Giáo trình Luật hình sự (Phần 2)
CHƯƠNG 9
CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
1. KHÁI NIỆM CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
Hoạt động phạm tội cũng như bất kỳ hoạt động nào của con người đều
diễn ra theo một quá trình nhất định.
Ví dụ: Để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản can phạm phải lựa
chọn đối tượng tác động (lấy loại tài sản nào). Sau đó cân nhắc, lựa chọn thời
gian địa điểm để sao cho quá trình thực hiện tội phạm được an toàn nhất.
Trong một số vụ án, can phạm thực hiện được trọn vẹn các quá trình
trên, nhưng có một số trường hợp can phạm phải dừng lại ở những thời
điểm khác nhau do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn. Để đánh
giá tính chất,mức độ của tội phạm đã thực hiện, qua đó có cơ sở để xác định
TNHS đối với người phạm tội. Luật hình sự Việt Nam đã phân chia quá
trình thực hiện tội phạm thành ba giai đoạn. Đó là: Chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra với các tội thực hiện với
hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Bởi vì đối với các tội thực hiện với lỗi vô ý hoặc
cố ý gián tiếp thì không thể quy định có “chuẩn bị”, hoặc “chưa đạt” để
buộc họ phải chịu TNHS về những điều chưa xảy ra và họ cũng không
mong muốn xảy ra. Đồng thời, với các tội thực hiện với những hình thức lỗi
này TNHS chỉ đặt ra khi có hậu quả xảy ra trên thực tế (trừ tội vô ý làm mất
tài liệu bí mật Nhà nước).
Đối với các tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp thường có ý định phạm
tội nhưng vấn đề TNHS chỉ đặt ra khi một người đã bắt đầu bước vào giai
đoạn chuẩn bị phạm tội.
Từ nội dung đã phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về các giai
đoạn thực hiện tội phạm như sau: Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các
bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm bao gồm chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
2. CHUẨN BỊ PHẠM TỘI
2.1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là một bước trong các giai đoạn thực hiện tội phạm
trong đó người phạm tội có những hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết
cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó.
80
Từ khái niệm trên có thể xác định các điều kiện của chuẩn bị phạm tội là:
- Về thời điểm của giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Thời điểm bắt đầu của chuẩn bị phạm tội: Là thời điểm người phạm
tội bắt đầu có hành vi thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan tạo điều
kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm.
Thời điểm chấm dứt của giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Là thời điểm
ngay trước khi thực hiện hành vi khách quan của tội phạm.
- Về nội dung của các dạng hành vi thực hiện trong giai đoạn chuẩn
bị phạm tội được quy định tại Điều 17 BLHS như sau:
- Tìm kiếm công cụ, phương tiện.
- Sửa soạn công cụ phương tiện.
- Tạo ra các điều kiện cần thiết khác như: Chuẩn bị kế hoạch phạm
tội, thăm dò quy luật sinh hoạt của người bị hại, tìm người giúp đỡ, tìm nơi
cất giấu tang vật của tội phạm...
Trong thực tế, các hành vi chuẩn bị phạm tội được thể hiện rất đa dạng.
Do vậy, nhà làm luật không thể liệt kê hết các dạng hành vi chuẩn bị phạm tội
mà chỉ nêu một vài dạng hành vi của chuẩn bị phạm tội mang tính phổ biến
như (hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội) và tính khái
quát (như hành vi tạo điều kiện cần thiết khác).
Thông thường, chuẩn bị phạm tội được thể hiện ở các hành động như:
tìm kiếm công cụ, làm tài liệu giả. Tuy nhiên, hành vi chuẩn bị phạm tội
cũng có thể được thực hiện bằng không hành động như: Cố ý để kho đựng
tài sản vào tình trạng không có người trông coi.
2.2. Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Về cơ sở khoa học để xác định một người phải chịu TNHS ở giai đoạn
chuẩn bị phạm tội. Mặc dù hành vi đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm
tội chưa tác động vào đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho
xã hội nhưng họ vẫn phải chịu TNHS. Bởi vì:
Bản chất của chuẩn bị phạm tội là hành vi tiền đề tạo điều kiện cho
việc thực hiện tội phạm. Hành vi này luôn hướng tới việc đạt một mục đích
nhất định. Chính nó quyết định tội phạm có xảy ra hay không và xảy ra như
thế nào.
Một tội phạm khi thực hiện mà có sự chuẩn bị thì tính nguy hiểm cho
xã hội của nó cao hơn so với trường hợp không có sự chuẩn bị.
Trong ý thức chủ quan của can phạm là mong muốn tiếp tục thực hiện
81
tội phạm đến cùng.
Việc dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội do nguyên nhân khách quan
ngoài ý muốn.
Các căn cứ pháp lý để xác định TNHS trong chuẩn bị phạm tội được
quy định như sau:
- Điều 17 BLHS quy định: “Chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu TNHS về
tội rất nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.
- Khoản 1, Điều 52 BLHS quy định: “Đối với chuẩn bị phạm tội, hình
phạt được quyết định theo các điều của bộ luật này về các tội phạm tương
ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ
thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến tội phạm không
thực hiện được đến cùng”.
- Khoản 2, Điều 52 BLHS quy định: “Nếu điều luật được áp dụng có quy
định hình phạt cao nhất là tù chung thân, tử hình thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng với chuẩn bị phạm tội là không quá 20 năm tù. Nếu là tù có thời
hạn thì mức hình phạt không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định”.
