Thị trường lao động theo định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam

THỊ TRƢỜNG  AO ĐỘNG THEO ĐỊNH HƢỚNG  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM  
TS. Đinh Thị H  ng  
Trường Đại học Thương mại  
TÓM TẮT  
Hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đồng thời tiềm  
ẩn không ít thách thức đối với thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Các doanh  
nghiệp trong nước và nước ngoài sẽ cần thuê nhiều lao động, cung - cầu, giá cả của sức lao động  
trên thị trường lao động chắc chắn có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, hội nhập và phát triển  
kinh tế cũng mang lại không ít khó khăn khi mà thị trường lao động định hướng phát triển bền vững  
vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên và gần như hoàn toàn tự phát, lực lượng lao động mới  
lại không có chuyên môn, chưa đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời các yêu cầu của nhà tuyển dụng,  
cơ cấu cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam  
hiện nay tiềm ẩn nhiều dấu hiệu bất ổn. Bài viết đề cập đến thực trạng thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững ở Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp để thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững ở nước ta trong thời gian tới.  
Từ khóa: thị trường lao động, phát triển bền vững, Việt Nam  
ABSTRACT  
The integration and development of Vietnam‟s economy has created not only various  
opportunities but also raised enormous challenges for the labour market that aiming towards a  
sustainable development. Domestic as well as international enterprises will need to hire more  
workers, as a result the supply and demand of labour, the price of of labour in the labour market  
will definitely have positive changes. Nevertheless, economic intergration and development also  
brings lots of difficulties especially when the labour market aiming towards a sustainable  
development is still at its very first stage and almost entirely spontaneous. Specifically, the labour  
force is fairly new without any expertise, unable to completely and timely meet the demand of  
recruiters. Also, the structure of labour supply and demand in the labour market aiming towards a  
sustainable development in Vietnam still currently has many potential signs of instability; This  
paper discusses the current situation of the labour market aiming towards sustainable development  
in Vietnam, from there, proposes some recommendations to help the labour force develop in a  
sustainable direction in the future.  
Keywords: labour market, sustainable development, Vietnam  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải dựa trên ba trục cơ bản đó là: áp  
dụng khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn lực lao động; trong đó,  
nguồn lực lao động giữ vai trò quan trọng. Trình độ phát triển nguồn lực lao động trên thị trường  
lao động là một thước đo chủ yếu sự phát triển của mỗi quốc gia và thị trường lao động được coi  
như một đầu tàu để kéo theo sự chuyển động của các thị trường khác. Thị trường lao động khác với  
71  
các loại thị trường khác (như: hàng hóa, vốn, nhà ở, bất động sản...) ở chỗ nó phức tạp hơn, bao  
gồm hoạt động của những lực lượng và các công cụ điều tiết mà phần lớn ở các thị trường khác  
không có. Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trường lao động ở Việt  
Nam phát triển bền vững, linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.  
Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị trường lao động Việt Nam đang  
bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu,  
năng suất lao động thấp. Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát  
triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt lao động trầm trọng. Theo GSO  
(2019) trong tổng số 55767 nghìn lao động thì khu vực nông thôn chiếm 67,55%. Hiện cả nước vẫn  
còn trên 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn là  
một nước kém phát triển và tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn trầm trọng, chiếm tỷ trọng  
gần 97% trong tổng số lao động thiếu việc làm chung. Mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã  
có tín hiệu tích cực nhưng chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc phân phối, sử  
dụng lao động trong các khu vực kinh tế mất cân đối. Cụ thể, ở khu vực ngoài nhà nước sử dụng  
(trên 87%) lao động xã hội, nhưng đại bộ phận làm việc ở hộ cá thể, sản xuất nhỏ phân tán, phi  
chính thức với trình độ công nghệ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp. Thực  
trạng này cho thấy thị trường lao động Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phát triển chưa bền vững.  
Mà theo Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển bền vững  
Việt Nam phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực có chất lượng, đủ mạnh ở mọi lĩnh vực, đáp ứng yêu  
cầu phát triển bền vững với cơ cấu hợp lý các loại nhân lực theo ngành và theo lĩnh vực phát triển.  
Như vậy, để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, trước mắt thị trường lao động Việt Nam cần tiếp  
tục được phát triển theo hướng bền vững và hiện đại. Khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị  
trường lao động cần sớm được kiện toàn.  
Xuất phát từ thực tế nêu trên, bài viết được lựa chọn thực hiện nhằm nghiên cứu thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam để thấy được bức tranh thực trạng về thị trường  
lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam cũng như một số tồn tại trong các yếu tố như  
cung - cầu lao động, cạnh tranh về lao động, giá cả và hệ thống thông tin thị trường lao động Việt  
Nam theo định hướng phát triển bền vững; Thiết lập và kiểm định mô hình Kano - IP  để đánh giá  
các tiêu chí quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam về tính hiệu  
lực, hiệu quả phù hợp và bền vững. Trên cơ sở thực trạng đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp  
để thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp hỗn hợp để nghiên cứu bao gồm:  
phương pháp định tính và phương pháp định lượng.  
Phương pháp định tính  
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả thu thập, nghiên cứu dữ liệu thứ cấp nhằm phản ánh  
một cách khách quan, đa chiều về thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Bên cạnh đó,  
tác giả tiến hành tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các học giả về lý luận, thực trạng thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế  
thế giới (WEF), Báo cáo về tình hình dân số và việc làm của Tổng cục Thống kê (GSO), Báo cáo thị  
trường tuyển dụng của Navigos Search và Vietnamworks,... Đây là những minh chứng quan trọng để  
đánh giá thực trạng thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam.  
72  
Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Tác giả sử dụng kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu và thảo luận  
nhóm tập trung nhằm thiết lập cơ sở lý luận về thị trường lao động định hướng phát triển bền vững.  
Trong đó, phương pháp phỏng vấn chuyên sâu thu thập những ý kiến, quan điểm, kinh nghiệm của các  
chuyên gia về cung - cầu lao động, giá cả sức lao động, cạnh tranh trên thị trường lao động, hệ thống  
thông tin thị trường lao động; xây dựng các tiêu chí đánh giá quản lý thị trường lao động định hướng  
phát triển bền vững; Thảo luận nhóm tập trung với cho phép nghiên cứu một cách tích cực để đưa ra ý  
kiến thống nhất về thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Sau khi phỏng vấn 10 chuyên  
gia là các chuyên gia, các nhà quản lý tại các doanh nghiệp nghiên cứu tiến hành thảo luận và thiết kế  
bản hỏi với 4 tiêu chí về tính hiệu quả, tính hiệu lực, tính phù hợp, tính bền vững (24 yếu tố). Trong đó,  
7 yếu tố thể hiện tính hiệu lực, 6 yếu tố thể hiện tính hiệu quả, 5 yếu tố thể hiện tính phù hợp và 6 yếu tố  
thể hiện tính bền vững. Mỗi yếu tố được phát biểu thành một nhận định trong phiếu khảo sát.  
