Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP  
GIỮA THƯƠNG NHÂN VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG  
VŨ THỊ HỒNG VÂN* - KHAMKENG LORBRIAYAO**  
Quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) là trung tâm của mọi chính sách bảo vệ  
NTD hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và được các quốc gia  
đảm bảo bằng cơ sở pháp lý về việc ghi nhận các phương thức giải quyết tranh chấp  
(GQTC) giữa NTD với thương nhân. Bài viết chỉ rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về  
GQTC giữa NTD với thương nhân, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện  
pháp luật nhằm bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của NTD.  
Từ khóa: Giải quyết tranh chấp, người tiêu dùng, thương nhân, Luật Bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng năm 2010.  
Ngày nhận bài: 20/5/2021; Biên tập xong: 10/6/2021; Duyệt đăng: 12/6/2021  
Be considered as at the heart of modern consumer protection policy, especially  
in the market economy, the consumers’ rights are guaranteed by the recognition of  
methods to resolve merchants and customers’ dispute. The article points out current  
status of Vietnamese law on resolving merchants and customers’ dispute, then proposes  
solutions to improve legal regulations for beꢀer protection the consumers’ rights.  
Keywords: Dispute resolution, consumer, merchant, Law on protection of  
consumers’ rights on 2010.  
hương trình sơ bộ của Cộng  
đồng Kinh tế Châu Âu (United  
Nations Conference on Trade and  
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010  
là công cụ pháp lý để giải quyết tình trạng  
xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của  
NTD, tạo ra cơ chế thống nhất để thực thi  
các quyền của NTD được ghi nhận trong  
luật. Điều quan trọng là Luật đã xây dựng  
được một cơ chế giải quyết các khiếu nại,  
tranh chấp hữu hiệu để NTD có thể tự bảo  
vệ mình, bởi các tranh chấp của NTD với  
thương nhân có đặc thù là những tranh  
chấp nhỏ, đơn giản và cần được giải quyết  
nhanh chóng, thuận tiện cho NTD. Việc  
ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm  
2010 có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo  
vệ quyền lợi NTD một cách thực chất mà  
còn cung cấp cơ chế để GQTC phù hợp với  
đặc điểm của loại tranh chấp đặc thù này.  
C
Development) đã nêu: Trường hợp quyền  
và lợi ích của NTD bị thiệt hại và xảy ra  
tranh chấp, NTD có quyền được tiếp cận  
và yêu cầu GQTC. Trong bối cảnh rộng  
hơn, cần thiết phải xem đây là quyền tiếp  
cận công lý của NTD. Để các quyền của  
NTD có hiệu lực, cần thiết phải đảm bảo  
được một môi trường lành mạnh và cung  
cấp cho NTD công cụ pháp lý cần thiết để  
bảo vệ quyền lợi của mình.  
1. Những thành tựu, hạn chế trong  
quy định của pháp luật Việt Nam về giải  
quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng  
với thương nhân  
Thứ hai, cho phép các bên tham gia tranh  
chấp có điều kiện giải quyết triệt để mâu thuẫn  
1.1. Thành tựu  
Thứ nhất, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD  
năm 2010 là bước tiến quan trọng trong lĩnh  
vực lập pháp bảo vệ NTD tại Việt Nam  
* Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại  
học Kiểm sát Hà Nội  
** Nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật Hà Nội  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...  
không cần có sự can thiệp của bên thứ ba hoặc Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận  
cơ quan quản lý nhà nước mà thông qua nhiều hình thức hòa giải cả ở biện pháp tài  
phương thức GQTC bằng thương lượng  
phán và phi tài phán như: Hòa giải trong  
tố tụng dân sự; Hòa giải trong tố tụng  
trọng tài; Hòa giải dân sự thông thường  
(các bên tự hòa giải); Hòa giải cơ sở (có sự  
tham gia của bên thứ ba đối với các tranh  
chấp). Tính phổ biến của phương thức này  
trong pháp luật Việt Nam đã cho thấy tinh  
thần “khuyến khích việc giải quyết một số  
tranh chấp thông qua thương lượng, hòa  
giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết  
định công nhận việc giải quyết đó”1.  
Ba là, đối với phương thức trọng tài  
thương mại: Pháp luật Việt Nam về trọng  
tài thương mại khá hoàn chỉnh, được  
viện dẫn trong quy định của Luật Trọng  
tài thương mại năm 2010. Theo đó, việc  
GQTC tiêu dùng được diễn ra tuần tự, tại  
mỗi bước, trách nhiệm của các bên có liên  
quan được quy định cụ thể, thẩm quyền  
và nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài, trọng  
tài viên cũng được xác định cụ thể trong  
việc thu thập chứng cứ; áp dụng các biện  
pháp khẩn cấp tạm thời... có ý nghĩa trong  
việc giúp Hội đồng trọng tài đưa ra kết  
quả GQTC khách quan và công bằng.  
Bốn là, đối với phương thức tòa án, tính  
đột phá trong quy định về việc áp dụng  
phương thức GQTC giữa NTD với thương  
nhân tại Tòa án  
- Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010  
của Việt Nam cho phép áp dụng thủ tục đơn  
giản (hay còn gọi là thủ tục rút gọn) đối với  
việc GQTC giữa NTD và thương nhân2: Luật  
Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã tạo  
điều kiện thuận lợi cho NTD “tiếp cận công  
lý” bằng việc quy định áp dụng thủ tục  
đơn giản khi giải quyết vụ án dân sự về  
bảo vệ quyền lợi NTD (Điều 41). Đây là  
Việc bổ sung phương thức thương  
lượng là cần thiết và mang tính cấp thiết,  
cho thấy nhận thức đổi mới trong tư duy  
lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam.  
