độc lập  
với các chủ thể thực tại, từ đó xây dựng khung  
pháp lý riêng điều chỉnh các vấn đề pháp lý  
liên quan đến AI.  
Khi thiết lập tư cách pháp lý cho AI, cần  
xác lập tên gọi cho AI. Chúng tôi cho rằng,  
AI là “cá nhân điện tử”. Đây là một cái tên  
phù hợp vì có lý do sau:  
Thứ nhất, AI là một thực thể nhân tạo,  
không phải con người, hoạt động dựa trên  
nguyên lý điện tử học.  
Thứ hai, pháp luật Việt Nam hiện nay đã  
ghi nhận khái niệm “cá nhân” cũng như có  
nhiều khái niệm liên quan đến “điện tử”21, do  
đó khái niệm cá nhân điện tử sẽ không gây  
khó khăn nhiều cho việc giải thích và sử dụng.  
Tuy nhiên, không phải bất cứ AI nào “sinh  
ra” cũng được trao tư cách pháp lý, mà chỉ có  
những AI phát triển đạt đến ngưỡng có thể tự  
mình hoạt động độc lập không phụ thuộc vào  
con người, cộng thêm với việc được tích hợp  
trong cơ thể của một robot, thì AI đó mới có  
thể được công nhận là một chủ thể mới của  
quan hệ pháp luật. Do vậy, đi kèm với việc trao  
tư cách pháp lý thì Nhà nước cần xây dựng  
khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực riêng cho  
AI. Việc đánh giá khả năng của AI để công  
nhận tư cách pháp lý cần phải có thời gian  
quan sát, nghiên cứu cũng như tham khảo ý  
kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực công  
nghệ để xây dựng bộ tiêu chuẩn và quy trình  
giám định kèm theo. Khi được công nhận tư  
cách pháp lý, AI sẽ được định dạng như một  
chủ thể của quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, do  
AI không có đầy đủ nhận thức và khả năng  
tư duy, chịu trách nhiệm như một thể nhân,  
pháp nhân. Vì vậy, các quyền của AI cũng  
phải bị giới hạn chứ không hoàn toàn giống  
như các quyền của các chủ thể trong quan hệ  
pháp luật hiện nay. Các quyền và nghĩa vụ này  
sẽ bị giới hạn tương ứng với khả năng tham  
gia vào quan hệ xã hội một cách độc lập của  
AI. Song song đó là vấn đề trách nhiệm pháp  
lý của AI, chúng tôi cho rằng, chúng ta cần  
tham khảo Nghị quyết của Nghị viện châu  
Âu22. Theo đó, trách nhiệm pháp lý phát sinh  
từ AI sẽ thuộc về con người, cụ thể là chủ sở  
hữu của cá nhân điện tử này vì các lý do sau:  
thứ nhất, trong tương lai gần, AI không thể tự  
chịu mọi trách nhiệm pháp lý cho những hành  
động của mình mà chỉ có thể chịu trách nhiệm  
giới hạn trong khả năng của nó; thứ hai, chủ  
sở hữu AI, bên cạnh việc được hưởng lợi từ  
các quyền tài sản của AI nên cũng phải đại  
diện và chịu trách nhiệm choAI trong các vấn  
đề phát sinh khác.  
Hiện tại, việc xem xét đặt ra tư cách cho  
AI có thể được xem là mới mẻ. Tuy nhiên,  
trong tương lai nếu AI đáp ứng đủ điều kiện  
thì cần được công nhận tư cách pháp lý. Do  
đó, để chuẩn bị cho viễn cảnh AI phát triển  
mạnh mẽ tại Việt Nam, việc nghiên cứu, xem  
xét, đề ra các dự thảo luật điều chỉnh các vấn  
đề có thể phát sinh là điều cần thiết  
21 “Điện tử” xuất hiện trong các thuật ngữ pháp lý như “thương mại điện tử”, “tiền điện tử”. Điện tử thường  
được hiểu là một không gian điện tử, không gian số lưu giữ giá trị của sự kiện, vật thể đang xác định. Ví dụ,  
theo Dự thảo Nghị định quy định về thanh toán không dùng tiền mặt Điều 3 (12), tiền điện tử được xác định là  
“giá trị tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử”. Tương tự như vậy, “cá nhân điện tử” có thể được hiểu như  
một cá nhân khác với cá nhân sinh học. Tính “cá nhân” của chủ thể này được thể hiện trên nền tảng số, trong  
một không gian điện tử. Chính không gian điện tử thay thế cho cơ quan sinh học, sẽ mang vai trò chủ đạo, điều  
khiển cá nhân có thể suy nghĩ, hành động. Tương tự với các cơ quan quan trọng của cá nhân tự nhiên khi xác  
định sự sống - chết pháp lý, y học, là não và tim, là các cơ quan sinh học.  
22 Neznamov, A., Naumov, V. (2017), Model Convention on Robotics and AI, retrieved on 21/01/2021, from  
<http://robopravo.ru/matierialy_dlia_skachivaniia#ul-id-4-35>.  
Số 12(436) - T6/2021  
19  
pdf 6 trang Thùy Anh 18640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác lập tư cách pháp lý cho trí tuệ nhân tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_lap_tu_cach_phap_ly_cho_tri_tue_nhan_tao.pdf