Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO  
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
NĂM 2014  
Phạm Xuân Hương  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Hà Thị Hồng Thắm  
TÓM TẮT  
Luật Hôn nhân và Gia đình (HN & GĐ) năm 2014 dành 7 điều (từ Điều 94 đến Điều 100) quy định về  
vấn đề mang thai hộ rất rõ ràng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có khoảng 60 – 80  
triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trên thế giới. Mang thai hộ là một trong những giải pháp mà nhiều  
người lựa chọn. Hiện nay, ở Việt Nam tình trạng vô sinh, vợ chồng hiếm muộn đang ngày càng  
nhiều và diễn biến phức tạp nên nhu cầu mang thai hộ cũng theo chiều hướng không ngừng tăng  
theo. Trước đây, mang thai hộ bị pháp luật cấm nhưng đến thời điểm hiện tại pháp luật đã không  
cấm mà còn được quy định cụ thể trong luật Hôn nhân và Gia đình (HN & GĐ) năm 2014.  
Trong bài viết này, tác giả phân tích về: Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, từ đó nêu lên  
một số bất cập trong việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và kiến nghị hoàn thiện về vấn đề  
mang thai hộ.  
Từ khóa: Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ, nhân đạo, thân thích, tâm lý.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo: Vô sinh và hiếm muộn là vấn đề nguy hiểm thứ 3, chỉ  
đứng sau ung thư và bệnh tim mạch ở Thế kỷ XXI và căn bệnh này dần trở nên phổ biến ở các nước  
châu Á trong đó có Việt Nam. Vô sinh được định nghĩa là tình trạng vợ chồng sau một năm chung  
sống, quan hệ tình dục trung bình 2-3 lần/tuần, không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà  
người vợ vẫn chưa có thai. Có thể hiểu vô sinh là hiện tượng mất hay thiếu khả năng sinh sản xảy  
ra trong khoảng 10 -15% các cặp nam nữ muốn có con[1]. Tình trạng vô sinh và hiếm muộn dẫn đến  
nhiều hậu quả nặng nề cho các gia đình và xã hội. Bên cạnh gánh nặng về chi phí theo đuổi chữa  
trị mà còn dẫn đến những rạn nứt về mặt tình cảm vợ chồng, đè nặng tâm lý cho các thành viên gia  
đình và là một trong những nguyên nhân dẫn đến hôn nhân tan vỡ.  
Để xã hội có cái nhìn thoáng về việc vô sinh và hiếm muộn cũng như tạo cơ hội cho mỗi gia đình có  
một đứa con thì Pháp luật Việt Nam đã cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Mang thai  
hộ là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con thay cho người khác. Người nhận con là cha mẹ  
của đứa trẻ, chứ không phải người mang thai hộ.  
Theo Khoản 22 – Điều 3 luật HN & GĐ năm 2014 quy định ‚Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là  
việc người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà  
1454  
người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc  
lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào  
tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con‛.  
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một trong những quy định mới được ghi nhận trong luật HN  
& GĐ năm 2014 là một bước đột phá trong công tác lập pháp, mở ra niềm hy vọng mới cho nhiều  
cặp vợ chồng vô sinh và hiếm muộn không thể sinh con[6].  
Mang thai hộ có ý nghĩa trong nghiên cứu, áp dụng thành tựu kỹ thuật khoa học trong y học.  
Mang thai hộ giúp bảo đảm thực hiện chức năng tái sản xuất con người của mỗi gia đình song  
song là việc đảm bảo dân số tăng trong mức ổn định.  
2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN  
ĐẠO  
Theo Khoản 2 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 quy định vợ chồng có quyền nhờ người mang thai  
hộ khi có đủ các điều kiện sau:  
Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con  
ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Theo điều kiện thứ nhất thì mang thai hộ được coi là  
phương pháp cuối cùng để có con khi mà vợ chồng đã áp dụng tất cả các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.  