Một mặt, nội dung này cho thấy sự tương  
đồng và tiệm cận với các quy định của tổ  
chức quốc tế, pháp luật của các quốc gia  
có nền luật pháp phát triển về GQTC giữa  
NTD với thương nhân. Mặt khác, đó còn  
là sự thừa nhận của Nhà nước về phương  
thức GQTC ưu việt mà thực tế đã được  
thực hiện giữa thương nhân và NTD.  
Do đó, để chính thức thừa nhận và đặt  
cơ sở pháp lý rõ ràng về vấn đề này, sự  
ghi nhận của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD  
năm 2010 là một thành tựu trong việc quy  
định các phương thức GQTC giữa NTD  
với thương nhân.  
Thứ ba, xét trong từng phương thức  
GQTC cụ thể, quy định của pháp luật Việt  
Nam cũng đạt được những thành tựu đáng  
chú ý  
Một là, đối với phương thức thương lượng:  
Đây là phương thức được ưu tiên, khuyến  
khích các bên sử dụng đầu tiên khi xảy  
ra tranh chấp. Để đảm bảo thực hiện tốt  
nhất quyền lợi của NTD, pháp luật Việt  
Nam đã quy định các điều kiện cơ bản,  
mang tính ràng buộc với các bên thông  
qua các quy định về thời hạn tiếp nhận và  
GQTC bằng thương lượng của nhà cung  
cấp hàng hóa, dịch vụ.  
Hai là, đối với phương thức hòa giải:  
Quy định phương thức hòa giải đảm  
bảo tôn trọng ý chí của các bên. Riêng  
đối với tranh chấp tiêu dùng, mặc dù  
cho tới nay chưa có khung pháp lý cụ  
thể nhưng dựa trên những nguyên tắc  
và hướng dẫn của pháp luật về hòa giải  
thông thường thì tranh chấp tiêu dùng  
hoàn toàn có thể áp dụng phương thức  
này một cách hiệu quả.  
1ꢀ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ  
Chính trị Việt Nam về Chiến lược cải cách tư pháp  
đến năm 2020.  
2ꢀ Khoản 2 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm  
2010 của Việt Nam.  
4
Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO  
một trong những ưu điểm của Luật này,  
Việc ghi nhận quyền khởi kiện tập thể  
của NTD và tổ chức xã hội (Hội bảo vệ  
NTD) đem lại nhiều lợi ích cho cá nhân  
và xã hội, thể hiện thông qua việc NTD  
được mở rộng hơn khả năng tiếp cận công  
lý và được bồi thường các thiệt hại do  
hàng hoá có khuyết tật hoặc dịch vụ kém  
chất lượng gây ra. Đồng thời, dưới sức  
ép bị kiện, các nhà sản xuất và cung cấp  
dịch vụ sꢂ tuân thủ tốt hơn các quy định  
pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, qua  
đó cung cấp các hàng hoá và dịch vụ tốt  
hơn cho xã hội. Không thể phủ nhận rằng  
khởi kiện tập thể đã trở thành một trào  
lưu và được đông đảo các quốc gia thừa  
nhận trong quy định pháp luật của mình,  
coi khởi kiện tập thể là một trong bốn giải  
pháp chính để hoàn thiện pháp luật, khắc  
phục vấn đề vi phạm quyền lợi NTD của  
các nước thành viên Cộng đồng Châu  
Âu5. Chính vì vậy, việc ghi nhận quyền  
khởi kiện tập thể của pháp luật Việt Nam  
cho thấy thành tựu trong việc tiếp cận với  
pháp luật quốc tế, mở rộng cách thức để  
bảo vệ triệt để hơn quyền của NTD.  
được đánh giá cao về tính thuận lợi, hữu  
ích, khắc phục sự phức tạp, phiền phức  
có thể làm nản lòng NTD khi thực hiện  
quyền khởi kiện của mình.  
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng dân sự  
(BLTTDS) năm 2015 cũng quy định về thủ  
tục rút gọn. Theo đó, việc giải quyết vụ án  
theo thủ tục rút gọn được thực hiện ở cấp  
sơ thẩm và phúc thẩm. Thành phần Hội  
đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm chỉ do  
một thẩm phán tiến hành (Điều 65). Tại  
cấp sơ thẩm, việc xét xử vụ án dân sự theo  
thủ tục rút gọn không có Hội thẩm nhân  
dân tham gia (Điều 111). Bên cạnh các  
điều kiện nhằm giải quyết vụ án nhanh  
chóng, Bộ luật cũng quy định về rút ngắn  
thời hạn giải quyết vụ án. Tổng thời hạn  
chuẩn bị xét xử ở cả giai đoạn sơ thẩm và  
phúc thẩm là 02 tháng, giảm 04 tháng so  
với thủ tục thông thường. Như vậy, khác  
với những quy định của pháp luật về thủ  
tục thông thường, nếu xét xử theo thủ tục  
đơn giản thì vụ án không được xét xử tập  
thể và quyết định theo đa số. Có thể nói,  
áp dụng thủ tục đơn giản giúp cho việc xử  
lý tranh chấp của NTD nhanh gọn, hiệu  
quả và tiết kiệm chi phí cho các bên.  
1.2. Hạn chế  
Thứ nhất, hạn chế trong khái niệm về  
“ngưꢀi tiêu dꢁng”  
Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi  
NTD năm 2010 quy định: “NTD là ngưꢀi  
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích  
tiêu dꢁng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,  
tổ chức”. Nghiên cứu pháp luật của nhiều  
quốc gia trên thế giới cho thấy, các quốc  
gia có các quan điểm khác nhau về việc  
xác định đối tượng nào là NTD, cá nhân  
hay tổ chức. Tuy nhiên, đại đa số các quan  
điểm đều nghiêng về việc coi cá nhân là  
NTD6. Xuất phát từ đặc điểm mối quan  
- Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền khởi  
kiện tập thể và quyền khởi kiện của các tổ chức  
xã hội: Về khuôn khổ pháp lý, pháp luật  
Việt Nam đã có những quy định cần thiết  
cho phép NTD khởi kiện tập thể. Các hình  
thức kiện tập thể theo quy định tương tự  
như các hình thức trong pháp luật châu  
Âu, đặc biệt là các nước theo dân luật như  
Pháp, Đức3. Bên cạnh đó, luật còn quy  
định quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo  
vệ quyền lợi NTD của tổ chức xã hội4.  
