Hạn ngạch đối với nông sản xuất khẩu sang eu theo Evfta

CHÍNH SÁCH  
HẠN NGẠCH ĐỐI VỚI NÔNG SẢN XUẤT KHẨU SANG EU THEO EVFTA  
Đỗ Thu Hương*  
*ThS. Trường Đại học Luật Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Sau khi Hiệp định Thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực,  
bên cạnh lộ trình xóa bỏ 99% số dòng thuế nhập khẩu thì EU duy trì hạn  
ngạch thuế quan đối với một số mặt hàng, chủ yếu là hàng nông nghiệp vì  
chính sách bảo hộ đối với ngành sản xuất nội địa. Nội dung quan trọng nhất  
mà Việt Nam cần lưu ý là thủ tục cấp hạn ngạch được xác định riêng, chia  
thành 2 nhóm là mặt hàng gạo và các mặt hàng còn lại. Mặt hàng gạo được  
tách hạn ngạch thành các dòng khác nhau với quy định lần đầu tiên xuất hiện  
đối với gạo thơm cần có chứng nhận chủng loại gạo. Đáp ứng được yêu cầu  
này, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được tối đa mức hạn ngạch  
của EU, đem lại lợi thế để đạt được kim ngạch xuất khẩu cao trong EVFTA.  
Từ khóa: Hạn ngạch đối với  
nông sản xuất khẩu, EVFTA.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 23/4/2021  
: 04/5/2021  
: 05/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
After the EVFTA comes into effect, in addition to the elimination of 99%  
of import tariff lines, the EU also maintained tariff quotas on a number of  
commodities, mainly agricultural products due to the policy on domestic  
market protection. The most important issue that Vietnam should be  
considered is that quota allocation procedures are defined separately into  
two groups, rice and the rest. The quantity of rice quota is divided into  
different lines with the first appearing regulation for fragrant rice requiring  
certification of fragrant rice varieties. If it meets this requirement,Vietnamese  
businesses can make the most of the EU's quota, providing an advantage to  
achieve high export turnover in the EVFTA.  
Keywords: Quotas,agricultural  
products, rice, exports, EVFTA.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 23 Apr. 2021  
: 04 May 2021  
: 05 May 2021  
Approved  
1. Biện pháp hạn ngạch thuế quan trong  
thương mại quốc tế  
hàng cụ thể mà không vi phạm cam kết trong  
các hiệp định thương mại tự do (FTA).  
Hạn ngạch được hiểu là giới hạn tối đa về  
khối lượng (hoặc giá trị) hàng hóa được phép  
nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một khoảng  
thời gian nhất định (thường là một năm). Nếu  
số lượng hàng hóa nhập khẩu/xuất khẩu đã  
vượt quá hạn ngạch thì việc nhập khẩu/xuất  
khẩu trong năm đó sẽ không được tiếp tục  
nữa. Hạn ngạch thuế quan là biện pháp nới  
lỏng hơn so với hạn ngạch bằng cách đưa ra  
một giới hạn hàng hóa được phép nhập khẩu/  
xuất khẩu và trong giới hạn đó, hàng hóa sẽ  
được hưởng mức thuế quan ưu đãi theo cam  
kết giữa các bên, khi số lượng hàng hóa vượt  
quá hạn ngạch thì sẽ phải chịu mức thuế quan  
cao hơn so với mức ưu đãi. Như vậy, có thể  
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, có  
nhiều công cụ chính sách thương mại được  
các quốc gia áp dụng nhằm thực hiện một  
mục tiêu thương mại nào đó đối với các  
nước đối tác, bao gồm: thuế quan, trợ cấp  
xuất khẩu, hạn ngạch (thuế quan) nhập khẩu,  
giới hạn định mức xuất khẩu… Trong bối  
cảnh tự do hóa thương mại, các quốc gia có  
xu hướng loại bỏ các biện pháp gây bất bình  
đẳng trong thương mại (trợ cấp xuất khẩu,  
hạn chế số lượng) bằng việc duy trì biện  
pháp hạn ngạch thuế quan. Chỉ trong những  
trường hợp đặc biệt, các quốc gia mới được  
phép duy trì hạn ngạch đối với một số mặt  
22  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
2. Quy định về hạn ngạch của EU đối với  
hàng nhập khẩu từ Việt Nam  
thấy rằng, biện pháp hạn ngạch (thuế quan) là  
biện pháp hạn chế số lượng rất rõ rệt và không  
được khuyến khích trong thương mại quốc tế.  