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như bơm tinh trùng vào tử cung, thụ tinh trong ống nghiệm, phương pháp  
tiêm tinh trùng vào bào tương noãn[2]… Thì phải thử tất cả các phương pháp nếu như tất cả các  
phương pháp không mang lại kết quả thì các cặp vợ chồng mới được dùng đến phương pháp  
mang thai hộ nhưng với điều kiện là phải có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền. Nếu không  
có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền thì vợ chồng vẫn phải sử dụng các phương pháp. Quy  
định này đặt ra nhằm tránh việc nhờ người khác mang thai hộ một cách bừa bãi, hạn chế việc lợi  
dụng vì mục đích thương mại khi người phụ nữ vẫn còn khả năng làm mẹ.  
Vợ chồng đang không có con chung. Vợ chồng không có con chung đồng nghĩa với việc chỉ áp  
dụng đối với cặp vợ, chồng sinh con chung lần đầu tiên. Có nghĩa là việc mang thai hộ sẽ chỉ được  
thực hiện một lần nếu thành công. Trong trường hợp nhờ mang thai hộ mà thai bị hỏng, bị sẩy, đứa  
trẻ sinh ra bị chết… thì sẽ tiếp tục được nhờ mang thai hộ. Trường hợp cặp vợ chồng đã có con  
chung nhưng đã chết và đáp ứng đủ các điều kiện khác theo luật định về quyền nhờ mang thai hộ  
thì vẫn có quyền nhờ mang thai hộ. Đối với những cặp vợ chồng đã có một con mà con mắc bệnh  
down, các bệnh liên quan đến thần kinh, bệnh hiểm nghèo hoặc bị dị tật thì không có quyền nhờ  
mang thai hộ[3].  
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Quy định này nhằm giúp các bên trong quan hệ mang thai  
hộ có thể nắm bắt, hình dung được quá trình mang thai hộ, các quyền nghĩa vụ pháp lý phát sinh  
từ việc mang thai hộ, những vấn đề phát sinh khác như tâm lý của các bên. Để họ có thể chuẩn bị  
tốt nhất cho quyết định của mình trước khi bắt đầu hành trình làm cha mẹ qua phương pháp mang  
thai hộ. Điều kiện này góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người phụ nữ cũng như của trẻ  
em được sinh ra từ việc mang thai hộ. Nghị định 10/2015/NĐ – CP hướng dẫn chi tiết về các nội  
1455  
dung tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý cho người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ. Có thể nói  
hoạt động tư vấn này có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị đầy đủ sức khỏe, tinh thần, nắm rõ  
được quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ mang thai hộ, để quá trình mang thai hộ  
được diễn ra một cách suôn sẻ, thuận lợi, hạn chế được các tình huống xấu nhất xảy ra như sức  
khỏe, tinh thần ảnh hưởng, các bên xảy ra các tranh chấp trước, trong và sau quá trình mang thai  
hộ[7].  
Theo Khoản 3 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 quy định người được nhờ mang thai hộ phải có đủ  
các điều kiện sau đây:  
Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Tại Khoản 7 Điều 2  
Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì ‚Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang  
thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em  
con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng  
cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ‛. Ngoài những người nêu tại Khoản 7 –  
Điều 2 thì các trường hợp khác đều không được mang thai hộ.  
Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần. Mang thai và sinh con là một quá trình đặc  
biệt, việc đã từng sinh con sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lý, tinh thần, cũng như có kinh  
nghiệm, kỹ năng trong việc chăm sóc bản thân và thai nhi nhằm đảm bảo thực hiện việc mang thai  
hộ. Quy định chỉ mang thai hộ một lần nhằm tránh tình trạng lợi dụng để đạt được mục đích thương  
mại.  
Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ.  
Pháp luật lại chưa có quy định thế nào là độ tuổi phù hợp. Có thể suy đoán đó là độ tuổi sinh đẻ nói  
chung theo các nghiên cứu khoa học và quan điểm xã hội. Thông thường độ tuổi sinh đẻ tốt nhất là  
từ 20 tuổi đến 30 tuổi, lúc này cơ thể người phụ nữ đã phát triển đầy đủ về cả tâm sinh lý cho việc  
làm mẹ. Điều kiện có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền không chỉ nhằm đảm bảo cho sức  
khỏe người nhận mang thai hộ mà còn đảm bảo sức khỏe cho đứa trẻ, hạn chế tối đa rủi ro có thể  
xảy ra.  
Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người  
chồng. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đặt ra nguyên tắc xây dựng gia đình tiến bộ, các thành viên  
trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Việc mang thai hộ không chỉ  
làm cho người vợ có nguy cơ với một số biến chứng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tâm lý người  
thân trong gia đình, các mối quan hệ gia đình. Chính vì vậy, vấn đề này cần phải được sự bàn bạc,  
thống nhất, thỏa thuận và đồng ý bằng văn bản của người chồng.  
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Các nội dung y tế cần được tư vấn như các nguy cơ, tai biến  
có thể xảy ra khi mang thai như sẩy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết, khả năng đa thai, em bé  
dị tật phải bỏ thai,… Việc tư vấn này nhằm cung cấp những thông tin về nguy cơ, tai biến ảnh  
hưởng tới sức khỏe mà người nhận mang thai có thể mắc phải.  
1456  
3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN  
MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO  
3.1 Bất cập trong việc quy định điều kiện vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ  
vì mục đích nhân đạo và kiến nghị hoàn thiện  
Điều kiện thứ nhất, theo Điểm a – Khoản 2 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Có xác nhận của  
tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng  
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản‛. Nếu xét về điều kiện này thì sẽ xảy ra ba vấn đề bất cập:  
Vấn đề đầu tiên, khi vợ chồng dùng hết tất cả các phương pháp hỗ trợ sinh sản nhưng vẫn không  
có kết quả thì mới được dùng đến phương pháp mang thai hộ nhưng phải được tổ chức y tế có  
thẩm quyền xác nhận. Thì sẽ dẫn đến việc loại trừ nhiều người vợ vì lý do bệnh lý (bệnh lý âm hộ,  
âm đạo, cổ tử cung; Bệnh lý ống dẫn trứng…) mà bác sĩ khuyến cáo không sử dụng các phương  
pháp hỗ trợ sinh sản thì những người này sẽ bị loại ra khỏi danh sách những người đủ điều kiện  
mang thai hộ.  
Vấn đề thứ hai, có nhiều người vợ mắc những bệnh lý sinh sản dẫn đến việc không thể mang  
thai. Thì chỉ cần làm một số xét nghiệm, kiểm tra y khoa theo lời chỉ dẫn của bác sĩ và được cơ sở  
y tế có thẩm quyền kết luận không thể có khả năng mang thai cho dù chưa thực hiện một kỹ  
thuật hỗ trợ sinh sản một lần nào. Thì hệ lụy của việc này rất là lớn đó là trên thực tế nhiều cặp vợ  
chồng không thực sự gặp vấn đề vô sinh và hiếm muộn[8]. Ở Điểm đ – Khoản 1 – Điều 14 Nghị  
định 10/2015/NĐ – CP Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện  
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì ‚Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được  
thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có  
nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không  
thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản‛ trong Nghị định  
10/2015/NĐ – CP đã nêu rất rõ là chỉ cấp giấy xác nhận khi thuộc vào Điều 14 như trên nhưng lại  
cố ý xin được giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền để nhờ người mang thai hộ, từ đó  
dẫn đến việc cung cấp giấy xác nhận giả trên thị trường ngày càng nhiều và tràn làn. Ngoài ra,  
các giấy xác nhận đó không rõ nguồn gốc từ đâu ra. Dẫn đến hệ lụy lớn nhất đó là làm cho mọi  
người hiểu sai về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.  
Vấn đề thứ ba, Luật pháp chấp nhận bị dị dạng tử cung bẩm sinh hoặc đã từng phẫu thuật cắt bỏ  
tử cung có thể tìm đến người mang thai hộ [5]. Mà phôi phải tạo ra từ noãn và tinh trùng của hai vợ  
chồng. Nếu trong trường hợp trứng bị trục trặc không có con được muốn nhờ mang thai hộ trong  
trường hợp này có được không. Tại chưa thấy luật quy định về điều này[9].  