5ꢀ Commission of The Europan Communities  
3ꢀ Quách Thuý Quꢁnh (2013), “Bảo vệ quyền lợi ngưꢀi (2008), “Green Paper On Consumer Collective  
tiêu dꢁng bằng các vụ kiện tập thể - kinh nghiệm nước Redress”, hꢃps://eur-lex.europa.eu/legal-content/en/  
ngoài và các gợi ý hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Nghiên TXT/?uri=CELEX%3A52008DC0794, truy cập ngày  
cứu Lập pháp, số 16, số 248, tr. 17 - 23.  
22/02/2021.  
4ꢀ Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, 6ꢀNguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ  
khoản 3, Điều 187 BLTTDS năm 2015  
quyền lợi ngưꢀi tiêu dꢁng ở Việt Nam hiện nay, Luận án  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
5
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...  
hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh phí để duy trì hoạt động. Phần lớn các tổ  
nên pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thiết chức bảo vệ quyền lợi NTD hoạt động trên  
lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc  
dân luật truyền thống nhằm khắc phục  
những bất lợi của NTD trong quan hệ với  
nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo sự  
công bằng và bảo vệ kꢄ yếu mà NTD là  
kꢄ yếu, vì vậy, cần được pháp luật bảo vệ.  
Tuy nhiên, khái niệm NTD được xác định  
tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi  
NTD năm 2010 bao gồm cả gia đình và tổ  
chức mua sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho  
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt. Điều này  
không hợp lý bởi các lý do sau:  
- Mục đích ra đời của pháp luật bảo vệ  
quyền lợi NTD là nhằm xác lập nguyên tắc  
công bằng trong giao dịch giữa bên yếu  
thế và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, tổ  
chức là một tập hợp người có bộ máy, cơ  
cấu chặt chꢂ, có sự hiểu biết trong nhiều  
lĩnh vực nhất định, có khả năng tiếp cận,  
xử lý thông tin và tiềm lực kinh tế tốt hơn  
nhiều so với cá nhân đơn lꢄ. Chính vì vậy,  
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đã “cho phép”  
kꢄ “không yếu” giành lợi thế bất chính với  
bên kia dưới danh nghĩa NTD;  
- Chỉ có cá nhân với tư cách là một con  
người cụ thể mới sử dụng hàng hóa, dịch  
vụ để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống  
sinh hoạt hàng ngày. Tổ chức là thực thể  
pháp lý, không phải là con người tự nhiên  
nên không có nhu cầu ăn, mặc, ở, khám  
bệnh... như con người. Vì vậy, khoản 1  
Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đưa ra  
khái niệm NTD - đối tượng được bảo vệ  
của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD bao  
gồm cả tổ chức và gia đình là chưa hợp lý  
và thiếu thuyết phục.  
cơ sở kinh phí của hội viên nên phạm vi  
hoạt động cũng chỉ rất “cầm chừng”. Kinh  
phí hạn chế dẫn tới năng lực hoạt động  
cũng bị giới hạn. Những hoạt động như  
thực hiện các chiến dịch tẩy chay hàng  
giả, hàng kém chất lượng hay việc tiến  
hành các xét nghiệm, điều tra, khảo sát để  
xây dựng luận cứ bảo vệ NTD cũng khó  
có thể thực hiện được.  
Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa có quy  
định về quyền và nghĩa vụ cơ bản để bảo đảm  
tính bình đẳng trong quan hệ giữa NTD và  
thương nhân.  
Do chưa có quy định về những quyền  
cơ bản của các bên trong quan hệ tiêu  
dùng nên thực tế đã có trường hợp NTD  
lạm dụng quyền trong GQTC để gây thiệt  
hại cho uy tín doanh nghiệp. Do vậy, cần  
tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia  
về việc công nhận cho NTD, công dân  
của họ quyền được thỏa mãn những  
nhu cầu cơ bản. Đây là quyền được tiếp  
cận, đáp ứng và thỏa mãn những hàng  
hoá, dịch vụ thiết yếu, đáp ứng nhu cầu  
cơ bản và tối thiểu nhất của con người  
trong từng giai đoạn lịch sử như ăn, mặc,  
ở, điện, nước sạch, vệ sinh, chăm sóc sức  
khoꢄ, tinh thần và giáo dục. Đồng thời,  
bổ sung nghĩa vụ của bên cung cấp hàng  
hóa, dịch vụ.  
