Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
GIỮA THƯƠNG NHÂN VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG
VŨ THỊ HỒNG VÂN* - KHAMKENG LORBRIAYAO**
Quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) là trung tâm của mọi chính sách bảo vệ
NTD hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và được các quốc gia
đảm bảo bằng cơ sở pháp lý về việc ghi nhận các phương thức giải quyết tranh chấp
(GQTC) giữa NTD với thương nhân. Bài viết chỉ rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về
GQTC giữa NTD với thương nhân, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật nhằm bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của NTD.
Từ khóa: Giải quyết tranh chấp, người tiêu dùng, thương nhân, Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng năm 2010.
Ngày nhận bài: 20/5/2021; Biên tập xong: 10/6/2021; Duyệt đăng: 12/6/2021
Be considered as at the heart of modern consumer protection policy, especially
in the market economy, the consumers’ rights are guaranteed by the recognition of
methods to resolve merchants and customers’ dispute. The article points out current
status of Vietnamese law on resolving merchants and customers’ dispute, then proposes
solutions to improve legal regulations for beꢀer protection the consumers’ rights.
Keywords: Dispute resolution, consumer, merchant, Law on protection of
consumers’ rights on 2010.
hương trình sơ bộ của Cộng
đồng Kinh tế Châu Âu (United
Nations Conference on Trade and
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010
là công cụ pháp lý để giải quyết tình trạng
xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của
NTD, tạo ra cơ chế thống nhất để thực thi
các quyền của NTD được ghi nhận trong
luật. Điều quan trọng là Luật đã xây dựng
được một cơ chế giải quyết các khiếu nại,
tranh chấp hữu hiệu để NTD có thể tự bảo
vệ mình, bởi các tranh chấp của NTD với
thương nhân có đặc thù là những tranh
chấp nhỏ, đơn giản và cần được giải quyết
nhanh chóng, thuận tiện cho NTD. Việc
ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm
2010 có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo
vệ quyền lợi NTD một cách thực chất mà
còn cung cấp cơ chế để GQTC phù hợp với
đặc điểm của loại tranh chấp đặc thù này.
C
Development) đã nêu: Trường hợp quyền
và lợi ích của NTD bị thiệt hại và xảy ra
tranh chấp, NTD có quyền được tiếp cận
và yêu cầu GQTC. Trong bối cảnh rộng
hơn, cần thiết phải xem đây là quyền tiếp
cận công lý của NTD. Để các quyền của
NTD có hiệu lực, cần thiết phải đảm bảo
được một môi trường lành mạnh và cung
cấp cho NTD công cụ pháp lý cần thiết để
bảo vệ quyền lợi của mình.
1. Những thành tựu, hạn chế trong
quy định của pháp luật Việt Nam về giải
quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng
với thương nhân
Thứ hai, cho phép các bên tham gia tranh
chấp có điều kiện giải quyết triệt để mâu thuẫn
1.1. Thành tựu
Thứ nhất, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD
năm 2010 là bước tiến quan trọng trong lĩnh
vực lập pháp bảo vệ NTD tại Việt Nam
* Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại
học Kiểm sát Hà Nội
** Nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật Hà Nội
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát
3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...
không cần có sự can thiệp của bên thứ ba hoặc Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận
cơ quan quản lý nhà nước mà thông qua nhiều hình thức hòa giải cả ở biện pháp tài
phương thức GQTC bằng thương lượng
phán và phi tài phán như: Hòa giải trong
tố tụng dân sự; Hòa giải trong tố tụng
trọng tài; Hòa giải dân sự thông thường
(các bên tự hòa giải); Hòa giải cơ sở (có sự
tham gia của bên thứ ba đối với các tranh
chấp). Tính phổ biến của phương thức này
trong pháp luật Việt Nam đã cho thấy tinh
thần “khuyến khích việc giải quyết một số
tranh chấp thông qua thương lượng, hòa
giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết
định công nhận việc giải quyết đó”1.
Ba là, đối với phương thức trọng tài
thương mại: Pháp luật Việt Nam về trọng
tài thương mại khá hoàn chỉnh, được
viện dẫn trong quy định của Luật Trọng
tài thương mại năm 2010. Theo đó, việc
GQTC tiêu dùng được diễn ra tuần tự, tại
mỗi bước, trách nhiệm của các bên có liên
quan được quy định cụ thể, thẩm quyền
và nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài, trọng
tài viên cũng được xác định cụ thể trong
việc thu thập chứng cứ; áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời... có ý nghĩa trong
việc giúp Hội đồng trọng tài đưa ra kết
quả GQTC khách quan và công bằng.
Bốn là, đối với phương thức tòa án, tính
đột phá trong quy định về việc áp dụng
phương thức GQTC giữa NTD với thương
nhân tại Tòa án
- Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010
của Việt Nam cho phép áp dụng thủ tục đơn
giản (hay còn gọi là thủ tục rút gọn) đối với
việc GQTC giữa NTD và thương nhân2: Luật
Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã tạo
điều kiện thuận lợi cho NTD “tiếp cận công
lý” bằng việc quy định áp dụng thủ tục
đơn giản khi giải quyết vụ án dân sự về
bảo vệ quyền lợi NTD (Điều 41). Đây là
Việc bổ sung phương thức thương
lượng là cần thiết và mang tính cấp thiết,
cho thấy nhận thức đổi mới trong tư duy
lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam.
