Một số ý kiến về vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới tại Việt Nam

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ HỢP PHÁP HÓA  
HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TẠI VIỆT NAM  
Dương Trương Lỗi, Trần Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Ngọc Thịnh*  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Hà Thị Hồng Thắm  
TÓM TẮT  
Hôn nhân đồng giới hiện đang là vấn đề gây tranh cãi của xã hội, không chỉ trên thế giới mà ngay  
cả Việt Nam cũng vậy. Một số quốc gia điển hình trên thế giới như: Mỹ, Anh, Pháp,… đã công nhận  
hôn nhân đồng giới và đã có những hành động cụ thể hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của  
những người đồng tính. Theo quan điểm của họ, chỉ cần là con người khi được sinh ra ai cũng có  
quyền đươc sống, quyền tự do và quyền được hưởng mưu cầu hạnh phúc. Ở Việt Nam, đang còn  
khá là mới mẻ nên việc mâu thuẫn về quan điểm về ‚hôn nhân đồng giới‛ là điều khó có thể tránh  
khỏi. Theo quan điểm riêng của nhóm tác giả, việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam  
đang là vấn đề cần thiết cần được thực hiện nhằm đảm bảo quyền lợi, lợi ích của người đồng tính.  
Từ khóa: Hôn nhân, đồng giới, hợp pháp hóa, quyền lợi, LGBT.  
1 QUAN ĐIỂM VỀ HỢP PHÁP HÓA HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI Ở MỘT SỐ QUỐC  
GIA TRÊN THẾ GIỚI  
Trên thế giới, tính đến hết tháng 12/2013 đã có 16 nước hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới (HNCG)  
bao gồm: Vương quốc Hà Lan, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Tây Ban Nha, Liên bang Canada, Cộng  
hòa Nam Phi, Vương quốc Na Uy, Vương quốc Thụy Điển, Cộng hòa Bồ Đào Nha, Cộng hòa  
Iceland, Cộng hòa Argentina, Vương quốc Đan Mạch, Cộng hòa Uruguay, New Zealand, Cộng hòa  
Pháp, Anh và xứ Wales.. Nếu tính những vùng lãnh thổ ở những quốc gia có hình thức cấu trúc nhà  
nước liên bang (Hoa Kỳ, Mehico, Brazil) thì số lượng quốc gia và vùng lãnh thổ hợp pháp hóa HNCG  
hiện tại là 19. Bên cạnh đó, có 17 quốc gia bao gồm quốc gia: Andorra, Áo, Brazil, Colombia, Séc,  
Ecuador, Phần Lan, Đức, Greenland, Hungary, Ireland, Isle of Man, Jersey, Liechtensein,  
Luxembourg, Slovenia, Thụy Sĩ và 13 vùng lãnh thổ một số vùng của Úc, Hoa Kỳ, Venezuela, Mehico  
thừa nhận hình thức ‚kết đôi có đăng ký‛ cho các cặp đôi cùng giới. Đặc biệt có 03 quốc gia thừa  
nhận hình thức sống chung không đăng ký cho các cặp đôi cùng giới. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia  
khác đang trong quá trình xem xét hợp thức hóa quan hệ cùng giới hoặc ‚nâng cấp‛ từ ‚kết hợp  
dân sự‛ (sống chung có đăng ký) lên ‚kết hôn‛ với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm. Có thể nhận  
thấy, thời gian gần đây nhất là trong năm 2012 - 2013 có khá nhiều quốc gia thừa nhận hoặc đang  
xem xét HNCG. Một số quốc gia khá bảo thủ (ví dụ như Cộng hòa Pháp) cũng đã chấp nhận vấn đề  
này. Quan điểm của các chính trị gia về vấn đề này được thể hiện mạnh mẽ hơn. Ngày  
26/06/2013, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có quyết định gỡ bỏ lệnh cấm kết hôn đồng giới tại bang  
California - bang có đông dân nhất.  
