Tình trạng pháp lý của hợp đồng thông minh

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
6.  
TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ  
CỦA HỢP ĐỒNG THÔNG MINH  
Nguyễn Thị Hoài(*)  
Tóm tắt  
Nghiên cứu mô tả bối cảnh lịch sử của hợp đồng thông minh cũng như đưa ra  
khái niệm hợp đồng thông minh. Bên cạnh đó, nghiên cứu nêu ra và phân tích các  
quan điểm pháp lý về hợp đồng thông minh. Qua đó, nghiên cứu đưa ra sự gợi mở về  
một số cân nhắc pháp lý cho các nhà lập pháp ở Việt Nam đối với loại hợp đồng đặc  
biệt này.  
Từ khóa: Hợp đồng thông minh, hợp đồng pháp lý truyền thống, tình trạng pháp lý.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo Klaus Schwab (2018), cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ làm thay đổi cơ  
bản về cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Với quy mô, phạm vi và sự  
phức tạp của nó, sự biến đổi này sẽ không giống bất kỳ cuộc cách mạng nào mà nhân  
loại đã từng trải qua trước đây. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nhiều đặc tính  
đột phá đã và đang tác động vô cùng to lớn, rộng khắp đối với mọi lĩnh vực đời sống  
xã hội trên phạm vi toàn cầu và trong mỗi quốc gia. Đặc trưng của cách mạng công  
(*) Công ty TNHH EVD Thiết bị và Phát triển chất lượng  
80  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
nghiệp lần thứ tư là sự hợp nhất về mặt công nghệ, nhờ đó xóa bỏ ranh giới giữa các  
lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học, đem lại sự kết hợp giữa hệ thống ảo và thực  
tế. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nên đột phá mạnh làm thay đổi mạnh mẽ  
toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội loài người (Hoàng Thị Kim  
Quế, 2018).  
Một trong những công nghệ đột phá được dự đoán sẽ là công nghệ dẫn dắt cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư đó là công nghệ Blockchain (công nghệ chuỗi - khối).  
Với đặc tính phi tập trung, minh bạch và độ bảo mật cao, blockchain được đánh giá  
là công nghệ mang tính cách mạng, dẫn đến sự thay đổi trong tương lai. (Bộ Khoa  
học và Công nghệ & Báo Điện tử VnExpress, 2018). Các công nghệ được tạo lập  
dựa trên công nghệ blockchain sẽ có nhiều ứng dụng hay biến thể khác nhau. Với  
khoảng 354.000.000 kết quả tìm kiếm trong vòng 0,39 giây (Smart contract, 2018).  
Smart contract hay hợp đồng thông minh - một công nghệ mới dựa trên công nghệ  
blockchain đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội.  
Riccardo de Caria (2018) cho rằng nếu tiền ảo (virtual currency) như đồng  
Bitcoin, đồng Ethereum hoặc đồng Ripple ít nhiều cũng có một “danh phận” trên thị  
trường - hoặc là phương tiện thanh toán hoặc là tài sản, thì địa vị pháp lý (legal status)  
của hợp đồng thông minh hiện nay vẫn đang bị bỏ ngỏ. Hiện nay, chưa có bất kỳvăn  
bản pháp luật nào trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam nhắc đến hay quy định  
về “hợp đồng thông minh”. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về tình trạng pháp lý của hợp  
đồng này là vô cùng cần thiết.  
2. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THÔNG MINH  
2.1. Bối cảnh lịch sử của hợp đồng thông minh  
Thuật ngữ “hợp đồng thông minh” lần đầu tiên được giới thiệu bởi nhà khoa học  
máy tính và nhà mật mã Nick Szabo khoảng 20 năm trước đây. Theo Szabo: “Hiện  
nay, các thể chế mới (new institutions) và những cách thức mới để chính thức hóa các  
mối quan hệ tạo nên các thể chế này có thể được tạo nên bằng cuộc cách mạng số hóa  
(digital revolution). Tôi gọi những hợp đồng mới này là “thông minh”, bởi vì chúng  
có nhiều chức năng hơn so với những hình thức nguyên thủy được xác lập dựa trên  
giấy trước đây (paper-based ancestors). Không sử dụng trí tuệ nhận tạo được ngụ ý nói  
đến. Hợp đồng thông minh là một tập hợp các lời hứa, được quy định ở dạng số hóa,  
bao gồm các giao thức trong đó các bên thực hiện những lời hứa này”. (Nick Szabo,  
81  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
2018). Theo Stuart D. & Alex B. (2018), Szabo sử dụng dấu ngoặc kép xung quanh từ  
“thông minh” khi so sánh các hợp đồng thông minh với các hợp đồng dựa trên giấy,  
và việc tránh sự thông minh nhân tạo của ông là quan trọng. Hợp đồng thông minh có  
thể “thông minh hơn” so với các hợp đồng bằng giấy vì chúng tự động có thể thực hiện  
các bước được lập trình sẵn, nhưng chúng không được xem là công cụ thông minh có  
thể phân tích các yêu cầu chủ quan của hợp đồng. Ví dụ cổ điển của một hợp đồng  
thông minh được cung cấp bởi Szabo là một máy bán hàng tự động. Khi người mua đã  
thỏa mãn các điều kiện của “hợp đồng” (nghĩa là nạp tiền vào máy), máy sẽ tự động  
thực thi các điều khoản của thỏa thuận được xác lập không bằng hình thức văn bản và  
cung cấp đồ ăn nhẹ. Ngày nay, hợp đồng thông minh cũng tìm thấy nguồn gốc trong  
hợp đồng Ricardian, một khái niệm được xuất bản vào năm 1996 bởi Ian Grigg và  
Gary Howland như là một phần của công việc của họ trên hệ thống thanh toán Ricardo  
để chuyển giao tài sản. Grigg xem hợp đồng Ricardian là cầu nối giữa các hợp đồng  
văn bản và mật mã. Đó là một tài liệu duy nhất và bao gồm những đặc tính sau: “a)  
một hợp đồng được cung cấp bởi tổ chức phát hành đến những người nắm giữ, b) trao  
một quyền đáng giá cho chủ thể nắm giữ và được quản lý bởi tổ chức phát hành, c)  
mọi người có thể đọc dễ dàng (như hợp đồng trên giấy), d) chương trình máy tính có  
thể đọc được (có thể phân tích như một cơ sở dữ liệu), e) chữ ký điện tử, f) chứa đựng  
các khóa (keys) và thông tin máy chủ, và g) đồng minh với sự định danh duy nhất và  
bảo mật”. (Ian Grigg, 2018).  
2.2. Khái niệm hợp đồng thông minh  
Năm 1994, Nick Szabo nhận ra rằng sổ cái phi tập trung (decentralized legder)  
có thể được sử dụng cho các hợp đồng thông minh (smart contracts), hay còn gọi là  
hợp đồng tự thực thi (executing contracts), hợp đồng dựa trên hệ thống chuỗi khối  
(blockchain contracts) hoặc hợp đồng được số hóa (digital contracts). Trong sự định  
dạng này, các hợp đồng có thể được chuyển đổi thành mã máy tính, được lưu trữ  
và sao chép trên hệ thống và được giám sát bởi mạng máy tính được chạy dựa trên  
công nghệ chuỗi khối (blockchain). Điều này cũng sẽ dẫn đến kết quả được phản hồi  
trên sổ cái như chuyển tiền và nhận sản phẩm hoặc dịch vụ. (Smart Contracts: The  
Blockchain Technology That Will Replace Lawyers, 2018). Có thể thấy, hợp đồng  
thông minh là bước tiếp theo trong việc phát triển công nghệ blockchain. Theo Roman  
Beck & Christoph Müller-Bloch (2017), công nghệ này cho phép thực thi hợp đồng  
một cách tự động bằng chương trình máy tính khi sự đồng thuận được xác lập. Ngoài  
82  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
ra, công nghệ này cho phép lập trình các giao dịch khác nhau và thực hiện một số giao  
dịch kinh doanh nhất định. Theo Nick Szabo, hợp đồng thông minh là một giao thức  
giao dịch được máy tính hóa để thực thi các điều khoản của hợp đồng. (Babbitt and  
Dietz, 2014).  
Theo nhận định của Tanel Kerikmäe & Addi Rull (2016), trong nhiều năm qua,  
một nhóm các nhà phát minh đã bắt đầu thiết kế các công nghệ máy tính mang lại  
sự tự thực thi cho lĩnh vực hợp đồng. Họ gọi đó là hợp đồng thông minh. Hợp đồng  
thông minh là một nhân tố/ phương tiện thông minh (itelligent agent). Nói cách khác,  
nó là một chương trình máy tính có khả năng đưa ra quyết định khi một số điều kiện  
tiên quyết được đáp ứng. Trí thông minh của nó phụ thuộc vào sự phức tạp của một  
giao dịch mà nó được lập trình để thực hiện. Ngoài ra, James Ray (2018),nhận định:  
hợp đồng thông minh có thể được coi là một hệ thống chuyển nhượng tài sản được  
số hóa (digital assets) đến tất cả hoặc một số chủ thể có liên quan khi các quy tắc  
được thiết lập trước đó được đáp ứng.Và Tania H. (2018) cho rằng, hợp đồng thông  
minh là một phần mềm lưu trữ những quy tắc cho các điều khoản thương lượng của  
một thỏa thuận, tự động xác minh việc thực hiện và sau đó thực thi các điều khoản  
đã thỏa thuận.  
