Thực hiện quy định quyền sống của con người theo Hiến pháp 2013
THỰC HIỆN QUY ĐỊNH QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI
THEO HIẾN PHÁP 2013
Hoàng Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Thị Thùy Giang*
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Hà Thị Hồng Thắm
TÓM TẮT
Quyền sống là quyền tự nhiên, vốn có mang tính chất bản năng của mỗi con người, đây là
quyền cơ bản, bẩm sinh, không ai có thể bị tước đoạt. Bảo vệ quyền con người là mục tiêu
cơ bản của nhân loại tiến bộ. Bảo vệ con người xuất hiện rất sớm cùng với sự ra đời của
Nhà nước và lúc đầu chỉ trong phạm vi quốc gia, ngày nay là mối quan tâm chung của cộng
đồng quốc tế. Quyền con người cần được bảo vệ và thúc đẩy bằng nhiều hình thức, điều
kiện khác nhau, trong đó có pháp luật. Cơ sở pháp lý về quyền con người bao gồm hai
thành phần chính là pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia về quyền
con người. Quyền sống là quyền tuyệt đối, cơ bản, quan trọng nhất đối với con người và đã
được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý ở nhiều cấp độ. Với mục tiêu nhằm đảm bảo sự
tự do cá nhân của con người, sự tham gia của con người và đời sống chính trị và bảo vệ
con người sự lạm quyền của Nhà nước.
Từ khóa: con người, hiến pháp, quyền sống, tuyên ngôn, tử hình.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảo vệ quyền con người luôn là mục tiêu cơ bản của nhân loại tiến bộ. Bảo vệ con người
xuất hiện rất sớm cùng với sự ra đời của Nhà nước và lúc đầu chỉ trong phạm vi quốc gia,
ngày nay là mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Quyền con người cần được bảo vệ
và thúc đẩy bằng nhiều hình thức, điều kiện khác khau, trong đó có pháp luật. Cơ sở pháp lý
về quyền con người bao gồm hai thành phần chính là pháp luật quốc tế về quyền con người
và pháp luật quốc gia về quyền con người. [6]
Quyền sống là một trong những nội dung quan trọng của quyền con người. Quyền sống (the
right to life) là thuật ngữ mô tả về một sự tin tưởng rằng con người hoàn toàn được quyền có
điều kiện và các yếu tố cần thiết để sinh sống và không bị giết bởi một chủ thể khác (con
người, Nhà nước, các tổ chức…) về các vấn đề nạo phá thai, án tử hình, cái chết nhân đạo,
giết người để tự vệ và chiến tranh. Quyền sống là quyền tuyệt đối, cơ bản, quan trọng nhất
đối với con người và đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý ở nhiều cấp độ. [10]
2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI HIỆN NAY
2.1 Quyền sống của con người trong luật pháp quốc tế
Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới nhân
quyền. Có thể coi đây là văn kiện đầu tiên của Bộ luật quốc tế về quyền con người” [8].
