Tiếp tục hoàn thiện luật kinh doanh bảo hiểm
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
TIẾP TỤC HOÀN THIỆN LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
Phan Phương Nam*
*TS. Phó trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019
đã lần lượt được Quốc hội thông qua và có những tác động tích cực vào
cuộc sống, góp phần quan trọng cho quá trình phát triển của hoạt động
kinh doanh bảo hiểm cũng như bảo vệ hợp lý quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể tham gia vào hoạt động này. Tuy nhiên, một số quy định
của Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH) vẫn còn bất cập cần được
tiếp tục hoàn thiện.
Từ khóa: Hợp đồng bảo hiểm,
quyền lợi được bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm, chuyển giao
quyền yêu cầu bồi hoàn, Luật
Kinh doanh bảo hiểm.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 25/01/2021
: 03/02/2021
: 04/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
The Law on Insurance Business of 2000, the Law on Amendments of
a number of articles of the Law on Insurance Business of 2010 and the
Law on Amendments of a number of articles of the Law on Insurance
Business of 2019 and Law on Intellectual Property approved by the
National Assembly in turn has provided positive effects on life, making
an important contribution to the development of insurance business as
well as reasonable protection of rights and legitimate interests of entities.
However, a number of provisions under the Law on Insurance Business
are still inadequate and need to be further improved.
Keywords: Insurance contracts,
insured
interests,
insurance
enterprises, transfer of the right to
claim, Law on Insurance Business.
Article History:
Received
Edited
: 25 Jan. 2021
: 03 Dec. 2020
: 04 Feb. 2021
Approved
Bảo hiểm là một nội dung quan trọng và
cần thiết trong cuộc sống. Bởi lẽ, bảo hiểm
giúp cho con người có một cơ chế nhằm
chuyển giao rủi ro, tìm kiếm một khoản tài
chính bù đắp tổn thất khi gặp rủi ro trong cuộc
sống. Tuy nhiên, cùng với sự vận động của
xã hội, các nội dung của hoạt động bảo hiểm
cũng vận động và phát triển. Theo đó, các quy
định của pháp luật về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm cũng cần phải thay đổi, điều chỉnh
cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Luật
Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH
năm 2000), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ năm
2019 đã lần lượt được Quốc hội thông qua và
có những tác động tích cực vào cuộc sống,
góp phần quan trọng cho quá trình phát triển
của hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng như
bảo vệ hợp lý quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể tham gia vào hoạt động này. Tuy
nhiên, một số quy định của Luật Kinh doanh
bảo hiểm vẫn còn hạn chế, bất cập sau đây:
48
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Thứ nhất, một số quy định về giải
thích từ ngữ trong Luật KDBH còn chưa
chính xác.
không nằm trong bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm sức khoẻ.
Hai là, quy định về quyền lợi có thể
được bảo hiểm. Khoản 9 Điều 3 Luật KDBH
quy định: “Quyền lợi có thể được bảo hiểm
là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi
dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được
bảo hiểm”. Theo quy định này, trong bảo
hiểm nhân thọ, quyền lợi được bảo hiểm được
xác định là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp
dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Tuy
nhiên, hiện nay đang có rất nhiều các quy tắc
bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm của các
sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận cho
phép tổ chức (người sử dụng lao động) mua
bảo hiểm nhân thọ cho người lao động như là
một biện pháp, chính sách nhằm thu hút, giữ
chân người lao động trong các doanh nghiệp2.
Căn cứ quy định của Luật KDBH, các quy
tác, điều khoản bảo hiểm trên là không phù
hợp với tinh thần của Luật KDBH. Bởi lẽ,
khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật KDBH năm
2000 đều xác định, người mua bảo hiểm chỉ
mua bảo hiểm cho người khác khi có quyền
và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong
khi đó, mối quan hệ giữa tổ chức (người sử
dụng lao động) và người lao động không hề
có mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo
quy định của Luật Hôn nhân gia đình hoặc Bộ
luật Dân sự, mà đó là mối quan hệ lao động
chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động.
Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định số
73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh
bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010, đối
Một là, quy định về bảo hiểm phi nhân
thọ. Khoản 18 Điều 3 Luật KDBH quy định:
“Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ
bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các
nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo
hiểm nhân thọ”. Quy định này là chính xác
trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật KDBH năm 2010. Theo quy
định của Luật KDBH, bảo hiểm chia thành
hai loại là bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.
Tuy nhiên, sau khi Luật KDBH năm 2000 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010,
pháp luật kinh doanh bảo hiểm đã xác định có
ba loại hình bảo hiểm là nhân thọ, phi nhân
thọ và bảo hiểm sức khỏe1. Do bảo hiểm sức
khỏe có những đặc thù riêng nhất định nên
pháp luật đã tách và điều chỉnh bằng các quy
định riêng. Do vậy, quy định về “bảo hiểm
phi nhân thọ” trong Luật KDBH là đã trở nên
lạc hậu, không chính xác, không phù hợp với
cách tiếp cận hiện nay. Vì vậy, cần xem xét và
điều chỉnh lại quy định về bảo hiểm phi nhân
thọ cho phù hợp với các quy định tương ứng
khác để đảm bảo tính chính xác của pháp luật.