Tác động xấu của biện pháp này khiến cho  
giá của hàng hóa tăng lên tại thị trường nước  
nhập khẩu, người tiêu dùng phải chi trả nhiều  
hơn (ví dụ, chương trình hạn ngạch đường của  
Hoa Kỳ đã khiến giá đường tại nước này cao  
gấp đôi so với giá thế giới1). Các quốc gia sử  
dụng công cụ này nhằm mục đích bảo hộ thị  
trường trong nước, ngăn ngừa sự cạnh tranh  
của hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, hạn ngạch  
(thuế quan) nhìn chung không được hoan  
nghênh và việc quản lý công cụ thương mại  
này cần được thực hiện cẩn thận, tránh gặp  
phải những vụ kiện đến từ các nước đối tác2.  
Việt Nam và EU đã ký Hiệp định thương  
mại tự do EVFTA có hiệu lực từ ngày  
01/8/2020. Đây là Hiệp định quan trọng mà  
Việt Nam kỳ vọng sẽ thúc đẩy nền kinh tế  
hàng hóa trở nên chất lượng và giá trị hơn. EU  
cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng  
85,6% số dòng thuế ngay khi hiệp định có  
hiệu lực và sau 7 năm gia nhập là 99,2% số  
dòng thuế. Số dòng thuế còn lại (0,8%) tương  
đương 14 mặt hàng3, EU áp dụng biện pháp  
hạn ngạch thuế quan với mức thuế trong hạn  
ngạch là 0%. Mức thuế ngoài hạn ngạch đối  
với những mặt hàng này được quy định ở mức  
rất cao4. Vì vậy, việc tận dụng được hạn ngạch  
sẽ mang lại lợi ích kinh tế lớn.  
2.1. Quy định mức hạn ngạch  
Hạn ngạch đối với hàng hóa từ Việt Nam  
xuất khẩu sang EU được quy định tại Tiểu  
mục 1, Mục B, Phụ lục 2A trong toàn văn của  
EVFTA. Nội dung này xác định rõ các mặt  
hàng với mã HS tương ứng và khối lượng hàng  
hóa trong hạn ngạch được hưởng thuế suất ưu  
đãi 0%. Nhìn tại thời điểm hiện tại, lượng xuất  
khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang EU vẫn chưa  
vượt quá mức hạn ngạch nên doanh nghiệp  
vẫn đang được hưởng lợi từ mức thuế 0%  
trong hạn ngạch. Ví dụ, mặt hàng gạo, trong  
năm 2019, khi EVFTA chưa có hiệu lực, Việt  
Nam mới chỉ xuất khẩu khoảng 50.000 tấn  
gạo5 sang EU. Năm 2020, do nền kinh tế toàn  
cầu gặp phải khó khăn vì dịch bệnh nên không  
tăng trưởng về sản lượng. So sánh với nhu cầu  
nhập khẩu gạo của thị trường EU là khoảng  
2,3 triệu tấn gạo/năm thì rõ ràng hàng Việt  
Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 2,2% nhu  
cầu này; hoặc mặt hàng mía đường, đây là  
ngành hàng đang gặp rất nhiều khó khăn của  
Việt Nam, cũng được hưởng lợi nhiều từ hạn  
ngạch của EU. Phải nói rằng, hầu hết các quốc  
gia trên thế giới đều có chính sách bảo hộ với  
ngành mía đường, bao gồm cả các nước phát  
triển và nước đang phát triển6. EU không phải  
1 https://public.wsu.edu/~hallagan/EconS327/weeks/week5/Sugar/sugarquota.html.  
2 Nhật Bản bị kiện trong vụ DS323 (WTO): Hạn ngạch nhập khẩu đối với sản phẩm táo tía tẩm ướp và sấy khô;  
Trung Quốc bị kiện trong vụ DS517 (WTO): Hạn ngạch nhập khẩu đối với một số sản phẩm nông nghiệp lúa  
mì, gạo và ngô.  