1599  
Bên cạnh đó, Tòa cũng bãi bỏ một phần quan trọng của Đạo luật Bảo vệ hôn nhân (DOMA), nhằm  
đảm bảo các cặp đôi đồng tính đã kết hôn được hưởng các quyền lợi an sinh xã hội như những  
cặp đôi bình thường khác. Như vậy, với việc thừa nhận quyền kết hôn đồng tính tại bang California,  
đã có hơn 1/3 dân số Hoa Kỳ được thừa nhận quyền này. Đây có thể được xem là một thắng lợi lớn  
của cuộc vận động quyền LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới). Tổng thống Barack Obama đã  
phát biểu trên đường đến châu Phi như sau: "Phán quyết này là một thắng lợi cho những cặp đã  
đấu tranh cho việc được đối xử công bằng trước pháp luật, cho những đứa trẻ mà việc kết hôn của  
cha mẹ chúng từ giờ sẽ được pháp luật thừa nhận; cho những gia đình mà giờ đây cuối cùng họ  
cũng đã nhận được sự bảo vệ và tôn trọng mà họ đáng được hưởng và cho những người bạn,  
người vận động chỉ muốn được thấy những người thân của họ được đối xử bình đẳng và đã cố  
gắng hết sức để có thể làm quốc gia mình thay đổi theo chiều hướng tốt lên".  
Tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp Quốc (LHQ) đã thông qua Nghị quyết khẳng  
định: "Mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào". Đến ngày  
7/3/2012, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên  
toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người người đồng giới (LGBT).  
Như vậy, lần đầu tiên người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông  
điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả LHQ khi  
gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính  
dục và bản dạng giới.  
Những hành động trên đã thể hiện quan điểm rất rõ ràng của các quốc gia tiến bộ đó là ‚kết hôn‛  
của những người đồng giới là quyền của họ. Nhìn chung thì theo quan điểm của các quốc gia trên  
thì việc hợp pháp hóa HNĐG là chỉ‛ trao trả‛ lại cho mọi người quyền bình đẳng, quyền tự do mưu  
cầu hạnh phúc của con người đấy là những quyền‛ thiên liêng‛ mà con người khi vừa sinh ra đã có  
được.và cũng theo quan điểm của họ thì nếu một quốc gia hay tổ chức, cá nhân nào ‚ngăn cản‛  
hoặc ‚cấm đoán‛ người đồng tính chung sống với nhau thì đó là hành động đã xâm phạm đến  
quyền và lợi ích của cá nhân bị cấm đoán và hành động đó cần được xử lý. Qua đây cho thấy thế  
giới đã công nhận, cũng như ủng hộ, cổ vũ cho người đồng tính trên thế giới nói chung và trên mỗi  
quốc gia nói riêng.  
2 QUAN ĐIỂM VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM  
Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014 ra đời thì cộng đồng Lesbian Gay  
Biesexual Transgender gọi tắt là (LGBT) ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Họ đã vấp phải sự kỳ thị  
hết sức gay gắt đến từ gia đình, bạn bè và đặc biệt là từ xã hội. Khi đó thì người đồng tính không có  
cơ hội tiếp xúc với xã hội như ngày nay, họ luôn tìm cách che dấu bản thân không muốn để cho xã  
hội phát hiện họ là người đồng tính vì khi bị xem là người đồng giới thì đồng nghĩa với việc họ bị  
xem là ‚bệnh hoạn‛. Xã hội luôn tìm cách cô độc vì nghĩ đồng tính là ‚bệnh‛ và sẽ lây cho người  
khác, hay có nhiều trường hợp vô lý hơn là xem người đồng tính như bị ‚vong‛ nhập cần được đuổi  
‚vong‛ nên tìm đủ mọi cách từ bác sĩ đến những người tự gắn cho mình cái mác ‚thầy‛ về đuổi tà  
ma giai đoạn này xã hội thật sự chưa hiểu rõ về người đồng tính và cũng chưa từng muốn đi tìm  
hiểu về nguời đồng tính nên dẫn đến sự kì thị mang tính gay gắt, tàn nhẫn. Gay gắt ở chỗ mỗi khi  
1600  
nhìn thấy hay thậm chí chỉ nghe thoáng qua một ai đó nói về một cá nhân nào đó là người đồng  
tính thì biểu hiện đầu tiên của những người xung quanh không phải là sự cảm thông, chia sẻ, giúp  
đỡ mà là chế giễu, mắng chửi hơn thế nữa là đánh đập, xua đuổi.  
