Ý nghĩa và thực tiễn áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của tòa án Việt Nam
Ý NGHĨA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM
Nguyễn Công Phú
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
TÓM TẮT
Đề án phát triển án lệ là một chủ trương mới, được Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) triển khai thực hiện trong toàn hệ thống Tòa án Việt Nam từ năm 2015. Đây
là một chủ trương đúng đắn, tích cực, đáp ứng phần nào nhu cầu của thực tiễn xét xử.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề còn cần phải trao đổi. Bài viết dưới đây đề cập đến 3 vấn
đề: Bản chất và vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam; việc lựa chọn và áp
dụng án lệ trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp và phân tích, bình luận một số án lệ
cụ thể.
TỪ KHÓA: Án lệ, tính thuyết phục, tính mẫu mực, tính chỉ đường, lấp đầy khoảng trống,
án lệ theo chiều dọc, án lệ theo chiều ngang.
Đề án phát triển án lệ là một chủ trương mới, được Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) triển khai thực hiện trong toàn hệ thống Tòa án Việt Nam từ năm 2015 mà
khởi đầu chính thức là Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Sau gần 4 năm
thực hiện, ngày 18/6/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua và ban hành Nghị
quyết số 04/2019/NQ-HĐTP để thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP nói trên.
Không thể phủ nhận chủ trương phát triển án lệ là một chủ trương đúng đắn, tích
cực, và thực tiễn áp dụng các án lệ đã được công bố trong hoạt động xét xử của Tòa án
các cấp đã phần nào chứng minh được điều đó. Tuy nhiên, liên quan đến khái niệm “án
lệ” và việc lựa chọn, áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam cũng còn
nhiều vấn đề cần phải trao đổi thêm.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ xin đề cập đến 3 vấn đề: Bản chất và vai
trò của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam; việc lựa chọn và áp dụng án lệ trong
thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp và phân tích, bình luận một số án lệ cụ thể.
Bản chất và vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam: Hiểu thế nào cho
đúng?
Chúng ta đều biết bản chất của án lệ là phán quyết của Tòa án có tính thuyết phục
cao được các Thẩm phán coi là mẫu mực để hướng tới khi xét xử các vụ án tương tự. Tuy
nhiên, theo cách hiểu của nhiều nước trên thế giới, tính thuyết phục và tính mẫu mực
không phải là yếu tố cốt lõi làm cho một phán quyết của Tòa án trở thành một án lệ.
Những phán quyết có đặc tính như thế trong mỗi quốc gia và trên thế giới có rất nhiều và
thông thường ít ai quan tâm, ngoại trừ những người có liên quan đến vụ án đó.
217
Yếu tố cốt lõi giúp cho một phán quyết của Tòa án trở thành một án lệ chính là
tính “chỉ đường” của nó. Đặc tính này giúp cho phán quyết được coi là án lệ có một vị trí
đặc biệt, một ý nghĩa vượt ra khỏi giới hạn của một vụ án cụ thể mà nó giải quyết, được
nhiều thẩm phán, luật sư và giới chuyên gia luật trong nước cũng như trên thế giới quan
tâm, tham khảo và áp dụng trong thực tiễn xét xử cũng như trong nghiên cứu khoa học về
luật. Tính “chỉ đường” của án lệ chỉ có ý nghĩa ở những nơi mà các thẩm phán hoàn toàn
không có một phương tiện nào khác “dẫn đường” cho mình khi xét xử. Đó chính là
những lúc “người dẫn đường” là pháp luật vắng bóng hoặc cái bóng của nó quá mập mờ,
không thể nhìn rõ, và người đóng vai dự bị cho pháp luật là tập quán cũng không hiện
diện để chỉ lối cho thẩm phán. Tính chỉ đường của án lệ đã nói lên vai trò của án lệ trong
thực tiễn xét xử: Là phương tiện thay thế cho pháp luật khi pháp luật vắng mặt, hay nói
theo cách mà các chuyên gia luật thường nói, là phương tiện lấp đầy khoảng trống của
pháp luật.
Đó là vai trò và ý nghĩa của án lệ theo cách hiểu của nhiều nước trên thế giới. Còn
ở Việt Nam ta thì sao?
Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ quy định về tiêu chí để lựa
chọn án lệ như sau:
“Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây:
1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác
nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử
lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;
2. Có tính chuẩn mực;
3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những
vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.”