Thứ tư, phạm vi quy định cụ thể về các  
phương thức GQTC giữa NTD với thương  
nhân cũng tồn tại một số hạn chế  
Một là, về GQTC bằng phương thức  
thương lượng  
- Về thꢀi hạn thực hiện kết quả thương  
lượng: Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm  
2010 mới chỉ giới hạn thời hạn tiếp nhận  
và tiến hành thương lượng trong tranh  
chấp tiêu dùng mà chưa đề cập tới thời  
hạn ràng buộc các bên phải đạt được thỏa  
thuận thương lượng để GQTC một cách  
dứt điểm. Đây là lỗ hổng pháp lý cho phía  
Thứ hai, hạn chế trong quy định về các  
điều kiện đảm bảo hoạt động của các tổ chức  
bảo vệ quyền lợi NTD  
Thực tế là các tổ chức hội của Việt Nam  
hiện nay gặp trở ngại lớn về vấn đề kinh  
Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội,  
tr.133.  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO  
doanh nghiệp cố tình kéo dài thời gian với những vi phạm pháp luật và tranh  
thương lượng giữa các bên, trì hoãn đưa chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư. Đối  
ra kết quả thương lượng, giải quyết thỏa với hòa giải tại các Trung tâm Trọng tài  
đáng quyền lợi cho NTD.  
thương mại, các quy định về hòa giải tuy  
có chi tiết và quy mô7, song nhìn chung  
vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để  
tính chất trung gian hòa giải. Hiệu quả  
hòa giải còn hạn chế do số vụ việc được  
Trọng tài Thương mại thụ lý và giải quyết  
còn rất ít vì thực tế các doanh nghiệp Việt  
Nam khi có tranh chấp thường khởi kiện  
ra Toà án. Riêng hòa giải với tính chất là  
một biện pháp GQTC thương mại ngoài  
tố tụng là một khái niệm còn mới, được  
ghi nhận một cách giản đơn “hòa giải giữa  
các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân  
được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian  
hòa giải”8.  
Vì lꢂ trên, phương thức hòa giải bị mất  
đi tính ưu việt và nhiều trường hợp, khi đề  
cập tới phương thức này để GQTC thương  
mại, người ta thường nghĩ tới phương  
thức “hữu danh vô thực” bởi những nhược  
điểm nêu trên.  
- Về tính ràng buộc trong việc thực hiện  
kết quả thương lượng: Tuy Luật Bảo vệ  
quyền lợi NTD năm 2010 có quy định kết  
quả thương lượng lập thành văn bản theo  
thỏa thuận giữa các bên nhưng lại bỏ ngỏ  
quy định ràng buộc các bên về thi hành  
kết quả thương lượng đã được các bên  
nhất trí. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP  
ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định  
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  
điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD cũng  
không có bất kꢁ điều khoản nào quy định  
chi tiết các nội dung này. Xét về bản chất,  
thương lượng phụ thuộc hoàn toàn vào ý  
chí của các bên, song ở góc độ quản lý nhà  
nước, nên có những quy định đặc thù về  
nghĩa vụ GQTC cũng như nghĩa vụ thực  
hiện thỏa thuận khi sử dụng phương thức  
thương lượng để GQTC tiêu dùng.  
Hai là, về GQTC bằng phương thức hòa  
giải  
Ba là, về phương thức GQTC bằng trọng tài  
Ở Việt Nam, mặc dù hòa giải đã trở  
thành một nguyên tắc luật định và được  
các nhà kinh doanh ghi nhận là phương  
thức GQTC có hiệu quả và được áp dụng  
khá phổ biến nhưng phạm vi và hiệu quả  
áp dụng còn ở mức khiêm tốn do thiếu sự  
nghiên cứu một cách có hệ thống để làm  
rõ các vấn đề lý thuyết về hòa giải, đưa  
ra các mô hình hòa giải có hiệu quả. Đặc  
biệt, hòa giải với tư cách là một phương  
thức GQTC thay thế dường như vẫn  
được coi là công việc riêng tư của các bên  
nên cho đến thời điểm hiện tại, hầu như  
không có văn bản nào quy định đầy đủ,  
cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình,  
thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương  
thức GQTC này. Hiện nay, Luật Hòa  
giải cơ sở năm 2013 có quy định đầy đủ  
về nguyên tắc và phạm vi hòa giải, mô  
hình hòa giải, cách thức hòa giải, song chỉ  
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010  
còn chưa hợp lý khi phân biệt giữa NTD  
là cá nhân và NTD là tổ chức, gia đình.  
Theo đó, trường hợp điều khoản trọng  
tài do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng  
hóa, dịch vụ đưa vào hợp đồng theo mẫu  
hoặc điều kiện thương mại chung thì khi  
xảy ra tranh chấp, chỉ NTD là cá nhân mới  
có quyền chọn phương thức GQTC khác  
(Điều 38). Điều này có nghĩa nếu NTD là  
tổ chức hoặc gia đình thì phải chấp nhận  
điều khoản trọng tài do tổ chức, cá nhân  
đưa vào hợp đồng theo mẫu mà không  
7ꢀ Phương thức này đã được cụ thể hóa thành Quy tắc  
hòa giải của Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC) đặt  
cạnh Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam  
(VCCI), nhưng đây chỉ là bộ quy tắc nội bộ, chỉ được  
áp dụng khi các bên tranh chấp lựa chọn VIAC làm  
trung gian hòa giải trong điều khoản thỏa thuận về  
trọng tài.  
giới hạn phạm vi hòa giải tiến hành đối 8ꢀ Khoản 2 Điều 317 Luật Thương mại năm 2005.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
7
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...  
có quyền chọn phương thức GQTC khác Theo quy định của BLTTDS năm 2015,  
có lợi cho mình hơn như NTD là cá nhân. tiêu chí áp dụng thủ tục rút gọn không phân  
Quy định này đã tạo ra sự bất công giữa biệt giá trị tranh chấp chứ không phải chỉ  
NTD với nhau, tước bỏ quyền được bảo  
vệ của NTD là tổ chức và gia đình khi  
không cho họ quyền được chống lại sự áp  
đặt của tổ chức, cá nhân kinh doanh về  
điều khoản trọng tài trong hợp đồng theo  
mẫu, điều kiện giao dịch chung.  