Phương pháp xử lý thông tin dữ liệu: Bài viết sử dụng các phương pháp như trừu tượng khoa  
học, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh; Kết  
hợp với việc minh họa bằng bảng biểu, hình vẽ cho vấn đề nghiên cứu trở nên trực quan hơn.  
Phương pháp định lượng  
Từ cơ sở lý thuyết đã tổng hợp, các biến quan sát được xây dựng trên thang đo Likert 5 điểm (từ 1  
= hoàn toàn không đồng ý đến 5 = hoàn toàn đồng ý) phản ánh 4 tiêu chí đánh giá quản lý thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững ở Việt Namvề tính hiệu lực, hiệu quả phù hợp và bền vững.  
Nghiên cứu định lượng tiến hành ngay sau đó với kích thước mẫu là 200 từ những nhà quản  
lý và người lao động (NLĐ) tại các doanh nghiệpdệt may, điện tử, du lịch, thủy sản… và các nhà  
quản lý tại một số tổ chức quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam.  
Thời gian là từ ngày 01/06//2020 đến ngày 01/07/2020. Tiếp cận đối tượng điều tra theo hai cách:  
(i) Gửi phiếu khảo sát đã thiết kế trên Google Docs đến địa chỉ email của nhà quản lý và NLĐ; (ii)  
Gửi phiếu khảo sát trực tiếp đến nhà quản lý và NLĐ. Sau khi sàng lọc các phiếu trả lời, loại bỏ  
phiếu không hợp lệ còn lại 165 phiếu hợp lệ nghiên cứu sử dụng để nhập và xử lý dữ liệu. Dữ liệu  
thu được tiến hành nhập vào file Excel, sau đó thực hiện phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 21.  
Cụ thể, phần mềm SPSS 21 dùng để thống kê mô tả mức độ thực hiện các tiêu chí, hệ số tương quan  
tuyến tính và đồ thị phân tán Kano-IPA để đánh giá “mức độ thực hiện” (Performance) và “mức độ  
quan trọng” (Importance) và dựa vào trị số trung bình của hai yếu tố trên để xây dựng một ma trận  
Quadrant gồm 4 ô, với các thành phần như sau (xem Hình 1):  
Hình 1. Đồ thị phân tán Kano-IPA và các chi n l ợc t  ng ứng  
Ngu n: Martilla & James, 1977  
73  
Như vậy, qua nghiên cứu định tính và định lượng, dữ liệu thu thập được phân thành các hạng  
mục bao gồm: cơ sở lý thuyết, số liệu thống kê, dữ liệu sơ cấp về thực trạng, dữ liệu thảo luận kết  
quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khung dàn ý, lồng ghép dữ  
liệu để có nghiên cứu hoàn chỉnh.  
3. CƠ SỞ L  LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN  
BỀN VỮNG  
Theo ILO: “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán  
thông qua một quá trình thỏa thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ  
tiền công.” Thị trường lao động ở đây coi trọng các dịch vụ lao động và được xác định thông qua  
việc làm và tiền lương.  
Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012): “Thị trường lao động là tập hợp các hoạt  
động nhằm trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ, qua đó,  
giá cả, điều kiện và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định.”  
Kostin Leonit Alecxeevich cho rằng: “Thị trường lao động - đó là một cơ chế tương hỗ giữa  
người sử dụng lao động và NLĐ trong một không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ  
kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau.”  
Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới của Liên Hợp Quốc (1987): “Phát triển bền  
vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của  
các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ.”  
Như vậy, thị trường lao động định hướng phát triển bền vững đó là một cơ chế hoạt động  
tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác  
định, thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau nhằm mục tiêu phát triển bền  
vững. Trong đó, thị trường lao động định hướng phát triển bền vững sẽ tạo nên sự thịnh vượng cho  
cộng đồng dân cư và đạt hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế, tức là sự phát triển của doanh nghiệp  
được duy trì một cách lâu dài cùng với sự tôn trọng quyền lợi và sự bình đẳng cho tất cả mọi NLĐ.  
Thị trường lao động định hướng phát triển bền vững được cấu trúc bởi các thành tố như sau:  
Cung - cầu sức lao động  
Mỗi người lao động, ở những thời điểm khác nhau của cuộc đời, phải quyết định làm  
việc hay không làm việc, làm việc cho ai và bao nhiêu thời gian. Đó chính là biểu hiện cung lao  
động của mỗi cá nhân. Do vậy, ở mỗi thời điểm nhất định, cung lao động của toàn xã hội được  
tạo ra bằng tổng cung của mỗi cá nhân. Cung lao động xã hội còn phụ thuộc vào quy mô dân số  
và mức độ tham gia lao động của từng nhóm tuổi. Do các yếu tố trên thay đổi nên lực lượng lao  
động và khả năng cung lao động của xã hội cũng thay đổi và tác động mạnh mẽ đến năng lực  
sản xuất của nền kinh tế định hướng phát triển bền vững. Như vậy, cung lao động phản ánh khả  
năng tham gia trên thị trường lao động của NLĐ trong những điều kiện nhất định đặc biệt là  
định hướng phát triển bền vững. Cung lao động xã hội là khả năng cung cấp sức lao động của  
nguồn nhân lực xã hội. Nó thể hiện hoặc ở số lượng và chất lượng con người hoặc ở thời gian  
của những người tham gia và mong muốn tham gia lao động trên thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững. Trên thị trường lao động định hướng phát triển bền vững, cung và  
cầu lao động không tách rời nhau. Các doanh nghiệp thuê mướn lao động tùy vào việc người  
tiêu dùng mua nhiều hay ít hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất ra. Nhu cầu thuê mưới lao động,  
74  
cũng giống như cầu về các đầu vào khác của quá trình sản xuất là “cầu phát sinh”, xuất phát từ  
những mong muốn của khách hàng. Vì vậy, người sử dụng lao động thuê lao động nhiều hay ít  
tùy thuộc vào cầu sản phẩm, điều kiện, hoàn cảnh của từng tổ chức, doanh nghiệp và của nền  
kinh tế. Do đó, cầu lao động là lực lượng lao động mà người sử dụng lao động, chấp nhận thuê  
ở các điều kiện nhất định. Tổng cầu lao động của một nền kinh tế hoặc của một tổ chức, doanh  
nghiệp, một ngành, một loại lao động nào đó định hướng định hướng phát triển bền vững là  
toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế hoặc tổ chức, doanh nghiệp… ở một thời kỳ  
nhất định, trong những điều kiện nhất định.  