Tuy nhiên, cũng không đến mức có thể khiến cho một người đồng tính mất hết niềm tin vào cuộc  
sống của bản thân hay là tuyệt vọng không ai khác lại đến chính gia đình, người thân của họ. Khi  
ra ngoài họ phải chịu sự xa lánh, xua đuổi của xã hội nên họ mong muốn có một ai hiểu họ, chia  
sẻ, giúp đỡ là nơi họ gửi trọn niềm tin, tình yêu. Nhưng thực tế lại không hoàn hảo như họ tưởng vì  
khi đặt chân về từ xã hội áp lực, mệt mỏi thì họ còn phải phải đối mặt với gia đình, những con người  
thể hiện ánh mắt căm ghét, ghê tởm hoặc dùng những từ ngữ cay độc không kém với những lời nói  
bên ngoài xã hội kia mỗi ngày, mỗi giờ. Còn đau lòng ở chỗ chỉ vì sự kì thị, sự thiếu cảm thông này  
mà đã có nhiều nguời đồng giới không thể chịu được áp lực đã có những suy nghĩ tiêu cực dẫn đến  
những kết quả không ai ngờ được, người thì tha phương, kẻ thì bị gia đình ruồng bỏ dẫn đến những  
cái kết đầy đau lòng và đáng tiếc. Họ không thể tự mình chống chọi lại được áp lực của gia đình,  
bạn bè hay của xã hội tạo ra.  
Không chỉ không có được sự ủng hộ của xã hội mà ngay cả chính những nhà làm Luật những  
người cầm cân nảy mực cũng vấp phải những sai lầm tương tự. Căn cứ vào Điều 9 Luật HN&GĐ  
năm 1959 ‚Cấm kết hôn giữ những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.  
Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với  
những người khác có họ trong phạm vi 5 đời hoặc có quan hệ trực thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn  
sẽ kết hôn theo phong tục tập quán‛ và Điều 7 Luật HN&GĐ năm 1986 đưa ra quy định chỉ cấm kết  
hôn trong những trường hợp sau: ‚Người đang có vợ hoặc có chồng, người đang mắc bệnh tâm  
thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh ‘hoa liễu’, giữa những người  
cùng dòng máu về trực hệ, giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác  
cha, giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời và giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, và điều  
kiện kết hôn không đề cập đến vấn về người đồng giới cũng như không có điều Luật ‚cấm‛ như Luật  
hôn nhân và Gia đình năm 2000. Ngày 9/6/2000 Luật Hôn nhân và Gia đình đươc ban hành và  
chính thức có hiệu lực. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định tại Khoản 5 Điều 10 là họ đã  
không còn có thể sống chung vì đây là hành vi trái pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy  
định của pháp luật. ‚Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính‛. Điều luật này ra đời làm cho  
cộng đồng người đồng giới trở nên khó khăn hơn không dám đứng lên sống thật với giới tính của  
chính mình. Có thể chúng ta muốn hỏi tại sao Luật (HN&GĐ) năm 1986 không đề cập cũng không  
cấm vậy liệu có khác gì so với Luật (HN&GĐ) năm 2000. Thực chất mà nói thì theo Luật (HN&GĐ)  
năm 1986 người đồng tính không được đề cập đến nhưng cũng không bị pháp luật ngăn cản nếu  
xét theo ý nghĩa trong Luật này thì họ vẫn có thể đám cưới được chung sống với nhau theo nguyện  
vọng của họ. Thật sự có thể nhìn thấy sự khó khăn trong giai đoạn này của người đồng tính họ vừa  
đối mặt với xã hội, với gia đình và còn phải đối mặt với sự ngăn cấm của Luật hiện hành. Mặc dù,  
Luật (HN&GĐ) năm 2000 ‚cấm‛ hôn nhân đồng giới là vậy nên Luật Hôn nhân và Gia đình mới  
được điều chỉnh, sửa đổi bổ sung năm 2014 ra đời, bỏ quy định "cấm kết hôn giữa những người  
cùng giới tính" từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Tuy Luật HN & GĐ năm 2014 đã sửa đổi nhưng vẫn  
"không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (Khoản 2 Điều 8). Có thể thấy cộng  
1601  
đồng LGBT đến giai đoạn này đã được xã hội dần dần công nhận sự tồn tại của nó, họ đã có  
những tư duy mới về cộng đồng LGBT. Giờ đây người đồng tính đã thể dễ dàng tiếp xúc với xã hội  
hơn, họ không cần phải giấu mình như trước kia. Trên thực tế hiện tại thì xu hướng đồng tính đã  
không còn là quá xa lạ với mọi người nữa bởi vì chúng ta có thể bắt gặp người đồng tính ở mọi nơi,  
trên mọi phương tiện truyền thông hay trên thông đại chúng họ đã chứng minh khẳng định được  
bản thân dám sống thật với đúng giới tính của mình. Để có được điều này cũng không thể không  
nhắc đến Nhà nước ta, họ đã thoáng hơn. Nhà nước ta đã ‚âm thầm‛ giúp người đồng giới trong  
việc tiếp xúc với xã hội hơn, tạo điều kiện cho họ phát triển hơn.  
