Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨNG CỨ  
TỪ NGUỒN DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ  
LÊ THANH NGHỊ* - HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG**  
Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh  
mẽ, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã bổ sung quy định dữ liệu điện tử là một trong  
những nguồn chứng cứ mới và có giá trị chứng minh như các nguồn chứng cứ thông thường. Thông  
qua nghiên cứu lý luận về chứng cứ là dữ liệu điện tử và thực tiễn công tác, bài viết đánh giá thực  
trạng của quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật  
về chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu  
cầu cải cách tư pháp.  
Từ khóa: Tố tụng hình sự, chứng cứ, dữ liệu điện tử.  
Ngày nhận bài: 19/4/2021; Biên tập xong: 23/4/2021; Duyệt đăng: 23/4/2021  
Due to the strongly ongoing fourth Industrial Revolution, the 2015 Criminal Procedure  
Code has added that electronic data is one of the new sources of evidence and as valid as the  
others. By studying theoretical and practical maꢀers on electronic evidence, the authors assess  
current situation of criminal procedure law, thereby propose amendments and supplements  
to the law on evidence from electronic data sources to ensure human rights, citizen rights and  
to meet judicial reform requirements.  
Keywords: Criminal procedure, evidence, electronic data.  
1. Khái quát chung về chứng cứ từ nguồn  
dữ liệu điện tử trong tố tụng hình sự  
Hai định nghĩa trên đã rút ra hai đặc điểm  
chung của dữ liệu điện tử gồm: Dữ liệu là  
các thông tin được hoạt động theo nguyên lý  
điện tử, phương pháp điện tử; dữ liệu được  
chứa trong các phương tiện điện tử, dụng cụ  
điện tử.  
Điều 99 BLTTHS năm 2015 quy định dữ  
liệu điện tử như sau:  
1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số,  
hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo  
ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương  
tiện điện tử.  
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương  
tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông,  
trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.  
BLTTHS năm 2015 đã định nghĩa dữ liệu  
điện tử thông qua hình thức, biểu hiện bên  
ngoài của dữ liệu điện tử (ký hiệu, chữ viết,  
chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương  
1.1. Khái niệm về dữ liệu điện tử  
Dữ liệu điện tử là một trong bảy nguồn  
chứng cứ được quy định trong BLTTHS năm  
20151 làm cơ sở cho việc xác định hành vi  
phạm tội và xử lý tội phạm. Đây là quy định  
mới đòi hỏi cần nghiên cứu bản chất của dữ  
liệu điện tử để phân tích được các hoạt động  
tố tụng hình sự có liên quan.  
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Dữ liệu là sự biểu  
diễn của một thông tin trong máy tính dưới dạng  
quy ước, nhằm làm dễ dàng việc xử lý”; “Điện tử  
thuộc về electron; thuộc về hay có sử dụng những  
dụng cụ được chế tạo theo các phương pháp điện  
tử học hoặc hoạt động theo các nguyên lý của điện  
tử học. Dụng cụ điện tử. Máy tính điện tử”2. Còn  
theo Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-  
BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC  
ngày 10/09/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc  
phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền  
thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa  
án nhân dân tối cao, “Dữ liệu điện tử là thông  
tin chứa trong phương tiện điện tử.”  
* Phó Viện trưởng VKSND thành phố Điện Biên, tỉnh  
Điện Biên  
** Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Pháp luật Hành chính –  
Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội  
2ꢀ Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Hồng  
Đức, năm 2019, tr. 339, 403.  
1ꢀ Khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015  
38 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THANH NGHỊ - HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG  
tự) và cách thức thu thập dữ liệu điện tử (từ tử là các thông tin có giá trị được tạo ra, lưu trữ,  
phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử  
viễn thông, trên đường truyền và các nguồn và được thu thập bằng các phương tiện điện tử”.  
điện tử khác). Khái niệm này có sự tương  
1.2. Khái niệm chứng cứ từ nguồn dữ liệu  
đồng với các khái niệm về dữ liệu và phương  
điện tử  
tiện điện tử theo Luật giao dịch điện tử năm  
BLTTHS năm 2015 không định nghĩa về  
2015.3  
chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử tuy nhiên  
Tuy nhiên, khái niệm về dữ liệu điện tử  
có quy định về giá trị chứng cứ của dữ liệu  
của BLTTHS năm 2015 có phần chưa phù hợp  
điện tử tại khoản 3 Điều 99, cụ thể:“Giá trị  
với thực tế, cụ thể:  
chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn  
cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi  
dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính  
toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định  
người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.”  