Một mặt, nội dung này cho thấy sự tương
đồng và tiệm cận với các quy định của tổ
chức quốc tế, pháp luật của các quốc gia
có nền luật pháp phát triển về GQTC giữa
NTD với thương nhân. Mặt khác, đó còn
là sự thừa nhận của Nhà nước về phương
thức GQTC ưu việt mà thực tế đã được
thực hiện giữa thương nhân và NTD.
Do đó, để chính thức thừa nhận và đặt
cơ sở pháp lý rõ ràng về vấn đề này, sự
ghi nhận của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD
năm 2010 là một thành tựu trong việc quy
định các phương thức GQTC giữa NTD
với thương nhân.
Thứ ba, xét trong từng phương thức
GQTC cụ thể, quy định của pháp luật Việt
Nam cũng đạt được những thành tựu đáng
chú ý
Một là, đối với phương thức thương lượng:
Đây là phương thức được ưu tiên, khuyến
khích các bên sử dụng đầu tiên khi xảy
ra tranh chấp. Để đảm bảo thực hiện tốt
nhất quyền lợi của NTD, pháp luật Việt
Nam đã quy định các điều kiện cơ bản,
mang tính ràng buộc với các bên thông
qua các quy định về thời hạn tiếp nhận và
GQTC bằng thương lượng của nhà cung
cấp hàng hóa, dịch vụ.
Hai là, đối với phương thức hòa giải:
Quy định phương thức hòa giải đảm
bảo tôn trọng ý chí của các bên. Riêng
đối với tranh chấp tiêu dùng, mặc dù
cho tới nay chưa có khung pháp lý cụ
thể nhưng dựa trên những nguyên tắc
và hướng dẫn của pháp luật về hòa giải
thông thường thì tranh chấp tiêu dùng
hoàn toàn có thể áp dụng phương thức
này một cách hiệu quả.
1ꢀ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị Việt Nam về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020.
2ꢀ Khoản 2 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm
2010 của Việt Nam.
4
Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO
một trong những ưu điểm của Luật này,
Việc ghi nhận quyền khởi kiện tập thể
của NTD và tổ chức xã hội (Hội bảo vệ
NTD) đem lại nhiều lợi ích cho cá nhân
và xã hội, thể hiện thông qua việc NTD
được mở rộng hơn khả năng tiếp cận công
lý và được bồi thường các thiệt hại do
hàng hoá có khuyết tật hoặc dịch vụ kém
chất lượng gây ra. Đồng thời, dưới sức
ép bị kiện, các nhà sản xuất và cung cấp
dịch vụ sꢂ tuân thủ tốt hơn các quy định
pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, qua
đó cung cấp các hàng hoá và dịch vụ tốt
hơn cho xã hội. Không thể phủ nhận rằng
khởi kiện tập thể đã trở thành một trào
lưu và được đông đảo các quốc gia thừa
nhận trong quy định pháp luật của mình,
coi khởi kiện tập thể là một trong bốn giải
pháp chính để hoàn thiện pháp luật, khắc
phục vấn đề vi phạm quyền lợi NTD của
các nước thành viên Cộng đồng Châu
Âu5. Chính vì vậy, việc ghi nhận quyền
khởi kiện tập thể của pháp luật Việt Nam
cho thấy thành tựu trong việc tiếp cận với
pháp luật quốc tế, mở rộng cách thức để
bảo vệ triệt để hơn quyền của NTD.
được đánh giá cao về tính thuận lợi, hữu
ích, khắc phục sự phức tạp, phiền phức
có thể làm nản lòng NTD khi thực hiện
quyền khởi kiện của mình.
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) năm 2015 cũng quy định về thủ
tục rút gọn. Theo đó, việc giải quyết vụ án
theo thủ tục rút gọn được thực hiện ở cấp
sơ thẩm và phúc thẩm. Thành phần Hội
đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm chỉ do
một thẩm phán tiến hành (Điều 65). Tại
cấp sơ thẩm, việc xét xử vụ án dân sự theo
thủ tục rút gọn không có Hội thẩm nhân
dân tham gia (Điều 111). Bên cạnh các
điều kiện nhằm giải quyết vụ án nhanh
chóng, Bộ luật cũng quy định về rút ngắn
thời hạn giải quyết vụ án. Tổng thời hạn
chuẩn bị xét xử ở cả giai đoạn sơ thẩm và
phúc thẩm là 02 tháng, giảm 04 tháng so
với thủ tục thông thường. Như vậy, khác
với những quy định của pháp luật về thủ
tục thông thường, nếu xét xử theo thủ tục
đơn giản thì vụ án không được xét xử tập
thể và quyết định theo đa số. Có thể nói,
áp dụng thủ tục đơn giản giúp cho việc xử
lý tranh chấp của NTD nhanh gọn, hiệu
quả và tiết kiệm chi phí cho các bên.
1.2. Hạn chế
Thứ nhất, hạn chế trong khái niệm về
“ngưꢀi tiêu dꢁng”
Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi
NTD năm 2010 quy định: “NTD là ngưꢀi
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích
tiêu dꢁng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,
tổ chức”. Nghiên cứu pháp luật của nhiều
quốc gia trên thế giới cho thấy, các quốc
gia có các quan điểm khác nhau về việc
xác định đối tượng nào là NTD, cá nhân
hay tổ chức. Tuy nhiên, đại đa số các quan
điểm đều nghiêng về việc coi cá nhân là
NTD6. Xuất phát từ đặc điểm mối quan
- Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền khởi
kiện tập thể và quyền khởi kiện của các tổ chức
xã hội: Về khuôn khổ pháp lý, pháp luật
Việt Nam đã có những quy định cần thiết
cho phép NTD khởi kiện tập thể. Các hình
thức kiện tập thể theo quy định tương tự
như các hình thức trong pháp luật châu
Âu, đặc biệt là các nước theo dân luật như
Pháp, Đức3. Bên cạnh đó, luật còn quy
định quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo
vệ quyền lợi NTD của tổ chức xã hội4.