Ngày nay, người đồng giới (LGBT) đã có những bước khởi đầu khá là thành công khi họ đã đến gần  
với công chúng hơn, đã làm cho công chúng có cái nhìn tích cực về người đồng giới (LGBT) hơn,  
điển hình là những người rất thành công đạt được những thành tựu nhất định như: Hương Giang  
đăng quan ngôi vị cao nhất là Hoa hậu chuyển giới Quốc tế năm 2018 được tổ chức thường niên tại  
Thái Lan tên gọi quốc tế là Miss International Queen, diễn viên BB Trần hoặc ca sĩ Đào Bá Lộc và  
còn có nhiều cặp đôi đồng giới (LGBT) chung sống, công khai và đã được xã hội quan tâm hơn như:  
John Huy Trần và Huỳnh Nhiệm, Adrian Anh Tuấn - Sơn Đoàn, Tú Tri - Thùy Dương (Yu Bin)[5],… Nhìn  
chung, một phần nào đó của xã hội đã công nhận người đồng tính là một phần hiện hữu của xã  
hội, không thể tách rời cũng như xóa bỏ nó được, họ đã từng bước tìm hiểu người đồng tính và  
cũng đã thấy được sự khó khăn của người đồng tính đang phải đối mặt. Nhưng đây chỉ mới là bước  
khởi đầu của những người đồng giới (LGBT) ở Việt Nam mà thôi họ còn phải cố gắng hơn nữa để  
cho toàn bộ xã hội công nhận rộng rãi hơn.  
Hơn thế nữa, càng phải chứng minh mình có quyền được lựa chọn, quyết định hạnh phúc của bản  
thân. Điều quan trọng nhất mà họ đang và sẽ hướng tới chính là sự công nhận của pháp luật Việt  
Nam. Bởi vì chỉ khi họ được công nhận thì họ mới thật sự cảm thấy họ là một phần của xã hội lúc  
đấy họ sẽ nhận được sự bảo vệ của pháp luật về quyền và lợi ích của mình khi kết hôn giống như  
bao cặp đôi nam nữ khác. Riêng nhóm tác giả mong muốn rằng trong tương lai gần thì cộng đồng  
người đồng tính sẽ được pháp luật công nhận bảo vệ và phát triển rộng rãi hơn.  
3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HỢP PHÁP HÓA HÔN NHÂN NGƯỜI ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM  
Theo cuộc khảo sát ngày 16/8/2013 của Vnexpress, có 1.388/1.762 người (chiếm 80,14%) đề nghị  
thừa nhận và có 344/1.732 (chiếm 19,86%) không thừa nhận. Một số cặp đôi đã tổ chức lễ cưới  
đồng tính như: Đồng tính nữ (tháng 12/2010, Hà Nội), đồng tính nam (6/2011, TP. Hồ Chí Minh), đồng  
tính nữ (2012, Cà Mau), đồng tính nam (tháng 5/2012, Kiên Giang), đồng tính nữ (tháng 7/2012, Bình  
Dương). Dĩ nhiên, việc tổ chức này chỉ có ý nghĩa tinh thần, như một thông báo về sự công khai xu  
hướng tình dục và lựa chọn bạn đời và không có ý nghĩa về mặt pháp lý. Trong đó, đám cưới đồng  
tính tại Kiên Giang đã bị Ủy ban Nhân dân Phường xử phạt hành chính. Trong cuộc điều tra về  
đồng tính nữ năm 2012 có 92% người được hỏi (mẫu nghiên cứu trên 2.401 người) muốn pháp luật  
cho phép kết hôn cùng giới. Trong điều tra tương tự năm 2012 do Trung tâm ICS thực hiện với hơn  
hai nghìn NĐT nam và đồng tính nữ tham gia thì 71% mong muốn được pháp luật cho phép kết hôn  
cùng giới, 25% muốn được sống chung có đăng ký và 4% muốn được sống chung không đăng ký.  
