Hoàn thiện dự thảo nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ  
Nguyễn Bích Thảo*  
Đỗ Giang Nam**  
*,**TS.-Khoa-Luật,-Đại-học-Quốc-gia-Hà-Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Tài sản bảo đảm, xử lý tài sản  
bảo đảm, cầm giữ tài sản, bảo lãnh.  
Ngày 21/9/2020, Dự thảo Nghị định về Bảo đảm thực hiện nghĩa  
vụ đã được công bố để lấy ý kiến rộng rãi mọi cá nhân, tổ chức1  
(Dự thảo Nghị định). Trong phạm vi bài viết này, các tác giả phân  
tích, đánh giá tổng quan về kết cấu, nội dung của Dự thảo Nghị  
định trong việc đáp ứng các chính sách lớn mà Chính phủ đặt ra  
khi xây dựng Nghị định này, đồng thời đề xuất một số nội dung  
cần tiếp tục hoàn thiện để tạo dựng khung pháp lý thuận lợi hơn  
nữa, thúc đẩy khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 12/10/2020  
: 21/10/2020  
: 27/10/2020  
Article Infomation:  
Key words: Secured property,  
enforcement of a security right, statutory  
lien, guarantee.  
Abstract:  
On September 21, 2020, the draft Decree on Ensuring the  
Performance of Obligations was announced for public consultation  
from all individuals and organizations (draft Decree). Under the  
scope of this article, the authors provide reviews and analysis of  
the structure and provisions under the draft decree in response to  
the major policies set by the Government when developing this  
Decree. The authors also propose a number of recommendations  
for further improvements of the draft Decree so that it is to  
establish a more favorable legal framework, promoting the  
maximum operations of the economic value of the secured  
property.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 12 Oct. 2020  
: 21 Oct. 2020  
: 27 Oct. 2020  
Approved  
1. Về quy định chung trong Dự thảo Nghị  
định  
1.1. Nguyên tắc tôn trọng sự tự do thoả  
thuận của các bên  
Trên cơ sở tôn trọng tối đa quyền tự do  
thoả thuận của các bên, Dự thảo Nghị định  
đã có cách tiếp cận khá cởi mở về áp dụng  
pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Cụ  
thể, khoản 4 Điều 1 của Dự thảo Nghị định  
quy định:  
tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại  
Điều 3 của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và  
không vi phạm giới hạn việc thực hiện  
quyền dân sự quy định tại Điều 10 của  
BLDS 2015, quy định khác của luật liên  
quan thì được tôn trọng, áp dụng”.  
Như vậy, với điều khoản này, Dự thảo  
Nghị định cho phép các bên có thể thoả thuận  
về những nội dung liên quan đến bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ khác với quy định của  
pháp luật, và các thoả thuận này, nếu không  
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
“Thỏa thuận của các bên về bảo đảm  
thực hiện nghĩa vụ phù hợp với các nguyên  
1
d10.html.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
31  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
dân sự, không vi phạm giới hạn việc thực  
hiện quyền dân sự, sẽ được ưu tiên áp dụng  
so với các quy định của pháp luật về biện  
pháp bảo đảm. Đây là cách tiếp cận mới, phù  
hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu  
thực tiễn đặt ra nhằm cho phép các bên được  
tự do tạo dựng quy tắc pháp lý phù hợp nhất  
để đáp ứng tối đa quyền và lợi ích của họ.  
Tuy nhiên, quy định này không làm rõ  
được các quy định bắt buộc của pháp luật về  
biện pháp bảo đảm mà các bên không thể  
thoả thuận khác; đồng thời, tạo nên điểm mờ  
pháp lý rằng các bên được thỏa thuận về biện  
pháp bảo đảm khác với 9 biện pháp đã được  
quy định tại Điều 292 BLDS 2015. Vì vậy,  
Dự thảo Nghị định cần sửa đổi Điều 4 theo  
hướng nêu rõ tôn trọng sự thoả thuận của các  
bên, nhưng sự thoả thuận này sẽ không làm  
ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của bên thứ  
ba và chỉ rõ những nội dung nào các bên  
không được thỏa thuận khác2.  
một số trường hợp cần phải được giới hạn  
nhằm đáp ứng yêu cầu về niềm tin vào sự an  
toàn pháp lý trên thị trường và sự thông suốt  
trong các giao dịch thương mại, tiền tệ. Trên  
tinh thần này, Dự thảo Nghị định đã quy định  
hướng dẫn chi tiết nội dung quyền truy đòi  
tài sản (khoản 1 và khoản 2 Điều 7); đồng  
thời, đưa ra một số các ngoại lệ mà người  
nhận chuyển nhượng không phải trả lại tài  
sản cho bên nhận bảo đảm (khoản 3 Điều 7).  
Tuy nhiên, quy định của Dự thảo Nghị  
định vẫn chưa trực tiếp điều chỉnh mối quan  
hệ giữa bên nhận bảo đảm và người mua tài  
sản trong hoạt động thương mại bình  
thường. Theo thông lệ quốc tế về giao dịch  
bảo đảm, trong trường hợp này, bên mua tài  
sản sẽ được giải phóng khỏi quyền truy đòi  
nếu thoả mãn hai điều kiện: (i) bên bán hàng  
hóa phải đang kinh doanh, buôn bán thường  
xuyên chính mặt hàng đó và (ii) bên mua  
phải không biết, không buộc phải biết là giao  
dịch đó vi phạm quyền của bên nhận bảo  
đảm trong hợp đồng bảo đảm3. Ngoại lệ này  
đóng vai trò rất quan trọng thúc đẩy sự lưu  
thông tự do hàng hoá trên thị trường. Bởi lẽ,  
nó giúp người mua hàng hoá tin tưởng rằng,  
hàng hoá sẽ bị chủ nợ có bảo đảm của bên  
bán truy đòi để xử lý nợ. Khoản 4 Điều 321  
BLDS 2015 đã gián tiếp đề cập trường hợp  
này, nhưng chưa rõ ràng (Bên nhận thế chấp  
“được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp,  
nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong  
quá trình sản xuất kinh doanh”).  
