Thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam

THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG  
NGHỆ LÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM  
PRACTICE OF IMPLEMENTING THE LAW ON TECHNOLOGY TRANSFER  
SERVICES ARE INDUSTRIAL PROPERTY RIGHTS IN VIETNAM  
Đỗ Huyền Tâm  
TÓM TẮT: Dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp đƣợc  
quy định tài Luật Sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, thực tiễn thực  
hiện quy định này ở Việt Nam còn có những vƣớng mắc. bài viết chỉ ra tình hình và một  
số vƣớng mắc trong thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở  
hữu công nghiệp.  
Từ khóa: Thực tiễn, thực hiện pháp luật, dịch vụ chuyển giao công nghệ  
ABTRACT: Technology transfer services are industrial property rights regulated  
by the Law on Intellectual Property and the Law on Technology Transfer. However, the  
practice of implementing this regulation in Vietnam still has obstacles. The article points  
out the situation and some obstacles in the implementation of the law on technology  
transfer services are industrial property rights.  
Keywords: Practice, implementation of laws and technology transfer services  
1. Đặt vấn đề  
Trong các đối tƣợng của dịch vụ chuyển giao công nghệ có đối tƣợng là quyền sở  
hữu công nghiệp. Khi chuyển giao công nghệ đối tƣợng này vừa phải tuân theo pháp luật  
chuyển giao cong nghệ, vừa phải tuân theo pháp luật sở hữu trí tuệ. Bƣớc đầu các quy  
định của pháp luật về chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu trí tuệ đã dƣợc quan tâm  
đúng mức, thực tiễn thực hiện đã thu đƣợc những kết quả nhất định. Cũng phải thừa nhận  
rằng khung pháp luật còn thiếu thống nhất hoặc chƣa cụ thể nhƣ định giá quyền sở hữu  
công nghiệp nhƣ thế nào khi chuyển giao, tƣ vấn chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu  
công nghiệp,…Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng khá lúng túng.  
Học viên cao học Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
346  
2. Tình hình thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu  
công nghiệp  
Trong những năm qua Luật chuyên ngành là Luật chuyển giao công nghệ (CGCN)  
2017 điều chỉnh trực tiếp các hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động dịch vụ  
chuyển giao công nghệ thì còn có các văn bản khác cũng trực tiếp điều chỉnh hoạt động  
chuyển giao công nghệ, hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ bao gồm: Luật khoa  
học và công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đầu tƣ, Luật thƣơng mại, Luật hải quan và các  
văn bản hƣớng dẫn thi hành đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho các tổ chức, cá nhân  
tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ cũng nhƣ hoạt động dịch vụ chuyển giao công  
nghệ.  
Một là, các chủ thể kinh doanh dịch vụ (cá nhân, tổ chức…) phát triển nhanh chóng  
trong hoạt động chuyển giao công nghệ, thị trƣờng của hoạt động dịch vụ chuyển giao  
công nghệ cũng phát triển rất sôi động ở cả các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị  
ngoài nhà nƣớc.  
Các tổ chức dịch vụ khoa học – công nghệ hiện nay đƣợc tổ chức dƣới các hình  
thức đa dạng khác nhau nhƣ: các trung tâm, văn phòng, công ty, phòng thử nghiệm,… và  
các hình thức khác. Các tổ chức dịch vụ khoa học – công nghệ này có chức năng chủ yếu  
là phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; hoạt động liên quan  
đến sở hữu công nghiệp, chuyển giao khoa học công nghệ, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật,  
đo lƣờng, chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ và hạt nhân, năng lƣợng nguyên  
tử; dịch vụ về thông tin, thống kê khoa học – công nghệ, tƣ vấn, đào tạo, bồi dƣỡng, phổ  
biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.  