Với cách xác định các tiêu chí của một án lệ như trên, dường như TANDTC đã bỏ
qua dấu hiệu đặc trưng của một án lệ theo cách hiểu của nhiều nước trên thế giới là tính
chỉ đường của án lệ trong trường hợp thiếu vắng quy định của pháp luật, hay nói cách
khác, dường như TANDTC đã không thừa nhận vai trò của án lệ như là một phương tiện
lấp đầy khoảng trống của pháp luật như nhiều nước đã thừa nhận. Chẳng những thế,
TANDTC còn yêu cầu án lệ phải chỉ ra “quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ
việc cụ thể”.
Như vậy, ngay từ đầu, khái niệm án lệ đã được TANDTC định nghĩa không giống
với cách hiểu của nhiều nước trên thế giới. Nếu có điểm nào giống với các nước thì đó
chỉ là giống ở tính mẫu mực và tính chỉ đường “làm rõ quy định của pháp luật” trong
trường hợp pháp luật còn mập mờ.
Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(BLTTDS) được thông qua (sau khi Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP nói trên được ban
hành khoảng gần một tháng) và qua một quá trình thực hiện, có lẽ nhận ra sự thiếu sót nói
218
trên, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP
ngày 18/6/2019 để thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, trong đó đã bổ sung tiêu
chí “hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể”.
Cách định nghĩa án lệ như vậy đã tiếp cận với cách hiểu của nhiều nước trên thế giới.
Đây chính là hệ quả của việc cập nhật những quy định mới của BLDS và BLTTDS về
các “phương tiện dẫn đường” khác, trong đó có án lệ, đóng vai trò thay thế khi thiếu vắng
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, TANDTC vẫn không từ bỏ một trong những tiêu chí
lựa chọn án lệ là chỉ ra “quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể”.
Thực tế việc lựa chọn án lệ được thực hiện như thế nào ở Việt Nam?
Trong 43 án lệ đã được lựa chọn và công bố, có thể thấy đại đa số các án lệ đều rơi
vào trường hợp đã có quy định của pháp luật nhưng do Tòa án các cấp xử không đúng
pháp luật nên TANDTC phải hủy án để xử lại. Những trường hợp như vậy theo cách hiểu
của các nước thì không phải là án lệ. Chỉ có một số ít trường hợp là quy định của pháp
luật không rõ ràng và càng hiếm hoi hơn, là trường hợp không có quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp như vậy, tức là những trường hợp thực sự cần phải
có án lệ, thì đáng tiếc là những án lệ được lựa chọn và công bố lại chưa thể hiện được
tính thuyết phục, hay nói cách khác, chưa xứng đáng để được coi là án lệ. Một số án lệ
được phân tích dưới đây sẽ cho thấy rõ điều đó:
- Án lệ số 08/2016: Án lệ thuyết phục về quan điểm tính lãi liên tục nhưng chưa
giải thích được vì sao không áp dụng quy định của BLDS về mức trần lãi suất cho vay
của tổ chức tín dụng.
- Án lệ số 09/2016: Án lệ chưa giải thích được vì sao không được tính lãi trên số
tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại; vì sao áp dụng Điều 306 Luật Thương mại 2005 để
tính lãi chậm trả đối với số tiền ứng trước trong khi phạm vi áp dụng của điều này không
bao gồm tiền ứng trước.
- Án lệ số 42/2021: Án lệ có tính thuyết phục do đưa ra quan điểm giải quyết phù
hợp với quy định của pháp luật (Điều 38 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 và Điều 17 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Tuy nhiên, vì đã có quy định của
pháp luật và quy định này rất rõ ràng nên án lệ này chưa đúng nghĩa là án lệ theo cách
hiểu thông thường của các nước.
…
Dù sao, chúng ta hãy tìm hiểu xem án lệ đã được áp dụng như thế nào trong thực
tiễn xét xử của Tòa án các cấp ở Việt Nam.
Áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp ở Việt Nam?
Thực ra, không phải đợi đến khi có chủ trương phát triển án lệ thì các Thẩm phán
Việt Nam mới phải xử theo án lệ. Thực tế, từ nhiều năm trước, các Thẩm phán trong hệ
thống Tòa án Việt Nam đã coi những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm
phán TANDTC là những án lệ không chính thức, dù không có văn bản nào của TANDTC
219
buộc các Thẩm phán phải xử các vụ án tương tự theo quan điểm được đưa ra trong các
Quyết định giám đốc thẩm đó.