1.2. Quyền truy đòi tài sản bảo đảm  
Một trong những điểm cải cách quan  
trọng của pháp luật về biện pháp bảo đảm  
hiện nay là việc BLDS vận dụng lý thuyết  
vật quyền, trao cho bên nhận bảo đảm quyền  
năng trực tiếp tác động lên tài sản bảo đảm;  
hệ quả pháp lý kéo theo là khi biện pháp bảo  
đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người  
thứ ba, bên nhận bảo đảm sẽ có quyền truy  
đòi tài sản bảo đảm trong trường hợp tài sản  
đó đã được chuyển nhượng cho người khác  
(khoản 2 Điều 297 BLDS 2015). Mặc dù  
vậy, nguyên tắc này không phải tuyệt đối,  
bởi lẽ, quyền lợi của bên nhận bảo đảm trong  
Vì vậy, để tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy các  
hoạt động thương mại bình thường trên thị  
2
Chẳng hạn, Điều 3 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL quy định rõ những nội dung nào các  
bên không thể thỏa thuận khác với quy định của Luật và thỏa thuận đó không có hiệu lực với người thứ ba  
không phải là một bên trong hợp đồng bảo đảm:  
“1. With the exception of articles 4, 6, 9, 53, 54, 72, paragraph 3, and 85-107, the provisions of this Law  
may be derogated from or varied by agreement.  
2. An agreement referred to in paragraph 1 does not affect the rights or obligations of any person that is  
not a party to the agreement.  
3. Nothing in this Law affects any agreement to use alternative dispute resolution, including arbitration,  
mediation, conciliation and online dispute resolution”.  
3
Điều 34 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
32  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trường, Dự thảo Nghị định cần ghi nhận rõ  
ràng ngoại lệ như đã phân tích ở trên đối với  
quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm4.  
2. Tài sản bảo đảm  
tả tài sản bảo đảm đáp ứng yêu cầu “phải xác  
định được tài sản” có thể hiểu là liệt kê chi  
tiết, cụ thể từng tài sản bảo đảm, hoặc mô tả  
theo loại tài sản (ví dụ: hàng hóa luân  
chuyển trong kinh doanh hiện có và hình  
thành trong tương lai, các quyền đòi nợ  
(khoản phải thu) hiện có và hình thành trong  
tương lai, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện  
có và hình thành trong tương lai v.v…).  
2.2. Các loại tài sản cụ thể  
Trong xu thế chung nhìn nhận vai trò  
ngày càng quan trọng của động sản là tài sản  
bảo đảm, BLDS 2015 đã đưa ra những cải  
cách quan trọng về hành lang pháp lý giải  
phóng tối đa giá trị của động sản nhằm thúc  
đẩy tiếp cận tín dụng, phục vụ nhu cầu đời  
sống và sản xuất kinh doanh5. Tuy nhiên,  
động sản là một khái niệm có phạm vi rộng  
lớn, bao trùm nhiều loại hình tài sản với tính  
chất vật lý và quy chế pháp lý khác nhau; với  
tư cách là một đạo luật chung, BLDS 2015  
không thể đưa ra các quy định chi tiết để  
điều chỉnh từng trường hợp đặc thù tương  
ứng với các loại động sản được dùng làm tài  
sản bảo đảm. Vì vậy, nhiệm vụ của văn bản  
hướng dẫn thi hành là bổ sung các quy phạm  
định nghĩa các loại tài sản bảo đảm là động  
sản; quy định hướng dẫn cụ thể từng giai  
đoạn xác lập giao dịch bảo đảm, xác định  
hiệu lực đối kháng của giao dịch bảo đảm  
với người thứ ba, xử lý tài sản bảo đảm, về  
thứ tự ưu tiên liên quan đến động sản tương  
ứng, phù hợp với từng loại động sản.  
Mô tả tài sản bảo đảm  
BLDS 2015 đã tiếp cận theo hướng mở  
cho phép khai thác tối đa các loại tài sản có  
thể được sử dụng làm đối tượng tài sản bảo  
đảm. Theo đó, tài sản bảo đảm có thể được  
mô tả chung, nhưng phải xác định được tài  
sản (khoản 2 Điều 295). Vì vậy, nhiệm vụ  
của văn bản hướng dẫn thi hành là phải làm  
rõ tiêu chí “xác định được tài sản”, nhưng  
không đi ngược lại xu thế mở của BLDS  
2015 cho phép mô tả chung về tài sản bảo  
đảm. Tuy nhiên, Điều 15 Dự thảo Nghị định  
lại quy định theo hướng thắt chặt khả năng  
mô tả chung bằng cách liệt kê rất chi tiết, cụ  
thể các yêu cầu đặt ra để thoả mãn tiêu chí  
“nhưng phải xác định được tài sản” của  
BLDS 2015. Cách tiếp cận này của Điều 15  
Dự thảo Nghị định chưa phù hợp với định  
hướng chính sách tạo thuận lợi cho các bên  
trong việc xác lập giao dịch bảo đảm và giảm  
chi phí giao dịch, đồng thời cũng không phù  
hợp với thông lệ quốc tế về giao dịch bảo  
đảm và thực tiễn mô tả tài sản bảo đảm trong  
các hợp đồng bảo đảm ở Việt Nam. Quy định  
của Điều 15 Dự thảo Nghị định dẫn đến rủi  
ro lớn là tòa án có thể tuyên hợp đồng bảo  
đảm vô hiệu do không đáp ứng được yêu cầu  
về mô tả tài sản bảo đảm. Đặc biệt, đối với  
một số loại tài sản đặc thù, mang tính biến  
động cao theo chu kỳ kinh doanh như quyền  
đòi nợ, hàng hóa luân chuyển trong quá trình  
sản xuất kinh doanh, việc mô tả chi tiết như  
Điều 15 là không khả thi.  