- Chú ý: Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành một tội độc lập
thì người phạm tội phải chịu TNHS về tội độc lập đó và tội họ định thực
hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Ví dụ: A nghi ngờ B có quan hệ ngoại tình với vợ của mình nên có ý
định giết B. A đã mua một khẩu súng với mục đích để giết B, nhưng chưa
kịp hành động giết B thì bị phát hiện. Trường hợp này A phải chịu TNHS về
tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng và tội giết người ở giai đoạn chuẩn
bị phạm tội.
3. PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
3.1. Khái niệm phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 18 BLHS “Phạm tội chưa
đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì
những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”.
3.1.1. Điều kiện của phạm tội chưa đạt
- Về thời điểm: Thời điểm bắt đầu của giai đoạn phạm tội chưa đạt: Là
thời điểm bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP
hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách quan (ví dụ như hành vi nhặt dao
để đâm nạn nhân).
Thời điểm kết thúc của phạm tội chưa đạt: Là thời điểm hành vi phạm
82
tội phải dừng lại khi nó chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu trong mặt khách
quan của CTTP. Bao gồm một trong các trường hợp sau:
+ Can phạm đã thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan.
+ Can phạm chưa thực hiện hết các hành vi khách quan đối với tội
phạm có CTTP hình thức mà có nhiều hành vi khách quan. Ví dụ tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản can phạm mới thực hiện được hành vi bắt cóc con tin.
+ Can phạm đã thực hiện hết hành vi khách quan nhưng hậu quả
chưa xảy ra đối với CTTP vật chất. Ví dụ tội trộm cắp tài sản nhưng chưa
lấy được tài sản.
- Về tâm lý: Việc can phạm phải dừng lại ở những thời điểm trên là do
các nguyên nhân khách quan, các nguyên nhân đó có thể là do: Nạn nhân
tránh được, hoặc bị người khác ngăn chặn, hoặc không có đối tượng tác
động, hoặc công cụ, phương tiện vô hiệu như đạn không nổ, thuốc độc
không còn giá trị sử dụng.
3.1.2. Căn cứ pháp lý để xác định TNHS trong phạm tội chưa đạt được
quy định như sau
- Điều 18 BLHS quy định “Người phạm tội chưa đạt phải chịu TNHS
về tội phạm chưa đạt”.
- Khoản 2, Điều 52 BLHS quy định giống như giai đoạn chuẩn bị
phạm tội. Đó là “Đối với chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định theo
các điều của bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và
những tình tiết khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng”.
- Khoản 3, Điều 52 BLHS quy định "nếu điều luật được áp dụng có
mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì chỉ có thể áp dụng
các hình phạt này đối với người phạm tội chưa đạt trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng. Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá 3/4 mức
hình phạt mà điều luật quy định".
3.2. Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt
3.2.1. Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với việc chưa đạt
Có hai loại phạm tội chưa đạt như sau:
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Là trường hợp phạm tội chưa
đạt trong đó vì những nguyên nhân khách quan mà người phạm tội chưa
thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả. Chẳng hạn:
Trộm cắp tài sản nhưng khi mở được cửa vào nhà chưa kịp lấy tài sản thì bị
83
phát hiện và bắt giữ.
- Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Là trường hợp phạm tội chưa đạt
mà người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu
quả nhưng do nguyên nhân khách quan mà hậu quả không xảy ra. Ví dụ: Mở
được cửa vào trong nhà lấy tài sản nhưng tài sản không còn ở đó nữa.
3.2.2. Căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt
Có hai loại phạm tội chưa đạt như sau:
- Phạm tội chưa đạt vô hiệu: Là trường hợp phạm tội chưa đạt mà
nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với công cụ phương tiện hoặc
đối tượng tác động. Ví dụ: trộm vàng mở hộp không còn vàng ở trong hộp,
cướp bằng súng nhưng súng hết đạn.
- Các trường hợp chưa đạt khác.
4. TỘI PHẠM HOÀN THÀNH
Một tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thỏa
mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong CTTP.
Như vậy, đối với các tội có CTTP hình thức tội phạm hoàn thành khi
can phạm thực hiện hết các hành vi khách quan được mô tả trong CTTP
hoặc từ thời điểm không hành động đã được chỉ ra trong qui phạm pháp luật
thuộc phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Ví dụ, Tội gây rối trật tự công
cộng (Điều 245) được coi là hoàn thành khi người phạm tội có hành vi gây
rối ở nơi công cộng.
Các tội phạm có cấu thành cắt xén (Điều 79 BLHS) được coi là hoàn
thành từ thời điểm thực hiện xong các hành vi khách quan được mô tả trong
mặt khách quan của cấu thành tội phạm.
Đối với các tội có CTTP vật chất tội phạm hoàn thành khi có hậu quả
xảy ra trên thực tế. Chẳng hạn, để xác định tội giết người là tội phạm hoàn
thành hay chưa, không chỉ đòi hỏi phải có việc thực hiện hành vi dùng vũ
lực tước bỏ tính mạng người khác (như hành vi bắn, đâm bằng dao, đầu độc
bằng thuốc độc...) mà còn đòi hỏi phải có cái chết xảy ra. Nếu như vì những
nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội, người đó không tước bỏ
được tính mạng của người bị hại, thì hành vi phạm tội của họ được coi là
phạm chưa đạt. Trong những trường hợp đó Khoảng cách về mặt thời gian
giữa hành vi đã thực hiện và hậu quả phạm tội đã xảy ra không có ý nghĩa
đối với việc coi một tội phạm là hoàn thành. Nếu việc gây ra hậu quả nằm
trong ý định của người phạm tội thì trường hợp đó không được coi là tội
84
phạm hoàn thành.