5ꢀ Commission of The Europan Communities
3ꢀ Quách Thuý Quꢁnh (2013), “Bảo vệ quyền lợi ngưꢀi (2008), “Green Paper On Consumer Collective
tiêu dꢁng bằng các vụ kiện tập thể - kinh nghiệm nước Redress”, hꢃps://eur-lex.europa.eu/legal-content/en/
ngoài và các gợi ý hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Nghiên TXT/?uri=CELEX%3A52008DC0794, truy cập ngày
cứu Lập pháp, số 16, số 248, tr. 17 - 23.
22/02/2021.
4ꢀ Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, 6ꢀNguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ
khoản 3, Điều 187 BLTTDS năm 2015
quyền lợi ngưꢀi tiêu dꢁng ở Việt Nam hiện nay, Luận án
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát
5
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...
hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh phí để duy trì hoạt động. Phần lớn các tổ
nên pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thiết chức bảo vệ quyền lợi NTD hoạt động trên
lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc
dân luật truyền thống nhằm khắc phục
những bất lợi của NTD trong quan hệ với
nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo sự
công bằng và bảo vệ kꢄ yếu mà NTD là
kꢄ yếu, vì vậy, cần được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, khái niệm NTD được xác định
tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi
NTD năm 2010 bao gồm cả gia đình và tổ
chức mua sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt. Điều này
không hợp lý bởi các lý do sau:
- Mục đích ra đời của pháp luật bảo vệ
quyền lợi NTD là nhằm xác lập nguyên tắc
công bằng trong giao dịch giữa bên yếu
thế và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, tổ
chức là một tập hợp người có bộ máy, cơ
cấu chặt chꢂ, có sự hiểu biết trong nhiều
lĩnh vực nhất định, có khả năng tiếp cận,
xử lý thông tin và tiềm lực kinh tế tốt hơn
nhiều so với cá nhân đơn lꢄ. Chính vì vậy,
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đã “cho phép”
kꢄ “không yếu” giành lợi thế bất chính với
bên kia dưới danh nghĩa NTD;
- Chỉ có cá nhân với tư cách là một con
người cụ thể mới sử dụng hàng hóa, dịch
vụ để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống
sinh hoạt hàng ngày. Tổ chức là thực thể
pháp lý, không phải là con người tự nhiên
nên không có nhu cầu ăn, mặc, ở, khám
bệnh... như con người. Vì vậy, khoản 1
Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đưa ra
khái niệm NTD - đối tượng được bảo vệ
của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD bao
gồm cả tổ chức và gia đình là chưa hợp lý
và thiếu thuyết phục.
cơ sở kinh phí của hội viên nên phạm vi
hoạt động cũng chỉ rất “cầm chừng”. Kinh
phí hạn chế dẫn tới năng lực hoạt động
cũng bị giới hạn. Những hoạt động như
thực hiện các chiến dịch tẩy chay hàng
giả, hàng kém chất lượng hay việc tiến
hành các xét nghiệm, điều tra, khảo sát để
xây dựng luận cứ bảo vệ NTD cũng khó
có thể thực hiện được.
Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa có quy
định về quyền và nghĩa vụ cơ bản để bảo đảm
tính bình đẳng trong quan hệ giữa NTD và
thương nhân.
Do chưa có quy định về những quyền
cơ bản của các bên trong quan hệ tiêu
dùng nên thực tế đã có trường hợp NTD
lạm dụng quyền trong GQTC để gây thiệt
hại cho uy tín doanh nghiệp. Do vậy, cần
tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia
về việc công nhận cho NTD, công dân
của họ quyền được thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản. Đây là quyền được tiếp
cận, đáp ứng và thỏa mãn những hàng
hoá, dịch vụ thiết yếu, đáp ứng nhu cầu
cơ bản và tối thiểu nhất của con người
trong từng giai đoạn lịch sử như ăn, mặc,
ở, điện, nước sạch, vệ sinh, chăm sóc sức
khoꢄ, tinh thần và giáo dục. Đồng thời,
bổ sung nghĩa vụ của bên cung cấp hàng
hóa, dịch vụ.
Thứ tư, phạm vi quy định cụ thể về các
phương thức GQTC giữa NTD với thương
nhân cũng tồn tại một số hạn chế
Một là, về GQTC bằng phương thức
thương lượng
- Về thꢀi hạn thực hiện kết quả thương
lượng: Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm
2010 mới chỉ giới hạn thời hạn tiếp nhận
và tiến hành thương lượng trong tranh
chấp tiêu dùng mà chưa đề cập tới thời
hạn ràng buộc các bên phải đạt được thỏa
thuận thương lượng để GQTC một cách
dứt điểm. Đây là lỗ hổng pháp lý cho phía
Thứ hai, hạn chế trong quy định về các
điều kiện đảm bảo hoạt động của các tổ chức
bảo vệ quyền lợi NTD
Thực tế là các tổ chức hội của Việt Nam
hiện nay gặp trở ngại lớn về vấn đề kinh
Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội,
tr.133.