Chương III của Dự thảo Nghị định đã  
góp phần cụ thể hoá tinh thần đó bằng cách  
đưa ra các quy định hướng dẫn liên quan đến  
giấy tờ có giá, số dư tài khoản ngân hàng,  
chứng khoán, quyền tài sản phát sinh từ hợp  
đồng, từ phần vốn góp trong đầu tư kinh  
Để khắc phục bất cập nêu trên, Dự thảo  
Nghị định cần được sửa đổi theo hướng, mô  
4
5
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo đảm trong trường hợp này, Dự thảo  
Nghị định cũng nên bổ sung quy định về tài sản phái sinh từ tài sản bảo đảm như kiến nghị tại mục 2.2.  
Về những điểm mới cơ bản của chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS 2015, xem Đinh Trung  
Tụng, Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao Động, 2017, tr.147-171; Nguyễn  
Quang Hương Trà, Những điểm mới của chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự năm  
2015, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, 2016, Số 3 (288), tr. 42 – 47.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
33  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
doanh, quyền tài sản phát sinh từ việc khai  
thác, sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân.  
Tuy nhiên, để giúp các chủ thể trong giao  
dịch bảo đảm nhận diện được tất cả các loại  
tài sản có thể được sử dụng làm tài sản bảo  
đảm và tạo thuận lợi cho họ trong việc mô  
tả tài sản bảo đảm theo loại tài sản, Dự thảo  
cần bổ sung, hướng dẫn các loại tài sản khác  
như sau:  
cần thống nhất quy định một loại tài sản là  
hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản  
xuất, kinh doanh.  
- Tài sản bảo đảm là chứng từ hàng hóa  
có thể chuyển nhượng (negotiable  
document)  
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh,  
hàng hóa có thể không do bên bán bảo đảm  
nắm giữ mà do bên vận chuyển hoặc chủ tài  
khoản nắm giữ, và các chủ thể này phát hành  
các chứng từ hàng hóa như vận đơn (bill of  
ladinh), chứng chỉ hàng hóa lưu kho  
(warehouse receipt), người nào nắm giữ các  
chứng từ này cũng đồng nghĩa với việc có  
quyền được nhận hàng từ bên vận chuyển  
hoặc chủ kho. Vì vậy, các chứng từ này cũng  
có giá trị, có thể chuyển nhượng trong các giao  
dịch, và có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm.  
Quyển 9 của UCC và Luật mẫu của  
UNCITRAL đều quy định: Quyền lợi bảo  
đảm đối với chứng từ hàng hóa cũng có hiệu  
lực đối với hàng hóa được mô tả trên chứng  
từ đó nếu bên phát hành chứng từ đang nắm  
giữ hàng hóa tại thời điểm xác lập giao dịch  
bảo đảm đối với chứng từ hàng hóa9.  
Dự thảo về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ  
nên bổ sung quy định này để khuyến khích  
việc nhận bảo đảm bằng chứng từ hàng hóa  
như vận đơn, chứng chỉ hàng hóa lưu kho.  
- Tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ  
Theo lý thuyết về nghĩa vụ, quyền đòi  
nợ là quyền đối nhân cho phép chủ nợ yêu  
cầu con nợ phải thực hiện một nghĩa vụ nhất  
định bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán một  
khoản tiền và nghĩa vụ thực hiện công việc,  
kiềm chế không thực hiện công việc vì lợi  
ích của chủ nợ. Quyền đòi nợ, dưới góc độ  
của pháp luật tài sản là một động sản vô hình  
nên có thể được sử dụng làm đối tượng của  
- Tài sản bảo đảm là hàng hóa luân  
chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh  
Theo quan niệm của một số luật gia ở  
Việt Nam, hàng hóa luân chuyển trong kinh  
doanh cần được phân biệt với hàng tồn kho6.  
Tuy nhiên, sự phân biệt này dường như chỉ  
có ý nghĩa về mặt nghiệp vụ cho vay và  
nghiệp vụ quản lý tài sản thế chấp của bên  
nhận thế chấp. Về mặt pháp lý, chỉ nên có  
một định nghĩa và một cơ chế pháp lý thống  
nhất đối với tài sản bảo đảm hàng hóa luân  
chuyển trong kinh doanh (inventory). Ví dụ,  
theo Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của  
UNCITRAL năm 2016 (Luật mẫu của  
UNCITRAL), “hàng hóa luân chuyển trong  
kinh doanh” là hàng hóa được trữ để bán  
hoặc cho thuê trong hoạt động kinh doanh  
bình thường của bên bảo đảm, trong đó bao  
gồm nguyên vật liệu và bán thành phẩm7.  
Quyển 9 của Bộ luật Thương mại thống  
nhất Hoa Kỳ năm 2010 (Uniform  
Commercial Code -UCC) đưa ra định nghĩa  
rộng hơn, không chỉ bao gồm hàng hóa được  
trữ để bán hoặc cho thuê, mà còn bao gồm  
hàng hóa được cho thuê, hàng hóa được  
cung cấp theo hợp đồng dịch vụ, nguyên  
liệu, bán thành phẩm, hoặc các vật liệu được  
sử dụng hoặc tiêu thụ trong hoạt động kinh  
doanh8. Do đó, để tránh sự phức tạp không  
đáng có trong thực tiễn, Dự thảo Nghị định  
6
222818.html.  
7
8
9
Điều 2(q) Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL năm 2016.  
Điều 9-102(48) UCC.  
Điều 16 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
34  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
biện pháp bảo đảm. Trước đây, theo Điều  
322 BLDS 2005, quyền đòi nợ, với tư cách  
là quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện  
nghĩa vụ, được phân biệt so với quyền tài sản  
phát sinh từ hợp đồng10. Mặc dù vậy, sự phân  
biệt này không thực sự rõ ràng, bởi lẽ, nếu  
xuất phát từ lý thuyết nghĩa vụ, thì quyền đòi  
nợ là khái niệm bao trùm, nó bao trùm mọi  
quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các  
căn cứ khác làm phát sinh nghĩa vụ; ví dụ,  
quyền tài sản phát sinh từ nghĩa vụ bồi  
thường thiệt hại do thực hiện hành vi trái  
pháp luật. Hiểu theo nghĩa rộng, quyền đòi  
nợ bao hàm cả quyền yêu cầu thanh toán từ  
các công cụ chuyển nhượng, quyền yêu cầu  
thanh toán từ tài khoản tiền gửi… Tuy nhiên,  
rõ ràng các quyền yêu cầu nêu trên là các  
quyền đòi nợ đặc biệt và nó đòi hỏi những  
quy chế riêng phù hợp với bản chất của nó.  