- Một số nguồn chứng cứ như các văn bản  
được in ra từ máy in thỏa mãn điều kiện về  
dữ liệu điện tử như chứa ký hiệu, chữ viết,  
chữ số, hình ảnh và do phương tiện điện tử  
tạo ra nhưng không phải là dữ liệu điện tử.  
- Các dữ liệu điện tử được thu thập trong  
các vụ án hình sự hầu như không tồn tại dưới  
một hình thức đơn nhất như ký hiệu, chữ viết,  
chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương  
tự mà là tập hợp các thông tin, biểu hiện dưới  
các hình thức có ý nghĩa đối với đời sống con  
người như thư điện tử (email), tệp tin ảnh,  
video, bảng biểu, các tín hiệu được mã hóa…  
Do vậy, các hình thức biểu hiện về dữ liệu  
điện tử nêu trong BLTTHS không đầy đủ với  
thực tế.  
- Trong kỹ thuật điện tử, các phương tiện  
điện tử được mô tả dưới nhiều dạng thiết bị  
nhưng có thể chia làm 2 dạng chính căn cứ  
vào tín hiệu điện tử mà thiết bị tạo ra, lưu trữ,  
truyền nhận trong quá trình hoạt động gồm  
có thiết bị kỹ thuật số (digital) và công nghệ  
tương tự (analog). Đối với cả hai dạng này,  
các tín hiệu điện tử tạo ra, lưu trữ và truyền  
dẫn trong các phương tiện điện tử không thể  
cảm nhận và giải mã được bằng các giác quan  
của con người, để sử dụng được đòi hỏi phải  
có các thiết bị điện tử nhất định. Đây là một  
đặc điểm quan trọng để phân biệt với các  
nguồn chứng cứ khác.  
Từ những quy định của BLTTHS năm  
2015, có thể thấy dữ liệu điện tử có giá trị  
pháp lý tương đương dấu vết, vật chứng  
trong tội phạm truyền thống để chứng minh  
tội phạm. Để những dữ liệu điện tử có thể trở  
thành chứng cứ chứng minh sự thật của vụ  
án, ngoài đảm bảo 03 thuộc tính của chứng cứ  
pháp lý gồm: Tính khách quan (có thật, tồn  
tại khách quan), tính liên quan (thông tin thu  
thập được có thể giải quyết hoặc làm rõ được  
một trong các vấn đề cần phải chứng minh  
trong vụ án) và tính hợp pháp (được thu thập  
theo đúng thủ tục, trình tự do BLTTHS quy  
định), dữ liệu điện tử còn phải đáp ứng được  
những yêu cầu riêng về luật định trong việc  
thu thập, bảo quản, phục hồi, chuyển hóa  
chứng cứ. Cụ thể:  
- Cũng như các nguồn chứng cứ khác, dữ  
liệu điện tử cũng để lại các dấu vết mang tính  
vật chất. Đó là những dữ liệu tồn tại khách  
quan trong quá trình thực hiện tội phạm  
nhưng có điểm khác biệt là môi trường tồn tại  
của các chứng cứ này so với chứng cứ truyền  
thống. Thông thường những dấu vết, vật  
chứng phản ánh hành vi phạm tội luôn tồn tại  
trong một không gian thực thì dấu vết trong  
tội phạm liên quan đến dữ liệu điện tử được  
tạo ra, lưu trữ, truyền nhận trong các phương  
tiện điện tử như máy tính, điện thoại hoặc các  
thiết bị có bộ nhớ khác dưới dạng các tín hiệu  
điện tử.  
Từ các phân tích nêu trên, có thể định  
nghĩa về dữ liệu điện tử như sau: “Dữ liệu điện  
3ꢀ Khoản 5 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005:  
“Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số,  
hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.”  
Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005:  
“Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên  
công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn  
không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.  
