Sự cần thiết của việc áp dụng án lệ trong lĩnh vực tư pháp quốc tế Việt Nam

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP  
QUỐC TẾ VIỆT NAM  
Ngô Minh Phương Thảo500  
Hồ Phúc Nguyên501  
Tóm tắt  
Việc chính thức được thừa nhận án lệ tại Việt Nam đã đánh dấu một sự thay đổi  
mạnh mẽ trong nền tư pháp nước nhà, phù hợp với sự phát triển chung của các quốc gia  
trên thế giới. Với vai trò quan trọng và thiết thực, án lệ là nguồn tham khảo cho các  
Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc, nhất là trong bối cảnh thiếu vắng quy định  
của pháp luật hoặc có quy định nhưng không được giải thích một cách rõ ràng. Vai trò  
này càng đặc biệt hơn đối với lĩnh vực Tư pháp quốc tế, một ngành luật còn khá mới mẻ  
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ các vấn đề liên quan đến xác định thẩm quyền  
của Tòa án quốc gia đến xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố  
nước ngoài đều chưa được quy định một cách cụ thể, dẫn đến rất nhiều bất cập vẫn còn  
tồn tại trong thực tiễn. Chính vì vậy, thông qua bài tham luận này, nhóm tác giả sẽ tập  
trung phân tích sự cần thiết của việc ban hành và áp dụng án lệ trong quá trình Tòa án  
giải quyết tranh chấp về hợp đồng có yếu tố nước ngoài, kinh nghiệm từ Tòa án nước  
ngoài trong việc giải thích các vấn đề liên quan, qua đó, góp phần nâng cao vị thế của  
Tòa án Việt Nam cũng như công tác giảng dạy môn học Tư pháp quốc tế trở nên hiệu quả  
và thiết thực hơn trong thời gian tới.  
Từ khóa: Án lệ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, luật áp dụng, thẩm quyền của Tòa án Việt  
Nam.  
1. Đặt vấn đề  
Năm 2013, Việt Nam đã chính thức tham gia vào nền khoa học Tư pháp quốc tế  
thế giới khi trở thành thành viên của Hội nghị LaHay, Hội nghị có tầm ảnh hưởng lớn  
nhất trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế502. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng để xây dựng  
các quy phạm pháp luật Tư pháp quốc tế trong Bộ luật Dân sự 2015 (sau đây BLDS  
2015) và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sau đây BLTTDS 2015) theo hướng gần hơn với  
Tư pháp quốc tế các nước. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản  
pháp luật cũng như án lệ nào giải thích những vấn đề còn vướng mắc trong các quy định  
về Tư pháp quốc tế ở hai Bộ luật trên. Chẳng hạn như các nội dung về thỏa thuận lựa  
chọn tòa án giải quyết tranh chấp của các bên trong hợp đồng, thời điểm thỏa thuận pháp  
500 Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Email: [email protected]n.  
501  
Sinh viên ngành Luật Tài chính – Ngân hàng, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Email:  
502 Xem thêm: Bộ Tư pháp, “Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội nghị LaHay về tư pháp quốc tế”, <  
299  
luật áp dụng đối với nội dung hợp đồng, tiêu chí để xác định pháp luật của nước có mối  
liên hệ mật thiết với hợp đồng…  
Theo đó, nhóm tác giả nhận thấy rằng, việc ban hành án lệ trong lĩnh vực Tư pháp  
quốc tế không chỉ phục vụ cho công tác giảng dạy môn học này mà quan trọng hơn, là  
nền tảng cơ bản để các Tòa án có thể áp dụng án lệ trong việc giải quyết các vụ việc dân  
sự có yếu tố nước ngoài nói chung và liên quan đến hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói  
riêng trong trường hợp quy định của pháp luật chưa được giải thích một cách rõ ràng. Để  
đạt được mục tiêu đó, Tòa án Việt Nam, thông qua các bản án, cần nâng cao khả năng  
giải thích pháp luật trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong và  
ngoài nước. Đây là yêu cầu cấp thiết được đặt ra bởi lẽ quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài, đặc biệt là quan hệ hợp đồng, ngày càng phát triển và sẽ tiếp tục trở nên phổ biến  
trong tương lai không xa.  
2. Sự cần thiết áp dụng án lệ trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam  
Pháp luật Việt Nam quy định Tòa án có thẩm quyền riêng biệt trong trường hợp vụ  
án dân sự mà các bên đã lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt  
Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa  
án Việt Nam.503 Theo đó, trong một số lĩnh vực nhất định như hợp đồng, các bên có  
quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết trong trường hợp phát sinh  
tranh chấp giữa các bên. Tuy nhiên, pháp luật lại không nêu cụ thể thời điểm các bên thỏa  
thuận chọn cơ quan tài phán là khi nào. Thông thường thời điểm này sẽ vào lúc các bên  
ký kết hợp đồng nhưng cũng có thể là lúc tranh chấp đã phát sinh. Thậm chí trong trường  
hợp khi nguyên đơn tiến hành tố tụng tại Tòa án Việt Nam mà bị đơn lại không phản đối  
thẩm quyền của Tòa án thì được xem là các bên đã đồng thuận đưa tranh chấp ra giải  
quyết trước Tòa án Việt Nam. Một vấn đề cũng đáng lưu ý là liệu các bên có quyền lựa  
chọn Tòa án Việt Nam không khi hợp đồng giữa các bên lại không liên quan đến Việt  
Nam.504 Trong bối cảnh BLTTDS 2015 mới được thi hành hơn 05 năm, việc sửa đổi, bổ  
sung điều khoản về xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam là điều không khả thi. Do  
đó, ban hành các án lệ liên quan đến vấn đề trên để xác định khả năng thực thi của một  
điều khoản tài phán là một giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất mà nhà làm luật cần quan  
tâm.  
