Tội nhận hối lộ theo bộ luật hình sự năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện

TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015...  
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
NGUYỄN NGỌC ĐIỀN*  
Bài viết phân tích dấu hiệu của hai yếu tố là mặt khách quan và mặt chủ quan của  
tội nhận hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị hướng dẫn  
áp dụng tội nhận hối lộ theo luật hình sự nước ta nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao  
hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội này.  
Từ khóa: Hành vi khách quan; dấu hiệu mặt chủ quan; tội nhận hối lộ; người có chức  
vụ, quyền hạn.  
Ngày nhận bài: 13/11/2020; Biên tập xong: 20/11/2020; Duyệt đăng: 20/11/2020  
The article analyzes the signs of actus reus (objective element) and mens rea  
(subjective element) of the crime of taking bribes in the Vietnamese Penal Code,  
from which some recommendations to perfect the law and to improve the efficiency of  
criminal law application on this crime are given.  
Keywords: Actus reus, mens rea, taking bribes, officer-holders.  
ộ luật hình sự năm 2015, sửa  
đổi, bổ sung năm 2017 (sau  
đây gọi tắt là BLHS năm 2015)  
mà nhận hối lộ, thì bị xꢁ lý theo quy định tại  
Điều 354 BLHS.  
B
Như vậy, người nhận hối lộ là người  
có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức  
kinh tế, bộ máy Nhà nước, cơ quan Đảng  
và trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài  
Nhà nước đã cố ý lợi dụng chức vụ,  
quyền hạn của mình trong khi thực hiện  
công vụ, nhiệm vụ, trực tiếp hoặc qua  
trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi  
ích nào cho chính bản thân người đó  
hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm  
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc  
theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Hành  
vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến uy tín  
và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ  
chức, xâm hại đến quyền và lợi ích của  
công dân, làm xói mòn lòng tin của nhân  
dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với các  
doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.  
Trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm của  
tội nhận hối lộ, trong bài viết này, tác giả  
tập trung nghiên cứu, phân tích hai yếu  
tố là mặt khách quan và mặt chủ quan  
của tội phạm.  
đã tiếp tục hoàn thiện các quy định về  
nhóm tội phạm tham nhũng, quy định  
hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư.  
Theo đó, tội nhận hối lộ cũng được sửa  
đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu  
tranh phòng, chống tội phạm và được  
quy định tại Điều 354 BLHS năm 2015:  
Nhận hối lộ là hành vi của người lợi dụng  
chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung  
gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau  
đây cho chính bản thân người đó hoặc cho  
người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không  
làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của  
người đưa hối lộ: (i) Tiền, tài sản hoặc lợi ích  
vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở  
lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đꢀ bị  
xꢁ lý kꢂ luật về hành vi này mà còn vi phạm  
hoặc đꢀ bị kết án về một trong các tội quy  
định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa  
án tích mà còn vi phạm; (ii) Lợi ích phi vật  
chất. Người có chức vụ, quyền hạn trong  
các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước  
* Phó trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Bình Thuận  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
9
TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO bỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015...  
1. Quy định của luật hình sự về dấu thỏa thuận đó, người có chức vụ, quyền  
hạn đã thực hiện hành vi “Lợi dụng chức  
vụ, quyền hạn để nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài  
sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất  
của người đưa hối lộ”:  
hiệu khách quan của tội nhận hối lộ  
Tội nhận hối lộ có cấu thành hình thức  
nên mặt khách quan của tội phạm chỉ có  
dấu hiệu hành vi là dấu hiệu định tội.  
Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ  
là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn  
trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc  
sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản  
thân người đó hoặc cho người hoặc tổ  
chức khác để làm hoặc không làm một  
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người  
đưa hối lộ. Như vậy, mặt khách quan của  
tội nhận hối lộ được biểu hiện ở những  
dấu hiệu sau:  
“Nhận” là việc người có chức vụ  
quyền hạn đã nhận, hoặc đang nhận tiền,  
tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật  
chất mà người đưa hối lộ trực tiếp hoặc  
qua trung qua giao cho. Trường hợp này,  
lợi ích đưa hối lộ đã hoặc đang chuyển  
dịch sang người nhận hối lộ như: người  
nhận hối lộ đã, đang nhận tiền, nhận quà,  
nhận vàng hoặc được chuyển khoản tiền  
vào tài khoản của mình hoặc của người  
nhà… để đạt được những những thỏa  
thuận, lợi ích về tinh thần (hối lộ tình  
dục, hồ sơ du học…)2.  