Cùng với sự phát triển của mạng lƣới các tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển giao công  
nghệ công lập thì các tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ ngoài công lập  
ngày càng đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thị trƣờng công  
nghệ ở nƣớc ta. Theo đó, các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ cũng đang tăng lên  
cụ thể trong tháng 03 năm 2019 Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp Giấy chứng nhận  
đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ cho 15 viện và trung tâm trong đó có một số  
trung tâm hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ nhƣ: Trung tâm hỗ trợ, chuyển giao  
347  
công nghệ hoa, sinh vật cảnh và phát triển nông thôn; Trung tâm tƣ vấn, đào tạo quản lý  
và thông tin dữ liệu; Trung tâm kiểm nghiệm chất lƣợng sản phẩm HPLAB.  
Hiện nay trên cả nƣớc có 17 sàn giao dịch công nghệ online và offline, gồm: Chợ  
công nghệ và thiết bị Việt Nam: www.techmartvietnam.vn; Cổng thông tin giao dịch  
công nghệ TP Hồ Chí Minh: http://techport.vn; Chợ công nghệ và thiết bị Hà Nội: www.  
techmarthanoi.vn; Sàn giao dịch công nghệ thiết bị Hải Phòng: www.hatex.vn; Sàn Đà  
http://tatex. vn/; Thái Bình và Lai Châu (đang thành lập sàn giao dịch điện tử). Các địa  
phƣơng đang triển khai xây dựng sàn ciao dịch công nghệ (GDCN) là: Nam Định, Hà  
Tĩnh, Quảng Nam, Bình Dƣơng. Phần lớn các sàn này đang hoạt động với tƣ cách là đơn  
vị sự nghiệp khoa học và công nghệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm thuộc các Sở khoa học và  
công nghệ, đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo một phần kinh phí để duy trì hoạt động thƣờng  
xuyên. Hoạt động chính của các sàn bao gồm: i) tƣ vấn và chuyển giao công nghệ, ii)  
thông tin công nghệ, iii) tổ chức các sự kiện về khoa học và công nghệ.329  
Hai là, hoạt động khoa học và chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp  
của các trƣờng đại học 5 năm trở lại đây đã có những chuyển biến rất lớn. Số bài báo ISI  
(Viện thông tin khoa học) của các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc quản lý của Bộ Giáo  
dục và Đào tạo riêng năm 2017 – 2018 tăng 26%; số lƣợng công trình, thành tựu nghiên  
cứu khoa học đƣợc chuyển giao ra ngoài xã hội cũng tăng nhiều hơn nhƣng xét trên con  
số đội ngũ khoa học mà các trƣờng đang sở hữu (hơn 51% tổng số nhân lực khoa học và  
công nghệ trong cả nƣớc) thì nhƣ vậy vẫn còn rất khiêm tốn.  
Điều này cho thấy trong những năm qua, hoạt động của khoa học – công nghệ nói  
chung, đặc biệt là dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều tiến bộ  
và thành tựu nổi bật, đóng góp thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa  
329 https://vjst.vn/Images/Tapchi/2019/3A/6-3A-2019.pdf;  
348  
đất nƣớc, củng cố quốc phòng và an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lƣợng cuộc  
sống ngƣời dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.  
Ba là, các hình dịch vụ chủ yếu là: dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ, dịch vụ  
tƣ vấn chuyển giao công nghệ và dịch vụ thẩm định giá công nghệ đã tạo ra đƣợc hiệu  
quả hoạt động góp phần phát triển ngành dịch vụ trọng tâm này.  
Về loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ, theo kết quả điều tra khảo sát của Viện  
Khoa học Môi trƣờng và Xã hội năm 2019 và thống kê của Cục Ứng dụng và Phát triển  
công nghệ giai đoạn 2013-2019, đa phần mỗi đơn vị trung gian chuyển giao công nghệ  
của nƣớc ta có thể cung ứng cùng lúc nhiều dịch vụ cho khách hàng nhƣ: tƣ chuyển giao  
công nghệ, môi giới chuyển giao công nghệ, thẩm định giá công nghệ, đánh giá công  
nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ… Trong đó, nếu xét theo loại hình dịch vụ chuyển  
giao công nghệ mà các đơn vị trung gian cung cấp, thì môi giới là loại hình dịch vụ có  
nhiều đơn vị cung cấp nhất với 78,6%; tiếp đến là dịch vụ tƣ vấn chuyển giao công nghệ:  
75%; dịch vụ xúc tiến CGCN: 64,3%. Trong khi đó, số lƣợng đơn vị trung gian có thể  
330  
cung cấp dịch vụ giám định công nghệ là rất ít, chỉ 25% số đơn vị.  
lục).  