Về thời điểm các bên thỏa thuận điều khoản tài phán  
Thỏa thuận về quyền tài phán hay thỏa thuận lựa chọn tòa án thường được các bên  
ghi nhận thành một điều khoản trong hợp đồng tại thời điểm giao kết hợp đồng. Tuy  
nhiên, hiện nay không có văn bản nào đặt ra thời điểm cụ thể cho thỏa thuận này nên trên  
thực tế xảy ra nhiều trường hợp các bên đi đến thỏa thuận sau khi tranh chấp đã phát sinh,  
503 Điều 470.1.c BLTTDS 2015.  
504 Trong Tư pháp quốc tế gọi trường hợp này là forum non conveniens: Tòa án có thẩm quyền có quyền từ chối thụ  
lý giải quyết vụ việc nếu Tòa án xét thấy rằng nếu tiếp tục thực thi thẩm quyền của mình sẽ tạo sự bất lợi cho các  
bên liên quan và cho chính Tòa án đó về các khía cạnh như thu thập chứng cứ, tham gia tố tụng, thi hành án…  
300  
hoặc bổ sung điều khoản trong quá trình thực hiện hợp đồng.505 Điều này dẫn đến việc  
xác định thẩm quyền của các Tòa án gặp không ít khó khăn.  
Ở các Tòa án Anh và xứ Wales, khi giải thích một điều khoản tài phán được ký kết  
trước khi tranh chấp phát sinh, thời điểm các bên tham gia vào điều khoản tài phán thẩm  
quyền luôn được chú trọng xem xét và giải thích trước khi tiến hành tố tụng.506 Trong vụ  
án được giải quyết bởi Tòa án phúc thẩm trong vụ BNP Paribas SA v Trattamento Rifiuti  
Metropolitani (2019), tranh chấp phát sinh khi quyền tài phán trong hợp đồng cho vay  
được trao cho Tòa án tại Ý, sau đó, một bên trong tranh chấp đã tham gia vào một Hợp  
đồng hoán đổi với tư cách Ngân hàng bảo hiểm rủi ro và ghi nhận thêm điều khoản tài  
phán cho các tòa án Anh. Đối với trường hợp các bên có hai điều khoản tài phán cạnh  
tranh, trên cơ sở xem xét án lệ của chính họ tại Đoạn 68 trong án lệ Deutsche Bank v  
Sevona (2018)507 và tham chiếu đến Điều 25 của Brussels I508, Tòa án phúc thẩm Anh và  
xứ Wales nhận định phạm vi điều khoản tài phán là tại thời điểm thỏa thuận trong hợp  
đồng cho vay, xảy ra trước khi có tranh chấp phát sinh. Vì vậy, việc giải thích điều khoản  
này sẽ mang tính dự đoán tương lai, hướng đến bản chất chung của tranh chấp hoặc các  
tranh chấp được đề cập đến trong điều khoản.509 Từ đó xác định một tranh chấp có nằm  
trong phạm vi của điều khoản tài phán đó hay không và xác định điều khoản tài phán nào  
sẽ được ưu tiên áp dụng. Tòa án nhận định “giai đoạn khởi đầu” là giai đoạn các bên  
trong hợp đồng đưa ra các thỏa thuận về quyền tài phán rằng nó sẽ áp dụng cho các tranh  
chấp phát sinh từ hợp đồng đó, chứ không phải các tranh chấp phát sinh từ một hợp đồng  
505  
Jurisdiction/choice of court agreement  
-
overview, Lexis, truy cập ngày 22.11.2021,  
506  
BNP Paribas SA v Trattamento Rifiuti Metropolitani SPA (Rev 1) (2019) EWCA Civ 768, GateHouse, truy cập  
507 Đoạn 68 trong án lệ Deutsche Bank v Sevona:  
“(1) Trong trường hợp thỏa thuận hợp đồng tổng thể của các bên có hai điều khoản quyền tài phán cạnh tranh, thì  
điểm khởi đầu là một điều khoản quyền tài phán trong một hợp đồng có lẽ không nhằm giải quyết tranh chấp một  
cách tự nhiên hơn được coi là phát sinh trong một hợp đồng liên quan.  
(2) Cần tuân thủ một cách tiếp cận rộng rãi, có mục đích và có mục đích thương mại.  
(3) Trong trường hợp các điều khoản về quyền tài phán là một phần của một loạt các thỏa thuận, chúng phải được  
giải thích dựa trên toàn bộ giao dịch, có tính đến sơ đồ tổng thể của các thỏa thuận và đọc các câu và cụm từ trong  
bối cảnh của sơ đồ tổng thể đó.  
(4) Người ta thừa nhận rằng những người kinh doanh nhạy bén không có ý định rằng các tuyên bố tương tự phải là  
đối tượng của các điều khoản thẩm quyền không nhất quán.  
(5) Do đó, giả định ban đầu sẽ là các điều khoản về quyền tài phán cạnh tranh phải được giải thích trên cơ sở mỗi  
điều khoản giải quyết riêng về chủ đề của mình và chúng không chồng chéo, miễn là ngôn ngữ và hoàn cảnh xung  
quanh cho phép.  