- Đặc điểm của những dữ liệu hay tín hiệu  
điện tử này là chúng được tạo ra một cách tự  
động theo cài đặt, lập trình sẵn hoặc theo ý  
muốn chủ động của con người và có thể thay  
đổi được. Tuy nhiên, con người không thể  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 39  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨNG CỨ...  
trực tiếp tác động vào các tín hiệu điện tử để cứ quan trọng trong việc giải quyết vụ án như  
thay đổi các thông tin mà phải thông qua các thời gian, vị trí, nội dung nhắn tin, email, lịch  
thiết bị điện tử. Giá trị các dữ liệu được tạo sử cuộc gọi… Để thu thập được các thông tin  
ra cần căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ,  
truyền gửi, cách thức bảo đảm và duy trì tính  
toàn vẹn, cách thức xác định người khởi tạo.  
Dữ liệu điện tử để được công nhận có giá trị là  
chứng cứ nếu thông tin chứa trong đó có thể  
truy cập, sử dụng để tham chiếu khi cần thiết  
và nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo  
đảm toàn vẹn, chưa bị thay đổi.  
này, các cơ quan tiến hành tố tụng cần lưu ý  
một số vấn đề liên quan đến bí mật cá nhân,  
thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử để  
hỏi cung, lấy lời khai bằng hình thức ghi âm  
hoặc ghi hình có âm thanh hay xử lý chứng cứ  
từ nguồn dữ liệu điện tử.  
2.1. Thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử  
liên quan đến bí mật cá nhân  
Từ Điều 86 BLTTHS năm 2015 và các phân  
tích nêu trên, có thể định nghĩa về chứng cứ  
từ nguồn dữ liệu điện tử như sau: Chứng cứ  
từ nguồn dữ liệu điện tử là những thông tin có  
thật, được thu thập từ các phương tiện điện tử  
theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định,  
được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có  
hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm  
tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc  
giải quyết vụ án.  
Thu thập chứng cứ là hoạt động có ý nghĩa  
đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự, đây  
là cơ sở cho việc chứng minh tội phạm và xác  
định sự thật khách quan của vụ án. Hoạt động  
thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử  
là quy định mới trong BLTTHS năm 2015 và  
hiện đang còn một số bất cập như:  
Thứ nhất, vướng mắc trong việc khám xét dữ  
liệu điện tử  
Chương XIII BLTTHS năm 2015 quy định  
về việc khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài  
liệu, trong đó Điều 192 quy định về căn cứ  
và thẩm quyền khám xét người, chỗ ở, nơi  
làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ  
vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ  
liệu điện tử. Mặt khác, Điều 196 trong cùng  
chương quy định về việc thu giữ phương tiện  
điện tử, dữ liệu điện tử. Do vậy, cùng là dữ  
liệu điện tử nhưng dữ liệu điện tử vừa được  
quy định khám xét, vừa được quy định thu  
thập, dẫn đến việc không hợp lý về mặt lý  
luận cũng như thực tiễn, cụ thể như sau:  
Từ quy định của Điều 196 BLTTHS năm  
2015 về việc “người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn  
liên quan tham gia thu giữ phương tiện điện tử, dữ  
liệu điện tử”, Cơ quan có thẩm quyền điều tra  
tự tiến hành trích xuất dữ liệu điện tử trong  
các phương tiện điện tử mà không cần sự phê  
chuẩn của Viện kiểm sát do coi đây là hoạt  
động thu thập dữ liệu mà không phải hoạt  
động khám xét. Sau đó, dữ liệu thu thập được  
sẽ chuyển cho Viện kiểm sát để thực hiện việc  
kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88  
BLTTHS năm 2015. Chính trong khoản 2 Điều  
54 Quy chế công tác thực hành quyền công  
tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố  
2. Thực trạng quy định pháp luật hiện  
hành về thu thập, đánh giá chứng cứ từ  
nguồn dữ liệu điện tử  
Theo số liệu thống kê của tổ chức We Are  
Social và Hootsuite, đến tháng 01/2021, Việt  
Nam có dân số khoảng 97,75 triệu người,  
trong đó có 68,72 triệu người dùng internet,  
72,00 triệu người dùng mạng xã hội, 154,4  
triệu kết nối di động, tương đương 157,9%  
tổng dân số4. Có thể thấy, đời sống của hầu  
hết cá nhân, tổ chức trong xã hội đều gắn liền  
với mạng máy tính, mạng viễn thông thông  
