Bàn về mối quan hệ giữa án lệ và hoạt động giải thích pháp luật của toà án

BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ÁN LỆ VÀ HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP  
LUẬT CỦA TOÀ ÁN  
ThS Phạm Thị Phương Thảo  
Đại học Luật TP.HCM  
Phone: 0972 292729  
Tóm tắt  
Hạn chế khoảng các giữa pháp luật và đời sống là vai trò quan trọng của Toà án.  
Và án lệ là một trong những công cụ hiệu quả để Toà án thực hiện vai trò này. Bài viết  
bàn về bản chất của Án lệ - là hoạt động giải thích pháp luật hay là hoạt động làm luật  
của toà án.  
Từ khoá: Án lệ, Toà án, giải thích pháp luật, làm luật, sáng tạo pháp luật  
1. Hoạt động giải thích pháp luật của toà án  
1.1. Khái niệm giải thích pháp luật  
Trên thế giới, các học giả pháp lý khi tiếp cận khái niệm giải thích pháp luật  
(GTPL) từ những khía cạnh khác nhau đã đưa ra nhiều định nghĩa về GTPL khác nhau524,  
ví dụ như “GTPL là hoạt động liên quan đến việc xác định thông điệp có tính quy phạm  
mà nó xuất hiện từ văn bản”525 hay “GTPL là hoạt động có lí trí nhằm đem đến ngữ nghĩa  
cho các văn bản pháp lý”526. Những quan điểm trên nhấn mạnh đến tính mục đích của  
GTPL, là phải tìm ra nghĩa hoặc thông điệp của văn bản pháp luật. Theo đó, GTPL là  
hoạt động trí tuệ để làm rõ những thông điệp có tính quy tắc được thể hiện qua câu từ  
diễn đạt. Có tác giả lại cho rằng “GTPL là hoạt động tìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích  
của tác giả văn bản pháp luật”527. Quan điểm này lại vừa nhấn mạnh việc tìm nghĩa của  
văn bản quy phạm pháp luật lại vừa nhấn mạnh đến việc nghĩa đó phải đảm bảo ý định  
của tác giả văn bản pháp luật, hay nói cách khác là GTPL phải chỉ ra được ý định ban đầu  
của nhà lập pháp khi xây dựng pháp luật528.  
Lịch sử lập hiến Việt Nam thì thuật ngữ GTPL đã được ghi nhận từ khá lâu, nhưng  
đến thời điểm này thì tại các văn bản pháp luật ở nước ta vẫn chưa có một quy định nào  
diễn giải hay đưa ra khái niệm về GTPL để từ đó có thể xây dựng một hệ thống các vấn  
đề lý luận đi từ phạm vi, nội dung hay chủ thể có thẩm quyền của hoạt động GTPL.  
524 Phạm Thị Duyên Thảo (2014), Một số vấn đề về GTPL chính thức ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,  
tr.7.  
525 K.Larenz (1983), The method of recidivism, Macmilla Publised Co., New York, tr.230.  
526 Aharon Barak(2005), Purposive Interpretation in Law, Princeton University Press, tr.3.  
527 F.V Hawkins (1860), On the Principles of legal Interpretation, Reprinted in Thayer, Preliminary Theatise in Evi-  
dence, tr.298.  
528 Phạm Thị Duyên Thảo, TLĐD số 2, tr.8.  
311  
Các học giả trong nước xây dựng khái niệm GTPL từ các góc độ khác nhau cũng  
đưa ra những định nghĩa khác nhau, có quan điểm định nghĩa GTPL là việc “xác định nội  
dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó”529. Theo  
quan điểm này thì GTPL gắn liền với pháp luật thành văn và GTPL không chỉ là xác định  
nội dung mà còn bao gồm hoạt động giải quyết xung đột giữa các quy định trong cùng  
một văn bản hoặc giữa các quy định trong các VBQPPL khác nhau. Giải quyết xung đột  
giữa các VBQPPL không còn là việc làm rõ nghĩa một quy định, một quy tắc của pháp  
luật mà là đi tìm nghĩa cho cả hệ thống pháp luật530.  