“Sẽ nhận” là việc người nhận hối lộ  
chưa nhận được, chưa nắm giữ, chưa có  
được tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi  
ích phi vật chất từ người đưa hối lộ mà họ  
chỉ mới nhận được “lời hứa hẹn” sẽ giao,  
sẽ đưa, sẽ cung cấp những lợi ích đó. Thực  
chất hành vi giao, nhận các lợi ích nói trên  
chưa xảy ra trên thực tế3.  
Ngoài ra, còn có những hành vi khác  
như “sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo  
quyệt”4 của tội nhận hối lộ. Sách nhiễu là  
việc người nhận hối lộ có thái độ vòi vĩnh,  
gây khó khăn cho người khác để đòi tiền,  
tài sản hoặc lợi ích vật chất, phi vật chất.  
Dùng thủ đoạn xảo quyệt là người nhận  
hối lộ có mánh khóe, thâm hiểm, cách  
thức gian dối làm cho người khác hoặc  
người đưa hối lộ khó lường thấy được để  
đề phòng, dễ bị lừa hoặc nếu biết cũng  
+ Dấu hiệu hành vi:  
Trước hết, hành vi đặc trưng trong tội  
phạm này là hành vi của người có chức  
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn của mình để nhận hoặc sẽ nhận tiền,  
tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật  
chất của người đưa hối lộ. Hành vi này do  
người có chức vụ, quyền hạn thực hiện.  
Nói cách khác, hành vi này có liên quan  
trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ,  
nếu không có chức vụ, quyền hạn thì họ  
khó có thể thực hiện việc nhận hoặc sẽ  
nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích nào khác  
của người đưa hối lộ. Chức vụ, quyền hạn  
là điều kiện để người phạm tội thực hiện  
việc nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc  
lợi ích nào khác của người đưa hối lộ.  
Thứ hai, theo quy định tại Điều 354  
BLHS năm 2015, hành vi nhận hối lộ  
thông qua sự thỏa thuận, thống nhất giữa  
người nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Sự  
thỏa thuận này là dấu hiệu bắt buộc của  
tội phạm này, đòi hỏi giữa họ phải có sự  
trao đổi, thống nhất, đạt đến nhận thức  
chung và có sự cam kết, khẳng định, thỏa  
Bộ luật hình sự năm 2015 (sꢀa đổi, bổ sung năm 2017)  
- Phần các tội phạm, NXB Công an Nhân dân, tr. 777.  
2ꢀ  
Trần Văn Luyện - Phùng Thế Vắc - Lê Văn Thư  
thuận bằng miệng, bằng văn bản giấy tờ - Nguyễn Mai Bộ - Phạm Thanh Bình - Nguyễn  
hoặc thỏa thuận ngầm1… Để đạt được sự  
Ngọc Hà - Phạm Thị Thu (2018), tlđd, tr. 777.  
3ꢀ Trần Văn Luyện - Phùng Thế Vắc - Lê Văn Thư  
1ꢀ  
Trần Văn Luyện - Phùng Thế Vắc - Lê Văn Thư - Nguyễn Mai Bộ - Phạm Thanh Bình - Nguyễn  
- Nguyễn Mai Bộ - Phạm Thanh Bình - Nguyễn Ngọc Hà - Phạm Thị Thu (2018), tlđd, tr.778.  
Ngọc Hà - Phạm Thị Thu (2018), Bình luận khoa học 4ꢀ Điểm g Khoản 2 Điều 354 BLHS năm 2015.  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
NGUYỄN NGỌC ĐIỀN  
không thể đối phó được, như: nhận hối lộ là qua người thứ ba mà có thể thông qua  
bằng cách buộc người đưa hối lộ mua tài nhiều người, nhiều giai đoạn và kết quả  
sản của mình với giá cao hơn gấp nhiều là “của hối lộ” cũng đến với người nhận  
lần so với giá thị trường; nhận hối lộ bằng hối lộ. Người nhận hối lộ không nhất thiết  
cách buộc người đưa hối lộ nhận nợ hoặc phải biết người đưa hối lộ là ai, chỉ cần  
bán tài sản cho mình… Vì vậy, những  
mánh khóe, thủ đoạn, cách thức nhận hối  
lộ mà loại tội phạm này thường sử dụng  
khó được phát hiện hoặc nếu bị phát hiện  
thì quá trình củng cố chứng cứ để buộc tội  
cũng rất khó khăn.  