Trong nghiên cứu đồng tính nữ, nếu pháp luật cho phép, 77% cho rằng họ muốn kết hôn, 3% không  
1602  
muốn, 16% cho rằng kết hôn hay không không quan trọng và số còn lại không rõ mong muốn của  
mình. Về nhu cầu sinh con, 70% NĐT nữ muốn có con, 13% không muốn và 17% không rõ. Theo  
khảo sát vào tháng 6 năm 2012 của Vnexpress, với câu hỏi ‚Là NĐT, nếu được Luật cho kết hôn thì  
bạn sẽ làm gì? Trong số 1.299 NĐT có 856 người chiếm 65,9% sẽ công khai cưới người tôi yêu, 296  
người chiếm 22,8% sẽ chỉ đăng ký, không tổ chức cưới, 91 người chiếm 7% sẽ không cưới, không  
đăng ký mà về sống chung với nhau, có 28 người chiếm 2,2% sẽ không dám sống chung vì sợ lộ  
thân phận, còn lại 28 người chiếm 2,2% có ý kiến khác[6]. Theo những cuộc khảo sát, những thống  
kê trên, thì xét thấy nhu cầu về vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam là cần thiết  
bởi vì:  
Thứ nhất, không thể không công nhận vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới hiện tại đang diễn  
ra phổ biến ở Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận cộng đồng LGBT ở Việt Nam chúng ta ngày  
càng phát triển và có nhu cầu gia tăng ngày một cao và nó cũng được thể hiện ngày càng một rõ  
ràng hơn ngoài xã hội. Khi bạn đi đến đâu hay bất cứ nơi nào bạn điều có thể bắt gặp những con  
người thuộc về cộng đồng LGBT họ có thể là giáo viên người đứng trên bục giảng để truyền dạy  
kiến thức, hoặc là kỹ sư người vẽ phác lên những căn nhà, những tổ ấm, hay họ cũng có thể là  
những đôi chân điêu luyện trên sàn diễn nghệ thuật và hơn thế nữa họ còn là những nhà chính trị  
gia mang ảnh hưởng tầm cỡ một quốc gia hay trên thế giới. Chúng ta không chỉ bắt gặp họ trong  
đời sống mà chúng ta còn bắt gặp họ thông qua các phương tiện truyền thông và nhiều chương  
trình truyền hình thực tế như: (Người Ấy Là Ai, COME OUT…). Cuộc thi mang tính quốc tế (Miss  
International Queen) diễn ra hàng năm được tổ chức tại Thái Lan trong 16 năm qua đã lần lượt ra  
đời để cho mọi người có thể thấu hiểu rõ hơn về cộng đồng LGBT cũng như ngày càng đến gần hơn  
với mọi người, để nó không còn xa lạ với mọi người.  
Thứ hai, cộng đồng người đồng giới (LGBT) không làm trái ‚Chuẩn mực đạo đức‚ mà là làm thay  
đổi ‚định kiến của xã hội‛. Nếu nói đồng tính là trái với chuẩn mực đạo đức xã hội trái với thuần  
phong mỹ tục của Việt Nam vậy thuần phong mỹ tục hiểu như thế nào. Theo nhóm tác giả hiểu  
và định nghĩa thuần phong mỹ tục là những phong tục truyền thống, đạo đức, lối sống tốt đẹp  
của một dân tộc nó được hình thành trong quá trình phát triển của dân tộc đấy. Cũng là sự phát  
triển trong quá trình xây dựng của dân tộc đó nhưng nó vẫn chưa là đủ mà song với phát triển thì  
nó còn phải vận động theo hiện thực của xã hội. Những người có giới tính bình thường là nam  
hoặc nữ khi kết hôn thì được xem không trái với chuẩn mực đạo đức xã hội. Vậy còn những người  
đồng giới tại sao yêu nhau lại không được chúng ta xem xét công nhận mà bị xem là trái với đạo  
đức xã hội. Chỉ vì họ mang trong người giới tính khác biệt thì bị xem thường mà đánh giá họ sai  
thì sự công bằng về quyền được sống tự do của họ sẽ không có. Ví dụ: Khi xưa người da đen họ  
bị bóc lột, bị xê dịch nặng nề vì mang trên mình màu da ‚đen‛ khác biệt và hơn thế họ còn bị  
xem như là nô lệ của người da trắng trong một thời gian dài. Vào năm 1994 Nelson Mandela lên  
làm tổng thống đại diện cho toàn bộ người dân da đen đòi quyền bình đẳng lợi ích tự do họ xứng  
đáng được nhận. Đồng nghĩa với điều này đã đủ để chứng minh những phong tục tập quán mà  
chúng ta đúc kết trong quá trình phát triển nó có thể đúng ở một giai đoạn nào đó nhưng nó sẽ  
không phải luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh hay công việc cộng đồng LGBT. Họ cũng là hiện  
1603  
tượng tự nhiên mà trong quá trình vận hành của tự nhiên sinh ra, đồng tính không phải là bệnh  
nó là một phần của xã hội loài người.  