áp dụng đối với tranh chấp có giá trị dưới  
một trăm triệu đồng9. Đây là quy định hợp  
lý bởi giá trị tranh chấp mặc dù lớn hay nhỏ  
nhưng vụ án có tính chất đơn giản, đương  
sự thừa nhận sự việc thì vẫn xét xử theo  
thủ tục rút gọn, không nên kéo dài việc giải  
quyết vụ án. Vì vậy, việc đưa ra điều kiện  
giới hạn giá trị của tranh chấp khiến cho các  
tranh chấp tiêu dùng khác không được áp  
dụng thủ tục rút gọn. Hơn nữa, việc ấn định  
vụ kiện có giá ngạch thấp bằng một khoản  
tiền cố định trong văn bản chuyên ngành  
tại Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 là  
chưa phù hợp vì giá cả thị trường luôn có sự  
biến đổi. Trong khi đó, để sửa đổi, bổ sung  
Luật phải trải qua một thời gian với những  
trình tự bắt buộc khiến cho pháp luật trở  
nên “lỗi thꢀi” so với đời sống. Chính vì vậy,  
đây cũng là điểm cần được xem xét để sửa  
đổi nhằm tạo nên sự thống nhất giữa các  
văn bản luật và phù hợp với thực tiễn.  
- Sự bất hợp lý trong quy định quyền  
kháng cáo, kháng nghị đối với bản án dân  
sự sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục  
rút gọn10. Việc đảm bảo quyền kháng cáo,  
kháng nghị là quyền lợi chính đáng nhưng  
trên thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp  
bị đơn sử dụng “quyền lợi chính đáng”  
này của mình nhằm trốn tránh thực hiện  
nghĩa vụ.  
Bốn là, về phương thức GQTC bằng tòa án  
- Về điều kiện “Vụ án có tình tiết đơn giản,  
quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa  
nhận nghĩa vụ”  
Hiện nay, chưa có hướng dẫn cụ thể  
về cách hiểu thế nào là “vụ án có tình tiết  
đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương  
sự đã thừa nhận nghĩa vụ”. Điều này gây ra  
khó khăn, thiếu thống nhất giữa các Tòa  
án trong việc xem xét vụ án nào đủ điều  
kiện áp dụng thủ tục rút gọn cũng như  
khó khăn cho đương sự trong việc lựa  
chọn thủ tục rút gọn để GQTC.  
- Về điều kiện “Tài liệu, chứng cứ đầy đủ,  
bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa  
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”  
Hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ  
thể về điều kiện này mà chủ yếu phụ  
thuộc vào đánh giá chủ quan của Thẩm  
phán. Điều này dẫn đến khả năng Thẩm  
phán đánh giá không đúng về tính đầy đủ,  
bảo đảm đủ căn cứ của tài liệu, chứng cứ,  
từ đó quyết định việc áp dụng hay không  
áp dụng thủ tục rút gọn không chuẩn xác  
hoặc có sự đánh giá khác nhau giữa các  
cấp xét xử dẫn đến tình trạng hủy, sửa  
bản án hoặc chuyển vụ án từ thủ tục rút  
gọn sang thủ tục thông thường khi xét xử  
ở cấp phúc thẩm. Bên cạnh đó, quy định  
điều kiện đủ “và Tòa án không phải thu thập  
tài liệu, chứng cứ” là quá chặt, dẫn đến thu  
hẹp đối tượng vụ án được áp dụng thủ  
tục rút gọn.  
Năm là, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD  
Việt Nam chưa coi việc GQTC thông qua thủ  
tục hành chính là một phương thức GQTC  
Các quy định của Luật Bảo vệ quyền  
lợi NTD hiện hành về phương thức hành  
chính đã và đang thể hiện rằng pháp luật  
Việt Nam chú trọng và ưu tiên thực hiện  
các biện pháp hành chính với mục đích  
răn đe hơn là GQTC, nhưng tính răn đe  
- Về việc thiếu thống nhất giữa việc quy  
định giá ngạch trong Luật Bảo vệ quyền lợi  
NTD năm 2010 và BLTTDS năm 2015  
9ꢀ Theo điểm c khoản 2 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng năm 2010.  
10ꢀ Khoản 1 Điều 321 BLTTDS năm 2015.  
8
Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO  
cũng chưa thực sự nghiêm khắc. Hành vi vệ quyền lợi NTD khác được cho phép  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu  
dùng là hành vi vi phạm pháp luật bảo  
vệ NTD, xâm hại trực tiếp tới sức khỏe,  
tính mạng của NTD, tuy nhiên pháp luật  
Việt Nam hiện hành mới chỉ có các quy  
định mang tính hành chính. Điều này làm  
giảm tính nghiêm khắc của pháp luật và  
tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà  
nước của cơ quan hành pháp. Các tổ chức  
kinh tế với tiềm lực to lớn sau khi bị phạt  
hành chính vẫn sꢂ có khả năng tái phạm  
vì mức lợi nhuận thu được chênh lệch hơn  
nhiều so với khoản phạt phải nộp.  
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về  
giải quyết tranh chấp giữa người tiêu  
dùng với thương nhân  
2.1. Giải pháp quy định về bảo vệ  
quyền lợi của người tiêu dùng  
thực hiện các hoạt động kinh doanh để  
tạo thêm nguồn thu cho hoạt động của  
tổ chức. Từ đó, vai trò của các tổ chức  
này được củng cố thông qua một loạt các  
hoạt động thiết thực như in cẩm nang  
hướng dẫn pháp luật cho NTD, thực hiện  
các chiến dịch tuyên truyền tại các điểm  
dân cư… Để làm được điều này thì trong  
các đạo luật của Nhật Bản về bảo vệ NTD  
đều quy định cụ thể về các điều kiện đảm  
bảo hoạt động cho các tổ chức phi chính  
phủ bảo vệ quyền lợi NTD. Đây là điểm  
mà Việt Nam cần xem xét để hoàn thiện  
pháp luật.  