Để thúc đẩy sự vận hành hiệu quả của  
hệ thống giao dịch bảo đảm, trước hết Dự  
thảo Nghị định cần quy định rõ nội hàm của  
khái niệm quyền đòi nợ. Chúng ta có thể  
tham khảo Luật mẫu của UNCITRAL, trong  
đó tách biệt rõ ràng giữa các khái niệm như:  
“quyền đòi nợ”, “quyền yêu cầu thanh toán  
từ công cụ chuyển nhượng”, “quyền yêu cầu  
thanh toán từ tài khoản tiền gửi”… Sự tách  
bạch này nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng  
các quy chế riêng, phù hợp nhằm thúc đẩy  
giao dịch bảo đảm. Cụ thể, theo Luật mẫu  
của UNCITRAL, phương thức xác lập hiệu  
lực đối kháng đối với người thứ ba là cơ chế  
đăng ký; theo đó, thứ tự ưu tiên thanh toán  
về quyền đòi nợ được xác định dựa trên thời  
điểm đăng ký. Trong khi đó, đối với các  
công cụ chuyển nhượng, tương tự như cầm  
cố ở Việt Nam, phương thức xác lập hiệu lực  
đối kháng và qua đó xác định thứ tự ưu tiên  
là chiếm hữu hay nắm giữ. Đối với tài khoản  
tiền gửi, phương thức xác lập hiệu lực đối  
kháng lại là “kiểm soát, chi phối” tài khoản.  
- Tài sản phái sinh từ tài sản bảo đảm  
Quyển 9 UCC và Luật mẫu của  
UNCITRAL đều quy định mở rộng phạm vi  
quyền của bên nhận bảo đảm không chỉ đối  
với tài sản bảo đảm ban đầu mà còn đối với  
tài sản phái sinh từ tài sản bảo đảm  
(proceeds)11. Tài sản phái sinh bao gồm tất  
cả các tài sản, quyền, lợi ích phái sinh từ tài  
sản bảo đảm thông qua các giao dịch bán,  
chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê… tài sản,  
hoa lợi, lợi tức, số tiền bảo hiểm thu được từ  
tài sản bảo đảm, số tiền bồi thường thiệt hại  
mà bên bảo đảm thu được trong vụ kiện liên  
quan đến tài sản bảo đảm…12.  
BLDS 2015, tuy bước đầu đề cập đến tài  
sản phái sinh nhưng mới chỉ dừng lại ở phạm  
vi rất hẹp, chưa bao quát được các loại tài  
sản phái sinh khác. Ví dụ, khoản 4 Điều 321  
BLDS 2015 quy định, trong trường hợp bán  
hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản  
xuất, kinh doanh, “quyền yêu cầu bên mua  
thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình  
thành từ số tiền thu được, tài sản được thay  
thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế  
chấp”. Trên thực tế, các tổ chức tín dụng ở  
Việt Nam thường liệt kê các quyền, lợi ích  
phái sinh từ tài sản bảo đảm trong hợp đồng  
bảo đảm (phần mô tả tài sản bảo đảm) để bảo  
vệ quyền lợi của mình. Để thực tiễn này  
được công nhận chính thức, Dự thảo Nghị  
định cần quy định về “tài sản phái sinh từ tài  
sản bảo đảm” trên cơ sở tham khảo định  
nghĩa về “proceeds” của UCC và Luật mẫu  
của UNCITRAL nhằm mở rộng đường cho  
các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm  
về phạm vi tài sản bảo đảm và thỏa thuận đó  
có thể được tòa án công nhận hiệu lực khi có  
tranh chấp xảy ra. Khi thừa nhận tài sản phái  
sinh từ tài sản bảo đảm, cũng cần quy định  
rõ rằng, quyền lợi bảo đảm đương nhiên có  
10 Xem thêm Bùi Đức Giang, Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 2013,  
Số 8(304), tr.33-34.  
11 Hướng dẫn lập pháp của UNCITRAL về giao dịch bảo đảm, tr.84, đoạn 74.  
12 Điều 9-102(64) U.C.C., Điều 2(bb) Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
35  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
hiệu lực đối với các tài sản phái sinh có thể  
xác định được (identifiable proceeds)13.  
- Tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá, số  
dư tài khoản ngân hàng, quyền sở hữu trí tuệ  
(SHTT)  
phương thức (i) đăng ký biện pháp bảo đảm,  
(ii) bên nhận bảo đảm nắm giữ tài sản bảo  
đảm và (iii) bên nhận bảo đảm chiếm giữ tài  
sản bảo đảm. Trên tinh thần đó, Điều 24 Dự  
thảo Nghị định đã quy định về thời điểm  
phát sinh hiệu lực đối kháng của biện pháp  
bảo đảm với người thứ ba đối với phương  
thức đăng ký hay nắm giữ trực tiếp, đồng  
thời bổ sung các quy định về hiệu lực đối  
kháng trong các trường hợp hợp đồng bảo  
đảm chấm dứt nhưng biện pháp bảo đảm  
chưa được xoá đăng ký, hay trường hợp  
quyền sở hữu tài sản bảo đảm đã được  
chuyển giao cho người khác.  
Đối với các tài sản này, Dự thảo Nghị  
định không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận  
chúng có thể được dùng để bảo đảm (vì từ  
trước đến nay, các tài sản này vẫn được sử  
dụng làm tài sản bảo đảm), mà quan trọng  
hơn là phải thiết kế được các quy định riêng  
về hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thứ  
tự ưu tiên và xử lý tài sản bảo đảm phù hợp  
với đặc thù của các loại tài sản nêu trên.  