Hình thức biểu hiện của hành vi nhận  
hối lộ rất đa dạng, thể hiện “trực tiếp hoặc  
qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài  
sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất  
dưới bất kỳ hình thức nào”. Như vậy, khi  
nhận của hối lộ, người phạm tội có thể  
nhận bằng hình thức trực tiếp hoặc qua  
trung gian:  
Trực tiếp nhận tiền, tài sản, lợi ích vật  
chất hoặc lợi ích phi vật chất của người đưa  
hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ trực  
tiếp gặp gỡ, tiếp xúc, nhận “của hối lộ” từ  
chính người đưa hối lộ mà không thông  
qua người khác. Ví dụ như A đưa hối lộ  
cho B bằng cách trực tiếp cầm tiền giao  
cho B hoặc chuyển tiền vào tài khoản của  
B tại Ngân hàng. Việc trực tiếp nhận tiền,  
tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật  
chất của người đưa hối lộ thực tiễn không  
có nhiều vấn đề vướng mắc. Tuy nhiên,  
cần phân biệt trường hợp người trực tiếp  
nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi  
ích phi vật chất của người khác nhưng  
người đưa tiền, tài sản, lợi ích vật chất  
hoặc lợi ích phi vật chất lại không phải  
là người đưa hối lộ, cũng không phải là  
người môi giới hối lộ nhưng người nhận  
tiền vẫn là người nhận hối lộ.  
biết đó là của hối lộ là đã bị coi là nhận hối  
lộ; còn nếu như có căn cứ xác định người  
nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc phi  
vật chất nhưng không biết đó là của hối  
lộ thì người nhận không bị coi là nhận hối  
lộ. Tuy nhiên, hiện nay thủ đoạn nhận hối  
lộ diễn ra rất phức tạp, thường thì người  
nhận hối lộ không trực tiếp nhận “của hối  
lộ” của người đưa hối lộ mà để cho người  
thân của mình như bố, mẹ, vợ, chồng, con  
cái... nhận. Có trường hợp người thân của  
người phạm tội nhận tiền, tài sản hoặc lợi  
ích vật chất khác thông qua những giao  
dịch mua bán tài sản như: Người đưa hối  
lộ mua tài sản của gia đình người nhận  
hối lộ với giá gấp nhiều lần giá trị thật của  
tài sản đó.  
Điểm mới trong quy định của BLHS  
năm 2015 về tội phạm này là hành vi nhận  
hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn  
không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích  
cho chính bản thân họ, mà có thể nhằm thỏa  
mãn nhu cầu, lợi ích cho người khác hoặc  
cơ quan, tổ chức khác. Chẳng hạn: nhận hối  
lộ là suất học bổng du học cho con mình;  
nhận hối lộ là quà tặng cho cơ quan, tổ chức  
mà người đó đang làm việc hoặc cơ quan,  
tổ chức khác như tiền ủng hộ xây dựng cơ  
quan, trồng cây tặng cơ quan…  
+ Dấu hiệu hậu quả:  
Hậu quả của tội phạm là những thiệt  
hại về vật chất hoặc phi vật chất, tuy nhiên  
dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu  
định tội mà được xác định là dấu hiệu  
định khung và quyết định hình phạt cho  
Qua trung gian để nhận tiền, tài sản, lợi  
ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất của người tội nhận hối lộ. Như vậy, tội nhận hối lộ là  
đưa hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ tội có cấu thành tội phạm hình thức. Điều  
không trực tiếp tiếp xúc, gặp gỡ người đưa 354 BLHS năm 2015 cũng đã nâng mức  
hối lộ trong quá trình nhận hối lộ từ người định lượng giá trị của tài sản nhận hối lộ  
đưa hối lộ. Qua trung gian không cần phải trong khung định tội, cụ thể:  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 11  
TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO bỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015...  