(6) Tuy nhiên, ngôn ngữ và hoàn cảnh xung quanh có thể làm rõ rằng tranh chấp nằm trong phạm vi của cả hai điều  
khoản. Trong trường hợp đó, kết quả có thể là một trong hai mệnh đề có thể áp dụng thay vì một mệnh đề để loại trừ  
mệnh đề kia”.  
508 Điều 25 Brussels I: “Nếu các bên, bất kể nơi cư trú của họ, đã đồng ý rằng tòa án hoặc các tòa án của một Quốc  
gia Thành viên có thẩm quyền giải quyết bất kỳ tranh chấp nào đã phát sinh hoặc có thể phát sinh liên quan đến một  
mối quan hệ pháp lý cụ thể, thì tòa án đó hoặc các tòa án đó sẽ có thẩm quyền…”  
509  
Jurisdiction agreements - approach of the courts of England and Wales, LexisNexis, truy cập ngày 22.11.2021,  
301  
nào khác.510 Qua việc vận dụng án lệ này, Tòa án phúc thẩm cũng khẳng định rằng không  
có sự xung đột giữa hai thỏa thuận tài phán trong trường hợp này khi mỗi thỏa thuận tài  
phán sẽ điều chỉnh các tranh chấp nhất định phát sinh theo hợp đồng mà nó được ký kết.  
Có thể thấy, việc tiếp cận và đưa ra phán quyết cho của Tòa án Anh và xứ Wales  
đã dựa trên một tình huống tương tự được dẫn chiếu từ các án lệ trước đó, cụ thể là cách  
tiếp cận được trích dẫn từ Đoạn 68 án lệ Deutsche Bank v Sevona để giải thích một điều  
khoản tài phán liên quan đến thời điểm các bên thỏa thuận về quyền tài phán mà hầu như  
không gặp bất kỳ khó khăn nào. Trong quyết định của Tòa án Thương mại cho vụ án này  
cũng đã nhận định: “Cuối cùng, tất cả các yếu tố này (được xác định trong án lệ dẫn  
chiếu) chỉ là những biển chỉ dẫn đôi khi có thể hỗ trợ việc xác định ý định của các bên,  
trong khi bản thân các thuật ngữ “độc quyền” và “không độc quyền” chỉ là những dấu  
hiệu tiện lợi.”511  
Sự đồng thuận của các bên trong thỏa thuận quyền tài phán  
Một thỏa thuận quyền tòa án được các bên đưa ra cho thấy sự đồng ý của họ rằng  
bất kỳ tranh chấp nào phát sinh liên quan đến hợp đồng đó sẽ được giải quyết bởi một tòa  
án cụ thể. Các thỏa thuận này được cho là sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí cho thủ tục tố  
tụng. Tuy nhiên, đối với các thỏa thuận quyền tài phán được ký kết ở giai đoạn đầu, các  
bên thường khó có thể lường trước các trường hợp có thể phát sinh trong quá trình thực  
hiện hợp đồng. Vì vậy, xảy ra nhiều trường hợp các bên không còn giữ được sự thống  
nhất về thẩm quyền tòa án.  
Trong vụ tranh chấp Bremen v. Zapata Offshore Co. 407 U.S.1. (1972), cách tiếp  
cận của Tòa án là “thực thi điều khoản lựa chọn Tòa án đã được ghi nhận trong hợp đồng  
trừ khi một bên trong tranh chấp chứng minh được rằng việc thực thi sẽ là vô lý và không  
công bằng hoặc điều khoản đó không hợp lệ vì những lý do như gian lận hoặc vi phạm  
quá mức.”512 Án lệ này thường được các tòa án tiểu bang tại Hoa Kỳ đã dẫn chiếu quyết  
định, trong đó một số tòa án áp dụng một cách linh hoạt khi bổ sung thêm Bản khôi phục  
và cho phép các tòa án có quyền quyết định nhất định để từ chối sự lựa chọn tòa án từ một  
bên. Qua đó, bên phản đối về thỏa thuận lựa chọn diễn đàn phải chứng minh về những bất  
lợi cho việc thực hiện các thỏa thuận thẩm quyền này trên thực tế, mà những bất lợi này  
không thể lường trước được vào thời điểm các bên đi đến ký kết hợp đồng với điều khoản  
đã thống nhất.513  
Thẩm quyền từ chối thẩm quyền của Tòa án với thỏa thuận quyền tài phán  
Một điều khoản lựa chọn tòa án có thể bị coi là không hợp lệ và không thể thi hành  
510 Jonathan Pagan. 2019. The Court of Appeal of England and Wales on apparently competing jurisdiction clauses.  
511 Jonathan Pagan. 2019. The Court of Appeal of England and Wales on apparently competing jurisdiction clauses.  
Again, tlđd.  
512 “that [forum selection] clauses are prima facie valid and should be enforced unless enforcement is shown by the  
resisting party to be 'unreasonable' under the circumstances."  
513  
"enforce the forum clause specifically unless [the resisting party can] clearly show that enforcement would be  
unreasonable and unjust, or that the clause was invalid for such reasons as fraud or overreaching."  
302  
khi Tòa án nhận thấy việc thực thi điều khoản này là không hợp lý hoặc không công bằng;  
hoặc chống lại chính sách công; hoặc nó là kết quả của việc gian lận hay lừa gạt quá  
mức.514  
Tại Hoa Kỳ, một điều khoản lựa chọn tòa án có thể bị hủy bỏ trong trường hợp áp  
dụng nó không hợp lý như vụ Brower v. Gateway, 1998, N.Y, App, Div. Lexus về hợp  
đồng biểu mẫu mua máy tính thông qua thư hoặc điện thoại. Hoặc trường hợp điều khoản  
này chống lại chính sách công như trong án lệ High Life Sales v Brown - Forman Corp.,  
832 S.W, 2d 493 (Mo.1992), khi Tòa án nhận thấy rằng việc thi hành nó sẽ chống lại quy  
chế bảo vệ nhượng quyền thương mại rượu của nhà phân phối Missouri.  