Đáng tiếc là Dự thảo Nghị định chưa làm  
được việc này, mà chỉ đơn thuần dẫn chiếu  
đến quy định của pháp luật chuyên ngành (ví  
dụ, khoản 3 Điều 57 Dự thảo Nghị định).  
Việc sử dụng thuật ngữ “quyền tài sản  
trong SHTT” là chưa hoàn toàn chính xác so  
với quy định của pháp luật SHTT. Đối với  
quyền SHTT, cần quy định cụ thể, rõ hơn  
quyền SHTT được sử dụng làm tài sản bảo  
đảm bao gồm những quyền gì để các bên  
nhận diện được tài sản bảo đảm và thỏa  
thuận trong hợp đồng bảo đảm. Ví dụ, quyền  
tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công  
nghiệp, quyền đối với giống cây trồng (hiện  
có và hình thành trong tương lai), quyền của  
bên nhận chuyển giao quyền sử dụng đối với  
đối tượng SHTT (bên nhận li xăng), quyền  
yêu cầu thanh toán của bên chuyển giao  
quyền sử dụng đối tượng SHTT (bên cấp li  
xăng), quyền nhận số tiền bồi thường thiệt  
hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT gây  
ra, và tất cả các quyền, lợi ích khác phái sinh  
từ quyền SHTT.  
Tuy nhiên, về hiệu lực của biện pháp  
bảo đảm, Dự thảo Nghị định có 3 hạn chế  
cần được xem xét, khắc phục; đó là:  
Thứ nhất, Dự thảo Nghị định chưa quy  
định rõ về hiệu lực xác lập quyền của bên  
nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm.  
Một trong những điểm tiến bộ nổi bật  
của chế định biện pháp bảo đảm trong BLDS  
2015 là đã phân biệt rõ ràng vấn đề hiệu lực  
của biện pháp bảo đảm giữa các bên và hiệu  
lực đối kháng với người thứ ba. Vì vậy, để  
đảm bảo tính tương xứng và hệ thống, bên  
cạnh điều luật về hiệu lực đối kháng của biện  
pháp bảo đảm với người thứ ba, Dự thảo  
Nghị định cần bổ sung một điều khoản về  
hiệu lực của biện pháp bảo đảm giữa các  
bên. Hiện nay, Dự thảo Nghị định đang sử  
dụng thuật ngữ “hiệu lực xác lập quyền của  
bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm”  
nhưng không giải thích thuật ngữ này. Mặt  
khác, Dự thảo Nghị định cần quy định rõ  
rằng, trừ trường hợp pháp luật có quy định  
khác, đăng ký không phải là điều kiện phát  
sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm giữa các  
bên. Trong trường hợp này, ngay cả khi bên  
nhận thế chấp không đăng ký biện pháp bảo  
đảm, giao dịch này vẫn có hiệu lực giữa các  
bên, và do đó, bên nhận thế chấp vẫn có  
quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.  
3. Xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm  
3.1. Xác lập hiệu lực đối kháng của  
biện pháp bảo đảm với người thứ ba  
BLDS 2015 đã dành một điều luật riêng  
(Điều 297) quy định về ba phương thức xác  
lập hiệu lực đối với người thứ ba là các  
13 Điều 9-102(29) UCC, Điều 10(1) Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
36  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Khoản 6 Điều 24 Dự thảo Nghị định bước  
đầu có đề cập vấn đề này nhưng chưa thực  
sự rõ ràng.  
Thứ hai, Dự thảo Nghị định vẫn chưa có  
cách tiếp cận hệ thống khi giải thích nội hàm  
của Điều 297 BLDS 2015 về áp dụng hai  
phương thức chiếm giữ và nắm giữ tài sản  
tương ứng với từng biện pháp bảo đảm và  
từng loại tài sản bảo đảm để xác lập hiệu lực  
đối kháng với người thứ ba.  
Trên thực tế, đã có một số ý kiến đề nghị  
làm rõ nội hàm khái niệm nắm giữ theo một  
trong ba, nghĩa là nắm giữ thực tế tài sản,  
hay nắm giữ về mặt pháp lý (nắm giữ giấy  
tờ về tài sản bảo đảm) hay nắm giữ có tính  
chất kiểm soát chi phối tài sản14. Tác giả cho  
rằng, thay vì giải thích theo một trong ba  
cách như trên, Dự thảo Nghị định cần giải  
thích khái niệm nắm giữ theo hướng rộng  
nhất bao hàm cả 3 cách diễn giải trên để bao  
quát đầy đủ các phương thức xác lập hiệu  
lực đối kháng với người thứ ba tương ứng  
với từng loại tài sản bảo đảm. Trên tinh thần  
đó, Điều 24 Dự thảo Nghị định cần được xây  
dựng thành một quy định chung diễn giải  
triệt để tinh thần của Điều 297 BLDS 2015  
theo hướng: Chiếm giữ tài sản bảo đảm là  
phương thức làm phát sinh hiệu lực đối  
kháng người thứ ba được áp dụng với biện  
pháp cầm giữ15; nắm giữ tài sản bảo đảm, với  
tư cách là phương thức làm phát sinh hiệu  
lực đối kháng với người thứ ba bao gồm các  
khả năng là (a) nắm giữ thực tế, (b) nắm giữ  
về mặt pháp lý và (c) nắm giữ có tính chất  
kiểm soát chi phối tài sản, cụ thể như sau:  
Nắm giữ thực tế, theo quy định của  
khoản 2 và khoản 3 Điều 24 Dự thảo Nghị  
định, có thể hiểu Dự thảo Nghị định đã tiếp  
cận phương thức nắm giữ tài sản theo nghĩa  
rộng bao hàm cả trường hợp bên nhận bảo  
đảm nắm giữ tài sản bảo đảm và trường hợp  
bên thứ ba nắm giữ tài sản. Cách tiếp cận này  
đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, đồng thời  
phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì vậy, Dự thảo  
Nghị định cần duy trì cách tiếp cận hiện nay;  
đồng thời, cần quy định cụ thể phương thức  
nắm giữ thực tế được áp dụng chung để xác  
lập hiệu lực đối kháng của cầm cố, và được  
hiểu bao gồm cả hai trường hợp: (1) Bên  
nhận bảo đảm thực tế nắm giữ tài sản đó, (2)  
Bên nhận bảo đảm ủy quyền cho bên thứ ba  
nắm giữ tài sản đó và bên thứ ba đồng ý tuân  
theo chỉ dẫn của bên nhận bảo đảm16.  