3 Trứng và lòng đỏ trứng gia cầm; tỏi; ngô ngọt; gạo đã xát; gạo đã xay; gạo đã xay thuộc một số loại gạo thơm  
nhất định; tinh bột sắn; cá ngừ; surimi; đường và các sản phẩm khác chứa hàm lượng đường cao; đường đặc  
biệt; nấm; ethanol; Mannitol, Sorbitol, Dextrin và các dạng tinh bột biến tính khác.  
4 Ví dụ mặt hàng gạo, năm 2020 giá xuất khẩu gạo trung bình đạt 600 USD/tấn, thuế ngoài hạn ngạch EU áp  
175 Euro/tấn, tương đương 35%. Trước khi EVFTA có hiệu lực, mức thuế nhập khẩu mà gạo Việt Nam phải  
chịu khi xuất khẩu sang EU vào khoảng 15%.  
5 Báo cáo thị trường gạo năm 2020, https://cdn.vietnambiz.vn/171464876016439296/2021/1/20/bao-cao-thi-  
truong-gao-nam-2020-16111472504561619634030.pdf.  
6 Sugar Policies: Opportunity for Change, Donald Mitchell1 Development Prospects Group, The World Bank,  
World Bank Policy Research Working Paper 3222, February 2004.  
Số 09(433) - T5/2021  
23  
CHÍNH SÁCH  
ngoại lệ, nếu không có ưu đãi từ EVFTA7,  
đường nhập khẩu từ Việt Nam sẽ phải chịu  
mức thuế nhập khẩu tuyệt đối là 419 Euro/tấn  
đối với đường tinh luyện và 399 Euro/tấn đối  
với đường thô. So sánh với giá đường trên thế  
giới, tháng 2/2021 giá sản phẩm đường trắng  
được nhận định đạt mức cao nhất trong 4 năm  
gần đây cũng chỉ rơi vào 475,2 USD/tấn8 thì  
việc được miễn thuế trong hạn ngạch là rất  
đáng kể.  
ngạch đối với mặt hàng gạo và Quy chế  
2020/102410 ngày 14/7/2020 phân bổ hạn  
ngạch đối với các mặt hàng khác.  
2.2.1. Quy định đối với mặt hàng gạo  
Theo Quy chế 2020/991, việc phân bổ hạn  
ngạch nhập khẩu gạo sẽ giới hạn trong những  
doanh nghiệp nào có đăng ký với phía EU.  
Nhà nhập khẩu muốn được hưởng hạn ngạch  
sẽ nộp đơn theo thời hạn quy định (trong 7  
ngày đầu tháng, tháng 12 là 7 ngày cuối) và  
nộp một khoản tiền bảo đảm cho lượng hàng  
đăng ký nhập khẩu (30 Euro/tấn).  
Bảng dưới đây sẽ chi tiết hạn ngạch của  
EU đối với các mặt hàng cụ thể:  
2.2. Cơ chế phân bổ hạn ngạch của EU  
Hạn ngạch đối với mặt hàng gạo được  
phân bổ theo từng quý trong 3 quý đầu năm,  
quý trước chưa dùng hết có thể chuyển sang  
quý tiếp theo. Hạn ngạch của quý cuối cùng  
Để thực thi quy định về hạn ngạch thuế  
quan trong EVFTA, EU đã ban hành Quy  
chế 2020/9919 ngày 13/5/2020 phân bổ hạn  
Mặt hàng  
Mức hạn ngạch  
Tổng hạn ngạch là 80.000 tấn/năm, cụ thể:  
Gạo chưa xay xát: Lượng hạn ngạch là 20.000 tấn/năm  
Gạo xay xát: Lượng hạn ngạch là 30.000 tấn/năm  
Gạo thơm: Lượng hạn ngạch là 30.000 tấn/năm  
Gạo  
Đường trắng: 10.000 tấn/năm  
Đường  
Sản phẩm chứa trên 80% đường: 10.000 tấn/năm  
Trứng gia cầm đã qua chế biến: 500 tấn/năm  
Tỏi: 400 tấn/năm  
Ngô ngọt (trừ loại có đường kính lõi từ 8 mm trở lên nhưng không quá  
12 mm): 5.000 tấn/năm  
Nông sản khác  
Tinh bột sắn: 30.000 tấn/năm  
Nấm: 350 tấn/năm  
Cồn etylic: 1.000 tấn  
Một số sản phẩm hóa chất (manitol, sorbitol, dextrins,…): 2.000 tấn  
7 EU duy trì ưu đãi rất hẹp đối với việc nhập khẩu đường. Ngoài các cam kết trong FTAs quy định theo hướng  
ban hành hạn ngạch thuế quan, EU chỉ miễn thuế nhập khẩu đường (và tất cả các sản phẩm trừ vũ khí) hoàn  
toàn cho các nước thuộc nhóm EBA (Everything But Arms - Mọi thứ trừ vũ khí) nằm trong Chương trình ưu  
đãi thuế quan phổ cập của EU. Chương trình này ghi nhận EBA gồm 49 quốc gia tại nhiều khu vực trên thế  
giới, đều thuộc nhóm các nước kém phát triển nhất.  