Trong quyết định ngày 17/12/1985 của Tòa án tối cao Pháp đã ghi nhận một điều  
khoản thỏa thuận quyền tài phán trong vụ tranh chấp giữa một công ty Hoa Kỳ với một  
công ty Pháp về việc độc quyền phân phối sản phẩm trên lãnh thổ Pháp. Theo đó, các bên  
thỏa thuận Tòa án San Francisco (Hoa Kỳ) để giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp  
đồng. Tòa án tối cao Pháp sau đó đã bác bỏ quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm Pháp về  
việc loại trừ thỏa thuận chọn Tòa án Hoa Kỳ với lý do áp dụng theo các quy định về các  
hành vi cạnh tranh của luật Pháp. Vụ việc trên đã được ghi nhận thành án lệ với nhận định  
“thỏa thuận về lựa chọn tòa án trong hợp đồng có phạm vi điều chỉnh cho mọi tranh chấp  
phát sinh từ hợp đồng đó, do đó, cần được áp dụng cho dù các quy định bắt buộc phải áp  
dụng đối với nội dung tranh chấp”.  
Về việc lựa chọn Tòa án không liên quan đến hợp đồng của các bên  
Điều 469 BLTTDS 2015 quy định những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài  
thuộc thẩm quyền xét xử chung của Tòa án Việt Nam thì tranh chấp đó có thể được giải  
quyết bởi Tòa án Việt Nam. Ngoài ra, tại Điều 470.1.a BLTTDS 2015 còn đưa ra một cơ  
sở thừa nhận gián tiếp thẩm quyền của Tòa án Việt Nam là có liên quan đến quyền đối  
với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, trong hợp đồng có yếu tố  
nước ngoài, tuy không được thực hiện ở Việt Nam nhưng nếu một trong các bên đáp ứng  
điều kiện gián tiếp (như: có trụ sở tại Việt Nam, ..)thì vẫn có điều kiện để xác định thẩm  
quyền của Tòa án Việt Nam. Do đó, nếu hợp đồng giữa các bên không có quan hệ với  
Việt Nam không loại trừ thẩm quyền của Tòa án Việt Nam, nếu có tồn tại thêm các dấu  
hiệu khác thừa nhận thẩm quyền này.  
Việc thừa nhận thẩm quyền của Tòa án với tranh chấp hợp đồng không được thực  
hiện trên lãnh thổ của nước có Tòa án đó đã được pháp luật một số quốc gia đúc kết thành  
án lệ, tạo ra khuôn khổ chung và được công bố rộng rãi.  
Tòa án Pháp trong vụ CA de Paris, 28 février 2001, Société Agricultural Bank of  
China/LE Crédit Lyonnais: Jurisdata n 143195 đã thụ lý giải quyết tranh chấp trong đó  
một bên tham gia trong hợp đồng là Ngân hàng Pháp dựa trên Điều 14 BLDS Pháp515 mà  
514  
Forum Selection Clause Lawyers, Legal Match, truy cập ngày 22.11.2021, <https://www.legalmatch.com/law-  
515  
Theo Điều 14 BLDS Pháp, Tòa án Pháp có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp mà trong đó có một bên là  
người Pháp.  
303  
không quan trọng đến việc xem xét bản chất tranh chấp hay pháp luật điều chỉnh. Theo án  
lệ Pháp, khi hợp đồng được thực hiện tại Pháp, Tòa án Pháp sẽ có thẩm quyền giải quyết  
các tranh chấp liên quan đến hợp đồng này.516 Tuy nhiên, trong trường hợp này, hợp đồng  
không được thực hiện ở Pháp mà chỉ có một bên là chi nhánh Ngân hàng Pháp ký kết với  
một khách hàng Hongkong vay tiền tại Hongkong. Do đó, căn cứ các yếu tố gián tiếp,  
Tòa án đã thừa nhận thẩm quyền của mình.  
Từ án lệ trên, có thể nhìn nhận, ngoài các yếu tố trực tiếp xác định thẩm quyền của  
Tòa án đối với một vụ việc có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền của một Tòa án vẫn có thể  
được xác định thông qua các tiêu chí gián tiếp khác được dựa trên các tình tiết và lập luận  
trong án lệ. Dựa trên quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam trong việc xác định  
thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, đây là  
bài học kinh nghiệm trong việc ban hành án lệ để các Thẩm phán dễ dàng áp dụng trong  
những vụ việc tương tự. Án lệ là nguyên tắc bắt buộc, có giá trị như nguồn luật trong việc  
xem xét giải quyết các vụ việc dân sự đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật và  
thông luật Anh - Mỹ. Điều này đòi hỏi các Thẩm phán khi xem xét một vụ việc phải căn  
cứ vào các bản án, quyết định cho các vụ việc xảy ra tương tự để ra quyết định đối với vụ  
việc này.  
