Bài giảng Pháp luật đại cương - Bài 7, Phần 4: Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG KINH DOANH
GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP
KINH DOANH
I. Khái niệm chung về giải quyết tranh chấp
trong hoạt động kinh doanh:
1. Định nghĩa:
Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh là những
mâ u thuẫn phá t sinh giữa cá c chủ thể kinh doanh do
việc khô ng thực hiện hoặc thực hiện khô ng đúng
nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh
➔ Đặc trưng của tranh chấp trong kinh doanh là gắn liền với
hoạt động kinh doanh của cá c chủ thể kinh doanh, đều phản
á nh những xung đột về lợi í ch kinh tế giữa cá c bên tham gia
trong quan hệ kinh doanh.
2. Đặc điểm
Tranh chấp kinh doanh, thương mại có một số
dấu hiện đặc trưng sau:
+ Thứ nhất, tranh chấp về kinh doanh,
thương mại nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh
doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh.
+ Thứ hai, giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại là vấn đề do các bên tranh chấp
tự định đoạt.
+ Thứ ba, các bên tranh chấp thường là chủ
thể kinh doanh, có tư cách thương nhân hoặc tư
cách nhà kinh doanh. (hoạt động TM một cách độc
lập, thường xuyên, phải đăng ký kinh doanh).
+ Thứ tư, tranh chấp kinh doanh, thương mại
là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và
thường có giá trị lớn.
-> Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại là việc các bên tranh chấp thông qua hình thức,
thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại
bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích
kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của mình.
II. Các hình thức giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh có thể được hiểu là
cá ch thức, phương phá p hay cá c hoạt động để điều chỉnh cá c
bất đồng, cá c xung đột nhằm khắc phục và loại trừ cá c tranh
chấp đã phá t sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi í ch hợp phá p
của cá c chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội.
1.Thương lượng:
Là hình thức các bên tranh chấp cùng nhau
bàn bạc và đi đến thỏa thuận một biện pháp giải
quyết tranh chấp mà không cần đến sự tác động
hay giúp đỡ của người thứ ba.
Nếu các bên đạt được thỏa thuận, thỏa thuận
này được xem như một hợp đồng, là sự thống nhất
ý chí của các bên, các bên có nghĩa vụ phải thực
hiện thỏa thuận đó.
Thương lượng là phương thức phổ biến thích
hợp cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại.
Phương thức này từ lâu đã được giới thương
nhân ưa chuộng, vì nó đơn giản lại không bị ràng
buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém
hơn và nói chung không làm phương hại đến quan
hệ hợp tác vốn có giữa các bên trong kinh doanh
cũng như giữ được các bí mật kinh doanh.
Bản chất của thương lượng được thể hiện qua
các đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, các bên tự giải quyết gặp nhau
bàn bạc, thỏa thuận… mà không cần thông qua bên
thức ba trợ giúp.
- Thứ hai, quá trình thương lượng không chịu
sự ràng buộc bởi các quy định pháp luật.
- Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng
hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên
tranh chấp mà không có cơ chế pháp lý bảo đảm.
Ưu điểm:
- Sự thuận tiện, nhanh chóng, đơn giản, linh
hoạt, hiệu quả và ít tốn kém.
- Bảo vệ uy tín cũng như bí mật trong kinh
doanh của các bên
Hạn chế:
- Kết quả của thương lượng phụ thuộc vào sự
hiểu biết và thái độ, thiện chí, hợp tác của các bên
tranh chấp.
- Kết quả thương lượng lại không được đảm
bảo bằng cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc, mà
phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của các bên.
- Nhiều trường hợp vì thiếu sự thiện chí, hợp
tác trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp mà một
bên đã tìm mọi cách trì hoãn quá trình thương
lượng nhằm kéo dài vụ tranh chấp, nhất là khi thời
hiệu khởi kiện không còn nhiều.
Trong thực tế, việc thương lượng thường
được tiến hành ngay khi xảy ra tranh chấp, các bên
thỏa thuận biện pháp giải quyết những mâu thuẫn
với mục đích giữ được mối quan hệ lâu dài trong
hoạt động kinh doanh.
Pháp luật Việt Nam qui định các bên trước
hết phải tiến hành thương lượng, sau đó mới được
tiến hành các hình thức giải quyết khác.
2. Hoà giải:
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp
thông qua vai trò trung gian của bên thứ ba, hỗ trợ
hoặc thuyết phục các bên tranh chấp trong việc tìm
kiếm giải pháp nhằm giải quyết mâu thuẫn trong
kinh doanh.
Bên trung gian không đưa ra bất kỳ quyết
định nào mà chỉ hỗ trợ các bên tìm ra giải pháp
hoặc đề nghị các giải pháp và thuyết phục các bên
lựa chọn.
Hình thức hòa giải không do một cơ quan
Nhà nước nhất định tiến hành mà có thể là tổ chức
hoặc cá nhân nào đó do các bên thống nhất lựa
chọn, pháp luật không qui định cụ thể.
Cũng như thương lượng, hòa giải là biện
pháp tự nguyện nhưng có sự tham gia của người
thứ ba vào quá trình giải quyết tranh chấp.
Bên thứ ba này không ở vị trí xung đột lợi ích
đối với các bên hoặc không có những lợi ích gắn
liền với lợi ích của một trong các bên trong các vụ
việc đang có tranh chấp.
Bên thứ ba làm trung gian hoà giải không
phải là những đại diện bất kỳ của bên nào và cũng
không có quyền quyết định, phán xét như một
trọng tài Ad-hoc (trọng tài vụ việc).
Bên thứ ba làm trung gian hoà giải thường
phải là những cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên
môn cao và có kinh nghiệm về những vụ việc có
liên quan đến các tranh chấp phát sinh.
Đặc trưng:
Thứ nhất, có sự hiện diện của bên thứ ba làm
trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp
tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp.
Thứ hai, hòa giải không chịu sự chi phối bởi
các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp
luật về thủ tục hòa giải.
Thứ ba, kết quả hòa giải thành được thực thi
cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các
bên tranh chấp mà không có cơ chế pháp lý nào
đảm bảo thi hành những cam kết của các bên trong
quá trình hòa giải.
Ưu điểm:
- Đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, linh
hoạt, hiệu quả và ít tốn kém,
- Có sự tham gia của người thứ ba trong quá
trình giải quyết tranh chấp, người thứ ba là trung
gian hòa giải, có trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm, am hiểu lĩnh vực và vấn đề đang tranh
chấp.
- Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng
kiến bởi người thứ ba nên mức độ tôn trọng và tự
nguyện tuân thủ các cam kết đã đạt trong quá trình
hòa giải.
Hạn chế:
- Kết quả hòa giải vẫn phụ thuộc vào thiện
chí của các bên và sự tự nguyện thi hành của mỗi
bên.
- Do có sự tham gia của người thứ ba trong
quá trình hòa giải nên uy tín cũng như bí mật kinh
doanh của các bên bị ảnh hưởng.
- Chi phí tốn kém hơn thương lượng vì phải
trả khoản dịch vụ cho người thứ ba.
3. Giải quyết tranh chấp bằng tài phán:
3.1. Trọng tài thương mại:
Pháp lệnh trọng tài qui định: Trọng tài là
phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại được các bên thoả thuận và
được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do
pháp lệnh trọng tài qui định.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Pháp luật đại cương - Bài 7, Phần 4: Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_phap_luat_dai_cuong_bai_7_phan_4_phap_luat_ve_giai.pdf