Thứ ba, cần bảo đảm tính bình đẳng trong  
quan hệ giữa NTD và thương nhân thông qua  
việc bổ sung quyền của NTD theo pháp luật  
bảo vệ quyền lợi NTD, hạn chế trưꢀng hợp  
NTD lạm dụng quyền trong GQTC để gây  
thiệt hại cho uy tín doanh nghiệp  
Thứ nhất, đối với khái niệm “ngưꢀi  
tiêu dꢁng”  
Một là, đối với NTD  
Để đảm bảo đúng bản chất và tiêu chí  
của NTD, cần xác định lại đối tượng bảo  
vệ của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm  
2010. Cần định nghĩa lại khái niệm NTD,  
theo đó, NTD chỉ là những cá nhân mua sử  
dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu  
dùng, sinh hoạt.  
Thứ hai, bổ sung quy định về các điều  
kiện đảm bảo hoạt động của các tổ chức bảo vệ  
quyền lợi NTD  
Để góp phần giúp các tổ chức bảo vệ  
quyền lợi NTD có kinh phí hoạt động,  
cần học hỏi kinh nghiệm của nhiều quốc  
gia bởi việc bảo đảm hoạt động của tổ  
chức này được thực hiện rất tốt với sự  
hỗ trợ từ phía Chính phủ. Điển hình như  
Nhật Bản, Tổng cục Bảo vệ NTD Nhật  
Bản (Consumer Affairs Agency – CAA)  
được hỗ trợ kinh phí hoạt động từ tiền  
thuế của Nhà nước11. Các tổ chức bảo  
- Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần  
nhanh chóng quy định quyền được tiếp  
cận, đáp ứng, thỏa mãn những hàng hoá,  
dịch vụ thiết yếu, đáp ứng nhu cầu cơ bản,  
tối thiểu của NTD. Vấn đề này do mới chỉ  
được đề cập gián tiếp trong Luật cạnh  
tranh song vì mục đích của Luật cạnh  
tranh về vấn đề này là chưa rõ ràng nên  
việc quy định vấn đề này trong Luật Bảo  
vệ quyền lợi NTD là “đúng chỗ” hơn cả.  
- Cụ thể hóa quyền được tư vấn, hỗ  
trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng của  
NTD được quy định tại khoản 8 Điều 8  
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010. Cụ  
thể, trong việc xem xét ban hành văn bản  
sửa đổi Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy  
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một  
số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD  
năm 2010 và Nghị định số 19/2012/NĐ-CP  
về quy định xử phạt vi phạm hành chính  
trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD, nội  
dung này cần thiết phải được xem xét để  
cụ thể hóa về chủ thể chịu trách nhiệm,  
11ꢀ Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh chấp  
giữa ngưꢀi tiêu dꢁng với thương nhân ở Việt Nam hiện  
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã  
hội, Hà Nội, tr.139.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
9
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...  
cách thức thực hiện và nội dung. Quan không can thiệp vào nội dung và giá trị  
trọng là xác định được cơ quan có trách pháp lý của thỏa thuận.  
nhiệm đầu mối thực hiện các nội dung  
này để quy định của luật thực sự có tính rõ  
ràng và minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền  
lợi cho NTD.  
- Nghiên cứu xây dựng và ban hành  
trình tự và thủ tục mẫu về hòa giải,  
thương lượng trong GQTC tiêu dùng trên  
cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc  
gia trên thế giới, trong đó quy định một  
cách tổng quát theo hướng linh hoạt, tôn  
trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa  
các bên tranh chấp.  
- Bổ sung quy định về thời hạn cụ  
thể buộc các bên phải thực hiện kết quả  
thương lượng thành nhằm tránh tình  
trạng thương nhân cố tình trì hoãn việc  
thực hiện các nghĩa vụ, khiến cho NTD bị  
thiệt hại về cả tinh thần, sức khỏe và tài  
chính mà không được đền bù thỏa đáng.  
Hai là, đối với thương nhân  
Cần cụ thể hóa nghĩa vụ bảo hành  
hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất kinh  
doanh nhằm khắc phục vấn đề pháp luật  
giới hạn trường hợp phát sinh nghĩa vụ  
bảo hành hàng hóa của nhà sản xuất kinh  
doanh, đảm bảo công bằng cho NTD.  
Học tập kinh nghiệm quốc tế về quy định  
nghĩa vụ chung của mọi nhà cung cấp  
phải thực hiện chế độ bảo hành; bao gồm  
các chế tài (hậu quả pháp lý) theo trình  
tự ưu tiên: (1) Sửa chữa miễn phí và bồi  
thường thiệt hại (nếu có); (2) Giảm giá; (3)  
Đổi sản phẩm, hàng hoá mới; (4) Huỷ hợp  
đồng. Cần tạo cho các nhà cung cấp khả  
năng tự cam kết thời hạn và các điều kiện  
bảo hành không thấp hơn quy định chung  
của pháp luật, nếu không, họ phải gánh  
vác nghĩa vụ bảo hành “tối thiểu” theo quy  
định của pháp luật.  