Điều khoản thỏa thuận tòa án giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài là một vấn  
đề phức tạp trong Tư pháp quốc tế. Từ thực tiễn xác định thẩm quyền tòa án của một số  
quốc gia, có thể thấy, có nhiều vấn đề cần xem xét khi xác định cơ quan tài phán giải  
quyết các tranh chấp. Các quốc gia trên thế giới đã phát triển án lệ trong các lĩnh vực này  
để tạo tiền đề cho các tòa án giải quyết nhanh chóng các tranh chấp và ít gặp khó khăn  
hơn. Khảo cứu kinh nghiệm này, nhóm tác giả đề cập đến tầm quan trọng của việc áp  
dụng án lệ trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam. Nếu không có án lệ, các  
thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành không chắc chắn và làm chậm tiến  
độ giải quyết các tranh chấp này chỉ để xác định liệu Tòa án có thẩm quyền hay không. Vì  
vậy, để thống nhất cách hiểu và nhận thức về thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh  
từ các hợp đồng có yếu tố nước ngoài, nhóm tác giả đặt ra vấn đề Hội đồng thẩm phán  
Tòa án nhân dân tối cao ban hành án lệ trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt  
Nam trên cơ sở tham khảo các án lệ của các quốc gia trên thế giới.  
3. Sự cần thiết áp dụng án lệ trong việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ  
hợp đồng có yếu tố nước ngoài  
Có thể nói, khung pháp lý điều chỉnh pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng có  
yếu tố nước ngoài hiện nay rất tiến bộ. Các nhà làm luật đã có sự tham khảo Quy tắc  
Rome I về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng để dần hoàn thiện các quy phạm  
xung đột xác định luật áp dụng đối với hợp đồng tại Điều 683 BLDS 2015. Thế nhưng,  
lại một lần nữa, nội dung tại Điều 683 còn rất nhiều vấn đề cần phải được làm rõ và được  
516 Phan Hoài Nam. 2012. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với tranh chấp về hợp đồng có yếu tố nước ngoài,  
Tạp  
chí  
Khoa  
học  
pháp  
lý,  
truy  
cập  
ngày  
22.11.2021,  
304  
giải thích thông qua Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hoặc  
thông qua án lệ trong trường hợp Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết vụ việc liên quan.  
Thứ nhất, về thời điểm thỏa thuận chọn luật áp dụng. Giả sử rằng, hợp đồng được  
ký kết giữa các bên không có điều khoản về thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng, sau  
đó phát sinh tranh chấp, nguyên đơn yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng pháp luật nước X  
để giải quyết và bị đơn biết nhưng không phản đối thì có được xem là các bên đã thống  
nhất thỏa thuận luật áp dụng hay không? Ở tình huống khác, vào thời điểm ký kết hợp  
đồng, các bên thỏa thuận pháp luật nước X điều chỉnh nội dung hợp đồng, tuy nhiên, khi  
tranh chấp phát sinh, một bên khởi kiện ra tòa án, lúc này các bên lại thay đổi lựa chọn  
pháp luật nước Y. Như vậy, thỏa thuận này có hiệu lực hay không?  
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Quy tắc Rome I517 và Khoản 3 Điều 2 Bộ  
nguyên tắc về lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại quốc tế được ban  
hành bởi Hội nghị La Hay518 thì các bên có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng khác với  
luật đã lựa chọn trước đó vào bất kỳ thời điểm nào mà các bên cho là phù hợp. Như vậy,  
về mặt lý luận, các nhà làm luật luôn đề cao quyền tự định đoạt của các bên đồng thời  
khuyến khích các quốc gia thừa nhận nguyên tắc này, vốn đã trở thành luật của các bên,  
trong các văn bản pháp luật quốc gia. Thú vị là, thực tiễn giải quyết các tranh chấp đã cho  
thấy rằng, các Thẩm phán có xu hướng tôn trọng nguyên tắc trên, điều này đã được  
chứng minh thông qua các án lệ đã được ban hành519.  
Thứ hai, về hình thức thỏa thuận chọn luật. Nếu các bên không trực tiếp thể hiện  
thỏa thuận chọn luật bằng một điều khoản rõ ràng trong hợp đồng (hợp đồng điện tử hoặc  
hợp đồng thông thường) nhưng các bên đã ngầm chấp nhận pháp luật của quốc gia nào  
đó, hoặc tập quán quốc tế hoặc Công ước Viên 1980….Sự ngầm hiểu này có thể được  
hiểu thông qua các yếu tố liên kết với hợp đồng thì lúc này Tòa án có giải thích pháp luật  
theo hướng tôn trọng sự thỏa thuận (ngầm) của các bên không hay sẽ áp dụng các quy  
phạm xung đột trong pháp luật quốc gia để giải quyết? Hướng giải quyết sẽ được nêu rõ  
trong các án lệ được ban hành bởi Tòa án có thẩm quyền.  
Điển hình tại án lệ Amin Rasheed Shipping Corp. v Kuwait Insurance Co., thẩm  
phán đã tiếp cận dưới góc độ giải thích ý chí của các bên thay vì áp dụng luật xung đột để  
xác định pháp luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nội dung tranh chấp có thể tóm tắt như  
sau520: Nguyên đơn (Bên được bảo hiểm) là một công ty vận tải biển được thành lập tại  
Liberia, nhưng có trụ sở chính và thực hiện hoạt động kinh doanh tại Dubai. Công ty này  
sở hữu một tàu chở hàng là Al Wahab, vào thời điểm phát sinh tranh chấp, chỉ hoạt động  
517 Nguyên văn Khoản 2 Điều 3 Quy tắc Rome I như sau: “The parties may at any time agree to subject the contract  
to a law other than that which previously governed it, whether as a result of an earlier choice made under this Arti-  
cle or of other provisions of this Regulation. Any change in the law to be applied that is made after the conclusion of  
the contract shall not prejudice its formal validity under Article 11 or adversely affect the rights of third parties”.  
518  
03/11/2021.  