Quan điểm của tác giả khác lại cho rằng GTPL “là hoạt động của các cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền làm rõ nội dung một quy phạm nào đó của pháp luật thành văn để  
người áp dụng pháp luật nói chung (cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân) có thể thấy được  
một cách chắc chắn rằng quy phạm pháp luật đó điều chỉnh một hoặc một số hành vi hay  
vụ việc cụ thể nào đó như thế nào”531. Quy phạm pháp luật tồn tại dưới nhiều hình thức  
như tiền lệ pháp, tập quán pháp hay văn bản quy phạm pháp luật. Theo tác giả trên, đối  
tượng của hoạt động GTPL chính là các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp  
của quốc gia ban hành, trong đó phân biệt với hoạt động giải thích hiến pháp hoặc giải  
thích quy định hành chính, bởi vì những hoạt động này có những đặc điểm khác nhau và  
được thực hiện thông qua những quy trình khác nhau.  
Với truyền thống pháp luật thành văn, pháp luật Việt Nam được định nghĩa trước  
hết là các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, vậy thì đối với các quy  
phạm pháp luật được thể hiện dưới hình thức là tiền lệ pháp hay tập quán pháp thì có cần  
GTPL hay không. Khía cạnh này có quan điểm khác lại cho rằng “GTPL là việc làm rõ  
hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so  
với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật  
một cách chính xác và thống nhất”532. Theo đó khi nói đến GTPL ở Việt Nam là nói đến  
giải thích các văn bản quy phạm pháp luật và không tồn tại giải thích tập quán pháp và  
tiền lệ pháp.  
Từ những phân tích trên đây, GTPL có thể được định nghĩa một cách tổng quát  
như sau: GTPL là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền làm rõ nội dung, ý nghĩa của  
văn bản quy phạm pháp luật theo những nguyên tắc, phương pháp nhất định để nhận thức  
và áp dụng pháp luật đúng đắn, thống nhất.  
1.2. Sự cần thiết phải giải thích pháp luật  
Một là do văn bản quy phạm pháp luật quy định không rõ nghĩa hoặc không có  
quy định pháp luật  
529 Nguyễn Văn Thuận (1999), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của  
UBTVQH”, Mã số 94-98- 106/ĐT, Hà Nội, tr.15.  
530 Huỳnh Thị Sinh Hiền, “Thẩm quyền GTPL”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa luật Đại học Cần Thơ, T6/2018, tr.15.  
531  
Tô Văn Hòa, (2008), “Một số vấn đề lý luận về GTPL”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về GTPL, Nxb. Hồng Đức, tr.  
40.  
532 Hoàng Văn Tú, “GTPL - Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn GTPL ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập  
pháp số 10 (126), T7/2008, tr.18.  
312  
GTPL xuất phát từ sự cản trở của ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến sự giao tiếp pháp  
lý giữa người xây dựng và người thực hiện pháp luật533. Ví dụ, ngôn ngữ nói chung và  
ngôn ngữ pháp lý có thể không rõ ràng, mơ hồ, không chính xác, không chi tiết hoặc từ  
ngữ có nhiều nghĩa, có thể hiểu theo hai hay nhiều cách gây khó khăn cho việc áp dụng  
pháp luật. Trên thực tế, sự mơ hồ, không rõ ràng trong ngôn ngữ là không thể tránh khỏi.  
Sự mơ hồ, không rõ ràng của ngôn ngữ pháp lý làm xuất hiện nhu cầu GTPL, trao quyền  
giải thích cho cơ quan có thẩm quyền. “Từ ngữ” là những biểu tượng không hoàn hảo để  
thể hiện ý định vì “Từ” bao giờ cũng có sự chuyển nghĩa. Một từ có thể có các cách hiểu  
khác nhau theo nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nghĩa gốc, nghĩa phái sinh.  
Bên cạnh đó, khi được diễn đạt, từ ngữ còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện trong một  
văn cảnh cụ thể. Kế đến, từ ngữ sẽ được hiểu thông qua lăng kính của người diễn đạt, phụ  
thuộc vào nhận thức, trình độ và cả mục đích của người trình bày từ ngữ. Có thể thấy  
rằng, yêu cầu từ ngữ trong văn bản là phải đơn giản, dễ hiểu, đơn nghĩa, phổ thông. Tuy  
nhiên, trên thực tế dưới sự tác động của các yếu tố kể trên, cho dù trước khi được ban  
hành chủ thể có thẩm quyền đã phải xem xét và chọn lọc từ ngữ khá kỹ lưỡng thì vẫn khó  
có thể đảm bảo được các yêu cầu trên về mặt từ ngữ của VBQPPL.  