1913
Tuyên ngôn gồm lời mở đầu và 30 điều khoản. Quyền sống chính thức được đề cập lần đầu
tiên trong Tuyên ngôn thế giới Nhân quyền, theo đó, Điều 3 Tuyên ngôn đã ghi nhận: “Mọi
người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Mặc dù không phải là một điều
ước quốc tế, nhưng nó có giá trị pháp lý vượt xa các nghị quyết thông thường, thậm chí
vượt xa cả những tuyên ngôn khác do Đại hội đồng đưa ra. Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền
là nền tảng cho hai công ước cơ bản về nhân quyền cùng được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua vào năm 1966 cũng như các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền trong nhiều
lĩnh vực được thông qua sau này. Như vậy, theo UDHR, giữa quyền sống và các quyền tự
do và an toàn cá nhân có sự gắn bó, trong đó các quyền tự do và an toàn cá nhân có thể
được coi là những điều kiện thiết yếu của quyền sống.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 là điều ước quốc tế quan trọng
nhất bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị của mọi cá nhân cộng đồng nhân loại,
trong đó có quyền sống. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về quyền dân
sự, chính trị cụ thể hóa Điều 3 của UDHR: “Mọi người đều có quyền cố hữu là quyền được
sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách
tùy tiện”. [1]
Quyền sống được xem là quyền cơ bản đầu tiên của con người là quyền được pháp luật
bảo vệ, vì vậy không ai được tước đoạt mang sống một cách vô cớ. Thế hệ quyền con
người này bao gồm các quyền về dân sự, chính trị và có nguồn gốc chủ yếu từ các học
thuyết chính trị từ thế kỷ XVII – XVIII gắn liền với các cuộc cách mạng ở Anh, Pháp và Mỹ
với khẩu hiệu về “Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Trước đó, trong bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ cũng có khẳng định về quyền sống:
“Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ
được tạo hóa ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống,
quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
1789 của Pháp có nêu: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Sự phân biệt xã hội chỉ được phép thành lập trên cơ
sở nó đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng”. Trong những văn kiện này, quyền sống – mà
đi kèm với nó là quyền tự do – được coi là một thuộc tính bẩm sinh, vốn có của con người,
hoàn toàn không phải do ai quy định hay ban phát.
Quyền sống là “quyền tối cao”, được gắn liền với “tự do và an ninh cá nhân”. Ủy ban Nhân
quyền Liên hợp quốc (HRC) đã khẳng định quyền sống là “một quyền cơ bản của con người
mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không
thể bị vi phạm...”. Vậy quyền sống có được áp dụng cho tất cả bao gồm: con người, động
vật, với những bào thai nằm trong bụng người mẹ? Có quan điểm cho rằng quyền sống cần
phải áp dụng cho cả con người và loài vật. Tuy nhiên, từ góc độ luật nhân quyền quốc tế, có
thể thấy quyền sống chỉ áp dụng cho con người mà không mở rộng đến các loài vật khác.
Quyền sống có cả nghĩa thụ động, theo đó là một quyền mà không thể bị tước đoạt một
cách tùy tiện, trái pháp luật. Bên cạnh đó còn có cả nghĩa chủ động, tức là Nhà nước phải
thông qua các biện pháp có tính chất tạo ra môi trường thuận lợi cho sự toàn vẹn tính mạng
của cá nhân; chủ động trong việc triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ quyền sống của các
cá nhân thuộc quyền tài phán của mình [6].
Ngoài những nội dung đã nêu ở Điều 6 ICCPR, trong bình luận chung số 6 (năm 1982), Ủy
ban Nhân quyền (human right committee – HRC) – cơ quan được lập ra theo ICCPR để
1914
giám sát thực hiện công ước này của các quốc gia thành viên. Những văn kiện quan trọng
đã được nêu ở trên khẳng định tầm quan trọng của quyền sống, coi đó là cơ sở cho tất cả
các quyền con người, đồng thời coi chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân là nguy cơ
lớn đe dọa quyền sống. Những văn kiện trên đã nêu rõ khía cạnh pháp lý của quyền sống.
Song thực tế trong xã hội còn nhiều vấn đề mà thế giới đang tranh luận về quyền sống như:
nạo phá thai, an tử, vấn đề hình phạt tử hình…
2.2 Quyền sống trong luật pháp Việt Nam
Ở Việt Nam, kể từ khi giành được độc lập vào ngày 02/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Kể từ đó, Đảng và
Nhà nước luôn chú trọng đến quyền con người, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa – là một văn kiện lịch sử đặc biệt – một áng văn chính luận bất hữu tuy chỉ
gói gọn trong một ngàn chữ nhưng vô cùng chặt chẽ và xúc tích, nêu lên những chân lý về
nhân quyền và dân quyền. Trong bản tuyên ngôn độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc lại
và cho rằng: “Mọi người sinh ra đều có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc, đây là những quyền không ai có thể xâm phạm được”.
Trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và trong Hiến Pháp 1992
quyền sống không được đề cập như một quyền, mà chỉ được đề cập thông qua các quyền
bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe danh dự và nhân phẩm của công dân.
Hiện nay, Hiến pháp 2013 đã quy định quyền sống tại Điều 19 và được gắn với quyền bảo
hộ pháp lý về tính mạng “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật
bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Hiến pháp 2013 ngày 28/11/2013 tại kỳ
họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII gồm 11 chương 120 điều. Quyền con người được quy định tại
Chương II, được xây dựng dựa trên cơ sở sửa đổi bổ sung tại Chương V của Hiến pháp
1992. Hiến pháp 2013 đưa vị trí chương “Quyền và nghĩa vụ công dân” từ Chương V Hiến
pháp 1992 về Chương II Hiến pháp 2013 cho thấy sự thay đổi nhận thức đề cao chủ quyền
nhân dân trong hiến pháp, coi nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Lần đầu
tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về Quyền con người và
quyền công dân đã được tham khảo, đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn
của các quy định nhân quyền của các Công ước quốc tế, mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Tại Chương II, có thể thấy Hiến pháp 2013 có một số thay đổi cụ thể như sau:
1. Không còn đồng nhất “quyền con người” và “quyền công dân” nhu ở Điều 50 Hiến Pháp
1992, mà sử dụng khá hợp lý hai thuật ngữ này cho từng lĩnh vực cụ thể khi Hiến pháp quy
định các quyền/tự do của cá nhân có quốc tịch Việt Nam – công dân và cá nhân không có
quốc tịch Việt Nam – quyền con người. Bên cạnh đó, trong Hiến pháp năm 2013, nhiều khi
vẫn cần thiết quy định có sự phân biệt giữa quyền con người và quyền công dân và ngược
lại, nhiều khi lại không phân biệt chúng tộc.
1. Đã có sự thay đổi, tuy nhiên chưa triệt để về cách thức hiến định về các quyền con
người, từ công thức Nhà nước “quyết định”, “trao” quyền cho người dân sang công
thức các quyền của con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải ghi nhận, phải có
nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện cho tất cả mọi người, mọi công dân,
không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính,…
2. Ghi nhận cả ba nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền
con người.
1915
3. Ghi nhận một số quyền mới bao gồm: quyền sống (Điều 19), các quyền về văn hóa,
quyền xác định dân tộc, sữ dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, quyền của công dân không bị trục
xuất, giao nộp cho nước khác, quyền hiến mô bộ phận con người hiến xác (Điều 20),
quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)…
4. Củng cố hầu hết các quyền thực hiện có (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng),
bao gồm: bình đẳng trước pháp luật; cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ
nhục; bảo vệ đời tư; tiếp cận thông tin; tham gia quản lý nhà nước và xã hội; bỏ phiếu
trong trưng cầu ý dân; xét xử công bằng; tư hữu tài sản; an sinh xã hội; nơi ở hợp
pháp…
5. Bổ sung một nguyên tắc hiến định, đó là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Nguyên tắc này có
ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các cơ quan nhà nước tùy tiện giải thích và
hạn chế các quyền hiến định, bởi nó nêu rõ những lý do có thể được sử dụng để hạn
chế quyền, cùng với việc giới hạn chủ thể duy nhất là Quốc hội mới có thể quyết định
việc này (bằng luật), chứ không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào (bằng pháp luật).
Những thay đổi trên khiến cho chế định này của hiến pháp phù hợp với nội dung của các
Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, cũng như với chế định về
quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp các nước dân chủ. Phần lớn những thay
đổi trên nhằm khắc phục những hạn chế của Chương V Hiến pháp 1992, và các Hiến pháp
trước đây đã khiến các quy định về quyền con người, quyền công dân trở thành hình thức.