Vấn đề thứ tư, sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có tỷ lệ rủi ro của các phương pháp thì nhiều  
hơn tỷ lệ thành công. Có nhiều cặp vợ chồng thực hiện nhiều lần nhưng vẫn không thành công,  
nhưng không đồng nghĩa với việc người mẹ mất đi khả năng sinh con. Nhưng nếu như người vợ  
chưa mất đi khả năng sinh con mà phải đợi để thực hiện các phương pháp nêu trên thì đến thời  
điểm người mẹ có thể thụ thai được thì có khi tuổi và sức khỏe đã cao có sinh con ra cũng không  
thể minh mẫn có thể còn dính dị tật. Nên họ nên suy nghĩ đến việc áp dụng mang thai hộ.  
1457  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ nhất, nên mở rộng những trường hợp có thể sử dụng phương  
pháp mang thai hộ vì điều này giúp ích rất nhiều cho các cặp vợ chồng nói riêng và đất nước nói  
chung. Giảm được gánh nặng về con cái, cân bằng được tỷ lệ nam – nữ trong xã hội. Ngoài ra,  
pháp luật cũng nên cho những người mẹ có khả năng sinh con nhưng sử dụng kỹ thuật sinh sản  
không mang lại kết quả sử dụng phương pháp mang thai hộ. Bên cạnh đó, pháp luật cũng nên  
thêm trường hợp các cặp vợ chồng đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản số lần là  
bao nhiêu mà không có con cũng có thể áp dụng biện pháp mang thai hộ.  
Điều kiện thứ hai, theo Điểm b – Khoản 2 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Vợ chồng đang  
không có con chung‛. Nếu xét về điều kiện này thì sẽ xảy ra ba vấn đề bất cập:  
Vấn đề đầu tiên, vợ chồng không có con chung. Đến thời điểm vợ chồng nhờ người mang thai hộ  
họ chưa có con chung nhưng nếu như vợ hoặc chồng trước đó đã từng đổ vỡ hôn nhân và hiện tại  
vợ hoặc chồng có con riêng thì có được coi là đủ điều kiện nhờ mang thai hộ.  
Vấn đề thứ hai, vợ chồng đã có con chung nhưng do biến cố con của họ đã mất trong biến cố  
đó hoặc vợ chồng có con chung nhưng con bị dị tật bẩm sinh nên vợ chồng muốn có thêm một  
đứa con nhưng một trong hai người bị vô sinh không đủ điều kiện sinh con thì có được coi là đủ  
điều kiện nhờ mang thai hộ. Nếu xét về mặt nhân văn thì việc họ nhờ mang thai hộ là một điều  
chính đáng.  
Vấn đề thứ ba, nếu vợ chồng sinh con đều là nữ hoặc đều là nam. Nhưng gia đình vẫn muốn sinh  
thêm nhưng do một số lý do như người vợ lớn tuổi; người vợ hoặc chồng vô sinh; vợ hoặc chồng  
mắc bệnh lý không thể dùng phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Ngoài ra, theo văn hóa Phương  
Đông song song với đó là việc mất cân bằng giới tính tại Việt Nam (tỷ lệ tự nhiên về giới tính khi sinh  
của con người, theo Tổ chức Y tế Thế giới, là 105 nam/100 nữ, nếu số bé trai quá ngưỡng 105, sẽ có  
các hệ lụy xã hội về lâu dài) thì có được coi là đủ điều kiện nhờ mang thai hộ[4].  
Ngoài ra, theo Điểm d – Khoản 1 – Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ – CP Quy định về sinh con bằng  
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì ‚Bản xác  
nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi thường trú của  
vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận‛. Đang có mâu thuẫn giữa hai thuật ngữ đó là ‚chưa có con  
chung‛ và ‚đang không có con chung‛ sự mâu thuẫn này làm mất đi tính thống nhất trong hệ thống  
văn bản quy phạm pháp luật.  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ hai, pháp luật nên nêu ra các trường hợp thế nào là con chung,  
các trường hợp ngoại lệ qua đó thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với các trường hợp mà vợ  
chồng có con mắc vào các bệnh hiểm nghèo. Hoặc các trường hợp vấn đề nằm ở vợ hoặc chồng  
thì cần quy định cụ thể các trường hợp này có được nhờ người mang thai hộ hay không. Ngoài ra,  
cần thống nhất các thuật ngữ để hệ thống văn bản pháp luật có sự thống nhất không gây ra khó  
hiểu, mâu thuẫn khi đọc.  