Hai là do sự phát triển nhanh chóng của luật thành văn trong nền dân chủ đại  
diện534  
Hoạt động “làm luật” của nghị viện ngày càng phát triển mạnh mẽ cùng với sự  
phát triển của nền dân chủ đại diện. Từ đó kéo theo hệ quả hầu hết các luật là luật thành  
văn. Công việc chính của chính quyền chủ yếu liên quan đến hai hoạt động là làm luật và  
áp dụng pháp luật (đối với các nước theo truyền thống thông luật, những luật trong nh  
vực tư cũng được quy định thành văn nhiều hơn)535. Tuy nhiên, luật thành văn thường  
quy định một cách khái quát, trừu tượng để có thể áp dụng một cách phổ biến, nhiều lần.  
Tính trừu tượng, khái quát của luật thành văn có thể được giải thích là do xuất phát từ  
thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật. Và vì thế, pháp luật cần phải được giải thích  
để áp dụng cho các trường hợp cụ thể.  
Ba là những quan hệ xã hội thay đổi và phát sinh mới tạo độ “chênh” giữa văn bản  
pháp luật và những quan hệ xã hội cần điều chỉnh  
Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng được hình thành và quyết định  
bởi cơ sở hạ tầng là các quan hệ xã hội. Nếu so sánh pháp luật và sự vận động của xã hội  
thì có thể nói quan hệ xã hội như dòng chảy của một con sông và pháp luật chỉ là bờ đê  
được xây dựng để đưa dòng chảy vào khuôn khổ536. Xã hội luôn vận động và thay đổi  
không ngừng, các quan hệ xã hội thay đổi và phát sinh mới liên tục mỗi ngày trong khi  
533 Randal N. M. Graham, “What Judges Want: Judicial Self-interest and Statutory Interpretation”, Statute Law Re-  
view, Volume 30, Issue 1, 1 February 2009, tr.33.  
534 Đỗ Minh Khôi, “Lý thuyết và quy tắc giải thích pháp luật của toà án”, Kỷ yếu hội thảo Giải thích pháp luật, Đại  
học Cần Thơ, T6/2018.  
535  
D.N.MacCormick and R.S.Summers (1991), Interpreting statutes a comparative study, Ashgate Publishing,  
page.10.  
536 Đặng Thị Hà (2013), Giải thích pháp luật và vai trò của Toà án trong hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam,  
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr.9.  
313  
các quy định của pháp luật lại có tính ổn định khá cao. Cho dù một trong những yêu cầu  
khi xây dựng pháp luật là phải đảm bảo được tính dự liệu trước những quan hệ xã hội sẽ  
thay đổi và phát sinh, tuy nhiên, tính dự liệu cũng chỉ mang tính tương đối. Do đó, những  
thay đổi về kinh tế và xã hội, sẽ tạo ra những “lỗ hổng” của pháp luật mà các chủ thể có  
thẩm quyền cần phải giải thích, trước khi áp dụng pháp luật. Mặt khác, pháp luật thường  
mang tính khái quát. Nhà làm luật khi ban hành văn bản pháp luật chỉ có thể ban hành  
những quy phạm bao quát các quan hệ xã hội mang tính chất điển hình để từ đó chủ thể  
áp dụng pháp luật đưa những quy phạm mang tính khái quát đó vào các quan hệ xã hội cụ  
thể, chi tiết. Nếu không, hệ thống văn bản pháp luật sẽ trở nên vô cùng đồ sộ, và lẽ  
thường, khi càng chi tiết lại càng dễ trở nên thiếu xót. Khi đó, khoảng cách giữa các quan  
hệ xã hội cụ thể với những quy phạm pháp luật được rút ngắn đến chừng nào thì lại phụ  
thuộc vào khả năng giải thích pháp luật của các chủ thể áp dụng pháp luật.  