6
Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO
doanh nghiệp cố tình kéo dài thời gian với những vi phạm pháp luật và tranh
thương lượng giữa các bên, trì hoãn đưa chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư. Đối
ra kết quả thương lượng, giải quyết thỏa với hòa giải tại các Trung tâm Trọng tài
đáng quyền lợi cho NTD.
thương mại, các quy định về hòa giải tuy
có chi tiết và quy mô7, song nhìn chung
vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để
tính chất trung gian hòa giải. Hiệu quả
hòa giải còn hạn chế do số vụ việc được
Trọng tài Thương mại thụ lý và giải quyết
còn rất ít vì thực tế các doanh nghiệp Việt
Nam khi có tranh chấp thường khởi kiện
ra Toà án. Riêng hòa giải với tính chất là
một biện pháp GQTC thương mại ngoài
tố tụng là một khái niệm còn mới, được
ghi nhận một cách giản đơn “hòa giải giữa
các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian
hòa giải”8.
Vì lꢂ trên, phương thức hòa giải bị mất
đi tính ưu việt và nhiều trường hợp, khi đề
cập tới phương thức này để GQTC thương
mại, người ta thường nghĩ tới phương
thức “hữu danh vô thực” bởi những nhược
điểm nêu trên.
- Về tính ràng buộc trong việc thực hiện
kết quả thương lượng: Tuy Luật Bảo vệ
quyền lợi NTD năm 2010 có quy định kết
quả thương lượng lập thành văn bản theo
thỏa thuận giữa các bên nhưng lại bỏ ngỏ
quy định ràng buộc các bên về thi hành
kết quả thương lượng đã được các bên
nhất trí. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP
ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD cũng
không có bất kꢁ điều khoản nào quy định
chi tiết các nội dung này. Xét về bản chất,
thương lượng phụ thuộc hoàn toàn vào ý
chí của các bên, song ở góc độ quản lý nhà
nước, nên có những quy định đặc thù về
nghĩa vụ GQTC cũng như nghĩa vụ thực
hiện thỏa thuận khi sử dụng phương thức
thương lượng để GQTC tiêu dùng.
Hai là, về GQTC bằng phương thức hòa
giải
Ba là, về phương thức GQTC bằng trọng tài
Ở Việt Nam, mặc dù hòa giải đã trở
thành một nguyên tắc luật định và được
các nhà kinh doanh ghi nhận là phương
thức GQTC có hiệu quả và được áp dụng
khá phổ biến nhưng phạm vi và hiệu quả
áp dụng còn ở mức khiêm tốn do thiếu sự
nghiên cứu một cách có hệ thống để làm
rõ các vấn đề lý thuyết về hòa giải, đưa
ra các mô hình hòa giải có hiệu quả. Đặc
biệt, hòa giải với tư cách là một phương
thức GQTC thay thế dường như vẫn
được coi là công việc riêng tư của các bên
nên cho đến thời điểm hiện tại, hầu như
không có văn bản nào quy định đầy đủ,
cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình,
thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương
thức GQTC này. Hiện nay, Luật Hòa
giải cơ sở năm 2013 có quy định đầy đủ
về nguyên tắc và phạm vi hòa giải, mô
hình hòa giải, cách thức hòa giải, song chỉ
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010
còn chưa hợp lý khi phân biệt giữa NTD
là cá nhân và NTD là tổ chức, gia đình.
Theo đó, trường hợp điều khoản trọng
tài do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ đưa vào hợp đồng theo mẫu
hoặc điều kiện thương mại chung thì khi
xảy ra tranh chấp, chỉ NTD là cá nhân mới
có quyền chọn phương thức GQTC khác
(Điều 38). Điều này có nghĩa nếu NTD là
tổ chức hoặc gia đình thì phải chấp nhận
điều khoản trọng tài do tổ chức, cá nhân
đưa vào hợp đồng theo mẫu mà không
7ꢀ Phương thức này đã được cụ thể hóa thành Quy tắc
hòa giải của Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC) đặt
cạnh Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam
(VCCI), nhưng đây chỉ là bộ quy tắc nội bộ, chỉ được
áp dụng khi các bên tranh chấp lựa chọn VIAC làm
trung gian hòa giải trong điều khoản thỏa thuận về
trọng tài.
giới hạn phạm vi hòa giải tiến hành đối 8ꢀ Khoản 2 Điều 317 Luật Thương mại năm 2005.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát
7
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...
có quyền chọn phương thức GQTC khác Theo quy định của BLTTDS năm 2015,
có lợi cho mình hơn như NTD là cá nhân. tiêu chí áp dụng thủ tục rút gọn không phân
Quy định này đã tạo ra sự bất công giữa biệt giá trị tranh chấp chứ không phải chỉ
NTD với nhau, tước bỏ quyền được bảo
vệ của NTD là tổ chức và gia đình khi
không cho họ quyền được chống lại sự áp
đặt của tổ chức, cá nhân kinh doanh về
điều khoản trọng tài trong hợp đồng theo
mẫu, điều kiện giao dịch chung.