Giá cả sức lao động  
Trên thị trường lao động định hướng phát triển bền vững, giá cả sức lao động được biểu  
hiện dưới dạng tiền lương, tiền công. Mức tiền lương chính là giá trị mà NLĐ nhận được trên cơ  
sở trao đổi dịch vụ lao động. Mức tiền lương là giá cả của sức lao động cụ thể của việc làm  
được trả công lao động và như vậy nó được phản ánh thông qua giá trị của việc làm, nếu việc  
làm có giá trị càng cao thì mức trả công lao động càng lớn. Tiền lương trên thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững chịu sự tác động của cung và cầu lao động cũng như các yếu tố  
phi thị trường tồn tại trong một nền kinh tế. Sự biến động của mức tiền lương trên thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững cho thấy kết quả tương tác của cung cầu lao động và xu  
hướng vận động của thị trường lao động. Mức tiền lương là một tín hiệu quan trọng của thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững và có mối quan hệ mật thiết với tốc độ tăng  
năng suất lao động. Tiền lương có khả năng tăng lên khi năng suất lao động xã hội tăng lên.  
Trong quản lý tiền lương, người ta thường xác định quan hệ giữa tốc độ tăng tiền lương và tốc  
độ tăng năng suất lao động, trong đó tốc độ tăng của tiền lương phải thấp hơn tốc độ tăng của  
năng suất lao động để đảm bảo thu nhập của người lao động trong mối quan hệ với phát triển xã  
hội định hướng phát triển bền vững. Tiền lương được phân biệt theo ngành nghề, loại hình công  
việc, trình độ chuyên môn kỹ thuật, điều kiện làm việc khác nhau.  
Sự cân bằng trên thị trường lao động  
Trên thị trường lao độngđịnh hướng phát triển bền vững, những người lao động có được mức  
tiền lương cao hơn mức tiền lương cân bằng thì tại mức tiền lương này cho thấy các tổ chức, doanh  
nghiệp sẵn sàng thuê lao động đang tìm kiếm công việc. Lúc này sẽ xảy ra tình trạng nhiều lao động  
cạnh tranh nhau để được thuê một số ít việc làm, tạo nên áp lực buộc tiền lương giảm xuống. Do  
vậy, khi tiền lương ở mức cân bằng thì xảy ra tình trạng cạnh tranh giữa những NLĐ khiến tiền  
lương giảm xuống. Ngược lại, nếu các tổ chức, doanh nghiệp đưa ra mức tiền lương dưới mức cân  
bằng của thị trường, tức là người sử dụng lao động muốn thuê nhiều lao động nhưng chỉ ít người  
sẵn sàng làm việc tại mức tiền công đó. Sự cạnh tranh giữa những người sử dụng lao động để có  
được lao động làm việc tạo nên áp lực đẩy tiền lương lên mức cân bằng trên thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững. Một thị trường lao động định hướng phát triển bền vững đạt tới trạng  
thái cân bằng khi mà số người lao động đang tìm kiếm công việc bằng đúng với số lao động mà  
người sử dụng lao động muốn thuê. Nếu không có bất cứ biến động nào thì trạng thái cân bằng có  
thể kéo dài không thời hạn. Nhưng trên thực tế, môi trường kinh tế luôn biến động đã tác động đến  
cung cầu lao động và làm cho tiền lương trên thị trường thay đổi. Kết quả là trạng thái cân bằng trên  
thị trường lao động mất cân bằng. Mỗi cấu trúc thị trường định hướng phát triển bền vững sẽ sinh ra  
một trạng thái cân bằng ứng với những đặc tính riêng của nó.  
75  
Hệ thống thông tin thị trường lao động  
Thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền vững là hệ thống các chỉ tiêu phản  
ánh trạng thái các thành tố của thị trường lao động như cung lao động, cầu lao động, tiền lương, trợ  
cấp… và các trung gian thị trường lao động như các tổ chức và cơ chế hỗ trợ việc kết nối giữa NLĐ  
tìm việc và người sử dụng lao động thuê lao động làm việc. Ngoài các thông tin định lượng, thông  
tin thị trường lao động được thu thập có thể là thông tin định tính như các văn bản pháp luật, quy  
định, báo cáo, bản ghi dữ liệu về điều kiện làm việc, nhu cầu đào tạo, lỗ hổng kỹ năng, đào tạo nghề  
và đầu ra. Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã cho phép xây dựng hệ thống thông tin thị  
trường lao động hiện đại. Việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động định hướng phát  
triển bền vững là yêu cầu cấp thiết, nhằm đáp ứng một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời yêu cầu  
thông tin phục vụ quản lý, nghiên cứu, thực hiện và giám sát các chính sách về thị trường lao động,  
cũng như nhu cầu thông tin của người sử dụng lao động và các tổ chức trung gian trên thị trường  
lao động định hướng phát triển bền vững.  