qua các phương tiện điện tử. Trong công tác  
điều tra, truy tố, xét xử án hình sự, các nguồn  
thông tin thu thập từ các phương tiện điện  
tử ngày càng là nguồn chứng cứ phổ biến  
và quan trọng giúp phát hiện, đấu tranh với  
các loại tội phạm. Cùng với sự phát triển của  
công nghệ, các đối tượng phạm tội đã chuyển  
từ các phương pháp liên lạc truyền thống  
như gọi điện, nhắn tin SMS sang sử dụng các  
phương thức mới như nhắn tin qua mạng xã  
hội, email, các ứng dụng nhắn tin OTT (Over-  
the-top)… Thông qua thiết bị di động, máy  
vi tính của các đối tượng, các cơ quan tiến  
hành tố tụng đã thu thập được nhiều chứng  
4ꢀ We Are Social & Hootsuite (2019), “DIGITAL  
2021: VIETNAM”, hꢁps://datareportal.com/reports/ ban hành theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC  
digital-2021-vietnam  
ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối  
40 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THANH NGHỊ - HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG  
cao cũng quy định: “Kiểm sát viên nghiên cứu việc cơ quan có thẩm quyền thu thập được  
hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh khám xét người, chỗ các thông tin do người khác cung cấp, giao  
ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện; lệnh thu nộp được lưu trữ trong thiết bị lưu trữ điện  
giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phương tử nào đó như USB, đĩa DVD… Việc thu giữ  
tiện điện tử, dữ liệu điện tử tại cơ quan, tổ chức, này không ảnh hưởng đến bí mật cá nhân của  
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra người cung cấp hoặc người đó tự chịu trách  
quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh nhiệm về hành vi giao nộp dữ liệu của mình.  
khám xét, lệnh thu giữ của Cơ quan có thẩm quyền Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi cụm từ “dữ liệu  
điều tra”. Như vậy, hoạt động khám xét, thu điện tử” trong Điều 192 thành “phương tiện  
giữ của Cơ quan có thẩm quyền điều tra chỉ điện tử” và cụm từ “dữ liệu điện tử” ở Điều 196  
cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát khi thu thành “phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử”.  
giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử tại  
Thứ hai, vướng mắc về người có thẩm quyền  
cơ quan, tổ chức, không áp dụng đối với cá  
thu thập dữ liệu điện tử  
nhân.  
Dữ liệu điện tử là các thông tin đặc thù  
Như đã phân tích ở trên, dữ liệu điện tử  
được lưu trữ trong các phương tiện điện tử.  
là các thông tin được lưu trữ trên các phương  
Cùng với sự phát triển của khoa học công  
tiện điện tử, kể cả là các dữ liệu được lưu trữ  
nghệ, các phương tiện điện tử ngày càng  
trên mạng internet hoặc qua các dịch vụ lưu  
phức tạp và bảo mật hơn. Điều này đòi hỏi  
trữ đám mây thì các dữ liệu này đều được  
cần đội ngũ cán bộ có chuyên môn, kỹ thuật  
ghi trên một hoặc một số phương tiện điện  
thực hiện việc trích xuất, chuyển hóa dữ liệu  
tử nhất định. Việc khám xét các phương tiện  
điện tử thành các dạng có thể cảm nhận được  
điện tử này có thể thu thập được nhiều thông  
bằng các giác quan của con người và lưu trữ  
tin khác nhau liên quan đến thông tin của  
một cách toàn vẹn các thông tin đã thu thập  
người sử dụng thiết bị như hình ảnh, tin nhắn,  
được. Điều 196 BLTTHS năm 2015 quy định  
thông tin cá nhân. Về bản chất, điện tín cũng  
việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện  
được coi là một dạng dữ liệu điện tử, được  
tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  
Nhà nước coi trọng và bảo hộ, khi thu thập  
thực hiện và có thể mời người có chuyên môn  
cần phải thực hiện đúng trình tự của BLTTHS  
liên quan tham gia. Trên thực tế, các cơ quan  
về việc khám xét, thu giữ và bắt buộc phải có  
điều tra cấp huyện không có cán bộ và thiết  
sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Do đó, cần  
bị chuyên môn về lĩnh vực này nên nhiều khi  
phải coi việc thu thập dữ liệu điện tử trong  
thực hiện các hoạt động có thể ảnh hưởng đến  
các phương tiện điện tử là hoạt động khám  
dữ liệu trong thiết bị như kết nối mạng, chụp  
xét phương tiện điện tử liên quan đến vụ án.  