áp dụng đối với tranh chấp có giá trị dưới
một trăm triệu đồng9. Đây là quy định hợp
lý bởi giá trị tranh chấp mặc dù lớn hay nhỏ
nhưng vụ án có tính chất đơn giản, đương
sự thừa nhận sự việc thì vẫn xét xử theo
thủ tục rút gọn, không nên kéo dài việc giải
quyết vụ án. Vì vậy, việc đưa ra điều kiện
giới hạn giá trị của tranh chấp khiến cho các
tranh chấp tiêu dùng khác không được áp
dụng thủ tục rút gọn. Hơn nữa, việc ấn định
vụ kiện có giá ngạch thấp bằng một khoản
tiền cố định trong văn bản chuyên ngành
tại Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 là
chưa phù hợp vì giá cả thị trường luôn có sự
biến đổi. Trong khi đó, để sửa đổi, bổ sung
Luật phải trải qua một thời gian với những
trình tự bắt buộc khiến cho pháp luật trở
nên “lỗi thꢀi” so với đời sống. Chính vì vậy,
đây cũng là điểm cần được xem xét để sửa
đổi nhằm tạo nên sự thống nhất giữa các
văn bản luật và phù hợp với thực tiễn.
- Sự bất hợp lý trong quy định quyền
kháng cáo, kháng nghị đối với bản án dân
sự sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục
rút gọn10. Việc đảm bảo quyền kháng cáo,
kháng nghị là quyền lợi chính đáng nhưng
trên thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp
bị đơn sử dụng “quyền lợi chính đáng”
này của mình nhằm trốn tránh thực hiện
nghĩa vụ.
Bốn là, về phương thức GQTC bằng tòa án
- Về điều kiện “Vụ án có tình tiết đơn giản,
quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa
nhận nghĩa vụ”
Hiện nay, chưa có hướng dẫn cụ thể
về cách hiểu thế nào là “vụ án có tình tiết
đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương
sự đã thừa nhận nghĩa vụ”. Điều này gây ra
khó khăn, thiếu thống nhất giữa các Tòa
án trong việc xem xét vụ án nào đủ điều
kiện áp dụng thủ tục rút gọn cũng như
khó khăn cho đương sự trong việc lựa
chọn thủ tục rút gọn để GQTC.
- Về điều kiện “Tài liệu, chứng cứ đầy đủ,
bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”
Hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ
thể về điều kiện này mà chủ yếu phụ
thuộc vào đánh giá chủ quan của Thẩm
phán. Điều này dẫn đến khả năng Thẩm
phán đánh giá không đúng về tính đầy đủ,
bảo đảm đủ căn cứ của tài liệu, chứng cứ,
từ đó quyết định việc áp dụng hay không
áp dụng thủ tục rút gọn không chuẩn xác
hoặc có sự đánh giá khác nhau giữa các
cấp xét xử dẫn đến tình trạng hủy, sửa
bản án hoặc chuyển vụ án từ thủ tục rút
gọn sang thủ tục thông thường khi xét xử
ở cấp phúc thẩm. Bên cạnh đó, quy định
điều kiện đủ “và Tòa án không phải thu thập
tài liệu, chứng cứ” là quá chặt, dẫn đến thu
hẹp đối tượng vụ án được áp dụng thủ
tục rút gọn.
Năm là, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Việt Nam chưa coi việc GQTC thông qua thủ
tục hành chính là một phương thức GQTC
Các quy định của Luật Bảo vệ quyền
lợi NTD hiện hành về phương thức hành
chính đã và đang thể hiện rằng pháp luật
Việt Nam chú trọng và ưu tiên thực hiện
các biện pháp hành chính với mục đích
răn đe hơn là GQTC, nhưng tính răn đe
- Về việc thiếu thống nhất giữa việc quy
định giá ngạch trong Luật Bảo vệ quyền lợi
NTD năm 2010 và BLTTDS năm 2015
9ꢀ Theo điểm c khoản 2 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng năm 2010.
10ꢀ Khoản 1 Điều 321 BLTTDS năm 2015.
8
Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO
cũng chưa thực sự nghiêm khắc. Hành vi vệ quyền lợi NTD khác được cho phép
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu
dùng là hành vi vi phạm pháp luật bảo
vệ NTD, xâm hại trực tiếp tới sức khỏe,
tính mạng của NTD, tuy nhiên pháp luật
Việt Nam hiện hành mới chỉ có các quy
định mang tính hành chính. Điều này làm
giảm tính nghiêm khắc của pháp luật và
tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà
nước của cơ quan hành pháp. Các tổ chức
kinh tế với tiềm lực to lớn sau khi bị phạt
hành chính vẫn sꢂ có khả năng tái phạm
vì mức lợi nhuận thu được chênh lệch hơn
nhiều so với khoản phạt phải nộp.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về
giải quyết tranh chấp giữa người tiêu
dùng với thương nhân
2.1. Giải pháp quy định về bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng
thực hiện các hoạt động kinh doanh để
tạo thêm nguồn thu cho hoạt động của
tổ chức. Từ đó, vai trò của các tổ chức
này được củng cố thông qua một loạt các
hoạt động thiết thực như in cẩm nang
hướng dẫn pháp luật cho NTD, thực hiện
các chiến dịch tuyên truyền tại các điểm
dân cư… Để làm được điều này thì trong
các đạo luật của Nhật Bản về bảo vệ NTD
đều quy định cụ thể về các điều kiện đảm
bảo hoạt động cho các tổ chức phi chính
phủ bảo vệ quyền lợi NTD. Đây là điểm
mà Việt Nam cần xem xét để hoàn thiện
pháp luật.