Bốn là các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật vẫn chưa có những cách hiểu  
thống nhất  
Để trả lời câu hỏi tại sao cần GTPL, một trong những câu hỏi phải trả lời trước đó  
là pháp luật là gì. Có quan điểm cho rằng, lý do GTPL dựa trên tính quyền lực và tính  
liên tục của pháp luật. Nếu pháp luật là kết quả của quyền lực (quyền lực chính đáng, hợp  
pháp) thì GTPL là việc làm rõ ý định của người có quyền đặt ra luật đó (hay GTPL dựa  
trên nguyên tắc theo ý chí lập pháp được phân tích dưới đây). Tuy nhiên, tính quyền lực  
của pháp luật chưa đủ làm căn cứ để trả lời thỏa đáng câu hỏi tại sao phải GTPL. Bởi lẽ,  
người có quyền lực có thể thay đổi nhưng những quy định đó vẫn có hiệu lực rất lâu dài  
(tính liên tục) bởi chúng phù hợp với giá trị đạo lý trong xã hội và nó được gắn kết bởi  
những học thuyết pháp lý. Bởi vậy, GTPL không chỉ nhằm làm rõ ý định của người làm  
luật, nó còn phải gắn với quan niệm chung, giá trị đạo lý xã hội và lý thuyết pháp luật thể  
hiện qua quy tắc GTPL được phân tích dưới đây. Lý do này cũng xuất phát từ quan niệm  
chung về pháp luật vốn không chỉ là sản phẩm của quyền lực mang tính giai cấp mà còn  
thể hiện tính khách quan, tính xã hội của pháp luật. Nói cách khác, pháp luật có tính  
khách quan; nhiều điểm tương đồng với trường phái pháp luật tự nhiên, cho rằng “pháp  
luật thực sự là pháp luật phù hợp với tự nhiên”537, “pháp luật chính là công lý” và pháp  
luật cũng có tính chủ quan; tương đồng với trường phái thực định cho rằng “pháp luật là  
những quy định mang tính bắt buộc của nhà nước và được đảm bảo bằng sức mạnh  
cưỡng chế”. Pháp luật mang thuộc tính nào, khách quan hay chủ quan, sẽ liên quan đến  
việc đưa ra những căn cứ khác nhau để tìm hiểu lý do, vai trò và nguyên tắc… của hoạt  
động GTPL.  
2. Chức năng tạo lập án lệ của toà án  
2.1. Khái niệm án lệ  
Thuật ngữ án lệ trong tiếng Anh là “precedent”, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là  
tiền lệ, dựa vào cái trước để làm theo thành lệ. Án lệ là một loại tiền lệ bởi nó là các giải  
537  
Thom Brooks, “True law is right reason in agreement with nature”, Dworkin and Hegel on Legal Theory,  
Georgia State University Law Review, vol 23, tr.517.  
314  
pháp pháp lý trong bản án của Tòa án trước được áp dụng để giải quyết trong các vụ việc  
tương tự về sau. Vì vậy, chính xác hơn thuật ngữ án lệ có thể được diễn đạt bằng cụm từ  
“judicial precedent” - “tiền lệ tư pháp”. Về bản chất, các án lệ được hình thành qua con  
đường tòa án do các thẩm phán tạo ra, vì thế án lệ còn có thể diễn đạt bằng cụm từ “judi-  
cial opinions” - “các quan điểm tư pháp”.  
Khái niệm “án lệ” được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia ngày nay. Nhưng giữa  
các quốc gia có truyền thống pháp luật khác nhau, hoặc ngay cùng một quốc gia, nhưng ở  
các giai đoạn lịch sử khác nhau, thì khái niệm này cũng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác  
nhau. Ở các nước có luật pháp theo hệ thống Thông luật, án lệ được xem là nguồn luật  
chính thức và được thể hiện bằng cụm từ “case law” - “luật được hình thành theo vụ  
việc”. Ở các nước theo hệ thống Dân luật thì không thừa nhận án lệ là một nguồn luật  
chính thức nên án lệ thường được hiểu là những bản án, quyết định của toà án có chưa  
đựng cách giải quyết vấn đề pháp lý mới, có giá trị tham khảo để giải quyết những vụ  
việc tương tự về sau538.  
Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm án lệ được quy định cụ thể tại Nghị quyết số  
04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao về  
quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ như sau: “Án lệ là những lập luận, phán  
quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án về một vụ việc cụ thể  
được Hội đồng thẩm phán Toá án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án toà án  
nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Như  
vậy, khái niệm án lệ trong văn bản này bao gồm các đặc điểm sau: Một là, án lệ là những  
lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định chứ không phải là bản án, quyết định có  
chứa các giải pháp pháp lý mới là khuôn mẫu để áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau.  
Hai là, án lệ phải được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được  
Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ. Hai điều trên khác với án lệ ở các  
nước khác, thường được hiểu là bản án, quyết định của Toà án xét xử giải quyết vụ việc  
có chứa các giải pháp pháp lý làm khuôn mẫu để áp dụng cho các vụ việc tương tự về  
sau. Nói cách khác, bản chất hoạt động tạo lập án lệ ở Việt Nam là nhằm mục đích thừa  
nhận hiệu lực pháp lý của án lệ539.  
2.2. Án lệ - hoạt động sáng tạo pháp luật của Toà án  
Toà án là chủ thể tạo ra án lệ. Tuy nhiên, bản chất của hoạt động tạo lập án lệ của  
Toà án là làm luật (judicial lawmaking) hay giải thích pháp luật (judicial interpretation).  