Thời điểm tội phạm hoàn thành của mỗi một tội phạm cụ thể tùy thuộc
vào chính sách hình sự của từng nước, phụ thuộc vào yêu cầu phòng chống
tội phạm, phụ thuộc vào tính chất đặc trưng của từng loại tội được phản ánh
trong cấu trúc của CTTP là CTTP vật chất hay CTTP hình thức.
Cơ sở khoa học của việc xây dựng CTTP hình thức hay CTTP vật chất
cũng là cơ sở khoa học của việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành.
Lưu ý: Cần có sự phân biệt tội phạm hoàn thành với tội phạm kết thúc.
Bởi vì:
Tội phạm kết thúc là trường hợp hành vi phạm tội đã chấm dứt thực
sự, thời điểm tội phạm chấm dứt gọi là thời điểm tội phạm kết thúc. Thời
điểm tội phạm hoàn thành và thời điểm tội phạm kết thúc có thể là trùng
nhau, có thể là khác nhau. Đối với thời điểm tội phạm hoàn thành thì chỉ có
một mốc thời điểm duy nhất là thời điểm khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn
đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong CTTP. Còn đối với thời điểm tội
phạm kết thúc có thể xảy ra trước hoặc sau thời điểm tội phạm hoàn thành
hoặc trùng với thời điểm tội phạm hoàn thành.
Xác định đúng thời điểm tội phạm kết thúc với thời điểm tội phạm
hoàn thành và phân biệt giữa chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc áp
dụng một số chế định như: Chế định đồng phạm, chế định phòng vệ chính
đáng, chế định thời hiệu truy cứu TNHS. Để áp dụng các chế định này đều
bắt đầu từ việc xác định thời điểm tội phạm kết thúc. Ví dụ, đồng phạm có
thể xuất hiện sau khi tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc; phòng vệ
chính đáng được thực hiện khi hành vi tấn công chưa kết thúc, thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm kết thúc.
5. TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp tự mình không
thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản. (Điều 19 BLHS).
5.1. Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
5.1.1. Về thời điểm
Chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt
chưa hoàn thành.
Nếu A vào nhà B lấy ti vi mang ra khỏi nhà của B, mặc dù không bị ai
phát hiện nhưng A quyết định đem trả chiếc ti vi ở vị trí cũ. Trường hợp này
không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì tội phạm bắt
85
đầu dừng lại sau thời điểm tội phạm hoàn thành. Do đó, A vẫn phải chịu
TNHS về tội trộm cắp tài sản. tuy nhiên A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ
tự nguyện khắc phục hậu quả.
5.1.2. Về tâm lý
Đối với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc dừng lại tội
phạm ở những thời điểm trên phải tự nguyện và dứt khoát.
- Tự nguyện: Tức là do động lực bên trong thúc đẩy chứ không phải
do nguyên nhân khách quan chi phối.
- Dứt khoát: Tức là phải chấm dứt việc thực hiện tội phạm một cách
triệt để.
5.2. Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt
việc phạm tội
Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người
phạm tội về mặt chủ quan đã hoàn toàn tự nguyện từ bỏ hẳn ý định phạm tội
của mình, không còn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng như ở trường
hợp phạm tội chưa hoàn thành. Xét về mặt khách quan, hành vi đã thực hiện
của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa có tính nguy hiểm
đầy đủ của loại tội định thực hiện, vì chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của
CTTP. Trong sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan như vậy,
hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được
coi như đã mất tính nguy hiểm của loại tội thực hiện. Đó chính là một trong
những căn cứ của việc quy định miễn TNHS về tội định thực hiện cho người
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Việc quy định này đồng thời cũng là động lực thúc đẩy những người
đã bắt tay vào thực hiện tội phạm sớm dừng lại để được hưởng sự khoan
hồng của Nhà nước. Như vậy, việc miễn trách nhiệm hình sự cho người
người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được xem như biện pháp
pháp lí nhằm hạn chế những thiệt hại có thể gây ra cho các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ.
Chính vì vậy, nhà làm luật quy định tại Điều 19 BLHS về trách nhiệm
hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:
- Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS
về tội định thực hiện.
- Nếu hành vi thực tế đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các yếu tố CTTP
của một tội khác thì người đó phải chịu TNHS về tội đã cấu thành.
86
Ví dụ: A có ý định giết B bằng cách dùng dao đâm. Khi A đâm nhiều
nhát vào B, thấy B chảy nhiều máu, A dừng lại đưa B đi cấp cứu. B bị
thương tỷ lệ thương tật là 30%. Trong trường hợp này, hành vi của A được
coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng TNHS của A được xác
định là: A được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người. A phải chịu
TNHS về tội cố ý gây thương tích.
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
Câu 1: Hãy cho biết người thực hiện các hành vi chuẩn bị phạm tội
trộm cắp tài sản có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?
Câu 2: Trình bày các điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội. Cho ví dụ minh hoạ.
Câu 3: Phân biệt trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành với
trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và ý nghĩa của việc phân loại đó.
Câu 4: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể xảy ra ở giai
đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành không? Tại sao?