Thứ ba, cần bảo đảm tính bình đẳng trong
quan hệ giữa NTD và thương nhân thông qua
việc bổ sung quyền của NTD theo pháp luật
bảo vệ quyền lợi NTD, hạn chế trưꢀng hợp
NTD lạm dụng quyền trong GQTC để gây
thiệt hại cho uy tín doanh nghiệp
Thứ nhất, đối với khái niệm “ngưꢀi
tiêu dꢁng”
Một là, đối với NTD
Để đảm bảo đúng bản chất và tiêu chí
của NTD, cần xác định lại đối tượng bảo
vệ của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm
2010. Cần định nghĩa lại khái niệm NTD,
theo đó, NTD chỉ là những cá nhân mua sử
dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt.
Thứ hai, bổ sung quy định về các điều
kiện đảm bảo hoạt động của các tổ chức bảo vệ
quyền lợi NTD
Để góp phần giúp các tổ chức bảo vệ
quyền lợi NTD có kinh phí hoạt động,
cần học hỏi kinh nghiệm của nhiều quốc
gia bởi việc bảo đảm hoạt động của tổ
chức này được thực hiện rất tốt với sự
hỗ trợ từ phía Chính phủ. Điển hình như
Nhật Bản, Tổng cục Bảo vệ NTD Nhật
Bản (Consumer Affairs Agency – CAA)
được hỗ trợ kinh phí hoạt động từ tiền
thuế của Nhà nước11. Các tổ chức bảo
- Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần
nhanh chóng quy định quyền được tiếp
cận, đáp ứng, thỏa mãn những hàng hoá,
dịch vụ thiết yếu, đáp ứng nhu cầu cơ bản,
tối thiểu của NTD. Vấn đề này do mới chỉ
được đề cập gián tiếp trong Luật cạnh
tranh song vì mục đích của Luật cạnh
tranh về vấn đề này là chưa rõ ràng nên
việc quy định vấn đề này trong Luật Bảo
vệ quyền lợi NTD là “đúng chỗ” hơn cả.
- Cụ thể hóa quyền được tư vấn, hỗ
trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng của
NTD được quy định tại khoản 8 Điều 8
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010. Cụ
thể, trong việc xem xét ban hành văn bản
sửa đổi Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD
năm 2010 và Nghị định số 19/2012/NĐ-CP
về quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD, nội
dung này cần thiết phải được xem xét để
cụ thể hóa về chủ thể chịu trách nhiệm,
11ꢀ Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh chấp
giữa ngưꢀi tiêu dꢁng với thương nhân ở Việt Nam hiện
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã
hội, Hà Nội, tr.139.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát
9
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...
cách thức thực hiện và nội dung. Quan không can thiệp vào nội dung và giá trị
trọng là xác định được cơ quan có trách pháp lý của thỏa thuận.
nhiệm đầu mối thực hiện các nội dung
này để quy định của luật thực sự có tính rõ
ràng và minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền
lợi cho NTD.
- Nghiên cứu xây dựng và ban hành
trình tự và thủ tục mẫu về hòa giải,
thương lượng trong GQTC tiêu dùng trên
cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc
gia trên thế giới, trong đó quy định một
cách tổng quát theo hướng linh hoạt, tôn
trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa
các bên tranh chấp.
- Bổ sung quy định về thời hạn cụ
thể buộc các bên phải thực hiện kết quả
thương lượng thành nhằm tránh tình
trạng thương nhân cố tình trì hoãn việc
thực hiện các nghĩa vụ, khiến cho NTD bị
thiệt hại về cả tinh thần, sức khỏe và tài
chính mà không được đền bù thỏa đáng.
Hai là, đối với thương nhân
Cần cụ thể hóa nghĩa vụ bảo hành
hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất kinh
doanh nhằm khắc phục vấn đề pháp luật
giới hạn trường hợp phát sinh nghĩa vụ
bảo hành hàng hóa của nhà sản xuất kinh
doanh, đảm bảo công bằng cho NTD.
Học tập kinh nghiệm quốc tế về quy định
nghĩa vụ chung của mọi nhà cung cấp
phải thực hiện chế độ bảo hành; bao gồm
các chế tài (hậu quả pháp lý) theo trình
tự ưu tiên: (1) Sửa chữa miễn phí và bồi
thường thiệt hại (nếu có); (2) Giảm giá; (3)
Đổi sản phẩm, hàng hoá mới; (4) Huỷ hợp
đồng. Cần tạo cho các nhà cung cấp khả
năng tự cam kết thời hạn và các điều kiện
bảo hành không thấp hơn quy định chung
của pháp luật, nếu không, họ phải gánh
vác nghĩa vụ bảo hành “tối thiểu” theo quy
định của pháp luật.