2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định về  
các phương thức giải quyết tranh chấp  
cụ thể  
Thứ nhất, đối với phương thức thương  
lượng, hòa giải  
- Sớm nghiên cứu và bổ sung cơ chế  
bảo đảm thực thi kết quả thương lượng,  
hòa giải bởi hệ thống cơ quan tư pháp  
và thi hành án dân sự. Kết quả thương  
lượng, hòa giải sau khi được lập thành  
biên bản có thể phải đăng ký tại cơ quan  
tòa án và chuyển tới cơ quan thi hành án  
để thực thi. Hỗ trợ quá trình thực thi các  
phán quyết trên là hệ thống các trung tâm  
thừa phát lại được tổ chức nhằm giảm tải  
cho cơ quan thi hành án dân sự của Nhà  
nước. Trình tự công nhận và thi hành thỏa  
Thứ hai, đối với phương thức GQTC bằng  
trọng tài  
Cần thiết bổ sung một cơ chế thi hành  
phán quyết trọng tài độc lập để đảm bảo  
hiệu lực thi hành phán quyết không bị  
ảnh hưởng bởi hiệu quả thi hành án dân  
sự. Thực tế cho thấy cơ chế thi hành án  
dân sự hiện nay còn nhiều hạn chế, thời  
gian thi hành án bị trì hoãn đáng kể do  
số lượng bản án tồn đọng chưa được thi  
hành luôn có xu hướng lũy tiến tăng. Cơ  
chế thi hành phán quyết trọng tài độc lập  
sꢂ góp phần đẩy nhanh tiến độ GQTC,  
đồng thời giúp các bên đạt được mục tiêu  
ban đầu khi lựa chọn phương thức GQTC  
này là yếu tố thời gian và chi phí.  
Thứ ba, đối với phương thức GQTC bằng  
Tòa án  
Cần hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút  
gọn trong BLTTDS năm 2015 và kiểm soát  
việc áp dụng thủ tục rút gọn tại Toà án:  
- Theo BLTTDS năm 2015, thủ tục rút  
gọn được áp dụng không ấn định vụ kiện  
có giá ngạch thấp bằng một khoản tiền  
cố định như Luật Bảo vệ quyền lợi NTD.  
Nên chăng các nhà làm luật nên sửa đổi  
thuận thương lượng, hòa giải sꢂ áp dụng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD về điều kiện  
theo trình tự rút gọn, Tòa án tôn trọng và áp dụng thủ tục rút gọn để thống nhất với  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
VŨ THỊ HỒNG VÂN - KHAMKENG LORBRIAYAO  
quy định của BLTTDS năm 2015.  
2013 đã chỉ rõ thủ tục rút gọn là biệt lệ  
của nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và  
nguyên tắc Hội thẩm nhân dân. Thêm vào  
đó, trong một số vụ án đương sự không  
thiện chí đã sử dụng quyền kháng cáo của  
mình như một cách để kéo dài thời gian thi  
hành án, trốn tránh nghĩa vụ. Do đó, xét  
thấy việc học tập tinh thần của BLTTDS  
Nhật Bản12 là vô cùng cần thiết. Việc hạn  
chế quyền kháng cáo, kháng nghị bản án,  
quyết định sơ thẩm của vụ án được giải  
quyết theo thủ tục rút gọn sꢂ giảm tải gánh  
nặng lên Viện kiểm sát cũng như Tòa án.  
Trong trường hợp có tình tiết mới hoặc  
vi phạm nghiêm trọng xâm phạm đến lợi  
ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân, bản án, quyết định  
sꢂ được xem xét lại theo thủ tục tái thẩm,  
giám đốc thẩm.  
Thay vì ấn định một ngạch giá nhất  
định, nên đặt ra một tiêu chí chung xác  
định vụ kiện có giá ngạch thấp được giải  
quyết theo thủ tục rút gọn để nếu có sự  
thay đổi thì có thể quy định chi tiết trong  
các văn bản hướng dẫn. Việc xác định giá  
ngạch thấp là vấn đề khá phức tạp và đòi  
hỏi việc nghiên cứu toàn diện nhiều vấn  
đề liên quan như: Tình hình phát triển  
kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa  
phương; mức lương tối thiểu của vùng,  
ngành; tỷ lệ lạm phát,… trong từng thời  
kꢁ cần có thời gian để nghiên cứu, khảo  
sát, thống kê và đưa ra một ngưỡng giá  
ngạch hợp lý.  
- Vấn đề thu thập tài liệu, chứng cứ  
để giải quyết vụ án (khoản 1 Điều 317  
BLTTDS năm 2015) cần được sửa đổi để  
phù hợp hơn với thực tiễn, cụ thể:  
+ Bỏ cụm từ “và Toà án không phải thu  
thập tài liệu, chứng cứ” vì tài liệu, chứng  
cứ đã đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải  
quyết vụ án thì việc Toà án thu thập thêm  
tài liệu, chứng cứ là không cần thiết.  
+ Bỏ nội dung “tài liệu, chứng cứ đầy đủ,  
đảm bảo đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Toà  
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ” vì  
theo Điều 92 BLTTDS năm 2015, sự thừa  
nhận của đương sự cũng là chứng cứ và  
là yếu tố cơ bản để giải quyết vụ án, đồng  
thời thuộc trường hợp những tình tiết, vụ  
kiện không phải chứng minh.  
Do đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có  
hướng dẫn Điều 317 BLTTDS năm 2015 về  
điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn  
để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn theo  
hướng: “Vụ án có tình tiết đơn giản, quan  
Thứ tư, đối với phương thức giải quyết  
thông qua hành chính  
Pháp luật Việt Nam hiện nay đang quy  
định rải rác tại các luật chuyên ngành khác  
nhau về trình tự, thủ tục NTD có thể khiếu  
nại tới cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi  
quyền lợi của mình bị xâm phạm. Do đó,  
với mỗi luật chuyên ngành, trình tự, thủ  
tục thực hiện khiếu nại cũng khác nhau,  
khiến cho NTD cảm thấy bị bối rối. Vấn  
đề đặt ra là nguyên nhân luật chuyên  
ngành lại không quy định cụ thể về nội  
dung này. Chính vì vậy, để thuận lợi nhất  
cho NTD có thể tự tra cứu pháp luật, đọc  
hiểu pháp luật thì cần rà soát và tập trung  
xây dựng quy trình khiếu nại hành chính  
ngay trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD.  
12ꢀ Theo Điều 397 BLTTDS Nhật Bản: Phán quyết cuối  
cꢁng của Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn không  
hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận được kháng cáo lên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên đương sự có  
thể đưa ra yêu cầu phản đối quyết định đó trong thꢀi hạn  
hai tuần, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.  