Nếu nói nó là sự hiện hữu của sự sai trái thì theo quy luật tự nhiên nó chắc chắn sẽ bị triệt tiêu  
nhưng trên thực tế nó không bị triệt tiêu mà nó ngày càng và đang phát triển. Hơn nữa càng không  
trái với luật tự nhiên thay vào đó quyền tự do quyền yêu đương, không bị kìm hãm tinh thần dân  
chủ của một con người. Đó có phải là tinh thần tiến bộ mà toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói  
riêng đang hướng đến quyền của con người không hay chỉ mãi mãi là định kiến.  
Thứ ba, Ý nghĩa của ‚Hôn nhân‛. Nhóm tác giả đi khảo sát thực tế ở một số miền quê về vấn đề hôn  
nhân đồng giới thì có nhiều ý kiến cho rằng: ‚ ết hôn đồng tính‛ là bóp méo làm sai ý nghĩa tinh túy  
của hai từ ‚hôn nhân‛. Bởi vì họ cho rằng ‚hôn nhân đồng tính‛ không tạo ra sản phẩm đúng với ý  
nghĩa của hai từ đó chính là duy trì nòi giống. Quan điểm này không đúng cũng không hẳn sai bởi  
vì nó không có lí luận chính xác, lập luận không đủ thuyết phục, chỉ dựa trên ý nghĩ của mỗi cá  
nhân. Trên thực tế chưa có cá nhân nào hiểu hết nghĩa của hai từ hôn nhân. Xuất phát theo ý nghĩa  
về mục đích của hôn nhân thì cụm từ ‚hôn nhân‛ không phải chỉ có mục đích duy nhất là duy trì nòi  
giống, mà mục đích hôn nhân hướng tới là để tạo ra môi trường hạnh phúc cho mọi người thông  
qua môi trường đấy con người phát huy hết năng lực của mình góp phần làm cho xã hội ngày  
càng phát triển. Và hành động thông qua ‚hôn nhân đồng giới‛ vốn nó không gây ảnh gì đến quá  
trình duy trì nòi giống.  
Cho dù ‚hôn nhân đồng giới‛ có thông qua hay không được thông qua thì khả năng kết hôn với  
người khác giới của người cùng giới xác suất phần trăm rất thấp. Sự miễn cưỡng trong việc công  
nhận người đồng tính kết hôn với nhau thì họ có được gì sau khi kết hôn. Và ngược lại hôn nhân mà  
bắt nguồn từ tình yêu và sự tự nguyện đến từ hai phía sẽ được kết quả gì. Vấn đề về hạnh phúc gia  
đình lại một lần nữa đáng được báo động, còn những đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình  
không có tình cảm yêu thương từ ba mẹ, từ gia đình thì đứa trẻ ấy sẽ có cảm nhận và cách sống  
như thế nào. Một gia đình không hoàn chỉnh sẽ dẫn đến những suy nghĩ không đúng tạo nên  
những suy nghĩ sai lệch, thói xấu cho con trẻ ngay chính từ người cha, người mẹ được xã hội công  
nhận là chuẩn mực đạo đức xã hội. Nếu nói hôn nhân đồng giới không thể duy trì nòi giống vậy  
nếu kết hôn với người khác giới nhưng lại không thể mang thai thì như thế nào (theo kết quả nghiên  
cứu do Bệnh viện (BV) Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội thực hiện trên 14.300 cặp vợ chồng  
trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) ở 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng ở nước ta cũng chỉ ra tỉ lệ vô sinh là 7,7% [7].  