2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định về
các phương thức giải quyết tranh chấp
cụ thể
Thứ nhất, đối với phương thức thương
lượng, hòa giải
- Sớm nghiên cứu và bổ sung cơ chế
bảo đảm thực thi kết quả thương lượng,
hòa giải bởi hệ thống cơ quan tư pháp
và thi hành án dân sự. Kết quả thương
lượng, hòa giải sau khi được lập thành
biên bản có thể phải đăng ký tại cơ quan
tòa án và chuyển tới cơ quan thi hành án
để thực thi. Hỗ trợ quá trình thực thi các
phán quyết trên là hệ thống các trung tâm
thừa phát lại được tổ chức nhằm giảm tải
cho cơ quan thi hành án dân sự của Nhà
nước. Trình tự công nhận và thi hành thỏa
Thứ hai, đối với phương thức GQTC bằng
trọng tài
Cần thiết bổ sung một cơ chế thi hành
phán quyết trọng tài độc lập để đảm bảo
hiệu lực thi hành phán quyết không bị
ảnh hưởng bởi hiệu quả thi hành án dân
sự. Thực tế cho thấy cơ chế thi hành án
dân sự hiện nay còn nhiều hạn chế, thời
gian thi hành án bị trì hoãn đáng kể do
số lượng bản án tồn đọng chưa được thi
hành luôn có xu hướng lũy tiến tăng. Cơ
chế thi hành phán quyết trọng tài độc lập
sꢂ góp phần đẩy nhanh tiến độ GQTC,
đồng thời giúp các bên đạt được mục tiêu
ban đầu khi lựa chọn phương thức GQTC
này là yếu tố thời gian và chi phí.
Thứ ba, đối với phương thức GQTC bằng
Tòa án
Cần hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút
gọn trong BLTTDS năm 2015 và kiểm soát
việc áp dụng thủ tục rút gọn tại Toà án:
- Theo BLTTDS năm 2015, thủ tục rút
gọn được áp dụng không ấn định vụ kiện
có giá ngạch thấp bằng một khoản tiền
cố định như Luật Bảo vệ quyền lợi NTD.
Nên chăng các nhà làm luật nên sửa đổi
thuận thương lượng, hòa giải sꢂ áp dụng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD về điều kiện
theo trình tự rút gọn, Tòa án tôn trọng và áp dụng thủ tục rút gọn để thống nhất với
10 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO
quy định của BLTTDS năm 2015.
2013 đã chỉ rõ thủ tục rút gọn là biệt lệ
của nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và
nguyên tắc Hội thẩm nhân dân. Thêm vào
đó, trong một số vụ án đương sự không
thiện chí đã sử dụng quyền kháng cáo của
mình như một cách để kéo dài thời gian thi
hành án, trốn tránh nghĩa vụ. Do đó, xét
thấy việc học tập tinh thần của BLTTDS
Nhật Bản12 là vô cùng cần thiết. Việc hạn
chế quyền kháng cáo, kháng nghị bản án,
quyết định sơ thẩm của vụ án được giải
quyết theo thủ tục rút gọn sꢂ giảm tải gánh
nặng lên Viện kiểm sát cũng như Tòa án.
Trong trường hợp có tình tiết mới hoặc
vi phạm nghiêm trọng xâm phạm đến lợi
ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân, bản án, quyết định
sꢂ được xem xét lại theo thủ tục tái thẩm,
giám đốc thẩm.
Thay vì ấn định một ngạch giá nhất
định, nên đặt ra một tiêu chí chung xác
định vụ kiện có giá ngạch thấp được giải
quyết theo thủ tục rút gọn để nếu có sự
thay đổi thì có thể quy định chi tiết trong
các văn bản hướng dẫn. Việc xác định giá
ngạch thấp là vấn đề khá phức tạp và đòi
hỏi việc nghiên cứu toàn diện nhiều vấn
đề liên quan như: Tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa
phương; mức lương tối thiểu của vùng,
ngành; tỷ lệ lạm phát,… trong từng thời
kꢁ cần có thời gian để nghiên cứu, khảo
sát, thống kê và đưa ra một ngưỡng giá
ngạch hợp lý.
- Vấn đề thu thập tài liệu, chứng cứ
để giải quyết vụ án (khoản 1 Điều 317
BLTTDS năm 2015) cần được sửa đổi để
phù hợp hơn với thực tiễn, cụ thể:
+ Bỏ cụm từ “và Toà án không phải thu
thập tài liệu, chứng cứ” vì tài liệu, chứng
cứ đã đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải
quyết vụ án thì việc Toà án thu thập thêm
tài liệu, chứng cứ là không cần thiết.
+ Bỏ nội dung “tài liệu, chứng cứ đầy đủ,
đảm bảo đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Toà
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ” vì
theo Điều 92 BLTTDS năm 2015, sự thừa
nhận của đương sự cũng là chứng cứ và
là yếu tố cơ bản để giải quyết vụ án, đồng
thời thuộc trường hợp những tình tiết, vụ
kiện không phải chứng minh.
Do đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có
hướng dẫn Điều 317 BLTTDS năm 2015 về
điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn
để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn theo
hướng: “Vụ án có tình tiết đơn giản, quan
Thứ tư, đối với phương thức giải quyết
thông qua hành chính
Pháp luật Việt Nam hiện nay đang quy
định rải rác tại các luật chuyên ngành khác
nhau về trình tự, thủ tục NTD có thể khiếu
nại tới cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi
quyền lợi của mình bị xâm phạm. Do đó,
với mỗi luật chuyên ngành, trình tự, thủ
tục thực hiện khiếu nại cũng khác nhau,
khiến cho NTD cảm thấy bị bối rối. Vấn
đề đặt ra là nguyên nhân luật chuyên
ngành lại không quy định cụ thể về nội
dung này. Chính vì vậy, để thuận lợi nhất
cho NTD có thể tự tra cứu pháp luật, đọc
hiểu pháp luật thì cần rà soát và tập trung
xây dựng quy trình khiếu nại hành chính
ngay trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD.