Điều kiện thứ ba, theo Điểm c – Khoản 2 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Đã được tư vấn về y  
tế, pháp lý, tâm lý‛. Nếu xét về điều kiện này thì sẽ xảy ra hai vấn đề bất cập:  
1458  
Vấn đề đầu tiên, cơ sở tư vấn sẽ quá tải và chỉ có các tổ chức này tư vấn thì mới được chấp nhận sử  
dụng phương pháp mang thai hộ. Việc chờ đợi các cơ sở tư vấn sẽ kéo dài thời gian và làm gánh  
nặng cho các cơ sở.  
Vấn đề thứ hai, các cơ sở tư vấn chuyên môn về nghiệp vụ chưa cao, kiến thức chuyên môn còn  
hạn chế chưa thực sự là sâu rộng, đạo đức nghề nghiệp còn kém, còn đặt mục đích thương mại  
cho cơ sở tư vấn lên hàng đầu, đặc biệt hơn hết đó là bằng cấp chuyên môn của từng tư vấn viên  
còn chưa đầy đủ, có người có người không hoặc thiếu các giấy tờ nhưng vẫn được thông qua để  
thực hiện hoạt động tư vấn.  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ ba, pháp luật nên quy định rõ các trường hợp cần cơ sở y tế tư  
vấn, giảm sự quá tải của các cơ sở. Rút ngắn thời gian cũng như tạo tâm lý thoải mái cho các cặp  
vợ chồng khi sử dụng phương pháp. Nên mở rộng phạm vi người có thể mang thai hộ. Ưu điểm  
của việc mở rộng phạm vi là giúp ích rất nhiều cho vợ chồng khi họ không có anh em ruột thịt, họ  
có thể nhờ bạn thân hoặc những người họ cho là tin tưởng để giúp đỡ về vấn đề này. Nhược điểm  
của việc mở rộng phạm vi là người mang thai hộ sẽ không thành thật về số lần mình mang thai hộ  
vì không có một cơ sở dữ liệu nào lưu trữ người đó đã mang thai bao nhiêu lần song song với đó sẽ  
biến mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thành mang thai hộ vì mục đích thương mại vì xã hội ngày  
càng phát triển kéo theo những hệ lụy là khỏi thải, bia rượu, thức ăn bẩn đưa vào người càng ngày  
càng nhiều đó chính là những nguyên do một phần nào đó gây ra vô sinh ở nam và nữ. Cuối cùng,  
để hoạt động tư vấn có hiệu quả tránh các trường hợp tư vấn sai lệch và vì mục đích lợi nhuận, cần  
thiết phải chuyên nghiệp hóa hoạt động tư vấn thông qua việc nâng cao bồi dưỡng kiến thức  
chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và cần thiết mỗi lĩnh vực tư vấn thì tư vấn viên cần có những  
chứng chỉ nghề nghiệp do các cơ quan chuyên môn đánh giá cung cấp.  
3.2 Bất cập trong trong việc quy định điều kiện người được nhờ mang thai hộ vì mục  
đích nhân đạo và kiến nghị hoàn thiện  
Điều kiện thứ nhất, theo Điểm a – Khoản 3 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Là người thân  
thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ‛.  