87
CHƯƠNG 10
ĐỒNG PHẠM
1. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM
Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện
một tội phạm. (Khoản 1, Điều 20 BLHS)
Căn cứ vào quy định này thì, các điều kiện của đồng phạm được thể
hiện như sau:
1.1. Điều kiện về khách quan của đồng phạm
Là phải có ít nhất hai người có NLTNHS và cùng tham gia thực hiện
một tội phạm (tức là phải có sự liên kết về khách quan giữa các hành vi của
mỗi người trong đồng phạm).
Được coi là giữa những người trong đồng phạm cùng tham gia thực
hiện một tội phạm là mỗi người tham gia vào đồng phạm phải thực hiện một
trong bốn loại hành vi đối với việc thực hiện một tội phạm, đó là: Hành vi
thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức.
Giữa các hành vi của mỗi người trong đồng phạm có mối liên kết
thống nhất với nhau, hành vi của người này quyết định hành vi của người
khác và hành vi của mỗi người là điều kiện hỗ trợ cho hoạt động chung.
Trong các hành vi trong đồng phạm thì hành vi của người thực hành là
nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả còn các loại hành vi khác
thông qua hành vi người thực hành mà gây ra hậu quả.
1.2. Điều kiện về chủ quan của đồng phạm
Theo khái niệm trên về đồng phạm thì về hình thức lỗi trong mặt chủ
quan giữa những người trong đồng phạm phải cùng cố ý (tức là phải có sự
liên kết về mặt chủ quan giữa những người trong đồng phạm).
Như vậy, đồng phạm chỉ có thể đặt ra với các tội thực hiện với hình
thức lỗi cố ý (có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp). Tính chất
“cùng” thể hiện sự liên kết về mặt chủ quan trong hình thức lỗi của đồng
phạm được phản ánh trong cấu trúc hợp thành bởi hai bộ phận trong lỗi cố ý
trực tiếp:
- Cùng lý trí: Được hiểu là cùng lý trí giữa những người trong đồng
phạm khi thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Mỗi người trong đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy
88
hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã
hội cùng với mình.
+ Mỗi người trong đồng phạm phải thấy trước hậu quả của hành vi
của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện.
- Cùng ý trí: Được hiểu là cùng ý trí giữa những người trong đồng
phạm khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Giữa những người đồng phạm cùng mong muốn có sự liên kết của các
hành vi.
- Giữa những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức
bỏ mặc cho hậu quả chung phát sinh.
Ví dụ: Biết tin xe tải chở gạo qua đèo Hải Vân bị lật, A rủ B và C
cùng nhau ra lấy gạo (A, B, C phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản). Có
thể xảy ra hai trường hợp:
- Mỗi người chở được số gạo tùy theo khả năng về nhà mình thì
không phải là đồng phạm.
- Mỗi người chở được số gạo tùy theo khả năng về tập kết tại một địa
điểm, sau đó chia đều cho 3 người, thì A, B, C là đồng phạm của nhau.
Chú ý: Với các tội có dấu hiệu mục đích là bắt buộc thì giữa những
người đồng phạm đòi hỏi phải có cùng mục đích hoặc biết rõ và tiếp nhận
mục đích đó.
Ví dụ: A vượt biên ra nước ngoài hoạt động chống chính quyền nhân
dân bằng đường biển. A thuê B là dân chài chở ra khỏi hải phận Việt Nam.
Trong khi A chở B, hai người trò chuyện, B biết được mục đích của A nhưng
vẫn tiếp tục chở A đi (B là đồng phạm với vai trò người giúp sức), bởi trong
trường hợp này B đã biết rõ và tiếp nhận mục đích đó.
2. CÁC LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM
Khoản 2, Điều 20 BLHS quy định có bốn loại người đồng phạm:
2.1. Người thực hành
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người thực
hành có hai dạng:
Dạng 1: Tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong
CTTP như trực tiếp thực hiện hành vi đâm, bắn.
Dạng 2: Không tự mình trực tiếp thực hiện hành vi khách quan mà có
hành vi tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi
khách quan. Nhưng người bị tác động là người trực tiếp thực hiện hành vi
89
khách quan họ không phải chịu TNHS. Chúng thuộc các trường hợp phổ
biến sau:
- Do họ không có NLTNHS. Ví dụ thuê em bé 13 tuổi đưa thuốc phiện qua
biên giới.
- Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý. Ví dụ trường hợp gửi quà trong
đó có thuốc phiện mà người vận chuyển không biết đó là thuốc phiện.
- Họ bị cưỡng bức về tinh thần trong trường hợp được miễn TNHS.
2.2. Người tổ chức
Người tổ chức được quy định tại Khoản 2, Điều 20 BLHS bao gồm 3
loại người như sau:
- Người chủ mưu: Là người chủ động về mặt tinh thần gây ra việc
thực hiện tội phạm.
- Người cầm đầu: Là người đứng ra thành lập các băng nhóm phạm tội
hoặc có hành vi tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công giao trách
nhiệm cho đồng bọn.
- Người chỉ huy: Là người trực tiếp điều khiển hoạt động của các băng
nhóm phạm tội.
2.3. Người xúi giục
Người xúi giục là người dụ dỗ, kích động, thúc đẩy người khác thực
hiện tội phạm.
Người xúi giục có hai đặc điểm sau:
- Tác động đến tư tưởng người khác bằng thủ đoạn kích động, dụ dỗ
thúc đẩy khiến người này hình thành ý định phạm tội.