Với cách tiếp cận này, các quy định về quyền con người và quyền công dân ở Chương II
Hiến pháp 2013 hứa hên các quyền hiến định sẽ được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo đúng
đắn, hiệu quả hơn trong thực tế. Quyền lực nhà nước có cơ sở hiến định cho việc hạn chế,
để bảo vệ quyền con người của người dân. Ngoài quy định nêu trên, quyền sống hiện còn
được bảo vệ qua một số điều khoản khác của Hiến pháp 2013 và trong một số đạo luật như:
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự
2015, Luật Trẻ em 2016… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.
Trong Bộ luật Hình sự ở Việt Nam quy định hình phạt “Tử hình” là một trong những hình
phạt nặng nhất, nghiêm khắc nhất vì hình phạt này tước đi mạng sống con người. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 40 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):“Tử hình là hình phạt đặc biệt
chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham
nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”. Có thể thấy,
điều khoản trên đã cụ thể hóa những trường hợp phạm tội có thể phải chịu án tử hình - tức
là tước đi mạng sống con người, ngoài những trường hợp nêu trên, tổ chức, cá nhân phạm
tội mà gây thiệt hại đến tính mạng con người thì chịu những chế tài tương ứng, cụ thể:
- Khoản 1 Điều 113 quy định: “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm
phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác hoặc phá hủy tài sản của Cơ
quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử
hình”.
- Từ Điều 123 đến 133 quy định về các tội phạm xâm phạm tính mạng con người và
kèm theo đó là chế tài tương ứng.
1916
- Điểm a khoản 4 Điều 134 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm”.
- Điểm b khoản 2 Điều 135 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà hậu quả
gây tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm chết người thì bị phạt tù từ 06 tháng đến
03 năm”.
- Khoản 3 Điều 136 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá
mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội mà hậu quả dẫn đến chết người hoặc gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể
của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm”.
- Điểm d khoản 3 Điều 154 quy định: “Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận
cơ thể người mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân”.
- Điểm c khoản 4 Điều 168 quy định: “Người nào cướp tài sản mà hậu quả làm chết
người thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân”.
- Điểm b khoản 4 Điều 169 quy định: “Người nào bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà
hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân”.
- Điểm c khoản 4 Điều 171 quy định: người nào cướp giật tài sản mà hậu quả làm chết
người thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Khoản 5 Điều này còn
quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng”.
- Điều 186 quy định: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực
hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của
pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp
dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe... nếu không thuộc
trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo
không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
- Điểm g khoản 2 Điều 192 quy định: “Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả mà hậu
quả làm chết người thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm”.
- Khoản 1 Điều 277 quy định: “Người nào chỉ huy, điều khiển tàu bay mà vi phạm quy
định về an toàn giao thông đường không, có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây
thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn
chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Bên cạnh đó, điểm a
khoản 2 Điều 277 quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết người;...”.
- Khoản 1 Điều 299 quy định: “Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công
chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Ngoài ra, trong Bộ luật Hình sự còn rất nhiều quy định, chế tài nhằm bảo vệ quyền sống của
con người. Có thể nói, Bộ luật Hình sự là cơ sở pháp lý đầy đủ và cụ thể nhất để Nhà nước,
1917
tổ chức, cá nhân tùy theo thẩm quyền căn cứ vào đó mà có những hành động bảo vệ, lên án
và trừng phạt những hành vi xâm phạm quyền sống của con người.