- Đối với của hối lộ là tiền, tài sản hoặc tiến hành tố tụng còn có nhiều quan điểm  
lợi ích vật chất thì giá trị của “của hối lộ” khác nhau, dẫn đến việc xác định hành  
vi phạm tội cũng rất khác nhau. Như vậy,  
theo quy định thì trong trường hợp này,  
người phạm tội khi nhận hoặc có được sự  
cam kết, hứa hẹn của người đưa hối lộ sẽ  
thực hiện “thỏa thuận” với người đưa hối  
lộ. Việc thực hiện thỏa thuận có thể bằng  
hình thức hành động hoặc không hành  
động thông qua việc người có chức vụ,  
quyền hạn làm một việc vì lợi ích hoặc theo  
yêu cầu của người đưa hối lộ hoặc không  
làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu  
của người đưa hối lộ5. Cụ thể như sau:  
Để làm một việc vì lợi ích của người đưa  
hối lộ là hành vi của người nhận hối lộ  
sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình  
để giải quyết cho người đưa hối lộ một  
việc nào đó, mà việc đó có lợi cho chính  
người đưa hối lộ. Ví dụ như Thủ trưởng  
nhận hối lộ của cán bộ cấp dưới để tăng  
lương, bổ nhiệm, đề bạt họ; Cán bộ của Sở  
Tài nguyên và Môi trường nhận hối lộ để  
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;  
Điều tra viên nhận hối lộ của bị can đang  
bị tạm giam để đề xuất thay đổi biện pháp  
tạm giam thành biện pháp cấm đi khỏi  
nơi cư trú; Kiểm sát viên nhận hối lộ của  
bị can để ra quyết định đình chỉ điều tra;  
Thẩm phán nhận hối lộ của bị cáo để cho  
bị cáo được hưởng án treo... Có thể nói,  
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đều có  
thể xảy ra việc đưa và nhận hối lộ. Tuy  
nhiên, để phân biệt dấu hiệu này với các  
dấu hiệu khác, chỉ cần xem người phạm  
tội làm một việc và việc đó đem lại lợi ích  
cho người đưa hối lộ hay người khác mà  
người đưa hối lộ quan tâm. Nếu người  
nhận hối lộ làm một việc vì lợi ích của  
chính người đưa hối lộ thì thuộc trường  
hợp phạm tội này; nếu người nhận hối lộ  
làm một việc lại vì lợi ích của người khác  
không phải của người đưa hối lộ thì thuộc  
phải từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường  
hợp người nhận hối lộ nhận tiền, tài sản,  
lợi ích vật chất dưới 2.000.000 triệu đồng  
thì phải đảm bảo một trong các điều kiện:  
(1) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà  
còn vi phạm. (2) Đã bị kết án, nhưng chưa  
được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm về  
một trong các tội: tham ô tài sản; lạm  
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài  
sản; lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi  
thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi  
hành công vụ; lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn gây ảnh hưởng người khác để trục  
lợi; giả mạo trong công tác.  
- Đối với của hối lộ là lợi ích phi vật  
chất, chỉ cần có được sự thỏa thuận để  
người nhận hối lộ nhận hoặc sẽ nhận “lợi  
ích phi vật chất” đó từ người đưa hối lộ là  
tội phạm đã hoàn thành.  
Tóm lại, mặt khách quan của tội nhận  
hối lộ khá phức tạp, cần có sự kết hợp của  
nhiều dấu hiệu và bị coi là hành vi nhận hối  
lộ nếu người có chức vụ, quyền hạn đã lợi  
dụng chức vụ, quyền hạn của mình trực tiếp  
hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền,  
tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật  
chất dưới bất kỳ hình thức nào. Tội phạm  
hoàn thành khi đạt được “sự thỏa thuận”  
giữa người nhận và người đưa hối lộ.  
2. Quy định của luật hình sự về dấu  
hiệu chủ quan của tội nhận hối lộ  
Đối với tội nhận hối lộ, lỗi của người  
phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, người phạm  
tội nhận thức được hành vi lợi dụng chức  
vụ, quyền được giao của mình để làm hay  
không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu  
của người đưa hối lộ là nguy hiểm cho xã  
hội, nhận thức được hậu quả do hành vi  
của mình gây ra nhưng mong muốn hậu  
quả xảy ra.  
5ꢀ Trần Văn Luyện - Phùng Thế Vắc - Lê Văn Thư  
- Nguyễn Mai Bộ - Phạm Thanh Bình - Nguyễn  
các cơ quan tiến hành tố tụng và người Ngọc Hà - Phạm Thị Thu (2018), tr.778.  
Thực tiễn xét xử khi xác định dấu hiệu  
này của tội nhận hối lộ trong nhiều vụ án  
12 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
NGUYỄN NGỌC ĐIỀN  
trường hợp “để làm một việc theo yêu cầu người nhận hối lộ do không thực hiện  
của người đưa hối lộ”.  
nhiệm vụ mà theo quy định phải làm nên  
điều đó đã đem lại lợi ích cho người khác  
mà người đưa hối lộ quan tâm. Ví dụ: A  
bị tố giác vì có hành vi cướp tài sản đến  
thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra và  
mặc dù A không yêu cầu, nhưng vì muốn  
lo cho A không bị truy cứu trách nhiệm  
hình sự, nên bố đẻ của A đã đến gặp và  
đưa hối lộ cho B là Thủ trưởng cơ quan  
Cảnh sát điều tra 50.000.000 đồng để B  
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự  
đối với A.  