Hành vi xúi giục có đặc điểm là tác động đến tư tưởng của người khác,
làm xuất hiện ý định phạm tội ở người khác và khiến cho người đó thực hiện
tội phạm. Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm thể hiện dưới các
dạng: Kích động, khêu gợi, lôi kéo, lừa phỉnh, dụ dỗ, mua chuộc. Khái quát
lại các hành vi đó được phân thành hai loại: Thuyết phục và bắt buộc.
- Hành vi xúi giục phải nhằm vào một, một số người cụ thể và phải
nhằm gây ra việc thực hiện một tội phạm nhất định.
Hành vi xúi giục phải cụ thể tức là phải nhằm vào những con người cụ
thể để thực hiện những tội phạm nhất định. Hành vi kêu gọi, kích động gieo
rắc những quan điểm chống đối xã hội làm nảy sinh khuynh hướng phạm tội
đối với một số người không xác định thì không thể coi là người xúi giục, hành
vi đó có thể cấu thành tội độc lập khác (như tội tuyên truyền chống Nhà nước
90
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 88, Bộ luật hình sự). Hành vi của
người xúi giục không những phải cụ thể mà còn phải xuất phát từ một ý định
rõ ràng là thúc đẩy người khác thực hiện những tội phạm nhất định. Có thể
xúi giục một người hoặc một số người nhưng phải là những người cụ thể.
2.4. Người giúp sức
Người giúp sức là người tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho
việc thực hiện tội phạm.
Người giúp sức có hai dạng như sau:
- Giúp sức về vật chất: Là dạng cung cấp công cụ, phương tiện cho
người khác sử dụng để thực hiện tội phạm.
- Giúp sức về tinh thần: Như chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình hoặc
hứa hẹn trước sẽ che giấu tội phạm hoặc hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tang vật.
3. PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM
3.1. Phân loại theo ý thức chủ quan
- Đồng phạm có thông mưu trước: Là hình thức đồng phạm trong đó
giữa những người đồng phạm đã có sự thỏa thuận, bàn bạc trước về tội phạm
cùng thực hiện.
- Đồng phạm không có thông mưu trước: Là hình thức đồng phạm trong
đó giữa những người đồng phạm không có sự thỏa thuận, bàn bạc trước về tội
phạm cùng thực hiện.
3.2. Phân loại theo dấu hiệu khách quan
- Đồng phạm đơn giản: Là hình thức đồng phạm trong đó những
người cùng tham gia vào vụ đồng phạm đều với vai trò là người thực hành.
- Đồng phạm phức tạp: Là hình thức đồng phạm trong đó có một hoặc
một số người là người thực hành còn lại những người khác với vai trò là
người tổ chức hoặc người xúi giục hoặc người giúp sức.
3.3. Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan và khách quan
3.3.1. Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ
giữa những người đồng phạm. (Khoản 3, Điều 20 BLHS).
Đặc điểm có sự câu kết chặt chẽ của đồng phạm có tổ chức vừa thể
hiện đặc điểm của dấu hiệu chủ quan vừa thể hiện đặc điểm của dấu hiệu
khách quan; vừa thể hiện mức độ liên kết về mặt chủ quan vừa thể hiện mức
độ phân hóa vai trò, nhiệm vụ cụ thể về mặt khách quan của những người
91
đồng phạm. Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa
có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hóa vai trò, phân công
nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ thể. Với tính chất như vậy, đồng phạm có tổ
chức thường có những đặc điểm:
- Nhóm phạm tội được hình thành với phương hướng hoạt động có
tính lâu dài, bền vững. Trong nhóm tồn tại quan hệ chỉ huy - phục tùng. Mỗi
người đồng phạm đều chịu sự điều khiển chung thống nhất, đều coi và sử
dụng tổ chức phạm tội như là công cụ sức mạnh trong hoạt động phạm tội
của mình.
- Trong hoạt động, nhóm phạm tội có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về
mọi mặt cho việc thực hiện cũng như cho việc che giấu tội phạm với
phương pháp, thủ đoạn thường tinh vi, xảo quyệt...
Với đặc điểm như vậy, đồng phạm có tổ chức có nhiều khả năng cho
phép phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả lớn, rất lớn hoặc
đặc biệt lớn.
Phạm tội có tổ chức được coi là tình tiết tăng nặng TNHS. Tình tiết
này không những được quy định chung ở Điều 48 BLHS mà còn được quy
định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của nhiều loại tội phạm cụ
thể như ở tội giết người (Điều 93 BLHS), tội cướp tài sản (Điều 133
BLHS), tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm
pháp (Điều 252 BLHS)...
Thực tiễn thừa nhận các trường hợp sau là phạm tội có tổ chức:
- Những người đồng phạm đã tham gia vào tổ chức phạm tội như
Đảng phái chống chính quyền nhân dân, băng ổ trộm, cướp; có người chỉ
huy, người cầm đầu
- Những người phạm tội đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế
hoạch đã thống nhất trước.
- Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã
thực hiện theo kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo.
3.3.2. Trường hợp đồng phạm khác
Ngoài trường hợp phạm tội có tổ chức.
4. VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG ĐỒNG PHẠM
4.1. Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm
4.1.1. Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về tội phạm cùng thực hiện
- Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố xét xử về cùng một
92
tội danh theo cùng một điều luật và trong phạm vi những chế tài mà điều
luật ấy quy định.