Tác giả cho rằng, quy định về bảo hiểm
phi nhân thọ cần được sửa đổi như sau: “Bảo
hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm
tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ
bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân
thọ, bảo hiểm sức khoẻ”. Quy định này đã chỉ
ra có 3 loại bảo hiểm: bảo hiểm nhân thọ, bảo
hiểm phi nhân thọ và sức khoẻ. Theo đó, bảo
hiểm phi nhân thọ là các sản phẩm bảo hiểm
1. Khoản 12, 18 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010; khoản 1, 2, 3 Điều 10 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01
tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010.
2. Khánh Ngọc, “Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Tuyệt chiêu giữ chân nhân tài”, https://baodautu.vn/bao-
hiem-nhan-tho-cho-nhan-vien-tuyet-chieu-giu-chan-nhan-tai-d87110.html, truy cập ngày 20/02/2019; P.V,
“Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Lời giải cho bài toán giữ chân nhân tài”, https://baonghean.vn/bao-hiem-
nhan-tho-cho-nhan-vien-loi-giai-cho-bai-toan-giu-chan-nhan-tai-218504.html, truy cập ngày 19/02/2019;
Phan Anh, “Trả ơn nhân viên bằng bảo hiểm nhân thọ”, https://vnexpress.net/kinh-doanh/tra-on-nhan-vien-
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
49
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm
nhân thọ… phải được Bộ Tài chính phê chuẩn
trước khi triển khai3. Khoản 3 Điều 3 Thông
tư số 25/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính ban
hành ngày 16/03/2018 quy định : “2.11. Phần
chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để:
Trích nộp … bảo hiểm nhân thọ cho người
lao động” là khoản chi không được vào khấu
trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.... Khoản chi
trích... mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao
động được tính vào chi phí được trừ ngoài
việc không vượt mức quy định tại điểm này
còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và
mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp
đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể;
Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty,
Tập đoàn…”. Như vậy, khoản chi này được
pháp luật thừa nhận là hợp pháp nên hoạt
động mua bảo hiểm nhân thọ giữa tổ chức
cho người lao động là hợp pháp. Đây có thể
xem là biện pháp áp dụng nhằm hỗ trợ các
doanh nghiệp trong việc giữ chân người lao
động, thu hút nhân sự tốt cho sự phát triển của
doanh nghiệp.
Có thể nói rằng, nội dung trên đây không
hề mới mẻ mà nó đã được xây dựng và khẳng
định trong học thuyết quyền lợi được bảo
hiểm4. Tuy nhiên, đặt trong tương quan với
quy định của Luật KDBH, nội dung này lại
chưa phù hợp. Điều đó cho thấy, chính vì sự
chưa hợp lý, thiếu chính xác trong quy định
về quyền lợi được bảo hiểm của Luật KDBH
nên dẫn đến trường hợp quy định này chưa
phản ảnh đúng thực tế đời sống xã hội. Vì
vậy, tác giả cho rằng, cần sửa đổi quy định
của khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật KDBH
theo hướng mở rộng nội hàm của phần quyền
lợi được bảo hiểm. Theo đó, trong bảo hiểm
nhân thọ, quyền lợi được bảo hiểm không chỉ
là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng
đối với đối tượng bảo hiểm mà còn có thể bao
hàm cả các lợi ích kinh tế (nếu có).
Thứ hai, quy định về loại hình bảo
hiểm bắt buộc chưa hợp lý. Về lý luận, bảo
hiểm bắt buộc được áp dụng đối với một số
loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích
công cộng và an toàn xã hội5. Điều này được
thể hiện rất rõ tại Điều 8 Luật KDBH: bảo
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận
chuyển hàng không đối với hành khách; bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt
động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm; bảo hiểm cháy, nổ. Bên cạnh đó, Luật
KDBH còn dự liệu là trong trường hợp cần
thiết thì “Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm
bắt buộc khác”6. Tuy nhiên, quy định này
chưa bao quát hết các trường hợp phải tham
gia bảo hiểm bắt buộc, cụ thể:
Một là, quy định hiện hành chưa bao
quát hết các trường hợp bảo hiểm bắt buột
trong chính các hoạt động được quy định cụ
thể trong Luật KDBH. Điểm b khoản 3 Điều
93a Luật KDBH được bổ sung theo quy định
tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2019 quy định “Cá nhân
cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải mua
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc
cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức
cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phù hợp
với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm”.