Như vậy, hợp đồng thông minh được xác định như những thỏa thuận mà trong đó  
các điều khoản của hợp đồng được ghi lại dưới dạng ngôn ngữ của máy tính (hay bởi  
các thuật toán). Được tạo dựng dựa trên công nghệ Blockchain, nên hợp đồng thông  
minh có khả năng tự đưa ra các điều khoản và thực thi tự động thỏa thuận thông qua  
hệ thống máy tính. Trong toàn bộ quá trình, hợp đồng thông minh được thực hiện tự  
động và không có sự can thiệp từ bên ngoài. Hay có thể hiểu, hợp đồng thông minh là  
thỏa thuận của các bên được viết trước một cách logic theo dạng mã máy tính; được  
lưu trữ và tái tạo trên blockchain; được thực thi và chạy bởi mạng lưới các máy tính  
sử dụngcông nghệ blockchain và có thể dẫn đến các cập nhật cho các tài khoản trên sổ  
cái (tức là thanh toán cho một hợp đồng đã thực hiện).  
3. TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG THÔNG MINH  
Để hiểu rõ hơn về tình trạng pháp lý của loại hợp đồng đặc biệt này, tác giả đặt  
nó trong mối quan hệ với hợp đồng pháp lý truyền thống. Stuart D. & Alex B.(2018)  
cho rằng: Một trong những khó khăn khi thảo luận về hợp đồng thông minh là thuật  
ngữ được sử dụng để nắm bắt hai mô hình rất khác nhau. Mô hình đầu tiên, hợp đồng  
83  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
thông minh được tạo ra và triển khai mà không có bất kỳ hợp đồng bằng văn bản nào  
ở phía sau. Ví dụ, hai bên đạt được một sự thỏa thuận bằng miệng về mối quan hệ kinh  
doanh mà họ muốn nắm bắt và sau đó chuyển sự thoả thuận đó thành mật mã để thực  
thi. Dạng thức này được xem như là hợp đồng thuần mật mã thông minh (code-only  
smart contracts). Mô hình thứ hai, sử dụng hợp đồng thông minh làm phương tiện để  
thực hiện các điều khoản nhất định của một hợp đồng văn bản truyền thống. Trong  
đó bản thân hợp đồng truyền thống phải tham chiếu đến việc sử dụng hợp đồng thông  
minh để thực hiện một số điều khoản đó. Dạng thức này là “hợp đồng phụ trợ thông  
minh” (ancillary smart contracts).  
Cùng theo quan điểm phân chia đó, trên thế giới hiện nay có hai luồng quan điểm  
lớn về mối quan hệ này. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng hợp đồng thông minh  
là một dạng của hợp đồng pháp lý và trong tương lai có khả năng thay thế hợp đồng  
truyền thống. (Vũ Thị Diệu Thảo, 2018). Luồng quan điểm này tiếp cận dưới lăng  
kính xem hợp đồng thông minh như là một sự thể hiện mới, hiện đại của hợp đồng  
pháp lý. Thật vậy, trong thực tiễn, có một số cách để đạt được một thỏa thuận mà  
không cần theo mô hình đề nghị và chấp nhận. Đặc biệt, phải thừa nhận rằng sự phát  
triển của thương mại điện tử đã đưa ra sự cần thiết phải khẳng định những cách khác  
nhau để tạo nên một hợp đồng. (Tanel Kerikmäe & Addi Rull, 2016).  
Luồng quan điểm còn lại cho rằng hợp đồng thông minh chỉ đơn thuần là một  
phương thức phụ trợ cho hoạt động thực hiện hợp đồng đã được thỏa thuận giữa các  
bên.Luồng quan điểm này tiếp cận vấn đề từ góc độ mục đích sử dụng, cho rằng hợp  
đồng thông minh chỉ được coi là một phương tiện dùng để thúc đẩy hoặc tự động hóa  
quy trình thực hiện hợp đồng (software agent). Trong trường hợp này, các bên đã có  
những thỏa thuận trước và hợp đồng thông minh chỉ là một chương trình máy tính  
được thiết kế để thực hiện chính xác các nội dung đã được thỏa thuận đó. Với vai trò  
là phương thức phụ trợ hợp đồng này, hợp đồng thông minh có thể được coi là một  
chương trình máy tính và thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ.  