Tiêu chí đánh giá quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững  
Thị trường lao động định hướng phát triển bền vững dưới sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước  
với tư cách là đại diện cao nhất cho lợi ích quốc gia, lợi ích của toàn thể xã hội và điều hòa mối  
quan hệ giữa người sử dụng lao động, NLĐ, các tổ chức trung gian trên thị trường lao động. Nhà  
nước quản lý thị trường lao động trên cơ sở quan điểm, định hướng, mục tiêu của chiến lược phát  
triển bền vững, Nhà nước xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật cũng như các chính sách liên  
quan đến phát triển thị trường lao động bền vững như: Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật An toàn,  
vệ sinh lao động, Luật Công đoàn, Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo dục... Căn cứ vào tình hình kinh  
tế xã hội cũng như bối cảnh trong nước và quốc tế, kết hợp với các phân tích, dự báo có căn cứ khoa  
học để đưa ra các định hướng về thị trường lao động định hướng phát triển bền vững bền vững đúng  
đắn và phù hợp. Nhà nước phải làm để thiết lập hệ thống quản lý, hệ thống thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững và vận hành nó theo định hướng nhằm đạt được mục tiêu đề ra bao gồm:  
tổ chức bộ máy quản lý về phát triển thị trường lao động bền vững, cấp phép và các thủ tục hành  
chính về thị trường lao động định hướng phát triển bền vững, tổ chức hệ thống doanh nghiệp theo  
các ngành nghề, lĩnh vực, tổ chức và phát triển nguồn cung lao động, vận hành hiệu quả bộ máy  
quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững, định hướng và hỗ trợ thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững. Một trong những vai trò quan trọng của quản lý về thị trường  
lao động định hướng phát triển bền vững là thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra đối với thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững để đảm bảo các tổ chức, cá nhân hoạt động theo  
đúng pháp luật, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hạn chế tiêu cực trong thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững. Như vậy, để đánh giá thị trườnglao động định hướng phát triển bền  
vững thì tiêu chí đánh giá là các chuẩn mực, dấu hiệu làm căn cứ để các nhà phân tích dựa vào đó  
để phân tích, đánh giá và đưa ra các kết luận về việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra. Thị trường  
lao động định hướng phát triển bền vững của OECD (1996), ILO (2016), Trịnh Thị Thu Giang  
(2015) và Nguyễn Xuân Hưng (2015) là cần đáp ứng các tiêu chí như:  
Tính hiệu lực: là tiêu chí đánh giá khả năng tác động của Nhà nước đến đối với các tổ chức,  
đơn vị, các doanh nghiệp và người lao động tham gia vào thị trường lao động định hướng phát triển  
bền vững. Trịnh Thị Thu Giang (2015) cho rằng: Biểu hiện của hiệu lực là hiệu năng của các quy  
định hành chính, là cách hành xử, tuân thủ luật pháp và chấp hành các chính sách, quy định của cấp  
76  
trên, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong hệ thống. Tính hiệu lực của thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững thể hiện qua các tiêu chí cụ thể (Bảng 1).  
Bảng 1. Các tiêu chí đánh giá tính hiệu lực về quản lý thị tr ờng lao động  
định h ớng phát triển bền vững  
Mã hóa  
Tiêu chí cụ thể  
Nguồn  
HL1  
 h  nưꢀc, tr c ti p     OLISA xꢁc đ nh đ ng m c tiêu tiêu phát tri n th  trưꢂng  
 ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng  
T ng h p và phát tri n  
nghiên cứu cꢄa OECD  
(1996), Tr nh Th  Thu  
Giang (2015), Nguy n  
Xu n Hưng (2015)  
HL2  
Các chính sách pháp luật phát tri n th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n  
bền vꢃng ban hành k p thꢂi  
HL3  
HL4  
T  chức, doanh nghiꢅp hi u rõ về th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng  
Các t  chức, doanh nghiꢅp ngưꢂi  ao đ ng th c hiꢅn nghiêm túc quy ho ch về th  
trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng  
HL5  
HL6  
HL7  
Có s  phꢆi h p cꢄa các cấp quản lý về th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n  
bền vꢃng  
 h  nưꢀc th c hiꢅn tꢆt ho t đ ng ki m tra, giám sát, thanh tra, cꢄa t  chức  đơn  
v , doanh nghiꢅp tham gia th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng  
X  lý vi ph m c  t nh r n đe đꢆi vꢀi các doanh nghiꢅp   LĐ vi ph m  
Tính hiệu quả: Theo ILO (2016), hiệu quả của định hướng phát triển bền vững phản ánh năng  
suất lao động, hiệu suất sử dụng kinh phí của bộ máy quản lý thị trường lao động. Tính hiệu quả của  
quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững được đánh giá bằng cách so sánh kết  
quả thực tế mà quản lý nhà nước đạt được với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Hiệu quả của  
quản lý đối với thị trường lao động định hướng phát triển bền vững cao khi hoạt động quản lý hoàn  
thành được mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất hoặc quản lý đạt được kết quả cao nhất với chi phí  
nhất định về nguồn lực. Tính hiệu quả của hoạt động quản lý thị trường lao động định hướng phát  
triển bền vững thể hiện qua các tiêu chí cụ thể (Bảng 2).  
Bảng 2. Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của quản lý đối với thị tr ờng lao động  
định h ớng phát triển bền vững  
Mã hóa  
Tiêu chí cụ thể  
Nguồn  
HQ1  
S  phản ứng k p thꢂi cꢄa cơ quan quản    đꢆi vꢀi nhꢃng s  v  bất thưꢂng liên  
quan đ n phát tri n th  trưꢂng  ao đ ng bền vꢃng  
T ng h p và phát tri n  
nghiên cứu cꢄa ILO  
(2016), Tr nh Th  Thu  
Giang (2015), Nguy n  
Xuân Hưng  (2015)  
HQ2  
Chi phí trang trải cho ho t đ ng quản    đꢆi vꢀi ho t đ ng cꢄa t  chức  đơn v  
th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng tương xứng vꢀi hiꢅu quả  
quản lý  
HQ3  
HQ4  
HQ5  
HQ6  
Sꢆ  ư ng  ao đ ng quản    đꢆi vꢀi th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n  
bền vꢃng đảm bảo yêu c u  
Chất  ư ng  ao đ ng quản    đꢆi vꢀi th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n  
bền vꢃng đảm bảo yêu c u  
S  hài lòng cꢄa các t  chức  đơn v , doanh nghiꢅp về th  trưꢂng  ao đ ng đ nh  
hưꢀng phát tri n bền vꢃng vꢀi nhꢃng chính sách quản lý, h  tr  cꢄa  h  nưꢀc  
S  hài lòng cꢄa  ao đ ng về th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền  
vꢃng vꢃng  hi đư c  h  nưꢀc bảo vꢅ quyền l i  
77  
Tính phù hợp: là tiêu chí đánh giá tính thích hợp, khả thi của quản lý đối với thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững về mặt chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát  
trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Nguyễn Xuân Hưng (2015) nhận định cần có những chính  
sách quản lý thị trường lao động có tính khả thi. Tính phù hợp của hoạt động quản lý thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững thể hiện qua các tiêu chí cụ thể (Bảng 3).  