3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỐNG CỦA
CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Việt Nam đã tham gia cả hai công ước quốc tế cơ bản về Nhân quyền năm 1966 (ICCPR,
ICESCE) và một số điều ước quốc tế khác về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
như Công uớc về Quyền trẻ em 1989, Công ước về Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối với
phụ nữ 1979,… Việt Nam cũng đã kí và dự định sớm phê chuẩn Công ước về Quyền của
những người khuyết tật 2006. Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế thúc đẩy các quyền của
những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống ở Việt Nam. Việt Nam cũng đã có một khuôn khổ
pháp luật quốc gia khá hoàn chỉnh để bảo đảm quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm
quyền sống của họ. Và ở phạm vi rộng hơn, một số văn bản pháp luật khác của Việt Nam đã
ghi nhận các quyền liên quan đến quyền sống như:
Ở nước ta, hình phạt tử hình vẫn được coi là hình phạt cần thiết và cần phải có nhằm
trừng trị những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước,
bảo đảm cho an ninh trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường an toàn cho người dân, có tác
dụng tốt trong việc phòng ngừa về giáo dục mọi người tôn trọng pháp luật đòi lại công
bằng cho người bị hại. Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự. Hình
phạt này trong thời kỳ 1989 – 1997 đã từng được nhấn mạnh, thể hiện sự gia tăng số
lượng các tội danh có thể bị kết án tử hình từ 29 trong Bộ luật Hình sự 1985 lên 44 vào
1997, sau 4 lần sửa đổi (vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997), trong đó nhiều nhất là
tội danh về ma túy. Tuy nhiên, kể từ năm 1999, Nhà nước đã liên tục giảm số tội danh có
thể bị tuyên hình phạt này, cụ thể từ 44 xuống còn 29 trong Bộ luật hình sự 1999, và tiếp
tục xuống còn 22 trong lần sửa đổi 2009 của BLHS 1999. Và trong Bộ luật Hình sự 2015
(sửa đổi, bổ sung 2017) thì sẽ còn 15 tội danh có quy định hình phạt tử hình thuộc 06
nhóm tội phạm, trong đó: 1) Nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia có 07 tội danh; 2) Nhóm
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người có 02 tội danh; 3)
Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có 01 tội danh; 4) Nhóm tội phạm về ma túy có
02 tội danh; 5) Nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng có 01 tội danh và
nhóm tội phạm về chức vụ có 02 tội danh.
Tại Việt Nam, án tử hình chỉ áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: tội xâm phạm
an ninh quốc gia/phản quốc, tội giết người, tội hiếp dâm trẻ em, tội phạm về ma túy, tội tham
nhũng và tội phạm chiến tranh. Nếu được ân giảm thì chuyển thành tù chung thân. Người
chưa đủ 18 tuổi khi gây án, người quá 75 tuổi sẽ không bị tuyên án tử hình. Đối với những
tội vẫn quy định hình phạt tử hình, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) chỉ quy định áp dụng
trong những trường hợp hành vi phạm tội mang tính bạo lực, dã man, tàn bạo, gây bất bình
trong nhân dân, hoặc phạm tội có tổ chức với quy mô lớn, có sự câu kết chặt chẽ giữa các
bang, nhóm tội phạm trong việc thực hiện tội phạm, gây thiệt hại cho nhiều người, đối tượng
thực hiện là những kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ,
tái phạm nguy hiểm, người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Về phạm vi chủ thể được
miễn áp dụng hình phạt tử hình, là các đối tượng chưa thành niên, phụ nữ có thai, phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và người bị tâm thần như quy định hiện hành, người quá
75 tuổi. Những năm gần đây, thực hiện chính sách, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước đã đưa nước ta có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế - văn hóa – xã hội, đạt
1918
được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, trở thành một quốc gia có tiếng nói quan
trọng trên trường quốc tế; nhưng đi cùng với đó là các tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật
với tính chất, mức độ nghiêm trọng ngày càng gia tăng; tội phạm có xu hướng ngày càng trẻ
hóa. Với truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã thực thi chính
sách nhân đạo về xử lý hình sự và thi hành án hình sự đối với người phạm tội, được quy
định trong các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thông qua đó
tạo điều kiện cho người phạm tội hưởng nhiều chính sách khoan hồng, tự nguyện cải tạo và
tái hòa nhập cộng đồng như: phạt tù cho hưởng án treo; cải tạo không giam giữ; hoãn, tạm
đình chỉ chấp hành hình phạt và đặc biệt là đặc xá, miễn chấp hành hình phạt, giảm hình
phạt đã tuyên và tha tù trước thời hạn có điều kiện. Quy định như vậy đã thể hiện được
truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ
hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, cũng là sự ghi nhận kết quả
cải tạo, chấp hành tốt các nội quy của phạm nhân và cũng là kết quả của quá trình giáo dục
cải tạo phạm nhân, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, gia đình, các cơ quan có liên
quan và xã hội.