(Biểu đồ 1 – Phụ  
Các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ ở nƣớc ta hiện nay có các chức năng  
và nhiệm vụ về đánh giá công nghệ, thẩm định giá công nghệ, giám định công nghệ, tổ  
chức môi giới chuyển giao công nghệ, tổ chức tƣ vấn chuyển giao công nghệ, tổ chức xúc  
tiến chuyển giao công nghệ, các sàn giao dịch chuyển giao công nghệ, 63 Trung tâm ứng  
dụng và phát triển công nghệ tại các địa phƣơng, các vƣờn ƣơm công nghệ và doanh  
nghiệp khoa học – công nghệ. Bên cạnh đó, còn có các sự kiện hỗ trợ quá trình chuyển  
giao công nghệ nhƣ: chợ công nghệ, thiết bị (techmart), kết nối cung cầu công nghệ  
(techdemo), ngày hội khởi nghiệp công nghệ cũng đã tạo đƣợc hiệu ứng tích cực đối với  
thị trƣờng khoa học – công nghệ trong nƣớc và quốc tế…  
Đối với hoạt động dịch vụ tƣ vấn và chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công  
nghiệp: công tác tƣ vấn, kết nối cung cầu, môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động  
330  
Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Trung Thành, Trịnh Minh Tâm (2017), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy dịch vụ  
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 6 năm 2017 (699).  
349  
chính của các sàn. Một số sàn có hoạt động tƣơng đối sôi nổi, nhƣ Sàn Hải Phòng có kết  
quả hoạt động tƣ vấn chuyển giao công nghệ năm 2018 nhƣ sau: tƣ vấn, kết nối gần 565  
cuộc cho các doanh nghiệp gặp gỡ, thƣơng thảo, ký kết hợp đồng (trong đó có 364 hợp  
đồng đƣợc ký kết với tổng giá trị trên 472 tỷ đồng); tƣ vấn xây dựng lộ trình đổi mới  
công nghệ cho 25 doanh nghiệp; tƣ vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai, thực hiện  
nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) và thành lập doanh nghiệp KH&CN cho 18  
doanh nghiệp; tƣ vấn, chuyển giao sàn trực tuyến cho Nghệ An, Bà Rịa - Vũng tàu, Vĩnh  
Phúc, Hải Dƣơng; mở 30 lớp đào tạo về quản trị công nghệ, năng suất, chất lƣợng, sở hữu  
trí tuệ...331  
Nhƣ vậy, có thể thấy dịch vụ chuyển giao công nghệ ở nƣớc ta trong thời gian qua  
đã đƣợc thực hiện một cách có trọng điểm, gắn với đầu tƣ chiều sâu và yêu cầu nâng cao  
hiệu quả kinh tế. Để có đƣợc những thành tựu đó không thể không kể đến sự chặt chẽ của  
hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển giao công  
nghệ, cho thấy đƣợc khả năng lập pháp và hành phát của nhà nƣớc ta đang ngày càng  
chặt chẽ, có hiệu quả.  
3. Một số hạn chế trong thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ là  
quyền sở hữu công nghiệp  
Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước về dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở  
hữu công nghiệp hiện đang gặp nhiều khó khăn, thách thức.  
Hiện nay, Luật CGCN 2017 ra đời thay thế cho Luật chuyển giao công nghệ 2006  
đã hoàn thiện cơ bản các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động dịch  
vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Tiếp theo đó, Chính phủ, Bộ Khoa học và Công  
nghệ đã phối hợp xây dựng và ban hành nhiều Nghị định, Thông tƣ để hƣớng dẫn, cụ thể  
hóa đối với việc khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động dịch vụ chuyển giao  
công nghệ. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nƣớc về dịch vụ chuyển giao công nghệ vẫn  
đang gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc.  