Như vậy, việc người phạm tội đã lợi  
dụng chức vụ, quyền hạn để làm một việc  
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc  
theo yêu cầu của người đưa hối lộ là quy  
định chỉ về dấu hiệu có sự thỏa thuận giữa  
người nhận và người đưa hối lộ. Nếu hai  
bên không có sự thỏa thuận trước về việc  
đưa và nhận hối lộ như trên thì hành vi  
không cấu thành tội phạm.  
Để làm một việc theo yêu cầu của người  
đưa hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ  
đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình  
để giải quyết cho người đưa hối lộ một  
việc nào đó, mà việc đó đem lại lợi ích cho  
người khác mà người đưa hối lộ quan tâm  
như: Bố mẹ đưa hối lộ để xin học cho con;  
con đưa hối lộ chạy tội cho bố mẹ; vợ hoặc  
chồng đưa hối lộ để chạy tội cho chồng  
hoặc vợ; anh chị em đưa hối lộ để chạy  
tội cho nhau... Thậm chí, có khi người đưa  
hối lộ chỉ yêu cầu người nhận hối lộ thi  
hành nhanh một quyết định của cơ quan,  
tổ chức có lợi cho người mà người đưa hối  
lộ quan tâm.  
Để không làm một việc vì lợi ích của  
người đưa hối lộ là trường hợp vì đã nhận  
hối lộ nên người phạm tội không thực  
hiện một việc mà lẽ ra họ phải thực hiện  
và do không thực hiện nhiệm vụ đó nên  
đã đem lại lợi ích cho người đưa hối lộ.  
Ví dụ: không ra quyết định thi hành án  
phạt tù để người bị kết án bỏ trốn hoặc  
hết thời hiệu thi hành án; không thi hành  
lệnh bắt tạm giam, để người phạm tội bỏ  
trốn; không bắt người đang trốn khỏi trại  
giam; không thi hành lệnh cưỡng chế giải  
phóng mặt bằng; không lập biên bản vi  
phạm trong trường hợp bắt được hàng  
lậu, hàng cấm... Khoa học luật hình sự coi  
trường hợp phạm tội này là không hành  
động, tức là không làm một việc mà pháp  
luật bắt buộc người có chức vụ, quyền  
hạn phải làm.  
3. Một số kiến nghị hướng dẫn áp  
dụng tội nhận hối lộ theo luật hình sự  
Việt Nam  
Từ những cơ sở và phân tích trên cho  
thấy, việc xác định chính xác hành vi  
khách quan của tội nhận hối lộ sẽ giúp  
cho công tác đấu tranh phòng, chống tội  
phạm được hiệu quả, tránh được oan sai,  
bỏ lọt tội phạm. Từ đó, tác giả đưa ra một  
số kiến nghị cụ thể như sau:  
Một là, hướng dẫn về hành vi khách  
quan của tội nhận hối lộ, đặc biệt là  
những hành vi nhận hối lộ trong lĩnh  
vực tư. Lĩnh vực tư còn những trường  
hợp như nhận tiền hoa hồng, chi phí môi  
giới,… (được pháp luật cho phép) vẫn  
còn đang tồn tại. Môi giới là một hoạt  
động dịch vụ được pháp luật thừa nhận,  
hoa hồng môi giới là giá của dịch vụ này.  
Người được môi giới có nghĩa vụ phải  
trả hoa hồng cho người môi giới và được  
Để không làm một việc theo yêu cầu của  
người đưa hối lộ là trường hợp tương tự  
như trường hợp không làm một việc vì  
lợi ích của người đưa hối lộ, chỉ khác ở  
chỗ: lợi ích mà người nhận hối lộ đem  
lại không phải cho người đưa hối lộ mà  
là cho người khác mà người đưa hối lộ  
quan tâm, có thể là những người thân của  
người đưa hối lộ nhưng cũng có thể chỉ phép tính vào chi phí hợp lý khoản phí  
là bạn bè của người đưa hối lộ. Như vậy, này nếu hoạt động được môi giới có liên  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 13  
TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO bỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015...  
quan đến hoạt động kinh doanh tạo ra  
doanh thu và thu nhập chịu thuế. Hoa  
hồng môi giới cũng là khoản chi phí rất  
dễ bị lợi dụng nếu không có cơ chế quản  
lý. Chính vì vậy, cần phải có văn bản  
hướng dẫn rõ ràng để phân biệt trường  
hợp phạm tội với không phạm tội?  