- Tất cả những người trong đồng phạm cùng phải chịu trách nhiệm về
những tình tiết tăng nặng của vụ án nếu họ đều biết.
- Phải tuân thủ các nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu TNHS,
quyết định hình phạt đối với loại tội mà họ đã tham gia thực hiện.
4.1.2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện trong
đồng phạm
- Những người trong đồng phạm không phải chịu tránh nhiệm về hành
vi vượt quá của những người đồng phạm khác, nếu hành vi vượt quá là tình
tiết định khung tăng nặng hoặc cấu thành tội độc lập.
- Những tình tiết tăng nặng, hoặc giảm nhẹ, hoặc miễn TNHS, miễn
hình phạt thuộc riêng người nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.
- Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người nào trong đồng
phạm thì chỉ miễn TNHS đối với người đó.
4.1.3. Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự
- TNHS của mỗi người trong đồng phạm phụ thuộc vào mức độ tham
gia (mức độ đóng góp) thực tế của họ vào việc thực hiện tội phạm. Ví dụ:
Số vốn góp để buôn bán hàng cấm.
- TNHS của mỗi người trong đồng phạm phụ thuộc vào tính chất của
hành vi của họ khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm (hành vi tổ chức,
hành vi xúi giục, hành vi thực hành, hành vi giúp sức).
4.2. Một số vấn đề khác liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình
sự trong đồng phạm
4.2.1. Vấn đề chủ thể đặc biệt
Đối với các tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt chỉ cần người thực hành thỏa
mãn các đặc điểm về chủ thể đặc biệt còn những người đồng phạm khác
không nhất thiết phải thỏa mãn các đặc điểm của chủ thể đặc biệt.
4.2.2. Vấn đề xác định TNHS ở các giai đoạn thực hiện tội phạm trong
đồng phạm
Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến
cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội
phạm đến giai đoạn nào thì họ phải chịu TNHS ở giai đoạn đó.
93
Nếu người bị xúi giục không nghe theo sự xúi giục thì chỉ riêng người
có hành vi xúi giục phải chịu TNHS về tội đã xúi giục ở giai đoạn chuẩn bị
phạm tội.
Người giúp sức có hành vi giúp sức cho người khác để thực hiện tội
phạm, nhưng người này đã không sử dụng sự giúp sức đó hoặc sử dụng vào
việc thực hiện một tội phạm khác, thì người có hành vi giúp sức phải chịu
TNHS về tội định giúp sức.
4.2.3. Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Nếu người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì các
điều kiện đặt ra như trường hợp phạm tội riêng lẻ. Những người đồng phạm
khác phải chịu TNHS về tội người thực hành đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn
bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, tùy thuộc vào thời điểm người thực
hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Đối với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức được coi là tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Về thời điểm: Phải dừng lại việc thực hiện tội phạm trước khi người
thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm.
- Phải có hành vi tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước
đó để ngăn chặn tội phạm như: báo cho người bị hại để phòng ngừa, giao,
nộp súng cho cơ quan chức năng.
5. NHỮNG HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG PHẠM CẤU THÀNH
TỘI ĐỘC LẬP
5.1. Tội che giấu tội phạm (Đ21 BLHS)
Tội che giấu tội phạm là trường hợp người phạm tội tuy không hứa hẹn
trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm
tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát
hiện điều tra xử lý người phạm tội.
Tội che giấu tội phạm có 4 đặc điểm sau:
- Không có sự hứa hẹn trước. (nếu hứa hẹn trước sẽ trở thành đồng
phạm về tội mà người được che giấu đã thực hiện).
- Chỉ thực hiện sau khi tội phạm kết thúc.
- Luôn thực hiện bằng hành động.
- Chỉ cấu thành tội này theo điều 313 BLHS.
5.2. Tội không tố giác tội phạm (Điều 22 BLHS)
Tội không tố giác tội phạm là trường hợp một người biết tội phạm
94
đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác.
Như vậy, tội không tố giác tội phạm có những đặc điểm sau:
- Luôn thực hiện bằng không hành động.
- Có thể thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình thực hiện tội
phạm mà người kia đã hoặc đang hoặc sẽ thực hiện.
- Chỉ cấu thành tội này theo điều 313 BLHS.
- Chú ý: Nếu người không tố giác là ông bà, cha mẹ, con, cháu, anh
chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì chỉ phải chịu TNHS
trong trường hợp không tố giác tội xâm phạm An ninh quốc gia hoặc các tội
khác đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 314 BLHS.
Ví dụ: Khoản 4, Điều 113 BLHS tội cướp tài sản.
Các đối tượng trên chỉ được miễn TNHS đối với trường hợp không tố
giác tội phạm vì loại tội phạm này thực hiện bằng không hành động mang
tính thụ động. Còn với hành vi che giấu tội phạm thì họ không được miễn
TNHS vì loại tội này nó thể hiện sự chủ động, tích cực của người phạm tội
thường gây khó khăn cho việc phát hiện, xử lý tội phạm.
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
Câu 1: Hãy cho biết các dấu hiệu để nhận biết về đồng phạm.
Câu 2: Trình bày khái niệm các loại người đồng phạm và ý nghĩa của
việc phân loại đó.
Câu 3: Trình bày hiểu biết về nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự
trong đồng phạm. Cho ví dụ minh hoạ.
Câu 4: Phân tích mối quan hệ giữa đồng phạm với những hành vi liên
quan đến tội phạm cấu thành tội độc lập.