Bất cập là người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng. Quy định này sẽ làm xảy ra rất  
nhiều trường hợp trái chiều. Tại Khoản 7 – Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì ‚Người thân thích  
cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ,  
cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của  
họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác  
cha với họ‛. Nếu bên vợ hoặc bên chồng không có anh em thân thích cùng hàng thì việc áp dụng  
theo Khoản 7 – Điều 2 là cả một vấn đề nan giải. Ngoài ra, Việt Nam mình là nước phương đông  
nên việc giữ thuần phong mỹ tục là điều chắc chắn phải giữ nên việc này sẽ làm cho các cặp vợ  
chồng cảm thấy e dè nhưng vì muốn có con cộng thêm việc ở Việt Nam vẫn tồn tại việc ‚đồng tiền  
đi trước là đồng tiền khôn‛ nên việc lách luật là có thể xảy ra nên việc đẩy họ đến chỗ để vi phạm  
pháp luật vì không tìm được người thân thích cùng hàng là rất dễ. Ngoài ra, việc họ khó có con là  
một việc đa số không cặp vợ chồng nào muốn nhiều người biết. Nên việc mở rộng phạm vi người  
được mang thai hộ là rất cần thiết.  
1459  
Ví dụ: Một cặp vợ chồng tại Thành phố Hồ Chí Minh lấy nhau đã được 12 năm nhưng họ vẫn  
không có con. Họ đã nhờ người nhà mang thai nhưng không ai chịu vì nhiều lý do. Cặp vợ chồng  
này đã nhờ bạn thân thiết của mình nhiều năm và đồng ý giúp mang thai hộ[12]. Trường hợp này thể  
hiện sự bất lực của cặp vợ chồng muốn có con nhưng lại phải thực hiện đúng quy định của Pháp  
luật về điều kiện nhờ người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Cặp vợ chồng này chỉ còn cách là  
ra sức thuyết phục người thân, họ hàng trong dòng họ của hai bên vợ hoặc chồng để được trợ giúp  
về vấn đề này đồng thời để được pháp luật bảo vệ, tránh những rắc rối không đáng có xảy ra.  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ nhất, Việt Nam là một nước phương đông nên việc giữ thuần  
phong mỹ tục là đương nhiên cộng thêm việc phải có con để nối dõi. Tuy nhiên, với xã hội phát triển  
bây giờ kéo theo rất nhiều hệ lụy. Nên việc có con cũng khó khăn hơn rất nhiều. Nhưng với ý nghĩ là  
phải giữ thuần phong mỹ tục nên có nhiều gia đình đã rất đau đầu về việc có con. Vì vậy, khi thấy  
một người mang thai hộ sẽ có rất nhiều lời ra tiếng vào, khi đó lại là anh em, họ hàng. Do vậy, cần  
phân tích và tuyên truyền nhiều về phương pháp này giúp người dân hiểu đúng, hiểu rõ được bản  
chất của mang thai hộ.  
Điều kiện thứ hai, theo Điểm b – Khoản 3 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Đã từng sinh con  
và chỉ được mang thai hộ một lần‛.  
Quy định chỉ được mang thai hộ một lần, người mang thai cho dù có giấy chứng minh nhưng chỉ là  
tờ cam kết của người đó đâu có xác thực hay nói lên được điều gì thông qua tờ giấy đó hoặc người  
mang thai hộ chuyển chỗ ở đến chỗ ở mới thì địa phương ở đó cũng đâu có biết là họ đã mang  
thai mấy lần vì đâu có hệ thống lưu trữ vấn đề này và trong luật cũng không quy định cụ thể. Các cơ  
quan chức năng sẽ khó kiểm soát vấn đề này. Ngoài những bất cập đã nêu đối với điều kiện đã  
từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần thì hiện nay có nhiều đối tượng lợi dụng lòng tin  
cũng như mong muốn có một đứa con của các cặp vợ chồng để biến việc mang thai hộ từ mục  
đích nhân đạo thành dịch vụ để kiếm tiền (hay còn gọi là mang thai hộ chui). Vào năm 2019, tại  
Thành phố Hồ Chí Minh đã bùng nổ dịch vụ mang thai hộ trên mạng xã hội với tên gọi là ‚Hiến  
trứng và mang thai hộ‛ với lời quảng cáo cần người mang thai hộ với giá 280 triệu đồng các đối  
tượng đã đánh vào được tâm lý cần tiền và cần con của các chị em phụ nữ. Việc mang thai hộ chui  
gây ra rất nhiều rủi ro cho cả hai phía[11].  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ hai, cần đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu một cách hoàn thiện  
về người đã từng mang thai hộ, các điều kiện để mang thai hộ để người dân có thể tra cứu một  
cách nhanh nhất song song với đó là không cần phải lo lắng về người mang thai hộ. Vì làm như  
vậy sẽ dễ tra cứu dù người này có chuyển nơi cư trú mới giảm thiểu tối đa những trường hợp gian  
lận, mang thai để nhằm mục đích thu lợi cho bản thân.  