(Vũ Thị Diệu Thảo, 2018).  
Để phân tích về hai luồng quan điểm pháp lý trên, chúng ta cần quay trở lại bản  
chất của hợp đồng thông minh. Có thể thấy, khác với hợp đồng truyền thống, ở hợp  
đồng thông minh, sự thống nhất ý chí của các bên được thể hiện ra bên ngoài thông  
qua các mật mã thay vì ngôn ngữ tự nhiên. Ngoài ra, hợp đồng thông minh tự thực thi  
hợp đồng mà không cần sự trợ giúp/ can thiệp của bất kỳ bên thứ ba nào. Bản chất của  
84  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
hợp đồng là sự thống nhất ý chí. Và hình thức của hợp đồng là sự biểu đạt ý chí của  
các bên ra bên ngoài. Do đó, hơn ai hết, các bên là người hiểu rõ nội dung của hợp  
đồng và sự biểu đạt ý chí của mình ra bên ngoài. Tuy nhiên, với hợp đồng thông minh,  
ý chí đó lại được mã hóa thành các thuật toán. Và thật sự, ngoài chủ thể lập trình, các  
bên trong hợp đồng không thể hiểu một cách đúng đắn hay dám chắc rằng sự biểu đạt  
bằng các thuật toán đó là ý chí trọn vẹn của mình. Tất nhiên, mật mã chỉ là một hình  
thức mà các bên có quyền lựa chọn hay không lựa chọn để biểu đạt ý chí của mình.  
Nên, khi các bên chấp nhận biểu đạt ý chí đó thông qua mật mã đồng nghĩa việc các  
bên chấp nhận mọi rủi ro có thể xảy ra. Tính “thông minh” của hợp đồng thông minh  
chủ yếu thể hiện ở đặc điểm tự thực thi hợp đồng một cách tự động. Chúng ta có thể  
hình dung đặc tính này như một phương tiện đặc biệt giúp các bên thực hiện hợp đồng  
cũng như bảo vệ quyền của mình mà chưa cần nhờ đến bên thứ ba. Khi cam kết bị phá  
vỡ, các bên sẽ không cần sự trợ giúp của bên thứ ba nếu có thể thỏa thuận được với  
nhau. Và ứng dụng thông minh này như một công cụ giúp sự thỏa thuận/ cam kết của  
các bên được tự động thực hiện dựa trên các lệnh đã được cài đặt sẵn trước đó. Bởi lẽ,  
khi các bên lựa chọn hợp đồng thông minh đồng nghĩa việc các bên buộc mình phải  
tuân theo những quy tắc đã được định sẵn.  
Như vậy, hợp đồng thông minh có thể là một hợp đồng pháp lý và được điều  
chỉnh bởi Luật hợp đồng nếu thỏa mãn các điều kiện về hợp đồng. Tuy nhiên, sẽ rất  
rủi ro và gây nhiều thách thức cho các nhà lập pháp về việc quản lý và thực thi hợp  
đồng này. Bởi hợp đồng được xác lập và thực hiện hoàn toàn trên mạng internet nên  
việc gian lận về hợp đồng, đánh cắp thông tin là bài toán khó đối với các nhà lập pháp  
và nhà quản lý. Không chỉ vậy, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng thông minh sẽ  
được giải quyết như thế nào khi hợp đồng này được thể hiện hoàn toàn bằng mật mã  
cũng là vấn đề pháp lý lớn đối với nhà lập pháp.  
Một cách tiếp cận có thể được xem là đơn giản hơn đối với loại hợp đồng đặc  
biệt này, đó là xem nó như một phương thức phụ trợ cho hoạt động thực hiện hợp  
đồng truyền thống. Đây chính là luồng quan điểm pháp lý thứ hai. Trong trường hợp  
giải pháp hợp đồng thông minh được sử dụng trong hợp đồng pháp lý, các yêu cầu về  
hợp đồng phải được xem xét. Các bên phải đồng ý sử dụng giải pháp hợp đồng thông  
minh để thực hiện các điều khoản hợp đồng; nếu không, hợp đồng thông minh không  
phải là một phần của hợp đồng pháp lý và do đó không có sự ràng buộc về mặt pháp  
lý. Hợp đồng thông minh có tính ràng buộc về mặt pháp lý chỉ khi các bên đã đồng  
85  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
ý tất cả các yêu cầu thiết yếu cho việc giao kết hợp đồng. (Tanel Kerikmäe & Addi  
Rull, 2016, trang 140). Việc sử dụng hợp đồng thông minh tách riêng với các hợp  
đồng pháp lý để thực thi các điều khoản hợp đồng pháp lý là một cơ hội pháp lý để  
thực thi các điều khoản hợp đồng với điều kiện các bên đã đồng ý sử dụng hợp đồng  
thông minh. Trong hầu hết các trường hợp sử dụng hợp đồng thông minh để thực thi  
các điều khoản hợp đồng có thể loại trừ sự cần thiết phải thực thi các điều khoản hợp  
đồng tại Tòa án, nhưng nó không đặt ngoài quyền tư pháp. Luôn có và nên là cơ hội  
cho các bên trong hợp đồng bảo vệ quyền lợi của mình tại Tòa án. (Tanel Kerikmäe &  
Addi Rull, 2016, trang 137).  