Như vậy, khi áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết  
một vụ án tại Nhật Bản quy định rõ không cho phép  
kháng cáo, bởi đối với một vụ án đơn giản, chứng cứ  
rõ ràng, các bên đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ thì  
nghĩa vụ; hoặc tài liệu, chứng cứ đầy đủ, đảm  
bảo đủ căn cứ để giải quyết vụ án mà Toà án  
không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”.  
- Ban hành quy định thủ tục rút gọn  
là biệt lệ của hai cấp xét xử. Nhìn từ góc  
độ pháp luật Việt Nam, Hiến pháp năm việc giải quyết sꢂ ít hoặc không có khả năng sai sót.  
Số 03 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 11  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP...  
xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam,  
Hà Nội.  
Các luật chuyên ngành khác chỉ cần quy  
định điều khoản dẫn chiếu tới Luật Bảo  
5. Lê Hồng Hạnh (2010), “Luật Bảo vệ ngưꢀi tiêu  
dꢁng có nên quy định tổ chức là ngưꢀi tiêu dꢁng”, Tạp  
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20(181)/Kꢁ 2.  
vệ quyền lợi NTD khi đề cập tới vấn đề  
này.  
Việt Nam là quốc gia cho thấy rõ ràng  
những nỗ lực trong việc hoàn thiện chính  
sách pháp luật về bảo vệ NTD. Mặc dù  
quá trình hình thành và phát triển của  
pháp luật về bảo vệ NTD còn khá non trꢄ  
nhưng đây là một bước tiến lớn, đặt cơ sở  
nền tảng cho việc thực thi chính sách bảo  
vệ NTD, đáp ứng yêu cầu trong tình hình  
mới. Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy  
định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của  
NTD và phương thức GQTC được đề xuất  
với kꢁ vọng về một tương lai mà vị thế  
NTD được trả về đúng chỗ. Những sửa  
đổi, bổ sung về pháp luật này cần sớm  
được thực hiện để quyền lợi NTD cũng  
như thương nhân tham gia vào quan hệ  
tiêu dùng được đảm bảo, vai trò quản lý  
nhà nước được đề cao cũng như sự tham  
gia của các tổ chức xã hội dân sự được tôn  
trọng./.  
6. Nguyễn Mạnh Linh (2015), Giải quyết tranh  
chấp thương mại bằng trọng tài - Thực tiễn hoạt động  
của các trung tâm trọng tài thương mại trên địa bàn  
thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường  
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.  
7. Hoàng Thế Liên và Trần Anh Huy (2019), “Đề  
xuất phát triển các hình thức GQTC trực tuyến ngoài tố  
tụng tại Việt Nam trong thꢀi kỳ cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư hiện nay”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo  
khoa học cấp quốc gia về: “Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc  
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”,  
Hà Nội.  
8. Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh  
chấp giữa ngưꢀi tiêu dꢁng với thương nhân ở Việt Nam  
hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa  
học xã hội, Hà Nội.  
Tiếng nước ngoài  
9. Davies, J. and Szyszczak, E (2010), “ADR: ef-  
fective protection of consumer rights?”, European Law  
Review, 35(5), pp. 695-706. 0307-5400.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
10. Shea Esterling (2019), “International Human  
Rights Law”, New Zealand Yearbook of Internation-  
al Law, E-Book, ISBN: 978-90-04-38793-5.  
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Tổng quan hệ  
thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền  
lợi ngưꢀi tiêu dꢁng”, Hội thảo khoa học Pháp luật  
bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng  
và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học  
Luật Hà Nội.  
11. Festus Okechukwu Ukwueze (2015),  
“Elevating Consumer Rights to Human Rights”, The  
Nigerian Juridical Review, Vol.13, Faculty of Law,  
University of Nigeria, Enugu Campus, p.131 – 156.  
12. P A S Dahanayake (2005), “Making Markets  
Work Beꢂer for Development and the Poor in Lao PDR”,  
Report prepared by Dr. P A S Dahanayake Consul-  
tant to UNCTAD and CI, UNCTAD and CI.  
2. Hà Công Anh Bảo và Lê Hằng Mỹ Hạnh  
(2017), “GQTC trực tuyến – khả năng áp dụng tại Việt  
Nam”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, số 93.  
3. Hoàng Minh Chiến (chủ nhiệm đề tài); Thư  
ký đề tài: Nguyễn Ngọc Quyên, Phạm Phương  
Thảo; Nguyễn Thị Vân Anh, ... [et al.] (2016), Trách  
nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ  
quyền lợi ngưꢀi tiêu dꢁng theo pháp luật Việt Nam, Đề  
tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại  
học Luật Hà Nội, Hà Nội.  
13. Branislav Hazucha and partner (2015),  
Private ordering and consumers’ rights in copyright  
law: A view of Japanese consumers, Chapter 7,  
Intellectual Property and General Legal Principles,  
Edward Elgar Publishing, Cheltenham, UK.  
14. Christine Hogg (2009), “The Rise of Consumer  
Rights”, Citizens, Consumers and the NHS, Red  
Globe Press Publisher, London, UK.  
4. Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương,  
“So sánh Luật Bảo vệ ngưꢀi tiêu dꢁng một số nước trên  
thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội  
dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật Bảo vệ ngưꢀi  
15. United Nations Conference on Trade and  
Development (2018), Dispute resolution and redress,  
tiêu dꢁng của Việt Nam”, Tài liệu phục vụ công tác TD/B/C.I/CPLP/11, p.2.  
12 Khoa học Kiểm sát  
Số 03 - 2021  
pdf 10 trang Thùy Anh 13100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_viet_nam_ve_giai_quyet_tranh_chap_giua.pdf