8 https://www.isosugar.org/prices.php.  
9
https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=uriserv:OJ.L_.2020.221.01.0064.01.ENG.  
10 https://eur-lex.europa.eu/legal-content/GA/TXT/?uri=CELEX:32020R1024.  
24  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
sẽ được cộng dồn phần chưa sử dụng trong  
3 quý đầu cho hết hạn ngạch của năm đó.  
tấn dành cho các nhóm gạo thơm cần có giấy  
chứng nhận của cơ quan phía Việt Nam là  
vấn đề cần đáp ứng nếu muốn được hưởng  
hạn mức này. Nếu không, số lượng đó sẽ bị  
tính vào 50.000 tấn còn lại không yêu cầu  
xác định chủng loại. Phần tiếp theo sẽ trình  
bày về nội dung cấp giấy chứng nhận chủng  
loại gạo từ phía Việt Nam nhằm tận dụng  
được hết mức hạn ngạch của EU.  
Nếu lượng đăng ký xin cấp phép cho mỗi  
giai đoạn vượt quá mức hạn ngạch thì EU sẽ  
phân bổ cho từng nhà nhập khẩu theo tỷ lệ  
tương ứng với số lượng đã đăng ký.  
Trong hạn ngạch 80.000 tấn gạo có  
30.000 tấn thuộc loại gạo thơm quy định  
chặt chẽ hơn những loại gạo khác. Với  
những nhà nhập khẩu muốn được hưởng  
ưu đãi cho gạo thơm, họ cần thêm một giấy  
chứng nhận đúng chủng loại gạo thơm được  
cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của Việt  
Nam. Tiểu mục 1, mục B, Phụ lục 2A liệt  
kê 8 nhóm gạo thơm, danh mục này có thể  
được sửa đổi tùy theo tình hình thực tế do  
Ủy ban Thương mại quyết định.  
3. Những lưu ý nhằm đáp ứng quy định  
của EU về hạn ngạch thuế quan đối với  
Việt Nam  
3.1. Thủ tục cấp giấy chứng nhận  
chủng loại gạo thơm  
Để được hưởng ưu đãi thuế quan theo  
Hiệp định, hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam  
cần có chứng nhận xuất xứ (C/O) để xác định  
nguồn gốc xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, đối  
với mặt hàng gạo thơm, muốn được hưởng  
ưu đãi thì ngoài việc có C/O, hàng hóa cần  
thêm giấy chứng nhận chủng loại gạo. Đây  
là hai loại chứng nhận khác nhau và chứng  
nhận chủng loại gạo không thể thay thế được  
C/O. Để phục vụ việc cấp chứng nhận chủng  
loại gạo thơm, Chính phủ đã ban hành Nghị  
định số 103/2020/NĐ-CP ngày 04/9/2020  
quy định về chứng nhận chủng loại gạo thơm  
xuất khẩu sang Liên minh châu Âu.  
2.2.2. Quy định đối với các mặt hàng khác11  
Theo Quy chế 2020/1024, việc phân bổ  
hạn ngạch được thực hiện đơn giản hơn so với  
gạo. Hạn ngạch của một năm không cần phân  
chia theo từng giai đoạn mà sẽ cấp cho doanh  
nghiệp nào đăng ký trước theo nguyên tắc  
“first come first served” (doanh nghiệp nào  
đăng ký trước thì được cấp hạn ngạch trước)  
cho đến khi hết mức hạn ngạch của năm đó.  