Trong đó điển hình là khó khăn trong việc quản lý thẩm định giá công nghệ nói  
chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, thiếu các hoạt động về đánh giá, cảnh báo  
331 https://vjst.vn/Images/Tapchi/2019/3A/6-3A-2019.pdf  
350  
công nghệ, tính liên kết giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ chƣa  
cao, thiếu nguồn nhân lực quản lý và phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ, chƣa có  
chế tài phù hợp đối với những vi phạm trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ chuyển  
giao công nghệ, chƣa đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể quyền. Bên cạnh đó,  
theo quy định tại Điều 5 Luật CGCN 2017 quy định về hình thức chuyển giao công nghệ  
thì từ quy định đó ta có thể thấy đƣợc hoạt động chuyển giao công nghệ đƣợc chuyển  
giao thông qua rất nhiều hình thức khác nhau, điều này dẫn đến việc mỗi hình thức  
chuyển giao công nghệ sẽ đƣợc điều chỉnh bởi những quy định pháp luật có liên quan  
khác nhau nhƣ: Luật chuyển giao công nghệ, Luật đầu tƣ, Luật sở hữu trí tuệ, Luật  
thƣơng mại,… Chính vì đƣợc điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau làm cho  
việc quản lý nhà nƣớc về dịch vụ chuyển giao công nghệ gặp không ít khó khăn, hạn chế  
vì có những văn bản quy phạm pháp luật quy định bị chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn  
nhau.  
Bên cạnh đó, việc quản lý đối với hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ nói  
chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng còn gặp phải nhiều rào cản pháp lý nhƣ:  
thiếu các văn bản dƣới luật điều chỉnh về các dịch vụ chuyển giao công nghệ, Luật  
CGCN 2017 đã đƣợc ban hành dựa trên nền tảng Luật CGCN 2006 nhƣng vẫn xuất hiện  
nhiều bất cập trong quá trình thực thi pháp luật, chƣa có biện pháp cũng nhƣ kênh giải  
quyết hiệu quả các tranh chấp xảy ra liên quan đến dịch vụ chuyển giao công nghệ, chƣa  
có những bảo đảm hay ràng buộc trách nhiệm pháp lý cho các chủ thể kinh doanh tham  
gia vào dịch vụ chuyển giao công nghệ.  
Ngoài ra nguyên nhân không kém phần quan trọng dẫn đến tình trạng công tác quản  
lý nhà nƣớc về dịch vụ chuyển giao công nghệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp  
nói riêng hiện đang gặp nhiều khó khăn, thách thức là nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh  
vực khoa học công nghệ nói chung và dịch vụ chuyển giao công nghệ nói riêng còn tồn  
tại một số hạn chế nhƣ: nguồn nhân lực chất lƣợng cao phân bố không đồng đều tạo ra sự  
chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở những trung tâm  
thành phố lớn, phát triển mạnh gây thƣa thớt ở những vùng miền khác, thiếu nguồn nhân  
lực phục vụ tại các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ - nơi tập trung các hoạt động  
351  
dịch vụ chuyển giao công nghệ, không tạo đƣợc sự hấp dẫn và thu hút nguồn nhân lực  
chất lƣợng cao làm việc trong ngành dịch vụ chuyển giao công nghệ,…  
Thứ hai, chất lƣợng các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ nói chung và  
quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ở nƣớc ta hiện nay còn thấp, chƣa nhận đƣợc sự  
đánh giá cao, đặc biệt là vấn đề giá trong dịch vụ chuyển giao công nghệ chƣa minh bạch,  
rõ ràng.  