519 Dolly Wu (2011), "Timing the Choice of Law by Contract", Northwestern Journal of Technology and Intellectual  
Property, Vol. 9 (7).  
520  
19/11/2021.  
305  
trong vùng biển thuộc vịnh Ả Rập. Bị đơn (Bên bảo hiểm) là một công ty bảo hiểm có trụ  
sở chính tại Kuwait. Ngoài ra, Bị đơn còn có các chi nhánh ở những nơi khác trong vùng  
Vịnh, bao gồm Dubai, nhưng không có văn phòng hoặc đại diện tại Anh. Nguyên đơn và  
Bị đơn đã ký kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu và máy móc cho Al Wahab, hợp đồng được  
ký kết và thực hiện tại Kuwait. Mặt khác, hợp đồng được soạn theo mẫu hợp đồng bảo  
hiểm của Bị đơn dựa trên Đạo luật Bảo hiểm Hàng hải 1906 của Anh, ngôn ngữ hợp đồng  
bằng tiếng Anh. Sau đó, giữa các bên phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng,  
Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn tại Tòa án Anh.  
Thẩm phán xét thấy rằng, không tồn tại một điều khoản chọn luật áp dụng một  
cách rõ ràng giữa các bên. Hơn nữa, cả pháp luật Kuwait và pháp luật Anh đều có mối  
liên hệ với hợp đồng. Cụ thể, trụ sở chính của Bị đơn đặt tại Kuwait, hợp đồng được ký  
kết tại Kuwait đồng thời Nguyên đơn thực hiện chi trả phí bảo hiểm của mình cũng tại  
Kuwait. Ngược lại, ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng bằng tiếng Anh, phí bảo hiểm được  
thanh toán bằng đồng Sterling, hình thức của hợp đồng theo pháp luật Anh. Như vậy, nếu  
chỉ dựa vào các yếu tố trên thì rất khó để quyết định pháp luật quốc gia nào sẽ được áp  
dụng để giải quyết tranh chấp vì dường như chúng đều mang tính cân bằng. Tuy nhiên,  
Thẩm phán Diplock đã tìm thấy tiêu chí quan trọng để đưa ra phán quyết, đó là, khi ký  
kết hợp đồng, các bên đều dựa trên luật bảo hiểm hàng hải của Anh để xác định quyền và  
nghĩa vụ của mình. Theo đó, dự định của các bên, mặc dù không được thể hiện rõ ràng, là  
áp dụng pháp luật Anh, đặc biệt hơn cả là, vào thời điểm các bên ký kết hợp đồng, Ku-  
wait chưa ban hành đạo luật bảo hiểm hàng hải. Chính vì vậy, pháp luật Anh mới là sự  
lựa chọn đúng đắn trong trường hợp này.  
Thứ ba, về pháp luật được lựa chọn không liên quan đến hợp đồng. Nguyên tắc  
tôn trọng sự thỏa thuận của các bên liệu có trường hợp ngoại lệ hay không? Hay nói cách  
khác, các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn bất kỳ pháp luật nào mà các bên mong muốn,  
miễn là không ảnh hưởng đến trật tự công của các quốc gia cũng như không nhằm mục  
đích lẩn tránh pháp luật, bao gồm cả trường hợp pháp luật được lựa chọn đó không có  
mối liên hệ nào tới hợp đồng của các bên. Các nhà làm luật Việt Nam dường như chưa  
đưa ra được câu trả lời cụ thể về vấn đề này. Trong khi đó, ở các quốc gia, cả về mặt lý  
luận (ví dụ, Khoản 3 Điều 3 Quy tắc Rome I) lẫn thực tiễn (từ các án lệ được ban hành  
trước đó bởi Tòa án) đều có xu hướng ủng hộ quyền thỏa thuận của các bên trong hợp  
đồng bất kể pháp luật các bên lựa chọn không có mối liên hệ nào với hợp đồng, trừ một  
số trường hợp bắt buộc phải giới hạn quyền tự do thỏa thuận đó.  
Điều này đã đã chứng minh qua án lệ Vita Food Products Inc. v. Unus Shipping  
Co. các tình tiết chính của vụ kiện như sau521: Bị đơn là chủ sở hữu của một hãng tàu  
đăng ký tại Nova Scotia còn Nguyên đơn là công ty kinh doanh thực phẩm có trụ sở tại  
New York. Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết một hợp đồng, theo đó Bị đơn có nghĩa vụ  
vận chuyển hàng từ Newfoundland (Canada) đến New York. Trong vận đơn thể hiện rõ  
pháp luật Anh sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ giữa các bên. Sau đó, tranh chấp  
phát sinh vì Bị đơn đã gây ra thiệt hại cho Nguyên đơn. Thẩm phán Wright của Hội đồng  
521 Xem thêm tại: https://www.casemine.com/judgement/uk/5b2897b62c94e06b9e1990f9, truy cập ngày 19/11/2021.  
306  
Cơ mật Hoàng gia Anh lập luận rằng, mặc dù pháp luật do các bên lựa chọn không có  
yếu tố nào liên quan đến hợp đồng, tuy nhiên, điều này không làm ảnh hưởng đến hiệu  
lực của sự thỏa thuận trừ khi có bằng chứng cho thấy các bên cố tình lẩn tránh pháp luật.  