Tóm lại, khi đặt hợp đồng thông minh trong mối quan hệ với hợp đồng pháp lý  
truyền thống, chúng có thể tồn tại chồng lên nhau, nhưng cũng có thể độc lập với  
nhau. Việc đánh giá tình trạng pháp lý của loại hợp đồng đặc biệt nàytùy thuộc vào  
quan điểm pháp lý của nhà lập pháp ở các quốc gia khác nhau.  
4. KẾT LUẬN  
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển của  
công nghệ blockchain đã tạo ra một hợp đồng mới và hiện đại mang tên “hợp đồng  
thông minh”. Theo Maciej H. (2018), hợp đồng thông minh tạo ra một tình huống đó  
là mã lập trình trở thành luật của các bên. Sự chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng  
đối với việc hiểu các nghĩa vụ theo hợp đồng.Việc xác định bản chất pháp lý của hợp  
đồng thông minh sẽ tùy thuộc vào quan điểm và học thuyết pháp lý mà từng quốc gia  
theo đuổi. Các nhà lập pháp Việt Nam có thể ban hành chính sách mới để mở rộng về  
phạm trù hợp đồng và ban hành một khung pháp lý mới cho loại hợp đồng đặc biệt  
này hoặc có thể khôn ngoan trong việc sử dụng chính sách định vị cái mới trong cái  
cũ. Điều quan trọng hơn cả là các nhà quản lý cần nhìn nhận rõ những lỗ hổng pháp  
lý liên quan đến việc ứng dụng hợp đồng thông minh vào thực tế cuộc sống để có các  
chiến lược quản lý phù hợp.  
86  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Babbitt and Dietz (2014), Crypto-Economic Design: A Proposed Agent-Based Modeling  
Effort, truy cập lần cuối ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại:  
3. Bộ Khoa học và Công nghệ & Báo Điện tử VnExpress (2018), Diễn đàn Blockchain -Xu  
hướng và tầm nhìn phát triển, truy cập lần cuối ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại:https://  
4. Hoàng Thị Kim Quế (2018), “Nhà nước, pháp luật trong xã hội thông tin, công nghệ số  
và cách mạng công nghiệp 4.0 dưới lăng kính triết học pháp luật”, Tài liệu hội thảo khoa  
học Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với việc cải cách hệ thống pháp luật Việt  
Nam, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
5. Ian Grigg (2018), The Ricardian Contract, truy cập lần cuối ngày 10 tháng 11 năm 2018  
6. James Ray (2018), A Next-Generation Smart Contract and Decentralized Application  
wiki/wiki/White-Paper.  
7. Klaus Schwab(2018), The Fourth Industrial Revolution: what it means, how to  
agenda/2016/01/the-fourth-industrial-revolution-what-it-means-and-how-to-respond/.  
8. Maciej H. (2018), The legal framework and challenges of smart contract appilations,  
papers/SmartLaw2017_paper_3.pdf.  
9. Nick Szabo (2018), Smart Contracts: Building Blocks for Digital Market, truy cập  
InformationInSpeech/CDROM/Literature/LOTwinterschool2006/szabo.best.vwh.net/  
smart_contracts_2.html.  
10. Riccardo de Caria (2018), A Digital Revolution in International Trade? The International  
Legal Framework for Blockchain Technologies, Virtual Currencies and Smart Contracts:  
Challenges and Opportunity, truy cập lần cuối ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại: http://  
Digital_Revolution_in_International_Trade.pdf.  
11. Roman  
Innovation: A Framework for Engaging with Distributed Ledgers, truy cập lần  
Beck  
&Christoph  
Müller-Bloch(2017),Blockchain  
as  
Radical  
a80f5c77270bd36f1a0212bccea8651de3d4.pdf.  
12. Smart contract (2018), truy cập lần cuối ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại:  
87  
pdf 8 trang Thùy Anh 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng pháp lý của hợp đồng thông minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_phap_ly_cua_hop_dong_thong_minh.pdf