Điều kiện thứ ba, theo Điểm d – Khoản 3 – Điều 95 luật HN & GĐ năm 2014 thì ‚Trường hợp người  
phụ nữ mang thai hộ muốn mang thai thì phải cần có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng‛.  
Trên thực tế trình độ dân trí của người dân còn có hạn nên nếu người chồng của người mang thai  
hộ không hiểu rõ mục đích nhân đạo cũng như bản chất của việc mang thai hộ thì rất dễ xảy ra bất  
1460  
đồng, mâu thuẫn hoặc gây cản trở trong quá trình mang thai làm ảnh hưởng đến người mang thai  
đặc biệt là thai nhi. Vấn đề này còn gây ra rất nhiều bất cập.  
Ngoài ra, có nhiều cặp vợ chồng chung sống với nhau nhưng không có hôn thú. Nếu xét về mặt  
pháp luật thì không có giấy hôn thú thì họ không phải là vợ chồng đồng nghĩa với việc người vợ  
không cần có sự đồng ý của người chồng nhưng làm như vậy có phù hợp với điều kiện này. Nếu  
anh chồng có phản ứng thì sẽ giải quyết như thế nào.  
Nếu hai vợ chồng đang trong quá trình ly thân hoặc trong quá trình giải quyết ly hôn nhưng người  
phụ nữ lại muốn mang thai hộ giúp người thân trong gia đình thì trường hợp này có cần sự đồng ý  
của người chồng.  
Ví dụ: Trường hợp của chị Hà Thị Dương năm nay 27 tuổi sinh sống tại Bắc Giang thì theo chị trình  
bày là hiện tại chị đã có một con gái 8 tuổi. Thực tế chị và chồng đã sống ly thân ngay từ khi con gái  
chị được 2 tuổi, nhưng vì lý do riêng nên không thể ly hôn. Hiện chồng chị đang thụ án 20 năm tù vì  
ma túy. Biết hoàn cảnh của em như vậy, mới đây vợ chồng chị gái hiếm muộn của chị Dương đã  
đặt vấn đề nhờ chị Dương mang thai hộ giúp vợ chồng chị gái. Chị rất muốn giúp chị gái vì thấy chị  
gái không có được một đứa con để chăm sóc, thương yêu nhưng lại sợ chồng chị không đồng ý[10].  
Trường hợp của chị Hà Thị Dương muốn mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì bắt buộc phải có sự  
đồng ý của chồng thì mới đủ điều kiện pháp luật cho phép. Như vậy, dù chị có muốn hay không thì  
chị vẫn phải bắt buộc vào trại giam gặp chồng và hỏi ý kiến người chồng, thuyết phục chồng cho  
chị mang thai hộ. Nếu làm theo đúng như pháp luật đã đưa ra thì sẽ làm cho các bên khó xử, cũng  
như hy vọng có con của vợ chồng chị gái sẽ rất mong manh. Vì như đã nêu ở trên thì thực tế trình  
độ dân trí có hạn nên nếu người chồng của người mang thai hộ không hiểu rõ mục đích nhân đạo  
cũng như bản chất của việc mang thai hộ thì rất dễ xảy ra bất đồng, mâu thuẫn hoặc gây cản trở  
trong quá trình mang thai làm ảnh hưởng đến người mang thai đặc biệt là thai nhi.  