Nắm giữ về mặt pháp lý: Dự thảo Nghị  
định cần quy định, trong trường hợp chứng  
từ hàng hóa được sử dụng làm tài sản bảo  
đảm và bên nhận bảo đảm nắm giữ chứng từ  
đó nhằm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên  
thứ ba, thì bên nhận bảo đảm cũng được coi  
là nắm giữ hàng hóa thể hiện trên chứng từ17.  
Nắm giữ có tính chất kiểm soát chi phối  
tài sản: Dự thảo Nghị định cần tiếp cận theo  
hướng thừa nhận phương thức kiểm soát chi  
phối tài sản bảo đảm được áp dụng đối với  
tài khoản tiền gửi, chứng khoán, quyền được  
thanh toán trên cơ sở thư tín dụng. Cụ thể,  
14 Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vướng mắc trong thực tiễn hoạt động ngân hàng cần hướng  
dẫn trong nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề Xây dựng  
Nghị định của Chính phủ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, 2020, tr.72.  
15 Cách giải thích này là phù hợp, đồng bộ với quy định tại Điều 346 BLDS 2015 và quy định tương ứng tại  
khoản 10 Điều 3, khoản 1 Điều 48 Dự thảo Nghị định.  
16 Xét từ góc độ hệ thống chế định, có thể sẽ có lập luận cho rằng, BLDS 2015 thực tế đã dự liệu trường hợp  
bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm nhưng đã chỉ cho phép điều đó trong trường hợp thế chấp tài sản (khoản 2  
Điều 317 BLDS 2015). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thế chấp và cầm cố đưa ra hai quy chế pháp lý hoàn  
toàn riêng biệt liên quan quyền và nghĩa vụ quản lý tài sản, chịu rủi ro… Đặc biệt, khái niệm “nắm giữ”  
trong cầm cố được sử dụng với chức năng “công khai hoá” quyền của bên cầm cố và qua đó xác lập hiệu  
lực đối kháng với người thứ ba, trong khi đó, muốn đối kháng với người thứ ba, bên nhận thế chấp cần  
phải đăng ký thế chấp (khoản 2 Điều 319 BLDS 2015).  
17 Điều 26 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
37  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
tham khảo kinh nghiệm của Luật mẫu của  
UNCITRAL, Dự thảo Nghị định cần quy  
định quyền lợi bảo đảm đối với tài khoản  
tiền gửi ngân hàng phát sinh hiệu lực đối  
kháng với người thứ ba nếu bên nhận bảo  
đảm kiểm soát, chi phối tài khoản tiền gửi  
đó theo một trong ba cách: (1) Bên nhận bảo  
đảm chính là ngân hàng nơi mở tài khoản;  
(2) Bên nhận bảo đảm, bên bảo đảm và ngân  
hàng nơi mở tài khoản ký kết thỏa thuận  
trong đó ngân hàng đồng ý tuân theo chỉ dẫn  
của bên nhận bảo đảm về việc trích nợ từ tài  
khoản mà không cần có sự đồng ý của bên  
bảo đảm; hoặc (3) Bên nhận bảo đảm đứng  
tên chủ tài khoản đó18. Đồng thời, cần bổ  
sung quy định đặc thù về thứ tự ưu tiên giữa  
bên nhận bảo đảm kiểm soát, chi phối tài  
khoản ngân hàng và bên nhận bảo đảm đã  
đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo thông lệ  
quốc tế, bên nhận bảo đảm đang kiểm soát,  
chi phối tài khoản ngân hàng có thứ tự ưu  
tiên cao hơn, kể cả trong trường hợp bên  
nhận bảo đảm còn lại đã đăng ký trước.  
Thứ ba, Điều 24 Dự thảo Nghị định quy  
định rất nhiều phương thức khác nhau để  
xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba,  
vượt ra ngoài phạm vi Điều 297 BLDS 2015.  
Bên cạnh phương thức đăng ký và nắm  
giữ/chiếm giữ tài sản bảo đảm, còn có các  
phương thức khác như bên nhận thế chấp  
nắm giữ giấy chứng nhận về tài sản thế chấp,  
bên nhận bảo đảm thực hiện hành vi công  
khai quyền của mình bằng cách thông báo,  
niêm yết trên trang thông tin điện tử, trụ  
sở… hoặc hành vi công khai khác phù hợp  
với quy định của pháp luật. Điều này sẽ dẫn  
đến rủi ro và tăng chi phí cho bên nhận bảo  
đảm vì phải tra cứu quá nhiều nguồn thông  
tin để xác định tình trạng pháp lý của tài sản  
bảo đảm, thay vì chỉ cần tra cứu tập trung tại  
cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký giao dịch  
bảo đảm. Hơn nữa, Dự thảo Nghị định đưa  
ra nhiều phương thức xác lập hiệu lực đối  
kháng với người thứ ba nhưng không làm rõ  
thứ tự ưu tiên giữa các bên nhận bảo đảm  
thực hiện công khai hóa bằng các phương  
thức này, có thể sẽ dẫn đến tranh chấp về thứ  
tự ưu tiên và khó khăn, vướng mắc cho tòa  
án trong việc giải quyết.  