ảnh màn hình, trích xuất bằng các thiết bị có  
Để đảm bảo quyền của họ thì hoạt động này  
thể đọc, ghi dữ liệu… Để tránh các trường  
cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát  
hợp làm mất mát hoặc can thiệp làm thay đổi  
trước khi thi hành lệnh khám xét hoặc thông  
dữ liệu, cần quy định việc khám xét, thu thập  
báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm  
dữ liệu phải do đội ngũ có chuyên môn thực  
quyền sau khi khám xét khẩn cấp xong theo  
hiện. Cần sửa đổi quy định của BLTTHS theo  
quy định tại Điều 193 BLTTHS năm 2015.  
hướng có tính mở để phù hợp với thực tiễn  
Từ đó, cần phải làm rõ việc khám xét dữ như “trong trường hợp cần thiết, người có thẩm  
điện tử trong Điều 192 và thu giữ dữ liệu điện quyền tiến hành tố tụng có thể thực hiện việc thu  
tử trong Điều 196 BLTTHS năm 2015. Việc thập dữ liệu điện tử nhưng phải ghi rõ vào biên  
khám xét dữ liệu điện tử là việc trích xuất dữ bản tố tụng”.  
liệu điện tử từ các phương tiện điện tử trực  
2.2. Thu thập, đánh giá chứng cứ từ nguồn  
tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các hình thức  
dữ liệu điện tử hỏi cung, lấy lời khai bằng  
như mạng không dây, mạng internet…) để  
hình thức ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh  
thu thập được các thông tin cần thiết. Quá  
Ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh là việc  
trình này đòi hỏi phải truy cập được vào các  
sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật để  
phương tiện điện tử và có thể thu được các  
ghi lại âm thanh hoặc hình ảnh có âm thanh  
thông tin khác không liên quan đến việc giải  
trong quá trình hỏi cung bị can; lấy lời khai  
quyết vụ án. Việc thu giữ dữ liệu điện tử là  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 41  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨNG CỨ...  
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thanh là việc sử dụng máy móc để ghi lại  
thương mại phạm tội; lấy lời khai người làm nguyên vẹn và chính xác lời khai của những  
chứng, người bị hại, đương sự; đối chất; tiếp người tham gia tố tụng về các thông tin liên  
nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị quan đến vụ án. Bằng các quy trình chặt chẽ,  
khởi tố. Ghi âm việc hỏi cung đã được quy người tiến hành tố tụng gần như không thể  
định trong BLTTHS năm 2003 và đã được một can thiệp để thay đổi các nội dung đã ghi. Đối  
số cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện ghi âm, với việc ghi biên bản hỏi cung, lấy lời khai  
ghi hình có âm thanh để củng cố chứng cứ, thông thường, nội dung biên bản không thể  
phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử5. Để ghi chính xác từng lời nói của đối tượng mà  
đảm bảo quyền con người theo quy định của chỉ có có thể tóm tắt lời khai, phụ thuộc nhiều  
Hiến pháp năm 2013 và tiến trình cải cách tư vào lăng kính chủ quan của của người tiến  
pháp, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định hành tố tụng. Có những trường hợp vì e ngại  
về ghi hình có âm thanh và các trường hợp lấy mà đối tượng được hỏi chấp nhận ký vào biên  
lời khai các đối tượng khác cần phải ghi âm bản mặc dù trái với ý chí của mình. Vì vậy, dữ  
hoặc ghi hình có âm thanh. Đây là biện pháp liệu ghi âm, ghi hình có giá trị chứng minh  
thu thập chứng cứ quan trọng từ nguồn dữ của chứng cứ cao hơn so với nội dung biên  
liệu điện tử để phục vụ cho việc đấu tranh đối bản hỏi cung, ghi lời khai do đảm bảo hơn về  
với các đối tượng không thành khẩn khai báo, tính khách quan.  