Ví dụ: A là Trưởng phòng kinh doanh  
của công ty X. A đã giới thiệu công ty M  
kí kết hợp đồng với công ty X nên được  
công ty M chi trả chi phí môi giới hoa  
hồng (theo quy định của công ty M) với  
giá trị là 5% giá trị hợp đồng. Như vậy,  
trong trường hợp này A có bị xem là  
nhận hối lộ trong lĩnh vực tư hay không?  
Đây là một trường hợp còn tồn tại trong  
thực tiễn và cần phải có văn bản hướng  
dẫn phân biệt.  
Kết luận  
Những hành vi phạm tội nhận hối  
lộ đều tác động đến người có chức vụ,  
quyền hạn để người này làm hoặc không  
làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu  
của người đưa hối lộ. Luật hình sự Việt  
Nam không đòi hỏi việc làm hoặc không  
làm này phải là hành vi trái pháp luật.  
Tuy điều luật không quy định trực tiếp  
nhưng quan điểm được thừa nhận chung  
cũng như thực tiễn xét xử cho thấy hành  
vi của người có chức vụ, quyền hạn nhận  
tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để  
làm hoặc không làm một việc hợp pháp  
hoặc một việc đúng với chức năng, quyền  
hạn của người đó vì lợi ích hoặc theo yêu  
cầu của người đưa hối lộ vẫn bị coi là tội  
phạm. Do đó, việc nghiên cứu làm sáng  
tỏ những quy định của pháp luật hình  
Hai là, giải thích, hướng dẫn cụ thể  
hơn về hành vi “sẽ nhận” của hối lộ nhằm  
giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người  
tiến hành tố tụng và người tham gia tố sự liên quan đến tội nhận hối lộ có một ý  
tụng xác định chính xác về thời điểm cấu  
thành tội phạm, tội phạm hoàn thành.  
Theo đó, thời điểm cấu thành tội phạm  
là thời điểm mà người có chức vụ, quyền  
hạn chấp nhận đề nghị hối lộ hoặc đưa ra  
đề nghị hối lộ.  
nghĩa quan trọng không chỉ về mặt nhận  
thức mà còn giúp các cơ quan tiến hành  
tố tụng có cơ sở pháp lý để phòng ngừa  
và đấu tranh có hiệu quả với các hành vi  
phạm tội nhận hối lộ./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ba là, nghiên cứu quy định hành vi  
nhận hối lộ tạ ơn cũng phạm tội nhận  
hối lộ. Đây trường hợp người đưa hối lộ  
thông thường chỉ nói: “Giúp rồi sẽ nhớ  
ơn” và sau khi người nhận giúp đỡ thì  
người được giúp mới tiến hành “đền ơn  
đáp nghĩa” bằng khoản lợi ích vật chất/  
phi vật chất nào đó (đây được coi là kiểu  
hối lộ tạ ơn), hiện Việt Nam vẫn chưa công  
nhận hình thức hối lộ này. Thiết nghĩ, trên  
thực tế đa số trường hợp người am hiểu sẽ  
lợi dụng lỗ hổng này để lách luật và tiến  
hành thực hiện hành vi phạm tội “ngầm”.  
Chính vì vậy, tác giả cho rằng cần thiết  
phải bổ sung hình thức nhận hối lộ này  
vào pháp luật hình sự Việt Nam.  
1. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm  
2017).  
2. Trần Thị Quang Vinh - Vũ Thị Thúy  
(2018), Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học  
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  
3. Trần Văn Luyện - Phùng Thế Vắc - Lê  
Văn Thư - Nguyễn Mai Bộ - Phạm Thanh Bình  
- Nguyễn Ngọc Hà - Phạm Thị Thu (2018).  
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sꢀa  
đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm, NXB  
Công an Nhân dân.  
4. Trường ĐH Luật Tp. HCM (2017), Giáo  
trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm -  
quyển 2, NXB Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam.  
14 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 19160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tội nhận hối lộ theo bộ luật hình sự năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_nhan_hoi_lo_theo_bo_luat_hinh_su_nam_2015_va_mot_so_kien.pdf