Nhóm tác giả cũng nhấn mạnh là, thực tiễn hiện tại ở Việt Nam chưa có đủ điều  
kiện để giải thích theo hướng như trên bởi lẽ sẽ gây khó khăn rất lớn cho Tòa án Việt  
Nam trong việc giải quyết những vấn đề như đánh giá khả năng lẩn tránh pháp luật của  
đương sự, đảm bảo được quyền và lợi ích của chủ thể trong nước và trình độ còn hạn chế  
của đội ngũ tư pháp522. Chính vì vậy, việc chấp nhận hệ thống pháp luật có mối liên hệ  
với hợp đồng vẫn là sự lựa chọn tối ưu trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong tương  
lai, khi nền kinh tế Việt Nam phát triển đến một giai đoạn nhất định thì chúng ta buộc  
phải thay đổi quan điểm để phù hợp với luật chung của các quốc gia trên thế giới.  
Thứ tư, về mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đây là nội dung cần phải có một  
văn bản hướng dẫn thi hành thông qua việc đúc kết từ các lập luận có trong mỗi án lệ để  
hình thành nên các tiêu chí thống nhất nhằm xác định pháp luật của nước nào có mối liên  
hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Bởi lẽ, ngoài một số hợp đồng thông dụng như hợp đồng  
mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng liên quan đến quyền đối với bất động sản…thì còn  
rất nhiều các loại hợp đồng khác, kể cả hợp đồng có tính chất hỗn hợp. Có thể thấy, Điều  
683 BLDS 2015 không thể bao phủ hết toàn bộ các loại hợp đồng phát sinh trong thực  
tiễn, chính vì vậy, có một nguyên tắc chung được thiết lập để giải quyết lỗ hổng này  
chính là Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc mối liên hệ mật thiết. Nguyên tắc này cũng được  
thừa nhận tại Khoản 4 Điều 4 Quy tắc Rome I. Thú vị là, cách thức áp dụng nguyên tắc  
này như thế nào lại phụ thuộc vào từng vụ việc cụ thể và theo quan điểm của từng Thẩm  
phán.  
Trong án lệ Monterosso Shipping Co. ltd. v. International Transport Workers' Fed-  
eration, Thẩm phán đã dựa trên yếu tố cơ bản của hợp đồng để xác định pháp luật áp  
dụng cho hợp đồng đó. Tóm tắt vụ kiện như sau523: Nguyên đơn là công ty được thành  
lập ở Malta đồng thời là chủ sở hữu của một con tàu đăng ký tại Malta. Nguyên đơn đã  
thuê các thuyền trưởng người Na Uy và thủy thủ đoàn người Tây Ban Nha thông qua các  
đại lý tại Tây Ban Nha để làm việc trên con tàu thuộc sở hữu của Nguyên đơn. Thủy thủ  
đoàn là các thành viên của Hiệp hội những người đi biển Tây Ban Nha và thuộc Liên  
đoàn vận tải quốc tế (International Transport Workers’ Federation – Bị đơn), trụ sở chính  
đặt tại London, Anh.  
Tranh chấp phát sinh giữa Nguyên đơn và Bị đơn liên quan đến quốc tịch của thủy  
thủ đoàn được tuyển dụng trong cuộc hành trình đi qua các cảng ở Thụy Điển. Nguyên  
đơn cung cấp bằng chứng là, ngày 03/11/1980, Bị đơn đã thông báo với Nguyên đơn  
rằng, nếu thủy thủ đoàn không mang quốc tịch Thụy Điển thì con tàu sẽ nằm trong “danh  
522 Phan Hoài Nam (2017), “Yêu cầu về "mối quan hệ gắn bó" trong thỏa thuận chọn luật theo pháp luật một số nước  
và những nội dung có thể tham khảo”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(3401).  
523  
transport-workers-federation/, truy cập ngày 19/11/2021.  
307  
sách đen”. Ngày tiếp theo, một hợp đồng được ký kết tại Tây Ban Nha giữa đại diện của  
Nguyên đơn và đại diện của Bị đơn để đạt được sự thỏa thuận về vấn đề trên. Ngôn ngữ  
của hợp đồng là tiếng Anh mà hình thức của hợp đồng theo mẫu mà Bị đơn cung cấp.  
Hợp đồng thể hiện rằng, Bị đơn sẽ phát hành “chứng chỉ xanh” để thủy thủ đoàn Tây Ban  
Nha có thể hoạt động xuyên quốc gia. Đặc biệt, hợp đồng không bao gồm điều khoản  
Nguyên đơn bắt buộc phải tuyển dụng thủy thủ đoàn người Thụy Điển khi tàu của  
Nguyên đơn có các chuyến hành trình qua đây. Tuy nhiên, cuối cùng Bị đơn đã không  
giữ đúng cam kết của mình. Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn tại Tòa án Anh.  
Câu hỏi quan trọng được đặt ra ở đây là, thực tế các bên đã không thỏa thuận luật  
áp dụng đối với hợp đồng, vậy thì pháp luật của Anh hay Tây Ban Nha sẽ được áp dụng  
để giải quyết tranh chấp trên? Đâu là hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với  
hợp đồng trong vụ việc này?  