3.2. Cầm giữ tài sản  
Bên cạnh các biện pháp bảo đảm được  
hình thành trên cơ sở thoả thuận, BLDS  
2015 lần đầu tiên quy định cầm giữ tài sản  
như là một biện pháp bảo đảm pháp định  
trong Mục Biện pháp bảo đảm (từ Điều 346  
đến Điều 350). Trên tinh thần đó, Dự thảo  
Nghị định đã hướng dẫn chi tiết các vấn đề  
liên quan đến cầm giữ tài sản như về thời  
điểm biện pháp cầm giữ phát sinh hiệu lực  
đối kháng đối với người thứ ba, về bảo đảm  
quyền cầm giữ và thực hiện quyền cầm  
giữ19. Mặc dù các quy định này đã góp phần  
nhận diện rõ cấu trúc pháp lý của quyền cầm  
giữ, nhưng những quy định này chưa xử lý  
hiệu quả và thuyết phục vấn đề thực tiễn đặt  
ra là xác định rõ thứ tự ưu tiên thanh toán  
giữa bên cầm giữ tài sản và bên nhận thế  
chấp đã xác lập và đăng ký thế chấp trước  
khi phát sinh quyền cầm giữ. Tương tự như  
vấn đề bảo lưu quyền sở hữu, nếu không có  
quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này, có thể  
có lập luận rằng, cần áp dụng quy định  
chung của Điều 308 BLDS 2015, theo đó  
bên nhận thế chấp sẽ có ưu thế khi đã đăng  
18 Điều 25 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL. Bên cạnh 3 phương thức đăng ký, nắm giữ và  
chiếm giữ nêu trên, Quyển 9 UCC và Luật mẫu của UNCITRAL đều quy định quyền lợi bảo đảm đối với  
tài sản phái sinh tự động có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm  
đối với tài sản ban đầu, nếu tài sản phái sinh có thể xác định được. Dự thảo Nghị định nên được bổ sung  
quy định này nếu ghi nhận tài sản phái sinh từ tài sản bảo đảm để thuận lợi cho việc xác định thứ tự ưu  
tiên liên quan đến tài sản phái sinh.  
19 Xem Điều 48, 49, 50 Dự thảo Nghị định và các quy định khác có liên quan tại khoản 10 Điều 3, Điều 14  
Điều 15 Dự thảo Nghị định.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
38  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
ký trước. Giải quyết vấn đề trên, khoản 2  
Điều 48 Dự thảo Nghị định đã kế thừa cách  
tiếp cận của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP  
về giao dịch bảo đảm (được sửa đổi bởi Nghị  
định số 11/2012/NĐ-CP), bảo vệ quyền lợi  
bên cầm giữ bằng cách quy định chỉ yêu cầu  
bên cầm giữ giao tài sản đang cầm giữ cho  
bên nhận thế chấp nếu bên nhận thế chấp  
hoặc bên có nghĩa vụ đã hoàn thành nghĩa  
vụ đối với bên cầm giữ. Trên thực tế, cách  
tiếp cận này không trực tiếp xác định rõ  
phạm vi, điều kiện áp dụng thứ tự ưu tiên  
giữa các bên và tạo ra lo ngại cho bên nhận  
thế chấp (chủ yếu là các tổ chức tín dụng) về  
khả năng lạm dụng quy định này của bên  
cầm giữ tài sản.  
Tham khảo thông lệ quốc tế, Dự thảo  
Nghị định có thể xây dựng quy phạm trực  
tiếp quy định bên cầm giữ được ưu tiên  
thanh toán ngay cả so với bên nhận thế chấp  
đã xác lập và đăng ký thế chấp trước nếu  
thỏa mãn các điều kiện sau đây: (i) Bên cầm  
giữ cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản  
thế chấp (ví dụ: sửa chữa, bảo dưỡng, nâng  
cấp, chăm sóc… tài sản đó) trong hoạt động  
thương mại bình thường (mang tính chuyên  
nghiệp), (ii) Việc cầm giữ tài sản nhằm bảo  
đảm cho nghĩa vụ thanh toán dịch vụ mà bên  
cầm giữ đã cung cấp, (iii) Tài sản thế chấp  
là đối tượng của dịch vụ được cung cấp bởi  
bên cầm giữ20.  
- Trường hợp bên thứ ba dùng tài sản  
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện  
nghĩa vụ cho người khác nhưng không có  
cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có  
nghĩa vụ, giữa bên thứ ba và bên nhận bảo  
đảm phát sinh biện pháp cầm cố, thế chấp,  
đặt cọc, ký cược hoặc ký quỹ. Khi tài sản bảo  
đảm của bên thứ ba bị xử lý, nhưng chưa đủ  
để thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, thì bên  
nhận bảo đảm không có quyền yêu cầu bên  
thứ ba thực hiện phần nghĩa vụ còn thiếu, trừ  
trường hợp các bên có thỏa thuận khác.  
- Trường hợp bên thứ ba cam kết thực  
hiện nghĩa vụ thay cho người khác thì giữa  
bên thứ ba và bên nhận bảo đảm phát sinh  
quan hệ bảo lãnh theo quy định từ Điều 335  
đến Điều 343 BLDS 2015 và quy định tại  
tiểu mục này.  
- Trường hợp bên bảo lãnh thỏa thuận  
với bên nhận bảo lãnh về việc áp dụng biện  
pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình, thì  
giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh phát  
sinh đồng thời quan hệ bảo lãnh và quan hệ  
cầm cố, thế chấp, đặc cọc, ký cược hoặc ký  
quỹ. Trường hợp tài sản bảo đảm của bên  
bảo lãnh bị xử lý, nhưng chưa đủ để thực  
hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thì bên nhận bảo  
đảm có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực  
hiện phần nghĩa vụ còn thiếu, trừ trường hợp  
các bên có thỏa thuận khác.  