Bảng 3. Các tiêu chí đánh giá tính phù hợp của quản lý đối với thị tr ờng lao động  
định h ớng phát triển bền vững  
Mã hóa  
Tiêu chí cụ thể  
Nguồn  
PH1  
M c tiêu cꢄa quản    đꢆi vꢀi th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng cꢄa T ng h p và phát  
t  chức  đơn v , doanh nghiꢅp phù h p vꢀi điều kiꢅn kinh t  xã h i cꢄa quꢆc gia  
tri n nghiên cứu cꢄa  
Tr nh Th  Thu Giang  
(2015), Nguy n Xuân  
Hưng (2015)  
PH2  
PH3  
Các chính sách quản lý th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng có tính  
khả thi  
Mức đ  can thiꢅp cꢄa cơ quan quản lý vào ho t đ ng cꢄa th  trưꢂng lao đ ng đ nh  
hưꢀng phát tri n bền vꢃng h p lý  
PH4  
PH5  
Phương tiꢅn kỹ thuật và công nghꢅ cho quản    đang    công c  hꢃu hiꢅu  
Quản lý th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng phù h p vꢀi thông lꢅ  
quꢆc t .  
Tính bền vững: là tiêu chí đánh giá mức độ ảnh hưởng bền vững theo thời gian của kết quả quản  
lý đối với thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Trịnh Thị Thu Giang (2015), đây là hệ  
thống các cách thức quản lý bền vững, hiệu quả và công bằng đáp ứng nhu cầu phát triển của các tổ  
chức, đơn vị, doanh nghiệp đảm bảo sự an toàn, lâu dài, bền vững cho người lao động trong thị trường  
lao động góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tính bền vững của hoạt động quản lý thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững thể hiện qua các tiêu chí cụ thể (Bảng 4).  
Bảng 4. Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của quản lý đối với thị tr ờng lao động  
định h ớng phát triển bền vững  
Mã hóa  
Tiêu chí cụ thể  
Nguồn  
BV1  
Các chính sách quản    đꢆi vꢀi th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền  
vꢃng là tích c c,  n đ nh theo đ nh hưꢀng phát tri n lâu dài  
T ng h p và phát tri n  
nghiên cứu cꢄa ILO  
(2016), Tr nh Th  Thu  
Giang (2015), Nguy n  
Xu n Hưng (2015)  
BV2  
BV3  
Các chính sách quản lý cꢄa  h  nưꢀc đꢆi vꢀi th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng  
phát tri n bền vꢃng là thông thoáng, t o điều kiꢅn cho các t  chức, doanh  
nghiꢅp tri n  hai v   LĐ tham gia.  
 h  nưꢀc t o môi trưꢂng c nh tranh lành m nh và tháo gỡ  h   h n cho t  
chức  đơn v , doanh nghiꢅp tham gia th  trưꢂng lao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n  
bền vꢃng  
BV4  
BV5  
BV6  
 h  nưꢀc chú tr ng đ n công tác d  báo nhꢃng bi n đ ng  iên quan đ n ho t  
đ ng th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phát tri n bền vꢃng  
Mức đ  t o ra công  n viꢅc làm t  th  trưꢂng  ao đ ng đ nh hưꢀng phꢁt tri n  
 ền vꢃng là  n đ nh  
 LĐ trung th nh vꢀi công viꢅc đang đảm nhận  
4. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  
Ở VIỆT NAM  
Về cung - cầu sức lao động: Quy mô chung và cấu trúc “cung - cầu” sức lao động trên thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững vẫn còn nhiều bất cập. Hằng năm, cung sức lao động  
tăng từ 3,2% đến 3,5%; do đó mỗi năm chúng ta sẽ có thêm khoảng 1,3 đến 1,5 triệu người đến độ  
78  
tuổi lao động. Như vậy, hiện nay ở Việt Nam cung về sức lao động đang vượt quá cầu và sẽ còn tiếp  
tục vượt trong tương lai, điều đó tạo ra một áp lực rất lớn về việc làm cho người lao động. Trên thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững, cung cầu về lao động chưa được giải quyết khiến  
việc giải quyết mối quan hệ giữa lao động và việc làm bị ách tắc. Bên cạnh đó, thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên và gần như hoàn toàn tự  
phát, lực lượng lao động mới lại không có chuyên môn, chưa đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời các  
yêu cầu của nhà tuyển dụng. Vì vậy, vấn đề đào tạo và đào tạo lại trở nên rất cấp bách, nó mang tính  
chiến lược và là vấn đề mấu chốt để tăng chất lượng và khả năng cạnh tranh của sức lao động trên thị  
trường lao động. Theo GSO (2019): Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên của nước ta khá dồi dào, năm  
2019 đạt 55,8 triệu người, tăng 379,4 nghìn người so với năm 2018. Xét cơ cấu lực lượng lao động  
theo khu vực thành thị và nông thôn có sự chênh lệch lớn, lực lượng lao động khu vực nông thôn có  
xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao chiếm 67,6%, trong đó khu vực thành thị là 32,4%; tỷ lệ lao  
động đã qua đào tạo có bằng cấp chỉ đạt 22,8% cao hơn mức 22% năm 2018. Số lao động từ 15 tuổi  
trở lên phân theo nghề nghiệp vẫn chủ yếu là lao động làm nghề giản đơn 18837,7 nghìn người tương  
ứng 34,47%. Lao động giản đơn chủ yếu chưa qua học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc  
mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề.  
Trong khi đó, các khu chế xuất - khu công nghiệp khi tuyển công nhân cho các ngành may mặc, điện  
tử cũng ưu tiên người có kinh nghiệm, tay nghề, lao động đã qua đào tạo. Trong khi đó, lao động  
chuyên môn kỹ thuật bậc cao là 4279 nghìn người tương ứng 7,83% (Bảng 5). Những con số trên cho  
thấy, cơ cấu cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt  
Nam hiện nay tiềm ẩn nhiều dấu hiệu bất ổn.  