thay đổi lời khai vì lý do bị bức cung, gây khó  
Hiện nay, khi cơ quan tiến hành tố tụng  
khăn cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tiến hành việc hỏi cung, lấy lời khai bằng hình  
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình  
thức ghi âm, ghi hình có âm thanh, người tiến  
sự, đồng thời ngăn ngừa việc bức cung, dùng  
hành tố tụng vẫn phải ghi biên bản hỏi cung,  
nhục hình, giúp bảo đảm tôn trọng quyền và  
lấy lời khai, ghi đầy đủ lời trình bày của bị can,  
lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.  
người tham gia tố tụng, các câu hỏi và câu trả  
Căn cứ BLTTHS năm 2015, ngày 01/02/2018, lời của họ như trước khi có BLTTHS năm 2015  
Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và bổ sung thêm các nội dung về hoạt động  
Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng đã ghi âm, ghi hình có âm thanh theo Thông tư  
ban hành Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT- liên tịch số 03/2018. Trường hợp này sẽ đảm  
BCA-VKSNDTC- TANDTC-BQP hướng dẫn bảo thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1  
về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi Điều 133 và khoản 1 Điều 184 BLTTHS 2015:  
hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ “Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản  
kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo mẫu thống nhất. Biên bản ghi rõ…, nội dung  
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử (Thông của hoạt động tố tụng…” và “Mỗi lần hỏi cung bị  
tư liên tịch số 03/2018). Ngày 21/7/2020, Viện can đều phải lập biên bản. Biên bản hỏi cung bị can  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban … phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu  
hành Quy trình tạm thời Kiểm sát việc ghi âm hỏi và câu trả lời...”. Người nghiên cứu vụ án  
hoặc ghi hình có âm thanh của cơ quan có thẩm ở giai đoạn sau không cần phải nghe, xem lại  
quyền điều tra; trực tiếp ghi âm hoặc ghi hình các bản ghi âm, ghi hình có âm thanh mà chỉ  
có âm thanh khi hỏi cung bị can, lấy lời khai cần nghiên cứu các biên bản hỏi cung, ghi lời  
trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố khai. Điều này cũng được ghi nhận tại khoản  
kèm theo Quyết định số 264/QĐ-VKSTC. Hai 3 Điều 5 Quyết định số 264/QĐ-VKSTC6. Như  
văn bản này đã hướng dẫn cơ bản đầy đủ việc vậy, so với BLTTHS năm 2013, việc ghi âm,  
thực hiện ghi âm, ghi hình trong hoạt động ghi hình có âm thanh không phải là một biện  
tiến hành tố tụng hình sự; tuy nhiên, đều chưa pháp tố tụng mới mà chỉ là sự bổ trợ cho việc  
có hướng dẫn cụ thể về việc lập biên bản hỏi hỏi cung, lấy lời khai và là công cụ để kiểm tra  
cung, lấy lời khai hay biên bản về việc ghi âm,  
6ꢀ Khoản 3 Điều 5 Quyết định số 264/QĐ-VKSTC:  
“Đối với các trường hợp mà Kiểm sát viên không trực tiếp  
kiểm sát việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thì tiến  
hành kiểm sát việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thông  
ghi hình có âm thanh.  
Về bản chất, việc ghi âm, ghi hình có âm  
5ꢀ Khoản 2 Điều 132, khoản 1 Điều 200 BLTTHS qua việc nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, lấy lời khai  
năm 2003.  
có ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh”  
42 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
LÊ THANH NGHỊ - HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG  
lại các hoạt động này có được tiến hành khách từ nguồn dữ liệu điện tử  
quan hay không.  
Một trong những yêu cầu để đảm bảo giá  
Đối với trường hợp biên bản hỏi cung, lấy trị của dữ liệu điện tử là cách thức đảm bảo  
lời khai chỉ ghi nhận về việc ghi âm, ghi hình và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử.  
có âm thanh đối với đối tượng theo quy định Cùng với sự phát triển của công nghệ, dữ liệu  
tại Thông tư liên tịch số 03/2018, việc không điện tử không chỉ được duy trì trên một hoặc  
ghi nội dung lời trình bày của đối tượng, các một số thiết bị vật lý nhất định mà dữ liệu  
câu hỏi và câu trả lời sẽ giúp cho người tiến được sao chép, phân tán trên nhiều thiết bị,  
hành lấy lời khai, hỏi cung tập trung trong hệ thống lưu trữ khác nhau thông qua mạng  
việc ghi nhận, đánh giá lời khai, từ đó nâng Internet. Vì vậy, điều này đặt ra nhiều vấn  
cao hiệu quả đấu tranh và khai thác thông đề pháp lý trong việc xử lý các chứng cứ từ  
tin từ các đối tượng. Mặt khác, theo yêu cầu nguồn dữ liệu điện tử.  