Nếu các doanh nghiệp xin cấp hạn ngạch vào  
cùng thời điểm mà không đủ hạn ngạch thì sẽ  
được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng.  
Trước khi EVFTA có hiệu lực, một số các  
FTA khác mà Việt Nam là thành viên cũng  
có quy định áp dụng hạn ngạch đối với mặt  
hàng gạo, nhưng không phân loại gạo thành  
các nhóm như EVFTA. Ví dụ, Hiệp định  
Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc  
(VKFTA) kết hợp với Thỏa thuận nhiều bên  
giữa Hàn Quốc và 5 đối tác WTO12, Hàn  
Quốc dành cho gạo Việt Nam một lượng hạn  
ngạch là 55.112 tấn gạo bao gồm các loại  
gạo mà Việt Nam có thể trồng và xuất khẩu  
chứ không chia nhóm; Hiệp định Thương  
mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế  
Việc phân bổ hạn ngạch nêu trên đòi hỏi  
các doanh nghiệp phải chủ động đăng ký với  
cơ quan cấp hạn ngạch (Tổng cục Thuế và  
Hải quan EU) và chuẩn bị đầy đủ các loại  
giấy tờ cần thiết cho quá trình đăng ký. Đặc  
biệt, đối với mặt hàng gạo, đây là mặt hàng  
có lượng hạn ngạch lớn nhất và cũng là mặt  
hàng có quy định phức tạp nhất. Điều này  
đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự tính toán,  
cân nhắc và tìm đối tác để thời gian thực  
hiện hợp đồng phù hợp với thời điểm mà hạn  
ngạch được cấp. Lượng hạn ngạch 30.000  
11 Footnote số 3, trừ mặt hàng gạo  
12 Bao gồm: Hoa Kỳ, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Australia.  
Số 09(433) - T5/2021  
25  
CHÍNH SÁCH  
Á Âu (Hiệp định Việt Nam - EAEU) quy  
định mức hạn ngạch nhập khẩu vào các nước  
cụ thể với loại hàng cụ thể nhưng không yêu  
cầu giấy chứng nhận chủng loại gạo.  
của thị trường EU. Bên cạnh đó, các nhóm  
gạo thơm được hưởng ưu đãi theo EVFTA  
đều được trồng tập trung ở đồng bằng Sông  
Cửu Long và một số tỉnh miền Trung Tây  
Nguyên mà chưa khai thác hết các vùng  
trồng lúa khác trên toàn quốc. Điều này cũng  
khiến cho việc tận dụng hết ưu đãi gặp khó.  
Đến thời điểm này, EVFTA là hiệp định  
đầu tiên và duy nhất có yêu cầu giấy chứng  
nhận chủng loại gạo thơm để được hưởng  
ưu đãi thuế quan. Mục đích của yêu cầu  
này nhằm nâng cao phẩm cấp, chất lượng  
gạo nhập khẩu vào EU. Bên cạnh đó, việc  
có chứng nhận gạo thơm cũng giúp thương  
nhân có thể bán được với giá cao hơn và tiếp  
cận thị trường tốt hơn. Ở Việt Nam, cơ quan  
có thẩm quyền cấp chứng nhận này là Cục  
Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn. Thủ tục cấp giấy chứng nhận này  
khá nhanh chóng, kể từ khi doanh nghiệp  
nộp đầy đủ hồ sơ thì Cục Trồng trọt sẽ tiến  
hành thẩm định trong 5 ngày13 đối với cấp  
mới chứng nhận hoặc 3 ngày14 đối với chứng  
nhận lại.  
Việt Nam là quốc gia có thế mạnh xuất  
khẩu gạo, việc nghiên cứu cho ra đời các  
giống lúa mới có phẩm chất và giá trị cao  
được đẩy mạnh nên các giống lúa mới liên  
tục xuất hiện; ví dụ, các giống ST24, ST25…  
Giống ST25 đặc biệt đã được trồng tại cả  
miền Bắc và đạt diện tích trên 100ha, cho  
thành phẩm đạt chất lượng cao nhưng lại  
không có tên trong danh sách giống lúa thơm  
được hưởng ưu đãi. Vì vậy, Việt Nam cần  
thúc đẩy mở rộng danh sách giống lúa thơm  
được hưởng ưu đã nhằm bắt kịp với những  
thành quả quảng bá sản phẩm, xu hướng yêu  
thích của thị trường.  