Trên thực tế, thì các cặp đôi đồng giới không thể có con chung nhưng có thể nhận con nuôi theo  
đúng với pháp luật Việt Nam và việc nhận con nuôi sẽ có một ảnh hưởng nhất định đến xã hội như:  
Cho các em bé mồ côi có được tình thương, giảm áp lực đối với xã hội, tránh các tệ nạn xã hội, giúp  
xã hội ổn định hơn.  
Nếu như người đồng giới cũng có quyền lựa chọn như những người khác lựa chọn cách sống và  
làm việc và đối xử một cách bình đẳng thì họ sẽ chấp hành tốt pháp luật không trái với Hiến pháp  
với quy định của nhà nước. Họ xứng đáng được sống trong một gia đình hạnh phúc với người họ  
yêu trên tinh thần cả hai cùng tự nguyện. Luật HN&GĐ hiện hành tuy không cấm nhưng vẫn chưa  
công nhận việc đăng ký kết hôn giữa người cùng giới chưa thật sự công bằng và xứng đáng với  
1604  
quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của con người. Nếu Luật cho phép những người cùng giới được  
kết hôn như bao cặp vợ chồng hợp pháp khác thì sẽ có sự ràng buộc nhất định về mọi mặt. Bởi họ  
cũng cần được bảo vệ không chỉ về quyền lợi, lợi ích mà còn là niềm cổ vũ lớn thể hiện thấy một xã  
hội rất công bằng dân chủ văn minh. Sự công bằng ấy thể hiện qua việc được pháp luật sẽ bảo vệ  
quyền lợi như những cuộc hôn nhân nam nữ bình thường khác sau khi ly hôn: Quyền thừa kế,  
quyền tài sản chung, quyền lợi khác lúc có bất cập xảy ra thì xã hội sẽ ổn định và phát triển.  
4 KẾT LUẬN  
Thông qua việc nghiên cứu của nhóm thì có thể nhận thấy mối quan hệ giữa những ngưởi đồng  
giới hay hợp đồng hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam là vấn đề đang được quan tâm. Nhưng do  
nó mang tính chất ‛mới‛ nên nhận được quan tâm của mọi người ở khía cạnh ‚xấu‛ vì mọi người  
chưa hiểu rõ bản chất thật sự của hôn nhân đồng giới, cũng như lợi ích của việc hợp đồng hóa hôn  
nhân đồng giới ở Việt Nam. Cùng với sự thiếu hiểu biết về hôn nhân đồng giới thì môt phần do mọi  
người còn chịu ảnh hưởng của lối tư duy cũ nên dẫn đến sự phản đối về việc hợp đồng hóa hôn  
nhân đồng giới ở Việt Nam.  
Vì vậy, để tạo cơ sở cho việc hợp đồng hóa hôn nhân ở Việt Nam chúng ta cần phải định hướng đi  
đúng cho những người thuộc cộng đồng LGBT, giúp xã hội hiểu rõ hơn về người đồng tính, không  
nên thể hiện sự phân biệt kì thị, tuyên truyền công khai phổ biến rộng rãi giúp người đồng tính dễ  
dàng hòa nhập cộng đồng hơn. Như vậy, việc ban hành thừa nhận Luật Hôn nhân Đồng giới ở Việt  
Nam là một vấn đề cần thiết vì nó vừa thể hiện tính dân chủ, vừa bảo đảm được quyền lợi, lợi ích  
hợp pháp của công dân, vừa ổn định được xã hội, tránh chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc. Cuối  
cùng thay vào đó là khối đại đoàn kết toàn dân thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển và điều quan  
trọng nhất chính là mọi người điều có quyền được yêu và được ở bên người mình thương.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.  
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.  
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.  
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
Sáu cặp đồng tính showbiz Việt bất chấp thị phi để thể hiện tình yêu, 03/06/2019,  
showbiz-viet-532591.html, truy cập ngày 27/05/2020.  
[6]  
[7]  
Trương Hồng Quang, 01/02/2014, quyền kết hôn của người đồng tính  
Tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam đang gia tăng, https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/ty-le-vo-sinh-o-viet-  
nam-dang-gia-tang-1420289248, truy cập ngày 02/06/2020.  
1605  
pdf 7 trang Thùy Anh 8960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_y_kien_ve_van_de_hop_phap_hoa_hon_nhan_dong_gioi_tai.pdf