Quy định này xác định nghĩa vụ của cá nhân
khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm này theo quy
3. Khoản 3 Điều 39 Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010.
4. Peter N.Swisher, The Insurable Interest Requirement For Life Insurance: A Critical Reassessment, Drake
Law Review, số 477 (2005), p. 483, 514.
5. Khoản 1 Điều 8 Luật Kinh doanh bảo hiểm.
6. Khoản 3 Điều 8 Luật Kinh doanh bảo hiểm.
50
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
định của pháp luật. Do vậy, cần phải bổ sung
loại hình bảo hiểm bắt buộc này vào khoản 2
Điều 8 Luật KDBH khi xác định về các loại
hình bảo hiểm bắt buộc.
Hai là, quy định hiện hành chưa bao
quát hết các trường hợp bảo hiểm bắt buộc
khác như: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
của công chứng viên7, bảo hiểm bắt buộc
trong hoạt động đầu tư xây dựng8.
đổi theo hướng DNBH vẫn chi trả tiền bảo
hiểm khi có đầy đủ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm.
Trong trường hợp người được bảo hiểm từ
chối chuyển quyền cho DNBH, không bảo
lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba
bồi thường thì DNBH mới có quyền yêu cầu
người được bảo hiểm hoàn trả lại một hoặc
toàn bộ số tiền bồi thường tuỳ theo mức độ lỗi
của người được bảo hiểm.
Để khắc phục bất cập nêu trên, tác giả
cho rằng, cần sửa đổi Điều 8 Luật KDBH theo
hướng bổ sung các trường hợp phải tham gia
bảo hiểm bắt buộc hiện có và các trường hợp
phát sinh mới đã được liệt kê ở trên.
Thứ tư, quy định về chuyển nhượng
hợp đồng bảo hiểm còn bất cập. Theo quy
định của Điều 26 Luật KDBH, “việc chuyển
nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực
trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông
báo bằng văn bản cho DNBH về việc chuyển
nhượng và DNBH có văn bản chấp thuận việc
chuyển nhượng đó” (Luật KDBH không trao
cho Chính Phủ quy định chi tiết điều này).
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 10 Nghị định số
03/2021/NĐ-CP quy định về bảo hiểm bắt
buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
quy định : “Trong thời hạn còn hiệu lực ghi
trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự
chuyển quyền sở hữu xe cơ giới thì mọi quyền
lợi bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới cũ vẫn còn hiệu lực đối với
chủ xe cơ giới mới”. Điều này đã cho phép,
trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo
hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới cũ sang
chủ xe cơ giới mới chỉ cần thực hiện theo hình
thức chuyển giao Giấy chứng nhận bảo hiểm
mà không cần phải thực hiện các thủ tục như
quy định của Điều 26 Luật KDBH. Như vậy,
mặc dù quy định của Nghị định số 03/2021/
NĐ-CP là vượt thẩm quyền được Luật KDBH
giao nhưng phù hợp với thực tế, tạo thuận lợi
cho chủ sở hữu phương tiện và bảo vệ quyền
lợi của bên thứ ba. Do đó, để đảm bảo tính
thống nhất của hệ thống pháp luật, tác giả cho
rằng cần sửa đổi Điều 26 Luật KDBH theo
hướng giao cho Chính phủ quy định chi tiết
Thứ ba, bất cập trong các quy định về
chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn. Theo
quy định của khoản 1 Điều 49 Luật KDBH,
doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đã bồi
thường cho người được bảo hiểm, sau đó
được quyền yêu cầu người được bảo hiểm
chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn. Để bảo vệ
quyền lợi cho DNBH, trong trường hợp
người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền
cho DNBH, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền
yêu cầu người thứ ba bồi thường, khoản 2
Điều 49 Luật KDBH cho phép DNBH, tùy
theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm, có
quyền khấu trừ số tiền bồi thường. Tuy nhiên,
quy định này chỉ đúng khi DNBH biết trước
và có những bằng chứng chứng minh rằng,
người được bảo hiểm không bảo lưu hoặc từ
bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường.
Trong trường hợp người được bảo hiểm từ
chối chuyển quyền cho DNBH, theo quy định
của khoản 2 Điều 49 Luật KDBH, DNBH
không thể áp dụng được. Bởi lẽ, về nguyên
tắc, DNBH chỉ có quyền yêu cầu người được
bảo hiểm chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn
bên thứ ba gây thiệt hại khi và chỉ khi DNBH
đã chi trả tiền bồi thường bảo hiểm cho người
được bảo hiểm. Vì vậy, để bảo đảm tính khả
thi của quy định nêu trên, tác giả cho rằng,
khoản 2 Điều 49 Luật KDBH cần được sửa
điều luật này
7. Theo khoản 1 Điều 37 Luật Công chứng năm 2014.
8. Nghị định số 119/2015/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
51
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp tục hoàn thiện luật kinh doanh bảo hiểm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tiep_tuc_hoan_thien_luat_kinh_doanh_bao_hiem.pdf