Đối với dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ nói chung và quyền sở hữu công  
nghiệp nói riêng ở nƣớc ta hiện nay còn rất hạn chế và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát  
triển, định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội trong tƣơng lai. Theo đó thì dịch vụ môi giới  
chuyển giao công nghệ hạn chế bởi chi phí thực hiện hoạt động dịch vụ này còn khá cao  
khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có khả năng tiếp cận và sử dụng. Bên cạnh  
đó, công tác truyền thông quảng bá về dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ trên các  
kênh thông tin, báo chí, diễn đàn đại chúng,... còn khá nghèo nàn chƣa đủ sức lan tỏa đến  
nhiều cá nhân/ tổ chức có nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, những thông tin về chủng loại công  
nghệ, thiết bị, thông tin đi kèm và kiến thức thị trƣờng của chuyên gia môi giới còn hạn  
chế. Từ những vƣớng mắc thực tiễn trên làm cho chất lƣợng dịch vụ môi giới chuyển  
giao công nghệ chƣa đƣợc đánh giá cao, là lỗ hổng lớn trong công tác thực thi pháp luật  
về chuyển giao công nghệ ở nƣớc ta hiện nay.  
Đối với dịch vụ tƣ vấn chuyển giao công nghệ nói chung và quyền sở hữu công  
nghiệp nói riêng, mặc dù chuyển giao công nghệ đang trở thành nhu cầu cấp thiết của nền  
kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa nhƣng ở nƣớc ta hiện nay  
vẫn chƣa hình thành đƣợc những tổ chức tƣ vấn chuyển giao công nghệ với quy mô và  
chất lƣợng xứng tầm với khả năng cầu của thị trƣờng. Theo kết quả khảo sát, hầu hết tổ  
chức cung cấp dịch vụ tƣ vấn chuyển giao công nghệ hiện nay đều ở quy mô nhỏ, với số  
lƣợng nhân lực trung bình khoảng hơn 10 ngƣời, trong đó chỉ hơn một nửa số cán bộ đáp  
ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của chuyên gia tƣ vấn chuyển giao công nghệ. Ngoài một phần  
nhỏ chuyên gia đầu ngành ở các thành phố lớn và khu tập trung kinh tế thì đa phần đội  
ngũ chuyên gia tƣ vấn chuyển giao công nghệ hiện nay chƣa đƣợc đào tạo bài bản mà chủ  
352  
yếu tƣ vấn theo kinh nghiệm đã dẫn tới nhiều hạn chế về chất lƣợng của hoạt động tƣ vấn  
chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau.  
Đối với dịch vụ thẩm định giá công nghệ, trong hoạt động chuyển giao công nghệ là  
quyền sở hữu công nghiệp ở nƣớc ta hiện nay tổ chức và chuyên gia chuyên biệt cho  
công tác thẩm định giá công nghệ hầu nhƣ chƣa có, nếu có thì cũng chƣa đảm bảo đủ tiêu  
chuẩn theo quy định của một ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Luật đầu tƣ  
2014. Việc thẩm định giá công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp thƣờng do các cán bộ  
quản lý công nghệ hay cán bộ có kinh nghiệm lâu năm ở các cơ quan nhà nƣớc có thẩm  
quyền tƣ vấn và tiến hành thẩm định giá theo hợp đồng chuyển giao công nghệ. Hiện tại,  
tổ chức/ cá nhân cung ứng dịch vụ thẩm định giá theo Luật giá và Nghị định  
76/2018/NĐ-CP hƣớng dẫn thi hành Luật chuyển giao công nghệ đều phải đăng ký thẩm  
định giá công nghệ, tuy nhiên trong thực tế hầu hết các tổ chức này đều chƣa thực hiện  
các dịch vụ thẩm định giá công nghệ theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, mặc dù đã  
đƣợc quan tâm, có hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh nhƣng thực tế hiện nay cho  
thấy quy mô, chất lƣợng, uy tín của các tổ chức thẩm định giá công nghệ vẫn còn rất  
nhiều hạn chế. Hoạt động thẩm định giá công nghệ vẫn còn là một thách thức lớn cho  
doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Rất  
nhiều trƣờng hợp, doanh nghiệp R&D sở hữu công nghệ cao, khả năng ứng dụng rất lớn  
nhƣng không thể phát triển đƣợc sản phẩm do thiếu vốn và không thể thế chấp chính tài  
sản công nghệ mà mình đang sở hữu.  