Bảng 5. Số lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc phân theo nghề nghiệp từ năm 2015 - 2019  
Đơn vị: nghìn người  
Năm  
Năm  
Năm  
Năm  
2016  
Năm  
2017  
TT  
Các nghề nghiệp  
2015  
2018  
2019  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
 h    nh đ o  
574,1  
551,9  
606,2  
619,4  
521,6  
Chuyên môn  ỹ thuật  ậc cao  
Chuyên môn  ỹ thuật  ậc trung  
Nhân viên  
3498,1  
1687,9  
982,8  
3637,0  
1642,8  
1003,0  
8838,6  
5412,4  
6923,1  
5033,3  
20178,6  
124,7  
3800,8  
1757,4  
978,3  
3813,0  
1863,7  
1085,9  
9608,2  
4984,6  
7478,9  
5494,2  
19228,4  
106,1  
4279,0  
1854,5  
1071,5  
9526,4  
4008,1  
7843,2  
6603,6  
18837,7  
113,6  
D ch v  cꢁ nh n   ảo vꢅ  ꢁn h ng  
 ghề trong nông    m  ngư nghiꢅp  
Th  thꢄ công v  cꢁc th   hꢁc c   iên quan  
Th    p rꢁp v  vận h nh mꢁy m c  thi t    
 ghề giản đơn  
8813,7  
5396,5  
6442,5  
4605,5  
20986,3  
123,0  
8928,0  
5158,9  
7163,2  
5275,0  
19908,3  
132,5  
10 Khác  
Tổng số  
53110,5  
53345,5  
53708,6  
54282,5  
54659,2  
Ngu n: GSO, 2019  
79  
Về giá cả sức lao động: Giá cả sức lao động vẫn chưa phản ánh đúng giá trị, tốc độ tăng tiền  
lương nhỏ hơn tốc độ tăng của năng suất lao động, chưa tác động mạnh đến cung cầu thị trường lao  
động và chưa phải là yếu tố điều tiết thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Cụ thể  
trong giai đoạn 2015 - 2018, độ tăng trưởng lương bình quân của Việt Nam đạt 5,9% vượt tốc độ  
tăng năng suất lao động là 4,7%. Tuy nhiên, mức lương tối thiểu chung vẫn còn thấp hơn mức  
lương tối thiểu thực trả trên thị trường lao động, chưa phản ánh được sự chênh lệch về giá cả sinh  
hoạt, chi tiêu, mức sống dân cư giữa các vùng. Việt Nam đã chứng kiến mức tăng lương tối thiểu  
vùng từ năm 2015 đến nay là từ 5,1% đến 9,5%. Cụ thể, vùng I là 4420 nghìn đồng và vùng IV là  
3070 nghìn đồng (Bảng 6). Tuy có sự gia tăng đáng kể nhưng tiền lương cho một lao động ở các  
khu vực kinh tế vẫn còn thấp so với mức sống tối thiểu và nhu cầu cuộc sống của một người lao  
động. Đối với các doanh nghiệp trong bối cảnh chi phí sản xuất tăng, lương tối thiểu tăng, chi phí  
đóng bảo hiểm xã hội tăng, điện nước, nguyên liệu đầu vào tăng... và giá mua hàng của nhãn hàng  
và các công ty trung gian tìm nguồn trong chuỗi giảm, buộc các doanh nghiệp phải tìm cách tiết  
giảm chi phí. Trong đó, chi phí lao động là cao nhất và vì vậy, các doanh nghiệp bằng mọi cách để  
giảm chi phí lao động, như giảm đơn giá tiền lương cho đơn hàng lớn, tăng làm thêm giờ thay vì  
tuyển thêm lao động. Nguyên do của thực trạng này một phần là do lao động Việt Nam chất lượng  
còn thấp chưa tập trung cho đào tạo nhân lực chất lượng cao. Theo WEF (2018), đào tạo bậc cao  
vẫn ở vị trí thấp (xếp thứ 84/137) cho thấy năng lực của NLĐ khi tham gia các hoạt động nghề  
nghiệp vẫn còn chưa đảm bảo chất lượng và theo các tiêu chí đánh giá về hệ thống giáo dục, lao  
động chất lượng cao.  
Bảng 6. Mức l  ng tối thiểu Vùng từ năm 2015 đ n nay  
Đơn vị tính: đ ng/tháng  
Thời  iểm áp dụng  
Vùng I  
Vùng II  
Vùng III  
Vùng IV  
Cơ sở pháp lý  
T  ng y 01 01 2015  
đ n ng y 31 12 2015  
3.100.000  
2.750.000  
2.400.000  
2.150.000  
T  ng y 01 01 2016  
đ n ng y 31 12 2016  
3.500.000  
3.750.000  
3.980.000  
3.100.000  
3.320.000  
3.530.000  
2.700.000  
2.900.000  
3.090.000  
2.400.000  
2.580.000  
2.760.000  
T  ng y 01/01/2017  
đ n ng y 31 12 2017  
T  ng y 01 01 2018  
đ n ng y 31 12 2018  
T  ng y 01 01 2019  
đ n ng y 31 12 2019  
4.180.000  
4.420.000  
3.710.000  
3.920.000  
3.250.000  
3.430.000  
2.920.000  
3.070.000  
 gh  đ nh sꢆ 157 2018  Đ-CP  
 gh  đ nh sꢆ 90 2019  Đ-CP  
T  ng y 01 01 2020  
đ n nay  
Ngu n: Tổng hợp từ vanban.chinhphu.vn  
Về sự cạnh tranh trên thị trường lao động: Nhu cầu lao động tăng cao nhưng để có được  
chỗ làm tốt không phải là điều dễ dàng đối với nhiều người lao động. Hiện nay, tương quan về  
số lượng lao động có trình độ đại học trở lên với các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề  
80  
là 1 - 0, 35 - 0, 56 - 0, 38. Tương quan này cảnh báo về sự thiếu hụt kỹ sư thực hành và công nhân  
kỹ thuật bậc cao trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình định hướng phát triển bền vững.  
Cạnh tranh trên thị trường lao động hiện tại khá cao. Theo Báo cáo thị trường tuyển dụng của  
Navigos Search và Vietnamworks năm 2018: TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp tục là hai địa điểm  
có nhu cầu tuyển dụng lao động lớn nhất cả nước. Các tỉnh lọt vào top 5 còn có Bình Dương, Đà  
Nẵng và Bắc Ninh. Mặc dù đứng thứ 5 về nhu cầu tuyển dụng lao động, nhưng Bắc Ninh lại góp  
mặt trong top 3 về độ cạnh tranh về việc làm với tỷ lệ 1/42 tức là cứ 1 lao động cạnh tranh với 41  
lao động còn lại. Đối với các ngành nghề thì nghề hành chính đang có tỷ lệ cạnh tranh lớn nhất,  
với tỷ lệ 1/66 (Bảng 7). Cứ một người tìm việc trong nghề hành chính/thư ký phải cạnh tranh với  
66 người khác để có được công việc mới nghề kế toán đứng thứ hai, tiếp đến là xuất nhập khẩu,  
sản xuất, công nghệ Sinh học.  