Các Thẩm phán sau khi cân nhắc những yếu tố liên quan tới hợp đồng và đi đến  
kết luận là, hợp đồng được viết bằng tiếng Anh, theo mẫu Anh và Bị đơn có trụ sở chính  
tại Anh, thế nhưng, những yếu tố này không có “sức nặng” bởi vì tiếng Anh và mẫu hợp  
đồng vận chuyển hàng hải được sử dụng trên toàn thế giới. Ngược lại, Tây Ban Nha là  
quốc gia nơi ký kết hợp đồng và cũng là nơi Bị đơn tiến hành việc tuyển dụng thủy thủ  
đoàn. Vì vậy, pháp luật có mối liên quan chặt chẽ với hợp đồng phải là pháp luật Tây Ban  
Nha chứ không phải là pháp luật Anh. Như vậy, một số tiêu chí có thể được viện dẫn để  
xác định pháp luật có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng có thể là nơi cư trú của chủ thể  
thực hiện nghĩa vụ đặc trưng, nơi có ảnh hưởng quyết định đến việc thực hiện hợp  
đồng,…  
Tóm lại, những phân tích trên cho thấy vai trò không thể thiếu của án lệ trong việc  
giải thích pháp luật, phù hợp với tính chất và điều kiện của mỗi vụ kiện xảy ra trong thực  
tiễn, nhất là định hướng được nguyên tắc mối liên hệ mật thiết với hợp đồng, một nguyên  
tắc bao trùm ngành luật Tư pháp quốc tế. Tập hợp nội dung từ những bản án tương tự  
được giải quyết bởi Tòa án Việt Nam sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định của Tư pháp quốc tế ngày càng  
trở nên rõ ràng và thiết thực hơn.  
4. Kết luận  
Từ những phân tích trên, việc ban hành và áp dụng án lệ trong lĩnh vực Tư pháp  
quốc tế, đặc biệt trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam và xác định pháp  
luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài là vô cùng cần thiết. Trên cơ  
sở nghiên cứu án lệ của một số quốc gia trên thế giới, nhóm tác giả đề xuất Hội đồng  
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành các án lệ trong quá trình Tòa án Việt Nam  
giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trên cơ sở tham khảo các án lệ của các  
quốc gia trên thế giới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu từ văn bản Luật:  
1. Điều 470.1.c BLTTDS 2015.  
308  
2. Điều 14 BLDS Pháp, Tòa án Pháp có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp mà  
trong đó có một bên là người Pháp.  
3. Đoạn 68 trong án lệ Deutsche Bank v Sevona.  
4. Điều 25 Brussels I: “Nếu các bên, bất kể nơi cư trú của họ, đã đồng ý rằng tòa án hoặc  
các tòa án của một Quốc gia Thành viên có thẩm quyền giải quyết bất kỳ tranh chấp nào  
đã phát sinh hoặc có thể phát sinh liên quan đến một mối quan hệ pháp lý cụ thể, thì tòa  
án đó hoặc các tòa án đó sẽ có thẩm quyền…”  
Án lệ  
1. BNP Paribas SA v Trattamento Rifiuti Metropolitani (2019)  
2. Deutsche Bank v Sevona (2018)  
2. Bremen v. Zapata Offshore Co. 407 U.S.1. (1972)  
3. High Life Sales v Brown - Forman Corp., 832 S.W, 2d 493 (Mo.1992)  
4. CA de Paris, 28 février 2001, Société Agricultural Bank of China/LE Crédit Lyonnais:  
Jurisdata n 143195  
5. Amin Rasheed Shipping Corp. v Kuwait Insurance Co  
6. Vita Food Products Inc. v. Unus Shipping Co.  
7. Monterosso Shipping Co. ltd. v. International Transport Workers' Federation  
Tài liệu từ tạp chí, bài báo:  
1. BNP Paribas SA v Trattamento Rifiuti Metropolitani SPA (Rev 1) (2019) EWCA Civ  
768, GateHouse, truy cập ngày 22.11.2021, <https://gatehouselaw.co.uk/bnp-paribas-sa-  
2. Dolly Wu (2011), "Timing the Choice of Law by Contract", Northwestern Journal of  
Technology and Intellectual Property, Vol. 9 (7).  
3. Jurisdiction/choice of court agreement - overview, Lexis, truy cập ngày 22.11.2021,  
4. Jurisdiction agreements - approach of the courts of England and Wales, LexisNexis,  
5. Jonathan Pagan. 2019. The Court of Appeal of England and Wales on apparently com-  
peting  
jurisdiction  
clauses.  
Again,  
truy  
cập  
ngày  
22.11.2021,  
6. Forum Selection Clause Lawyers, Legal Match, truy cập ngày 22.11.2021,  
309  
7. Phan Hoài Nam. 2012. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với tranh chấp về hợp  
đồng có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Khoa học pháp lý, truy cập ngày 22.11.2021,  
8. Phan Hoài Nam (2017), “Yêu cầu về "mối quan hệ gắn bó" trong thỏa thuận chọn luật  
theo pháp luật một số nước và những nội dung có thể tham khảo”, Tạp chí Nghiên cứu  
lập pháp, số 12(3401).  
Các tài liệu khác:  
1. Nguyên văn Khoản 2 Điều 3 Quy tắc Rome I như sau:“The parties may at any time  
agree to subject the contract to a law other than that which previously governed it, wheth-  
er as a result of an earlier choice made under this Article or of other provisions of this  
Regulation. Any change in the law to be applied that is made after the conclusion of the  
contract shall not prejudice its formal validity under Article 11 or adversely affect the  
rights of third parties”.  
truy cập ngày 19/11/2021.  
3. Xem thêm: Bộ Tư pháp, “Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội nghị  
doi.aspx?ItemID=21>, truy cập ngày 28/10/2021.  
4. Xem  
toàn  
văn  
tại:  
5eafc7c1f2a1.pdf, truy cập ngày 03/11/2021.  
5. Xem thêm  
tại:  
19/11/2021.  
310  
pdf 12 trang Thùy Anh 11640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự cần thiết của việc áp dụng án lệ trong lĩnh vực tư pháp quốc tế Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_can_thiet_cua_viec_ap_dung_an_le_trong_linh_vuc_tu_phap_q.pdf