4. Xử lý tài sản bảo đảm  
3.3. Bảo lãnh  
4.1. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để  
xử lý trong trường hợp các bên có thoả  
thuận  
Điều 44 Dự thảo Nghị định đã cố gắng  
tách bạch giữa các trường hợp bảo đảm đối  
vật bằng tài sản của bên thứ ba và bảo đảm  
đối nhân (bảo lãnh), nhưng cách diễn đạt  
chưa rõ ràng, dễ dẫn đến sự nhầm lẫn khi áp  
dụng quy định này trong thực tế. Tên gọi của  
điều luật này cần được sửa thành “Thỏa  
thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của  
người khác”; trong đó, cần quy định 3  
trường hợp với hậu quả pháp lý tương ứng  
với từng trường hợp:  
Tôn trọng quyền tự do thoả thuận của  
các bên, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc  
tế khuyến khích cơ chế thông thoáng, thuận  
lợi cho bên nhận bảo đảm tự mình thu giữ  
và xử lý tài sản bảo đảm mà không phải khởi  
kiện ra tòa án, Dự thảo Nghị định cần quy  
định minh thị về cơ chế tự thu giữ tài sản bảo  
đảm để xử lý một cách linh hoạt, thuận tiện  
20 Điều 9-333(b) U.C.C.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
39  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
hơn, trao quyền chủ động lớn hơn cho bên  
nhận bảo đảm. Cụ thể, Dự thảo Nghị định  
cần cho phép bên nhận bảo đảm có quyền tự  
mình thu giữ tài sản thế chấp là động sản để  
xử lý, thậm chí có thể không cần thông báo  
trước về thời gian, địa điểm, phương thức  
thu giữ nếu như các bên đã có thỏa thuận  
trong hợp đồng bảo đảm để tránh việc động  
sản bị tẩu tán; không cần phải thông báo cho  
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản về  
việc thu giữ bởi động sản có thể có ở nhiều  
nơi và có thể tồn tại dưới hình thức tài sản  
vô hình nên việc thông báo này không có ý  
nghĩa. Khi tự mình thu giữ tài sản bảo đảm  
là động sản, bên nhận bảo đảm chỉ cần tuân  
thủ ba điều kiện: (i) Các bên đã có thỏa  
thuận trong hợp đồng bảo đảm về việc bên  
nhận bảo đảm được quyền tự mình thu giữ  
tài sản bảo đảm, (ii) Bên nhận bảo đảm đã  
thông báo cho bên bảo đảm, bên thứ ba giữ  
tài sản bảo đảm về việc vi phạm nghĩa vụ  
dẫn đến quyền xử lý tài sản bảo đảm và về  
việc bên nhận bảo đảm sẽ tiến hành thu giữ  
tài sản (nhưng không cần ghi rõ thời gian,  
địa điểm, phương thức thu giữ), và (iii) Tại  
thời điểm thu giữ, bên bảo đảm, bên thứ ba  
giữ tài sản bảo đảm không chống đối21. Điều  
đó có nghĩa là nếu bên bảo đảm, bên thứ ba  
đã nhận được thông báo, nhưng không có  
mặt tại địa điểm có tài sản để thể hiện sự  
chống đối, hoặc đã bỏ đi khỏi nơi có tài sản  
từ lâu, thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền  
tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý.  
4.2. Phương thức bên nhận bảo đảm tự  
bán tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài  
sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện  
nghĩa vụ  
các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp  
sau: (a) Bán đấu giá tài sản, (b) Bên nhận tài  
sản tự bán tài sản, (c) Bên nhận bảo đảm nhận  
chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện  
nghĩa vụ, (d) Các phương thức khác.  
Tuy nhiên, BLDS 2015 chưa quy định  
bên nhận bảo đảm phải tuân thủ các nghĩa vụ  
gì khi tự mình bán tài sản bảo đảm để tránh  
tình trạng giá bán quá thấp, ảnh hưởng đến  
quyền lợi của bên bảo đảm. BLDS chỉ có một  
điều quy định về nghĩa vụ thông báo của bên  
nhận bảo đảm về việc xử lý tài sản bảo đảm  
(Điều 300) và một điều quy định về định giá  
tài sản bảo đảm (Điều 306), trong đó yêu cầu  
“việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm  
khách quan, phù hợp với giá thị trường”,  
nhưng quy định này chưa đưa ra các tiêu chí  
cụ thể để tòa án xem xét liệu việc xử lý tài  
sản bảo đảm có tuân thủ đúng các nguyên tắc  
và yêu cầu của pháp luật, bảo vệ quyền lợi  
chính đáng của bên bảo đảm hay không. Việc  
đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp trong xử lý  
tài sản bảo đảm có ý nghĩa quan trọng để tòa  
án quyết định rằng bên có nghĩa vụ phải  
thanh toán khoản nợ còn thiếu cho bên nhận  
bảo đảm hay không nếu sau khi xử lý tài sản  
bảo đảm, số tiền thu được vẫn chưa đủ để  
thanh toán toàn bộ các nghĩa vụ.  
Theo thông lệ quốc tế, trong quá trình  
bán tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải  
tuân thủ nguyên tắc “thiện chí” “”(good  
faith) và “đảm bảo tính hợp lý về thương  
mại” (commercially reasonable)22. “Thiện  
chí” thể hiện ở việc thông báo trong thời hạn  
hợp lý cho bên bảo đảm và các bên liên quan  
về xử lý tài sản bảo đảm, tạo điều kiện cho  
bên bảo đảm nhận lại tài sản bảo đảm khi  
thỏa mãn các điều kiện luật định, tôn trọng  
thỏa thuận của các bên… Tuy nhiên, thiện  
chí không có nghĩa là bên nhận bảo đảm phải  
được sự nhất trí, hợp tác của bên bảo đảm  
mọi vấn đề (phương thức xử lý tài sản, giá  
Một trong điểm tiến bộ của BLDS 2015  
về xử lý tài sản bảo đảm là đã thiết kế những  
quy định chung ghi nhận bên bảo đảm và bên  
nhận bảo đảm có quyền thoả thuận một trong  
Xem tiếp trang 49)  
21 Điều 77 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
22 Điều 9-610 U.C.C., Điều 4 Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
40  
Số 21 (421) - T11/2020  
pdf 10 trang Thùy Anh 18660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện dự thảo nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_du_thao_nghi_dinh_ve_bao_dam_thuc_hien_nghia_vu.pdf