Cuối cùng là nếu người chồng đi làm xa 2-3 năm mới về một lần thì người vợ muốn mang thai hộ  
vẫn phải chờ người chồng về đồng ý thì mới được mang thai hộ hay sao. Trong điều kiện tên có ghi  
rất rõ là cần sự đồng ý bằng văn bản của người chồng vậy có cần mang ra cơ quan nhà nước để  
xác thực lại hay không vì vấn đề này sẽ ảnh hưởng rất lớn trong tương lai người vợ mang thai hộ.  
Kiến nghị hoàn thiện điều kiện thứ ba, cần quy định rõ ràng các trường hợp không cần sự đồng ý  
của người chồng mà người vợ vẫn có thể mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, việc quy định rõ như  
vậy tạo rất nhiều thuận lợi cho nhiều mặt. Thứ nhất, cho các cặp vợ chồng không có con có một  
đứa con đúng nghĩa; Thứ hai, tạo một lối suy nghĩ rộng mở cho người mang thai hộ không cần phải  
đắn đo suy nghĩ nhiều khi họ muốn làm một việc ý nghĩa cho người thân của mình.  
4 KẾT LUẬN  
Việc mang thai hộ được quy định trong luật HN & GĐ năm 2014 là một quy định mà rất nhiều người  
mong chờ nhất là các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. Quy định này nhận lại phản hồi rất là tích  
cực từ xã hội mở ra một trang mới tạo ra nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng mong muốn có con.  
Tuy nhiên, vì còn quá mới mẻ nên điều kiện mang thai hộ không tránh được những lỗ hỏng so với  
1461  
thực tiễn. Vì vậy, chúng ta hãy hy vọng trong thời gian tới pháp luật sẽ tiếp tục hoàn thiện cũng như  
các cơ quan chức năng sẽ đưa ra các biện pháp sát với thực tiễn nhất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Bài viết: ‚Tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam đang ở mức cảnh báo‛, năm 2018, xem tại:  
20180405120937326.htm, truy cập ngày 20/06/2020.  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
[6]  
[7]  
[8]  
Các phương pháp hỗ trợ sinh sản phổ biến hiện nay – Medlatec, năm 2019, xem tại:  
n12163, truy cập ngày 12/06/2020.  
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo – Luật NQH Việt Nam, năm 2019, xem tại:  
12/06/2020.  
Đức Trân, Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về mất cân bằng giới tính, năm 2018, xem tại:  
tintuc440670, truy cập ngày 18/06/2020.  
Mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam – tạp chí tòa án nhân dân (điện tử), năm  
phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 15/06/2020.  
Mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam – tạp chí tòa án nhân dân (điện tử), năm  
phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 15/06/2020.  
Mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam – tạp chí tòa án nhân dân (điện tử), năm  
phap-luat-viet-nam’ truy cập ngày 15/06/2020.  
Mang thai hộ: đầy tréo ngoe, khó xử, năm 2018, xem tại: https://vietnamnet.vn/vn/thoi-  
JFIUc, truy cập ngày 20/06/2020.  
[9]  
Mang thai hộ từ mục đích nhân đạo thành dịch vụ kiếm tiền, năm 2018, xem tại:  
UmgImvDjnVrgcWl21gz0T61SlZofj-_Wr2A_QT_c, truy cập ngày 18/06/2020.  
[10] Những điều cần biết về mang thai hộ, năm 2018, xem tại:  
cập ngày 20/06/2020.  
1462  
[11] Quỳnh Lưu, Mang thai hộ cần sự đồng ý cảu chồng, năm 2018, xem tại:  
431789.html, truy cập ngày 20/06/2020.  
[12] Tư vấn bởi Luật sư Nguyễn Thành Công đoàn Luật sư TP.HCM, Bạn thân cũng không được  
mang thai hộ, năm 2015, xem tại: https://vietnamnet.vn/vn/ban-doc/ba-n-than-cu-ng-  
CD3ctpRvk_-VMeAHr7S0ZiHFckgY, truy cập ngày 20/06/2020.  
1463  
pdf 10 trang Thùy Anh 9280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_kien_mang_thai_ho_vi_muc_dich_nhan_dao_theo_quy_dinh_cu.pdf