Thứ ba, một số hạn chế khác trong việc thực thi pháp luật trong hoạt động dịch vụ  
chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp  
Về xác định giá sáng chế: Sáng chế đƣợc pháp luật bảo hộ mới là tài sản cố định vô  
hình chứ không phải là văn bằng bảo hộ ghi nhận những thông tin liên quan đến sáng chế  
đƣợc bảo hộ. Bên cạnh đó, tài sản trí tuệ là sáng chế lại chỉ đƣợc giới hạn là “bằng sáng  
chế”. Giá sáng chế xác định rất khó tùy vào từng điều kiện khác nhau. Chẳng hạn trong  
đại dịch Covid 19 nhu cầu quy trình sản xuất vacine các quốc gia cao nên định giá rất khó  
khăn; thậm chí ngay cả vacine cũng khan hiếm (thật hoặc các quốc gia sản xuất đƣợc tạo  
ra sự khan hiếm để ép giá).  
353  
Chƣa có những quy định cụ thể về năng lực, phẩm chất mà cá nhân, tổ chức hoạt  
động dịch vụ môi giới, tƣ vấn chuyển giao công nghệ và thẩm định giá công nghệ là  
quyền sở hữu công nghiệp cần đáp ứng.  
Chƣa có những chính sách hỗ trợ hợp lý nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ tƣ vấn  
đánh giá, thẩm định giá và môi giới chuyển giao công nghệ trong nƣớc trƣớc sức ép cạnh  
tranh từ bên ngoài. Chƣa có quy hoạch về kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực cho các tổ  
chức hoạt động dịch vụ môi giới, tƣ vấn chuyển giao công nghệ và thẩm định giá công  
nghệ (nội dung đào tạo đƣợc hỗ trợ nên tập trung vào những vấn đề pháp lý trong chuyển  
giao công nghệ quốc tế; kỹ năng đàm phán, thƣơng thảo hợp đồng chuyển giao công  
nghệ, các bƣớc và kỹ năng tìm kiếm và lựa chọn công nghệ thích hợp; phƣơng pháp đánh  
giá và định giá công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp.  
Cục Sở hữu trí tuệ chƣa có các chính sách thúc đẩy hình thành những mạng lƣới các  
tổ chức tham gia tƣ vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ là quyền  
sở hữu công nghiệp, bao gồm cả liên kết trong nƣớc và quốc tế.  
4. Kết luận  
Bài viết đã nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luạt về dịch vụ này để độc giả có  
thể nắm đƣợc những quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ chuyển giao  
công nghệ, nội dung của các hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ, hình thức dịch vụ  
chuyển giao công nghệ, vai trò dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Văn Nam (2018), đồng Chủ biên Giáo trình Pháp luật Sở hữu trí tuệ. NXB  
Đại học Kinh tế Quốc dân.  
2. Trần Văn Hải (2018), Giáo trình Chuyển giao công nghệ, Trƣờng Đại học Khoa  
học xã hội và Nhân văn.  
3. Đỗ Sơn Tùng – Trịnh Thị Minh Tâm – Trần Hậu Ngọc – Nguyễn Tuấn Tú (2019),  
Hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa:  
Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam,  
354  
cho-viet-nam-64207.htm, ngày truy cập 10/7/2020.  
4. Trần Văn Nam (2018), “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam  
hiện  
nay”,  
Luận  
án  
tiến  
sĩ  
Luật  
học,  
mã  
số:  
938.01.07,  
phap-luat-hot, ngày truy cập 10/3/2019  
5. Phạm Trung Hải (2017), “Thực trạng và giải pháp chuyển giao công nghệ ở Việt  
6. Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Trung Thành, Trịnh Minh Tâm (2017), “Thực trạng  
và giải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 6 năm 2017 (699).  
7. Hoàng Xuân Long, Chu Đức Dũng (2009), “Giải pháp phát triển hoạt động tư  
vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và  
chính trị thế giới số 8 (160). 2009.  
355  
pdf 10 trang Thùy Anh 10640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ là quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_tien_thuc_hien_phap_luat_ve_dich_vu_chuyen_giao_cong_ng.pdf