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần lưu ý,  
muốn được chứng nhận thì gạo thơm phải  
đạt được những điều kiện sau: (1) gạo thơm  
được sản xuất từ giống lúa thơm có chất  
lượng hạt giống phù hợp theo Quy chuẩn  
kỹ thuật quốc gia15; có thông tin rõ ràng về  
diện tích, địa điểm trồng (tổ/thôn, phường/  
xã, quận/huyện/thị xã, tỉnh/thành phố); (2)  
lô ruộng lúa thơm được kiểm tra đảm bảo  
độ thuần giống (% số cây) không nhỏ hơn  
95%16. Mặc dù quy định này không mới,  
nhưng không phải doanh nghiệp sản xuất/  
kinh doanh lúa gạo nào cũng có thể đáp ứng  
được quy chuẩn này vì trong điều kiện trồng  
trọt ở nước ta hiện nay việc đảm bảo thuần  
giống ở mức độ cao là không hề dễ dàng. Đây  
chính là một minh họa cho thấy yêu cầu cao  
Để có thể tận dụng được hết mức hạn  
ngạch nhằm hưởng ưu đãi, các mặt hàng bị  
áp hạn ngạch cần đáp ứng tối đa những quy  
định trong EVFTA; đặc biệt là mặt hàng gạo  
với việc chứng nhận chủng loại gạo thơm,  
nếu không sẽ bỏ lỡ 37,5% lượng hạn ngạch  
gạo mà EU ban hành, Chính phủ cần có chỉ  
đạo để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn cùng với các cơ quan hữu quan khác  
đưa ra chiến lược, quy hoạch cụ thể đối với  
quỹ đất nông nghiệp, dành một diện tích  
cần thiết để phát triển lúa gạo chất lượng  
cao trong bối cảnh phải chia sẻ quỹ đất với  
các mục tiêu phát triển công nghiệp khác.  
Bên cạnh đó, Việt Nam cần có chính sách  
hợp lý để chuyển đổi, cải tạo giống nhằm  
đạt được sản lượng cao và chất lượng tốt.  
13 Điều 7, Nghị định số 103/2020/NĐ-CP.  
14 Điều 8, Nghị định số 103/2020/NĐ-CP.  
15 QCVN 01-65: 2011/BNNPTNT, Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất  
và tính ổn định của giống lúa.  
16 Điều 4, Nghị định số 103/2020/NĐ-CP.  
26  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
3.2 Quản lý nhà nước đối với xuất  
khẩu gạo  
Nếu doanh nghiệp không sở hữu cơ sở xay,  
xát, chế biến thì có thể thuê; hợp đồng thuê tối  
thiểu 5 năm. Đối với doanh nghiệp đã được cấp  
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất  
khẩu thì không được cho thuê, cho thuê lại kho  
chứa, cơ sở xay, xát, chế biến nằm trong hồ sơ  
kê khai để xin cấp Giấy chứng nhận.  
Bên cạnh đó, cũng có trường hợp thương  
nhân không cần Giấy chứng nhận đủ điều  
kiện kinh doanh xuất khẩu nếu thương nhân  
đó chỉ xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo  
tăng cường vi chất dinh dưỡng.  
Sau khi Nghị định số 107 được ban hành,  
số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực này  
đã tăng đáng kể đạt gần 200 doanh nghiệp  
vào cuối năm 202018. Tuy nhiên, con số này  
khá khiêm tốn so với những ngành nghề  
khác, trong bối cảnh gạo là mặt hàng nông  
nghiệp chủ lực của Việt Nam.  
Để bảo đảm an ninh lương thực, theo quy  
định của Nghị định số 107, thương nhân xuất  
khẩu gạo phải đảm bảo một mức dự trữ tương  
đương 5% số lượng gạo mà họ đã xuất khẩu  
trong 6 tháng trước đó19. Tuy nhiên, quy định  
này lại là một trở ngại khiến cho các doanh  
nghiệp không mặn mà với lĩnh vực kinh doanh  
gạo. Tác giả cho rằng, việc cân đối và giữ gìn  
an ninh lương thực nên thuộc về trách nhiệm  
của Chính phủ, nên nguồn kinh phí để dự trữ  
lương thực không nên đặt lên vai doanh nghiệp.  