của cải cách tư pháp về việc đảm bảo tranh  
Thứ nhất, đối với dữ liệu điện tử lưu trữ trên  
tụng trong xét xử thì Hội đồng xét xử khi xem  
mạng máy tính, mạng viễn thông, BLTTHS chỉ  
xét, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa sẽ dựa  
quy định về việc thu thập, lưu trữ, bảo quản  
vào lời khai trực tiếp của người tham gia tố  
dữ liệu điện tử mà không quy định về việc xử  
tụng, trường hợp có mâu thuẫn với lời khai  
lý vật chứng. Trong một số vụ án, dữ liệu điện  
trong giai đoạn điều tra, truy tố thì mới công  
tử là thông tin ảnh hưởng đến danh dự, uy tín,  
bố lời khai trong giai đoạn trước. Việc tiến  
nhân phẩm của người khác được đăng tải trên  
hành theo phương pháp này sẽ đảm bảo tốt  
không gian mạng phải được gỡ bỏ để đảm bảo  
cho việc thực hiện nguyên tắc khách quan và  
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Luật  
tranh tụng trong xét xử, phù hợp với thực  
An ninh mạng năm 2018 quy định Chủ quản  
tiễn. Có thể tham khảo quy định về chứng  
hệ thống thông tin trên hệ thống thông tin  
cứ là băng, đĩa ghi âm, ghi hình quy định tại  
thuộc phạm vi quản lý; tổ chức, cá nhân soạn  
khoản 2, 5 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm  
thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không  
20157. Như vậy, cần có những điều chỉnh về  
gian mạng có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin có  
nội dung làm nhục, vu khống người khác khi  
mặt pháp luật theo hướng quy định rõ ràng  
hơn việc lập biên bản hỏi cung, lấy lời khai  
có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ  
trong trường hợp ghi âm, ghi hình có âm  
an ninh mạng. BLTTHS năm 2015 quy định các  
thanh để đảm bảo việc thực hiện được thống  
cách thức xử lý vật chứng là những chứng cứ ở  
nhất. Đồng thời, có thể xem xét việc bổ sung  
dạng hữu hình mà không có quy định về xử lý  
thêm các cơ chế: Khi tiến hành việc hỏi cung,  
chứng cứ ở những dạng phi vật thể. Vì vậy, có  
lấy lời khai, Điều tra viên, Kiểm sát viên phải  
vụ án Cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu dữ  
làm văn bản về tóm tắt nội dung hỏi cung, lấy  
liệu điện tử từ không gian mạng, có xác nhận  
lời khai để người tiến hành tố tụng sau nhanh  
của người phát tán thông tin, người làm chứng  
chóng nắm được các nội dung liên quan.  
và thay đổi mật khẩu truy cập vào tài khoản để  
2.3. Vướng mắc trong việc xử lý chứng cứ tránh trường hợp khi bị can không bị tạm giam  
sẽ xóa dữ liệu đã đăng lên. Do vướng mắc về  
việc đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử  
mà các cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý vụ án  
cũng không xóa tài khoản và các thông tin có  
nội dung ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm của  
người bị hại. Đến khi vụ án được giải quyết  
xong, có bản án có hiệu lực pháp luật thì các  
video, hình ảnh nhạy cảm của người bị hại vẫn  
tồn tại trên không gian mạng.8  
7ꢀ Khoản 2, 5 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
quy định:  
“2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ  
nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người  
có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu  
hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho  
người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản  
về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. […]  
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng  
được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng 8ꢀ Vụ án Lò Văn Đ phạm tội Làm nhục người khác,  
ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự và  
khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Cưỡng đoạt tài sản quy định khoản 2 Điều 170 Bộ  
Điều này…”  
luật hình sự xảy ra tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 43  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨNG CỨ...  