Sở dĩ có thực tế đó là vì các Thẩm phán đều hiểu rằng người có thẩm quyền phán
xét cuối cùng trong các vụ án, kể cả hình sự, dân sự và hành chính, chính là Hội đồng
Thẩm phán TANDTC, cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống Tòa án Việt Nam. Một khi
cơ quan này đã đưa ra quan điểm giải quyết một vụ án thì các vụ án tương tự không thể
có quan điểm giải quyết khác và không Thẩm phán nào “dám” xử trái quan điểm của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC cả, dù có đồng tình hay không đồng tình với quan điểm đó, vì
nguy cơ bị hủy án rất cao và trách nhiệm của Thẩm phán sẽ được xem xét nếu bị hủy án,
nhẹ thì ảnh hưởng đến thành tích thi đua, còn nặng thì có thể bị ngừng làm nhiệm vụ xét
xử hoặc thậm chí có thể không được tái bổ nhiệm khi hết nhiệm kỳ.
Nay với quy định tại các Nghị quyết về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án
lệ nói trên của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, các Thẩm phán Việt Nam lại càng phải
tuân theo sát sao các chỉ dẫn trong các án lệ đã công bố khi xử các vụ án tương tự vì nếu
xử khác đi thì trách nhiệm của Thẩm phán còn nặng nề hơn trước đây do đã có văn bản
quy định hẳn hoi, các án lệ đều được công bố sau khi được lựa chọn, các Thẩm phán
không thể đổ thừa là không biết có án lệ hoặc không có quy định buộc phải xử theo án lệ.
Dù TANDTC có mở lối cho các Thẩm phán được quyền không áp dụng án lệ trong các
tình huống pháp lý tương tự với điều kiện phải nói rõ lý do trong bản án, quyết định của
mình, nhưng thực tế thì hầu như không có Thẩm phán nào dám làm điều đó cả (ngay cả
khi có lý do để giải thích) vì ai cũng thuộc lòng câu ca dao từ ngàn xưa: “Cá không ăn
muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”.
Việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay, do đó, xuất phát từ sự áp đặt của
TANDTC nhiều hơn là từ tính thuyết phục của án lệ như thường thấy ở các nước. Bởi vì
con đường hình thành án lệ ở Việt Nam là con đường “nhân tạo” do TANDTC xây dựng
và buộc các Thẩm phán phải đi theo chứ không phải là con đường được hình thành một
cách tự nhiên, từ những con đường mòn được nhiều người thấy thuận tiện mà tự đi theo
lâu ngày trở thành đường, như thường thấy ở nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra, cũng từ
đặc điểm đó mà ở Việt Nam chỉ có án lệ theo chiều dọc (Tòa án cấp dưới áp dụng án lệ
của Tòa án cấp trên), chứ không có án lệ theo chiều ngang (các Tòa án ngang cấp áp
dụng án lệ của nhau). Trong khi ở một số nước, có cả án lệ theo chiều dọc và án lệ theo
chiều ngang, thậm chí có trường hợp Tòa án của nước này còn áp dụng án lệ của Tòa án
một nước khác như trường hợp một Tòa án của Hong Kong đã áp dụng các án lệ của các
Tòa án Hoa Kỳ.390
Nói như vậy không có nghĩa là các án lệ ở Việt Nam không có vai trò tích cực và
việc lựa chọn, công bố án lệ không có ý nghĩa thiết thực. Mặc dù đại đa số các án lệ đã
được công bố hiện nay ở Việt Nam chưa đúng nghĩa là án lệ theo cách hiểu của nhiều
nước trên thế giới nhưng chúng cũng góp phần tích cực trong việc nhắc nhở và hướng
dẫn các Thẩm phán cần phải xét xử theo đúng các quy định của pháp luật, ngăn ngừa
390
SH Goo (2010), “Multiple derivative action and common law derivative action revisited: A tale of two Jurisdic-
tions”, Journal of Corporate Law Studies, 10 (1, April 2010), tr. 255-264.
220
trường hợp xét xử mà không đưa ra được căn cứ pháp luật hoặc áp dụng pháp luật không
đúng, hiểu pháp luật không đúng, nhất là khi pháp luật không rõ ràng. Nói cách khác, án
lệ ở Việt Nam hiện nay tuy chưa thể hiện được vai trò là phương tiện “lấp đầy khoảng
trống” của pháp luật như nó vẫn thường thể hiện ở các nước nhưng nó cũng có vai trò
thực tế là phương tiện “lấp đầy khoảng trống” trong kiến thức và tư duy pháp luật của các
Thẩm phán.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC.
2. Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC.
3. TANDTC, Án lệ và bình luận, NXB Lao động, Hà Nội.
4. SH Goo (2010), “Multiple derivative action and common law derivative action revisit-
ed: A tale of two Jurisdictions”, Journal of Corporate Law Studies, (10)
221
Bạn đang xem tài liệu "Ý nghĩa và thực tiễn áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của tòa án Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
y_nghia_va_thuc_tien_ap_dung_an_le_trong_hoat_dong_xet_xu_cu.pdf