Bảng 7. Tỷ lệ cạnh tranh lao động trong top 5 tỉnh thành và ngành nghề  
Các tỉnh  
TP. Hꢇ Ch   inh  
B c  inh  
Tỷ lệ c nh tranh lao  ộng  
Các nghề  
Hành chính  
Tỷ lệ c nh tranh lao  ộng  
1/46  
1/42  
1/38  
1/38  
1/37  
1/66  
1/61  
1/56  
1/51  
1/47  
   toꢁn  
H    i  
Xuất nhập  h u  
Sản xuất  
B nh Dương  
Đ   ẵng  
Công nghꢅ Sinh h c  
Ngu n: Báo cáo thị trường tuyển dụng của Navigos Search và Vietnamworks, 2018  
Bên cạnh đó, sự tác động của hội nhập quốc tế và bối cảnh của cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ đã có những điều chỉnh nhất định đối với quá trình hoạt động  
của các tổ chức, doanh nghiệp để phù hợp với yêu cầu thay đổi, phát triển. Theo ILO dự báo, Việt  
Nam trong 10 năm tới, 70% số việc làm có rủi ro cao (có xác suất bị thay thế trên 70%), 18% có  
rủi ro trung bình (có xác suất bị thay thế từ 30% - 70%) và 12% có rủi ro thấp (có xác suất bị thay  
thế dưới 30%). Có rủi ro được hiểu là những công việc có thể bị thay thế bằng các hệ thống, máy  
móc tự động hóa.Những ngành có rủi ro cao nhất bao gồm: nông, lâm và thủy sản (với 83,3% số  
việc làm có rủi ro cao); công nghiệp chế biến, chế tạo (74,4% số việc làm có rủi ro cao); bán  
buôn, bán lẻ (84,1% số việc làm có rủi cao). Ngay cả công việc trong lĩnh vực nông nghiệp truyền  
thống ở Việt Nam với đặc điểm là lao động thủ công và có tính lặp đi lặp lại cao cũng có nguy cơ  
bị thay thế bởi máy móc và thiết bị tự động. Do đó, các doanh nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực phải  
có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được trang bị nhiều kỹ năng, đáp ứng sự thay đổi của môi  
trường làm việc; Đối với lao động xuất cư theo GSO (2019): tỷ lệ lao động xuất cư năm 2018 là  
14,3%, năm 2019 là 15,8% và năm 2014 là 9,2%. Ước tính cho thấy khoảng 35% - 40% lực lượng  
lao động nông thôn bị dư thừa và phần lớn lao động rời bỏ nông thôn đi tìm việc làm tại các thành  
phố lớn, tạo áp lực cạnh tranh lớn cho thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở  
những khu vực. Như vậy, bất chấp những điều chỉnh lớn và những chính sách về thị trường lao  
động của Nhà nước đối với lực lượng lao động nông thôn thì xu hướng chuyển dịch lao động dư  
thừa từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp tục gia tăng và đã tạo ra những rào cản lớn ngăn cách nông  
thôn với thành thị.  
81  
Về hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền  
vững ở Việt Nam đang dần hoàn thiện. Cục Việc làm, một số trung tâm dự báo thông tin thị  
trường lao động đã tập trung vào các hoạt động nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị  
trường lao động; đẩy mạnh công tác dự báo và thông tin thị trường lao động định hướng phát triển  
bền vững; nâng cao chất lượng và đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm của hệ  
thống trung tâm dịch vụ việc làm; theo dõi các chỉ tiêu về thị trường lao động định hướng phát  
triển bền vững như: Tổ chức hoạt động điều tra nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình  
doanh nghiệp năm 2019 với số lượng 12.000 doanh nghiệp, 4.200 người lao động làm việc tại khu  
công nghiệp, khu chế xuất của 32 tỉnh, thành phố nhằm thu thập thông tin và đánh giá về thực  
trạng sử dụng và nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp làm cơ sở phục vụ cho công tác  
quản lý nhà nước về lao động - việc làm. Thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền  
vững ngày càng được phổ biến rộng rãi qua nhiều hình thức phong phú như sàn giao dịch việc  
làm, hội chợ việc làm, tháng việc làm, điểm hẹn việc làm... Năm 2019, các trung tâm dịch vụ việc  
làm tổ chức được 1.223 phiên giao dịch việc làm. Số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm tại  
trung tâm là 2.988.030 lượt người, số lao động nhận được việc làm do trung tâm giới thiệu và  
cung ứng là 1.001.785 lượt người (chiếm 33,53% số người được tư vấn, giới thiệu việc làm). Tuy  
nhiên, xét về tổng thể, đến giờ Việt Nam chưa có một hệ thống thông tin thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững được kết nối đồng bộ để có thể bao quát và hệ thống pháp lý của thị  
trường lao động chưa phát triển đồng bộ dẫn đến khả năng kết nối cung - cầu lao động kém. Hệ  
thống thông tin thị trường lao động cũng chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu tin cậy, chưa có  
sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng. Đồng thời, các quy định của doanh  
nghiệp về chế độ chưa phù hợp với yêu cầu của người lao động (như nhà ở, sinh hoạt văn hóa, chế  
độ đãi ngộ về lương, thưởng...) nên chưa thu hút được lao động. Việc hoạch định các chính sách  
nói chung và chính sách về thị trường lao động còn yếu do chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò,  
chức năng và lộ trình phát triển của thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Hiện  
nay, trong Bộ luật Lao động hiện hành việc thỏa thuận tiền công, điều kiện làm việc, thời gian  
làm việc, thời gian nghỉ ngơi, tham gia bảo hiểm xã hội... chủ yếu là do người sử dụng lao động  
tự áp đặt, còn người lao động không có quyền được thỏa thuận. Như vậy, quan hệ lao động chưa  
được tôn trọng, chưa có cơ chế phù hợp, chưa bền vững để bảo đảm sự thỏa thuận giữa các bên  
khi xác lập cũng như trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Bên cạnh đó, Nhà nước can  
thiệp quá sâu vào vấn đề riêng của người lao động và doanh nghiệp. Đối với tiền lương, nó chính  
là giá cả sức lao động do hai bên thỏa thuận, quyết định, bị chi phối bởi yếu tố cung cầu trên thị  
trường lao động. Sự can thiệp sâu và trực tiếp vào cơ chế tiền lương sẽ tạo ra lực cản cho sự tự  
thương lượng, thỏa thuận của các bên trong quan hệ lao động và làm cho tiền lương không thể  
hiện đầy đủ bản chất kinh tế thị trường vốn có.  