12ꢀ Theo Điều 397 BLTTDS Nhật Bản: Phán quyết cuối
cꢁng của Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn không
hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận được kháng cáo lên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên đương sự có
thể đưa ra yêu cầu phản đối quyết định đó trong thꢀi hạn
hai tuần, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Như vậy, khi áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết
một vụ án tại Nhật Bản quy định rõ không cho phép
kháng cáo, bởi đối với một vụ án đơn giản, chứng cứ
rõ ràng, các bên đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ thì
nghĩa vụ; hoặc tài liệu, chứng cứ đầy đủ, đảm
bảo đủ căn cứ để giải quyết vụ án mà Toà án
không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”.
- Ban hành quy định thủ tục rút gọn
là biệt lệ của hai cấp xét xử. Nhìn từ góc
độ pháp luật Việt Nam, Hiến pháp năm việc giải quyết sꢂ ít hoặc không có khả năng sai sót.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 11
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...
xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam,
Hà Nội.
Các luật chuyên ngành khác chỉ cần quy
định điều khoản dẫn chiếu tới Luật Bảo
5. Lê Hồng Hạnh (2010), “Luật Bảo vệ ngưꢀi tiêu
dꢁng có nên quy định tổ chức là ngưꢀi tiêu dꢁng”, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20(181)/Kꢁ 2.
vệ quyền lợi NTD khi đề cập tới vấn đề
này.
Việt Nam là quốc gia cho thấy rõ ràng
những nỗ lực trong việc hoàn thiện chính
sách pháp luật về bảo vệ NTD. Mặc dù
quá trình hình thành và phát triển của
pháp luật về bảo vệ NTD còn khá non trꢄ
nhưng đây là một bước tiến lớn, đặt cơ sở
nền tảng cho việc thực thi chính sách bảo
vệ NTD, đáp ứng yêu cầu trong tình hình
mới. Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy
định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
NTD và phương thức GQTC được đề xuất
với kꢁ vọng về một tương lai mà vị thế
NTD được trả về đúng chỗ. Những sửa
đổi, bổ sung về pháp luật này cần sớm
được thực hiện để quyền lợi NTD cũng
như thương nhân tham gia vào quan hệ
tiêu dùng được đảm bảo, vai trò quản lý
nhà nước được đề cao cũng như sự tham
gia của các tổ chức xã hội dân sự được tôn
trọng./.
6. Nguyễn Mạnh Linh (2015), Giải quyết tranh
chấp thương mại bằng trọng tài - Thực tiễn hoạt động
của các trung tâm trọng tài thương mại trên địa bàn
thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
7. Hoàng Thế Liên và Trần Anh Huy (2019), “Đề
xuất phát triển các hình thức GQTC trực tuyến ngoài tố
tụng tại Việt Nam trong thꢀi kỳ cách mạng công nghiệp
lần thứ tư hiện nay”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học cấp quốc gia về: “Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”,
Hà Nội.
8. Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh
chấp giữa ngưꢀi tiêu dꢁng với thương nhân ở Việt Nam
hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội, Hà Nội.
Tiếng nước ngoài
9. Davies, J. and Szyszczak, E (2010), “ADR: ef-
fective protection of consumer rights?”, European Law
Review, 35(5), pp. 695-706. 0307-5400.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
10. Shea Esterling (2019), “International Human
Rights Law”, New Zealand Yearbook of Internation-
al Law, E-Book, ISBN: 978-90-04-38793-5.
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Tổng quan hệ
thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền
lợi ngưꢀi tiêu dꢁng”, Hội thảo khoa học Pháp luật
bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng
và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
11. Festus Okechukwu Ukwueze (2015),
“Elevating Consumer Rights to Human Rights”, The
Nigerian Juridical Review, Vol.13, Faculty of Law,
University of Nigeria, Enugu Campus, p.131 – 156.
12. P A S Dahanayake (2005), “Making Markets
Work Beꢂer for Development and the Poor in Lao PDR”,
Report prepared by Dr. P A S Dahanayake Consul-
tant to UNCTAD and CI, UNCTAD and CI.
2. Hà Công Anh Bảo và Lê Hằng Mỹ Hạnh
(2017), “GQTC trực tuyến – khả năng áp dụng tại Việt
Nam”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, số 93.
3. Hoàng Minh Chiến (chủ nhiệm đề tài); Thư
ký đề tài: Nguyễn Ngọc Quyên, Phạm Phương
Thảo; Nguyễn Thị Vân Anh, ... [et al.] (2016), Trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ
quyền lợi ngưꢀi tiêu dꢁng theo pháp luật Việt Nam, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội.
13. Branislav Hazucha and partner (2015),
Private ordering and consumers’ rights in copyright
law: A view of Japanese consumers, Chapter 7,
Intellectual Property and General Legal Principles,
Edward Elgar Publishing, Cheltenham, UK.
14. Christine Hogg (2009), “The Rise of Consumer
Rights”, Citizens, Consumers and the NHS, Red
Globe Press Publisher, London, UK.
4. Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương,
“So sánh Luật Bảo vệ ngưꢀi tiêu dꢁng một số nước trên
thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội
dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật Bảo vệ ngưꢀi
15. United Nations Conference on Trade and
Development (2018), Dispute resolution and redress,
tiêu dꢁng của Việt Nam”, Tài liệu phục vụ công tác TD/B/C.I/CPLP/11, p.2.
12 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_phap_luat_viet_nam_ve_giai_quyet_tranh_chap_giua.pdf