Câu 5: Bài tập tình huống
Vào lúc 8 giờ ngày 20/10/2003, A đột nhập vào nhà B lấy trộm một
chiếc máy vi tính. Hãy dựa vào cơ sở lý luận của đồng phạm và các giai
đoạn thực hiện tội phạm xác định tính chất pháp lý của vụ việc trên trong
mỗi trường hợp sau:
Trường hợp 1: Nếu A mang chiếc máy này ra khỏi nhà B Khoảng 500
m, mặc dù không bị ai phát hiện nhưng A đã tự nguyện trả lại chiếc máy đó
về vị trí ban đầu trong nhà B.
Trường hợp 2: Nếu A mang chiếc máy này ra khỏi nhà B Khoảng 500
m thì gặp M, A đã rủ M cùng mang máy đi bán lấy tiền tiêu xài (M biết đó
là chiếc máy A đã lấy trộm được của nhà B).
95
CHƯƠNG 11
NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT NGUY
HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI
1. KHÁI NIỆM CHUNG
Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định "chỉ người nào phạm tội đã
được Bộ luật hình sự qui định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều đó
có nghĩa là một hành vi hội tụ đủ các yếu tố cấu thành của một tội phạm đã
được quy định trong Bộ luật hình sự, thì người thực hiện hành vi đó đều
phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội có không ít
những trường hợp, về hình thức, một hành vi có đủ các yếu tố cấu thành
một tội phạm, nhưng hành vi đó, do có những tình tiết đặc biệt và vì thế
chẳng những hành vi không bị coi là tội phạm mà còn là hành vi có tính tích
cực, có lợi cho xã hội và được xã hội ủng hộ. Những tình tiết này được khoa
học Luật hình sự gọi là những trường hợp loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội
của hành vi.
Khác với những trường hợp được miễn cách nhiệm hình sự do tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 Bộ luật hình sự), hay do sự
chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không
còn nguy hiểm cho xã hội nữa (Điều 25 Bộ luật hình sự), tức là những
trường hợp mà hành vi đã cấu thành tội phạm, nhưng do những nguyên
nhân chủ quan hoặc khách quan nhất định mà cơ quan có thẩm quyền đã
miễn trách nhiệm hình sự cho ngườì phạm tội.
Những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
bao gồm: Phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, bắt người phạm pháp,
thi hành mệnh lệnh cấp trên, thực hiện chức năng nghề nghiệp, rủi ro
trong sản xuất và nghiên cứu khoa học.
Trong các loại hành vi loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi nêu trên, Bộ luật hình sự chỉ thừa nhận phòng vệ chính đáng và tình thế cấp
thiết tại Điều 15 và Điều 16 BLHS. Tuy nhiên về khoa học luật hình sự thừa
nhận các hành vi bắt người phạm pháp, thi hành mệnh lệnh cấp trên, thực
hiện chức năng nghề nghiệp, rủi ro trong sản xuất và nghiên cứu khoa học
cũng là những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Ý nghĩa của việc thừa nhận các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi là:
- Đảm bảo cho mọi công dân có điều kiện để bảo vệ những lợi ích
96
chính đáng của mình, của người khác, của xã hội, đồng thời phát huy quyền
làm chủ tập thể của công dân trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
- Là căn cứ pháp lý quan trọng để mọi công dân tiến hành các hoạt
động đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
2. PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
2.1. Khái niệm phòng vệ chính đáng
Chế định phòng vệ chính đáng là cơ sở pháp lý để công dân tự mình
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tổ chức hay của Nhà nước
trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Phòng vệ chính đáng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội mặc
dù thực tế nó gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, bởi nó phù hợp với
lợi ích xã hội và là sự trợ giúp Nhà nước trong việc duy trì trật tự kỷ cương
xã hội chống lại những hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội mà
Luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó chẳng những không nguy hiểm cho xã hội,
mà còn là hành vi có lợi và cần thiết thể hiện tinh thần trách nhiệm, thái độ
tích cực trước những hành động trái pháp luật xâm hại hoặc đe dọa xâm hại
quyền, lợi ích chung hoặc lợi ích chính đáng của công dân.
Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình hoặc của
người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm
phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm
(Điều 15 BLHS).
- Về mục đích của phòng vệ chính đáng: Việc thực hiện hành vi phòng
vệ chính đáng là nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi tấn công và hạn chế bớt
những thiệt hại của hành vi tấn công gây ra hoặc có thể gây ra.
- Về tính chất pháp lý của phòng vệ chính đáng: Hiện nay pháp luật
Việt Nam chỉ quy định việc thực hiện hành vi PVCĐ là nghĩa vụ của người
thi hành công vụ. Còn đối với công dân thì chưa xác định tính chất pháp lý
của phòng vệ chính đáng là quyền hay là nghĩa vụ pháp lý.
Theo quan điểm của chúng tôi nên quy định phòng vệ chính đáng là
nghĩa vụ pháp lý nhằm để tránh tình trạng một số người bàng quan trước
hành vi tấn công xâm hại tới lợi ích của người khác đang diễn ra, “ngại”
phiền toái, tránh va chạm, đụng độ. Vì người thực hiện hành vi phòng vệ
thường “không phải đầu cũng phải tai”. Hơn nữa trong một số trường hợp
lại bị đánh giá là “không tương xứng” lại trở thành người phạm tội. Từ đó
tạo ra một tâm lý tiêu cực làm giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng
97
chống tội phạm. Nếu có quy định PVCĐ là nghĩa vụ pháp lý như vậy mới
động viên khuyến khích quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh ngăn chặn
tội phạm, kịp thời ngăn chặn tác hại của hành vi tấn công gây ra hoặc đe dọa
gây ra.