Thứ hai, khó khăn trong việc xử lý các trách nhiệm thực hiện việc xóa các thông tin  
trường hợp sử dụng mạng internet, mạng trên các thiết bị trước khi đem bán đấu giá.  
máy tính, mạng viễn thông và các phương Nếu các thiết bị này được bán ra cho người  
tiện điện tử để phạm tội  
Trong quá trình thu thập dữ liệu điện tử,  
cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ thu giữ  
khác sử dụng sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh  
dự của người bị hại.  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định  
các thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử mà còn có của pháp luật về thu thập, đánh giá chứng cứ  
thể phải thu giữ các thiết bị khác có liên quan từ nguồn dữ liệu điện tử  
như các thiết bị mạng gắn với máy tính để kết  
Qua nghiên cứu các quy định của pháp  
nối với mạng Internet nhằm phục vụ điều tra.  
luật và thực tiễn công tác trong việc thu thập,  
Trên thực tế, việc xử lý vật chứng trong trường  
đánh giá, xử lý chứng cứ từ nguồn dữ liệu  
hợp này còn nhiều cách hiểu khác nhau, chưa  
điện tử, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn  
thống nhất trong việc trả lại hay tịch thu sung  
thiện pháp luật tố tụng hình sự để triển khai  
quỹ các thiết bị nêu trên. Theo quan điểm của  
thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới,  
tác giả, nếu đối tượng có ý định phạm tội từ  
cụ thể như sau:  
trước, sau đó chuẩn bị các công cụ, phương  
- Cần nghiên cứu, tham khảo ý kiến các cơ  
tiện để phạm tội thì cần tịch thu; nếu các công  
quan chuyên môn và thực tiễn công tác điều  
cụ, phương tiện đã có sẵn được sử dụng trước  
tra trong việc sử dụng các thuật ngữ liên quan  
khi đối tượng nảy sinh ý định phạm tội thì  
đến dữ liệu điện tử, chứng cứ từ nguồn dữ  
không cần tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu.  
liệu điện tử;  
- Làm rõ quy định về khám xét dữ liệu điện  
tử và thu giữ dữ liệu điện tử trong BLTTHS;  
Quan điểm này cũng tương tự như hướng  
dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn  
số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 về việc  
áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c  
khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự: “Việc  
người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng  
máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện  
điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với  
nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email,  
zalo, viber.... để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa...)  
mà không hình thành nên các trò chơi được thua  
bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc  
trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy  
tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử  
để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321  
và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự.”  
- Bổ sung quy định về vai trò của Viện  
kiểm sát trong việc đảm bảo quyền con người,  
quyền công dân trong việc thu thập dữ liệu  
điện tử;  
- Bổ sung quy định về thu giữ, xử lý vật  
chứng là các phương tiện điện tử, đặc biệt là  
các phương tiện điện tử lưu trữ các thông tin  
về bí mật cá nhân, thông tin ảnh hưởng đến  
danh dự, nhân phẩm của cá nhân;  
- Nghiên cứu hoạt động hỏi cung, lấy lời  
khai bằng hình thức ghi âm, ghi hình có âm  
thanh của một số nước theo mô hình tố tụng  
tranh tụng để rút ra những ưu điểm và hạn  
chế khi áp dụng, từ đó sửa đổi quy định của  
Thông tư liên tịch số 03/2018 theo hướng ghi  
âm, ghi hình khi hỏi cung, lấy lời khai là hoạt  
động thu thập chứng cứ hay chỉ là hình thức  
bổ trợ cho các biên bản hỏi cung, biên bản ghi  
lời khai;  
- Bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý  
và cơ chế xử lý các dữ liệu điện tử trên không  
gian mạng cũng như các cách thức tiến hành  
để tránh việc tiếp tục phát tán các thông tin  
trên không gian mạng./.  
Thứ ba, đối với các phương tiện điện tử lưu  
trữ các thông tin là bí mật cá nhân, các hình  
ảnh, video nhạy cảm ảnh hưởng đến danh  
dự, nhân phẩm của người khác… là các công  
cụ dùng vào việc phạm tội, theo quy định tại  
điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015,  
vật chứng còn giá trị sử dụng cần tịch thu để  
sung quỹ nhà nước. Hiện nay, Tòa án không  
quyết định trong bản án về việc yêu cầu cơ  
quan có thẩm quyền xóa các thông tin này và  
cơ quan thi hành án dân sự cũng không có  
Điện Biên.  
44 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 17760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_to_tung_hinh_su_ve_chung_cu_tu_nguon_du.pdf