Chưa kể, chính vì trách nhiệm dự trữ gạo đang  
thuộc về doanh nghiệp nên khi có những biến  
động trên thị trường (dịch bệnh, thiên tai, mất  
mùa…) thì Chính phủ sẽ can thiệp bằng các  
biện pháp như tạm ngừng xuất khẩu. Biện pháp  
này lại dẫn đến trường hợp doanh nghiệp bị  
mất đối tác, mất uy tín và có thể bị phạt vì vi  
phạm hợp đồng. Vì vậy, việc sửa đổi quy định  
nêu trên là thực sự cần thiết.  
EU quy định áp dụng hạn ngạch đối với  
những mặt hàng nêu trên là nhằm bảo vệ ngành  
sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từ các  
đối thủ và cân đối nguồn nhập khẩu từ các thị  
trường khác nhau. Bởi lẽ, EU ký kết khá nhiều  
các FTA và có Chương trình ưu đãi thuế quan  
phổ cập dành ưu đãi cho nhiều quốc gia đang  
phát triển trên thế giới. Thị trường các mặt  
hàng nói chung và mặt hàng gạo nói riêng của  
Việt Nam tại EU là chưa nhiều. Vì vậy, mục  
tiêu trước hết là thúc đẩy các doanh nghiệp  
Việt Nam có cơ hội tìm kiếm bạn hàng, tạo  
điều kiện cho những doanh nghiệp trong nước  
kinh doanh mặt hàng gạo. Trong những mặt  
hàng nêu trên, kinh doanh gạo là ngành nghề  
kinh doanh có điều kiện. Trước đây, Nghị định  
số 109/2010/NĐ-CP quy định về kinh doanh  
xuất khẩu gạo không tạo thuận lợi cho doanh  
nghiệp. Nghị định này đã được thay thế bởi  
Nghị định số 107/2018/NĐ-CP (Nghị định số  
107) với những quy định thuận lợi hơn cho các  
doanh nghiệp với điều kiện kinh doanh xuất  
khẩu gạo đã được giảm nhẹ rất nhiều. Theo đó,  
các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần bảo đảm  
đáp ứng các điều kiện sau17:  
- Có ít nhất 01 kho chuyên dùng để  
chứa thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy  
chuẩn kỹ thuật quốc gia về kho chứa thóc,  
gạo do cơ quan có thẩm quyền ban hành  
theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và quy  
chuẩn kỹ thuật;  
- Có ít nhất 01 cơ sở xay, xát hoặc cơ sở  
chế biến thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn,  
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kho chứa  
và cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo do cơ  
quan có thẩm quyền ban hành theo quy định  
của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.  
17 Điều 4 Nghị định số 107/2018/NĐ-CP.  
18  
khau-gao-19842-22.html.  
19 Điều 12 Nghị định số 107/2018/NĐ-CP.  
Số 09(433) - T5/2021  
27  
CHÍNH SÁCH  
3.3. Chú trọng bảo hộ thương hiệu cho  
hàng nông nghiệp  
hóa, dịch vụ… của mình, tức là doanh nghiệp  
Việt Nam (người “mất” nhãn hiệu) không thể  
sử dụng nhãn hiệu đó để gắn lên sản phẩm của  
mình, không thể quảng bá sản phẩm dưới cái  
tên đó; tóm lại, không được quyền khai thác  
bất cứ điều gì từ nhãn hiệu đó. Nói cách khác,  
chính hàng hóa mang lại uy tín, tên tuổi cho  
nhãn hiệu đó sẽ trở thành hàng vô danh, làm  
suy giảm rất nhiều giá trị. Thị trường EU và  
cả Hoa Kỳ, Nhật Bản… là những thị trường  
khó với yêu cầu chất lượng khắt khe và mức  
độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ rất cao, nên  
nếu doanh nghiệp của Việt Nam và Chính phủ  
không có sự chủ động cũng như hỗ trợ bảo vệ  
tài sản trí tuệ gắn liền với hàng hóa Việt Nam  
thì hoạt động xuất khẩu sẽ không chỉ gặp khó  
trong việc đáp ứng yêu cầu chất lượng mà còn  
có thể không thể gia nhập thị trường do rào cản  
về luật sở hữu trí tuệ.  