Có nhiều quan điểm khác nhau phụ thuộc vào truyền thống pháp luật cũng như các học  
thuyết chính trị, pháp lý khác nhau.  
Các nước theo hệ thống Dân luật chịu ảnh hưởng từ học thuyết chính trị dân chủ,  
trong đó có thuyết phân quyền cuả Montesquieu và thuyết khế ước xã hội của Rousseu,  
nên toà án chỉ thực hiện vai trò thuần tuý áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, khi toà án áp  
dụng pháp luật (nguồn văn bản pháp luật) thường gặp những khó khăn trong các trường  
538  
Đỗ Thanh Trung, Sách chuyên khảo “Chức năng tạo lập và áp dụng án lệ của Toà án ở Việt Nam hiện nay”,  
NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2019, tr.16.  
539 Đỗ Thanh Trung, sách đã dẫn, tr.20  
315  
hợp như văn bản pháp luật không có quy định hoặc có quy định nhưng không rõ ràng.  
Khi đó, toà án phải thực hiện vai trò giải thích pháp luật để lấp các lỗ hổng của văn bản  
pháp luật nhằm giải quyết vụ việc. Án lệ ở các nước trong hệ thống Dân luật không phải  
là nguồn luật chính thức mà chỉ đóng vai trò là nguồn có tính chất tham khảo nhằm bổ  
sung cho văn bản pháp luật. Do đó, bản chất của hoạt động tạo lập án lệ ở các nước này  
chính là toà án thực hiện hoạt động giải thích văn bản pháp luật chứ không phải là hoạt  
động làm luật.  
Vậy toà án có chức năng làm luật hay không540? Quan điểm khác cho rằng tòa án  
có chức năng để đặt ra quy định mới nhằm bù đắp sự thiết hụt mà nhà làm luật không thể  
dự liệu trong luật thành văn. Các sự thiếu hụt như vậy thường được nhìn thấy khi có vụ  
việc cụ thể được đem đến tòa. Việc đặt ra các quy định mới không được diễn đạt trong  
câu chữ của văn bản trước đó đã đi quá giới hạn của hoạt động giải thích, và đó chính là  
làm luật. Đây cũng là quan điểm của các nước theo hệ thống Thông luât. Ở đây, án lệ  
được xem là nguồn độc lập, chính thức thức tồn tại song song với nguồn văn bản pháp  
luật. Các án lệ do Toà án tạo lập có giá trị pháp lý và mang tính bắt buộc các thẩm phán  
khi xét xử đối với các vụ việc tương tự, các toà án có thể viện dẫn các án lệ làm cơ sở  
pháp lý để ra các quyết định.  
Nhìn chung, hoạt động tạo lập án lệ của Toà án ở hai hệ thống Thông luật và Dân  
luật có những khác biệt nhất định các nước Common Law thừa nhận quyền làm luật của  
thẩm phán,541 trong khi pháp luật các nước Civil Law thường quy định rằng thẩm phán  
không thể hành động như nhà làm luật. Nhưng xét về bản chất, đều là hoạt động sáng tạo  
pháp luật542. Cho dù án lệ được sáng tạo nhằm giải thích pháp luật mang tính kỹ thuật,  
chuyên môn với hoạt động giải thích pháp luật hay là án lệ giải pháp có ý nghĩa làm luật,  
có sự lựa chọn, sáng tạo của thẩm phán đều chứa đựng những giải pháp pháp lý mới tồn  
tại dưới dạng một quy tắc hay nguyên tắc pháp lý.  
Kết luận  
“Đạo luật là quan tòa câm, quan tòa là đạo luật biết nói”543 là câu nói nổi tiếng bàn  
về vai trò của Toà án khi thực hiện vai trò hạn chế khoảng cách giữa pháp luật và cuộc  
sống. Cuộc sống vốn luôn thay đổi và pháp luật được ban hành trên cơ sở tổng kết cuộc  
sống trong quá khứ, định hình trong văn bản nên có thể pháp luật chậm hơn so với thực  
tế. Do vậy, có thể nói, lịch sử phát triển của pháp luật là lịch sử của quá trình pháp luật  
thay đổi để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Vai trò hạn chế khoảng cách giữa pháp luật  
và cuộc sống của tòa án thể hiện thông qua chức năng sáng tạo pháp luật (giải thích pháp  
luật hay làm luật) của tòa án. Tòa án thực hiện vai trò hạn chế khoảng cách đó nhưng  
không làm thay đổi pháp luật mà mang lại một nghĩa mới cho pháp luật, ý nghĩa mới này  
xuất phát từ nhu cầu có thật, thể hiện qua một tranh chấp, một vi phạm thực tế mà tòa án  
540 Đỗ Minh Khôi, Huỳnh Thị Sinh Hiền, Phạm Thị Phương Thảo, “Sách tham khảo Một số nghiên cứu hiện đại về  