2.2. Điều kiện của phòng vệ chính đáng
Chế định phòng vệ chính đáng cho phép và khuyến khích công dân,
khi có điều kiện, tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, của người khác,
của tập thể hoặc của Nhà nước. Nhưng điều đó không có nghĩa là công dân
có quyền tự xử lý các hành vi trái pháp luật, vấn đề này thuộc thẩm quyền
của Nhà nước Vì thế, phòng vệ chính đáng được Luật hình sự giới hạn trong
một phạm vi xác định, và hành động phòng vệ chỉ được coi là chính đáng
khi không vượt khỏi phạm vi này. Giới hạn của phòng vệ chính đáng được
Luật hình sự qui định cụ thể thông qua các điều kiện về cơ sở làm phát sinh
quyền phòng vệ, về nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ.
2.2.1. Đối với hành vi tấn công là cơ sở làm phát sinh hành vi phòng vệ
Theo khái niệm của phòng vệ chính đáng thì hành vi tấn công làm cơ
sở phát sinh hành vi phòng vệ của phòng vệ chính đáng khi thỏa mãn ba
điều kiện sau:
- Về nguồn nguy hiểm của hành vi tấn công: Hành vi tấn công phải là
của con người (bao gồm cả hành vi tấn công của trẻ em hoặc người mắc
bệnh tâm thần).
- Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi tấn công: Hành vi
tấn công phải có nguy cơ gây ra một thiệt hại ở mức độ đáng kể cho xã hội
cần được bảo vệ.
- Về thời điểm của hành vi tấn công: Hành vi tấn công phải đang hiện
tại. Được coi là hành vi tấn công đang hiện tại có thể thuộc một trong các
trường hợp sau:
+ Hành vi tấn công đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc.
+ Hành vi tấn công chưa xảy ra nhưng có nguy cơ sẽ xảy ra ngay tức
khắc. Nếu hành vi tấn công mới ở mức độ đe dọa mà chưa có nguy cơ xảy ra
ngay tức khắc mà đã thực hiện hành vi phòng vệ chống trả để gây thiệt hại
cho người đe dọa được gọi là phòng vệ quá sớm. Người thực hiện hành vi
phòng vệ quá sớm phải chịu TNHS bình thường.
+ Hành vi tấn công đã kết thúc nhưng nếu hành vi phòng vệ đi liền
ngay sau hành vi tấn công và khắc phục được hậu quả của hành vi tấn công
98
gây ra (trường hợp này chỉ có thể xảy ra đối với hành vi tấn công gây thiệt
hại về tài sản).
Nếu hành vi tấn công đã kết thúc mà việc thực hiện hành vi phòng vệ
không đi liền sau hành vi tấn công và không khắc phục được hậu quả của
hành vi tấn công mà thực hiện hành vi phòng vệ chống trả để gây thiệt hại
cho người đã thực hiện hành vi tấn công được gọi là phòng vệ quá muộn.
Người thực hiện hành vi phòng vệ quá muộn phải chịu TNHS bình thường.
2.2.2. Đối với hành vi phòng vệ
Hành vi phòng vệ chỉ được coi là phòng vệ chính đáng khi thỏa
mãn các điều kiện sau:
- Về nội dung: Hành vi phòng vệ phải nhằm vào chính người có hành
vi tấn công và thiệt hại cũng gây ra cho chính người có hành vi tấn công.
- Về phạm vi: Hành vi phòng vệ phải là “cần thiết”.
Hành vi phòng vệ như thế nào được coi là cần thiết hiện nay vẫn chưa
có văn bản nào giải thích hướng dẫn. Trên thực tế các cơ quan tiến hành tố
tụng vẫn áp dụng Nghị Quyết 02/86 của HĐTPTANDTC ban hành ngày
05/01/1985 giải thích tính chất tương xứng của hành vi phòng vệ với hành
vi tấn công. Theo hướng dẫn của văn bản này thì, để đánh giá sự tương
xứng giữa hai loại hành vi phòng vệ và hành vi tấn công phải xem xét, đánh
giá một cách khách quan toàn diện các tình tiết sau:
- Tương quan lực lượng giữa hai bên tấn công và bên phòng vệ.
- Công cụ, phương tiện hai bên sử dụng.
- Cường độ, thái độ của sự tấn công, nhân thân người tấn công.
- Mức độ hậu quả của hai loại hành vi gây ra hoặc đe dọa gây ra.
- Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi sự việc xảy ra...
Trong phòng vệ chính đáng Luật hình sự không hạn chế việc lựa chọn
biện pháp chống trả người đang có hành vi xâm hại các quyền, lợi ích mà
Luật hình sự bảo vệ. Người phòng vệ được chủ động lựa chọn áp dụng các
biện pháp nhằm gạt bỏ sự đe dọa, tránh hoặc đẩy lùi sự tấn công, đó là
quyền áp dụng các biện pháp chống trả tích cực ngay cả khi các biện pháp
này có khả năng gây thiệt hại cho người tấn công.
2.3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Tại Khoản 2, Điều 15 BLHS quy định “Vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp
với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có
99
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật hình sự (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_luat_hinh_su_phan_2.pdf