Quyền sống con người mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được
ghi trong hiến chương của Liên hợp quốc. Mặt khác quyền sống con người có tính đặc thù
đối với từng xã hội và cộng đồng, do vậy trong một thế giới ngày càng đa dạng, phương
thức giải quyết khi tiếp cận và xử lý quyền sống con người: 1. Cần kết hợp hài hòa các
chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử,
chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán của
mỗi quốc gia và khu vực, 2. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế
văn hóa của mình cho quốc gia khác, 3. Việt Nam cũng cho rằng cần tiếp cận một cách toàn
diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa trong một tổng
thể hài hòa, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào, 4. Đồng thời các quyền và tự do của
mỗi cá nhân chỉ có thể được đảm bảo vào phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích
chung của dân tộc và cộng đồng, 5. Việc chỉ ưu tiên và tuyệt đối hóa các quyền dân sự,
chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển,
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện, không
phản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh về quyền con người. Ví dụ: Lợi dụng quyền con người
can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, 6. Việt Nam cho rằng việc bảo đảm và thúc
đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Quyền sống
là một quyền tự nhiên, cơ bản, tối cao của con người. Quyền này có nội hàm rộng, không chỉ
liên quan đến việc bảo vệ cá nhân khỏi bị tước đoạt mạng sống một cách tùy tiện, mà còn
gắn với những điều kiện vật chất và xã hội bảo đảm cho sự tồn tại và an ninh của con người.
Quyền sống vẫn cần phải tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện hơn.
Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặt biệt là hiến chương Liên hợp quốc có tính đến
hoàn cảnh của mỗi nước để đảm bảo cho người dân được thụ hưởng quyền con người một
cách tốt nhất; trong một “thế giới phẳng” các quyền con người chỉ được tôn trọng, bảo vệ
trong môi trường hòa bình an ninh, bình đẳng, phát triển bền vững. Cuộc đấu tranh vì quyền
con người cũng được tiến hành đồng thời với các biện pháp ngăn chặn các cuộc chiến tranh
xung đột, khủng bố, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia… đang hằng ngày hàng giờ đe dọa
hòa bình an ninh của mọi quốc gia, ngăn cản việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên
toàn thế giới. Việt Nam luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người,
1919
luôn coi con người là mục tiêu về động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội
(trong các văn bản của Đảng, trong Hiến pháp và pháp luật).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.
[2] Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
[3] Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945.
[4] Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013.
[5] Khoa luật ĐHQG (2012). Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
(ICCPR, 1966), NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
[6] Nguyễn Phúc Đạt (2018). Cơ sở pháp lý về quyền sống của con người hiện nay.
[7] Tài liệu học tập môn Luật Hiến pháp Việt Nam của trường Đại học Công nghệ Tp. Hồ
Chí Minh.
[8] Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948.
[9] Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh (2014). Pháp luật quốc tế về quyền con người (Giáo
trình sau đại học), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[10] Vũ Công Giao (2015). Thực hiện quy định về quyền sống trong Hiến pháp năm 2013.
hap_nam_2013all.html
1920
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện quy định quyền sống của con người theo Hiến pháp 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_hien_quy_dinh_quyen_song_cua_con_nguoi_theo_hien_phap_2.pdf