toà án”, NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2021  
541 Michelle Sanson, David Worswwick and Thalia Anthony (2009), Connecting with law, Oxford, trang 82.  
542 Đỗ Thanh Trung, sđd, tr.27  
543 Jon R. Stone (2006) The Routledge Dictionary of Latin quotations: The Illiterati's Guide To Latin Maxims, Mot-  
toes, Proverbs And Sayings, Routledge, trang 56.  
316  
phải giải quyết. Nói một cách ngắn gọn, tòa án đưa ra một nghĩa linh hoạt, mới cho các  
quy định cũ, để thích ứng với các nhu cầu mới của cuộc sống. Trong chừng mực nhất  
định, tòa án tham gia vào việc thay đổi pháp luật và mục đích của sự thay đổi này là làm  
cho pháp luật cũ đi vào cuộc sống mới, phát huy hiệu quả của pháp luật với tư cách là  
một công cụ hiệu quả để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy các quan hệ xã hội tích  
cực và hạn chế các quan hệ xã hội tiêu cực.  
Danh mục Tài liệu tham khảo  
1. Phạm Thị Duyên Thảo (2014), Một số vấn đề về GTPL chính thức ở Việt Nam hiện  
nay, Nxb Chính trị quốc gia.  
2. K.Larenz (1983), The method of recidivism, Macmilla Publised Co., New York,  
tr.230.  
3. Aharon Barak(2005), Purposive Interpretation in Law, Princeton University Press.  
4. F.V Hawkins (1860), On the Principles of legal Interpretation, Reprinted in Thayer,  
Preliminary Theatise in Evidence.  
5. Nguyễn Văn Thuận (1999), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến  
pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”, Mã số 94-98- 106/ĐT, Hà Nội.  
6. Huỳnh Thị Sinh Hiền, “Thẩm quyền GTPL”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa luật Đại học Cần  
Thơ, T6/2018.  
7. Tô Văn Hòa, (2008), “Một số vấn đề lý luận về GTPL”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về  
GTPL, Nxb. Hồng Đức.  
8. Hoàng Văn Tú, “GTPL - Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn GTPL ở Việt  
Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 10 (126), T7/2008.  
9. Randal N. M. Graham, “What Judges Want: Judicial Self-interest and Statutory In-  
terpretation”, Statute Law Review, Volume 30, Issue 1, 1 February 2009.  
10. Đỗ Minh Khôi, “Lý thuyết và quy tắc giải thích pháp luật của toà án”, Kỷ yếu hội  
thảo Giải thích pháp luật, Đại học Cần Thơ.  
11. D.N.MacCormick and R.S.Summers (1991), Interpreting statutes a comparative  
study, Ashgate Publishing.  
12. Đặng Thị Hà (2013), Giải thích pháp luật và vai trò của Toà án trong hoạt động giải  
thích pháp luật ở Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
13. Thom Brooks, “True law is right reason in agreement with nature”, Dworkin and  
Hegel on Legal Theory, Georgia State University Law Review, vol 23.  
14. Đỗ Thanh Trung(2019), Sách chuyên khảo “Chức năng tạo lập và áp dụng án lệ của  
Toà án ở Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia sự thật  
15. Đỗ Minh Khôi, Huỳnh Thị Sinh Hiền, Phạm Thị Phương Thảo,(2021) “Sách tham  
khảo Một số nghiên cứu hiện đại về toà án”, NXB Chính trị quốc gia sự thật.  
317  
16. Michelle Sanson, David Worswwick and Thalia Anthony (2009), Connecting with  
law, Oxford.  
17. Jon R. Stone (2006) The Routledge Dictionary of Latin quotations: The Illiterati's  
Guide To Latin Maxims, Mottoes, Proverbs And Sayings, Routledge.  
318  
pdf 8 trang Thùy Anh 15700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về mối quan hệ giữa án lệ và hoạt động giải thích pháp luật của toà án", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_moi_quan_he_giua_an_le_va_hoat_dong_giai_thich_phap_l.pdf