Hiện nay, việc bảo hộ thương hiệu cho  
hàng hóa nói chung và hàng nông nghiệp nói  
riêng là điểm yếu lớn mà Việt Nam chưa thể  
khắc phục được. Đứng dưới góc độ luật sở  
hữu trí tuệ, có nhiều cách để một tài sản trí tuệ  
được bảo hộ20, nhưng hàng hóa Việt Nam hầu  
như rất ít được bảo hộ các yếu tố liên quan  
đến sở hữu trí tuệ. Lịch sử 30 năm xuất khẩu  
gạo của Việt Nam chưa ghi nhận một nhãn  
hiệu gạo nào được bảo hộ tại các thị trường  
nhập khẩu. Vì vậy, câu chuyện “mất thương  
hiệu” đã được nhắc đến rất nhiều như cà phê  
Buôn Mê Thuột, cà phê Trung Nguyên, nước  
mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc… có  
thể sẽ lặp lại đối với gạo xuất khẩu.  
Gần đây nhất là trường hợp của giống gạo  
thơm ST25, một trong những mặt hàng mang  
lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong các  
hàng nông nghiệp, khi nhãn hiệu ST25 đã bị  
đăng ký bảo hộ21 tại Hoa Kỳ bởi một số doanh  
nghiệp Hoa Kỳ (chủ doanh nghiệp là người gốc  
Việt), những đơn đăng ký này đều được nộp  
trong năm 2020, sớm nhất là vào 18/6/202022,  
tức là chủ đơn đã nhận thấy tiềm năng của nhãn  
hiệu này và đăng ký cho dù họ không thật sự  
là người sáng tạo ra giống lúa này. Câu hỏi liệu  
nhãn hiệu ST25 có bị “mất” như những nhãn  
hiệu trước đó hay không vẫn chưa ngã ngũ.  
Tuy nhiên, đây là bài học lớn tiếp theo về xây  
dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam.  
Một nhãn hiệu khi đã đăng ký thành công tại  
một quốc gia thì chỉ có chủ sở hữu nhãn hiệu  
mới được quyền gắn nhãn hiệu đó lên hàng  
Khắc phục được những vấn đề cốt lõi  
nêu trên chính là bước chuẩn bị những điều  
kiện cần đủ để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu  
hàng hóa nói chung và hàng nông nghiệp  
nói riêng. Việc tham gia nhiều các FTA  
trong những năm gần đây là tín hiệu tốt cho  
thấy Việt Nam sẵn sàng mở rộng thị trường,  
đưa hàng hóa đi khắp thế giới. EVFTA là  
kết quả của quá trình đàm phán gay cấn cho  
đến những thời điểm cuối cùng, những kết  
quả đàm phán đem lại cho chúng ta nhiều  
cơ hội và cũng nhiều áp lực. Riêng trong  
vấn đề hạn ngạch dành cho hàng nông sản,  
chúng ta phải tìm cách đáp ứng các đòi hỏi  
của thị trường EU nhằm tận dụng hết hạn  
ngạch, tối đa hóa lợi ích từ Hiệp định này  
20 Thường đối với tên gọi gắn liền với hàng hóa có thể đăng ký dưới dạng nhãn hiệu, nhưng luật sở hữu trí tuệ  
quy định rất nhiều hình thức khác như chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế…  
21 Kết quả tra cứu cho đến ngày 22/4/2021 đã có 5 đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu được nộp cho Cơ quan Sáng  
s e a r c h = s e a r c h s s & p _ L = 5 0 & B a c k R e f e r e n c e = & p _ p l u r a l = y e s & p _ s _ PA R A 1 = & p _  
tagrepl%7E%3A=PARA1%24LD&expr=PARA1+AND+PARA2&p_s_PARA2=ST25&p_  
tagrepl%7E%3A=PARA2%24COMB&p_op_ALL=AND&a_default=search&a_search=Submit+Query&a_  
search=Submit+Query.  
22 https://tmsearch.uspto.gov/bin/showfield?f=doc&state=4808:ud3xl1.2.2.  
28  
Số 09(433) - T5/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 12320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hạn ngạch đối với nông sản xuất khẩu sang eu theo Evfta", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhan_ngach_doi_voi_nong_san_xuat_khau_sang_eu_theo_evfta.pdf