Thực trạng tiêu chí đánh giá quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở  
Việt Nam  
Để đánh giá tổng quát mức độ thực hiện bốn tiêu chí quản lý thị trường lao động định hướng  
phát triển bền vững ở Việt Nam. Kết quả phân tích mức độ thực hiện (Bảng 8). Kết quả cho thấy  
quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam có tiêu chí phù hợp với  
mức điểm trung bình là 3.5126 đạt mức khá còn lại các tiêu chí HL, HQ, BV thì cần chú trọng hơn  
nữa vì mới ở mức trên trung bình.  
82  
Bảng 8. Thống kê mô tả mức độ thực hiện các tiêu chí  
Số quan sát  
165  
Trung bình  
3.3853  
Độ lệch chuẩn  
.68065  
HL  
HQ  
PH  
BV  
165  
3.2675  
.76686  
165  
3.5126  
.56572  
165  
3.1528  
.57378  
Ngu n: Tổng hợp từ SPSS 21  
Về tương quan mức độ thực hiện các tiêu chí: Kết quả cho thấy ma trận trên cho thấy giữa các  
tiêu chí này đều có tương quan thuận chiều với nhau và mối tương quan có ý nghĩa thống kê ở độ  
tin cậy 99%. Đi sâu phân tích cho thấy mức độ tương quan giữa các tiêu chí này có sự khác nhau.  
Giữa tiêu chí hiệu quả và tiêu chí phù hợp, giữa tiêu chí hiệu quả và tiêu chí bền vững có mức độ  
tương quan trung bình khá (hệ số tương quan tuyến tính cao hơn 0,4). Trong khi đó, giữa tiêu chí  
phù hợp và bền vững, tiêu chí hiệu lực và hiệu quả, tiêu chí hiệu lực và phù hợp thì tương quan  
trung bình (hệ số tương quan lớn hơn 0,3), còn giữa tiêu chí hiệu lực và bền vững thì có thể hơi yếu  
nhưng vẫn chấp nhận được (hệ số tương quan cao hơn 0,25). Tóm lại, sau khi phân tích thì các kết  
quả cho thấy mức độ thực hiện các tiêu chí quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền  
vững ở Việt Nam đều có tương quan thuận với nhau và có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 99%,  
không có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.  
Bảng 9. Hệ số t  ng quan tuy n tính  
- Pearson của các tiêu chí Correlations  
HL  
HQ  
.333**  
.000  
1
PH  
.356**  
.000  
.387**  
.000  
1
BV  
.281**  
.000  
.419**  
.000  
.320**  
.000  
1
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
1
HL  
HQ  
PH  
BV  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
.333**  
.000  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
.356**  
.000  
.387**  
.000  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
.282**  
.000  
.419**  
.000  
.320**  
.000  
Ngu n: Tổng hợp từ SPSS 21  
Nghiên cứu định lượng mô hình IP  và xử lý dữ liệu trên SPSS 21 thu được 4 quadrant  
(Hình 2) để đánh giá mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của 24 yếu tố được xây dựng dựa  
trên 4 tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện của quản lý thị trường lao động định hướng phát triển  
bền vững ở Việt Nam có tương quan thuận chiều và có ý nghĩa thống kê trong đó tính phù hợp  
được đáp ứng khá trong khi tính hiệu lực, hiệu quả và tính bền vững được đánh giá ở mức độ  
trung bình. Từ đồ thị phân tán cho thấy trong 24 yếu tố thì có 8 yếu tố (HQ1, PH5, HL7, BV1,  
HL4, HQ6, BV5, BV4) cần tập trung cải thiện, 4 yếu tố (BV2, HQ3, HQ3, HL3) nên tiếp tục  
83  
duy trì, 5 yếu tố (PH3, BV6, HQ4, HL1) không nên đầu tư nguồn lực quá mức và 7 yếu tố  
(HQ5, PH4, HL6, HQ2, PH1, PH2, BV3) nên chú ý thấp.  
Ngu n: Tổng hợp từ SPSS 21  
H nh 2. Đồ thị phân tán Kano-IPA  
5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT  
TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM  
Từ những phân tích trên, có thể thấy thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở  
Việt Nam đã có một số tín hiệu lạc quan đóng góp vào sự phát triển bền vững ở nước ta như có một  
nguồn cung lao động dồi dào, cơ cấu cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động định hướng  
phát triển bền vững ở đã hình thành theo cơ cấu nghề nghiệp, theo trình độ đào tạo, theo khu vực...;  
giá cả sức lao động phần nào đã đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu cho người lao động. Thị trường lao  
động được chú trọng từ đó tạo ra một không gian thị trường lao động “mở rộng” và lao động được  
tự do di chuyển; Hệ thống thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền vững đang dần  
hoàn thiện. Bên cạnh một số điểm sáng trong bức tranh thị trường lao động định hướng phát triển  
bền vững ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều “ổ gà” trên xa lộ thực hiện bao gồm: thị trường lao động  
định hướng phát triển bền vững vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên và gần như hoàn toàn  
tự phát, lực lượng lao động mới lại không có chuyên môn, chưa đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời  
các yêu cầu của nhà tuyển dụng, cơ cấu cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay tiềm ẩn nhiều dấu hiệu bất ổn; giá cả sức lao động  
vẫn chưa phản ánh đúng giá trị, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng của năng suất lao động,  
chưa tác động mạnh đến cung cầu thị trường lao động và chưa phải là yếu tố điều tiết thị trường lao  
động định hướng phát triển bền vững; Tương quan về số lượng lao động có trình độ đại học trở lên  
với các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề còn nhiều bất ổn trong đó có sự thiếu hụt kỹ sư  
thực hành và công nhân kỹ thuật bậc cao trong bối cảnh Việt Nam đang trong bình minh của cánh  
mạng công nghiệp 4.0 và định hướng nền kinh tế phát triển bền vững. Bên cạnh đó, đến nay Việt  
Nam vẫn chưa có một hệ thống thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền vững được  
84  
kết nối đồng bộ để có thể bao quát và hệ thống pháp lý của thị trường lao động chưa phát triển đồng  
bộ dẫn đến khả năng kết nối cung - cầu lao động kém.  
Kết quả đánh giá 4 tiêu chí quản lý thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt  
Nam (HQ, HL, PH, BV) thông qua mô hình Kano - IPA cho thấy có sự tương quan thuận chiều và  
có ý nghĩa thống kê, trong đó tính phù hợp được đáp ứng khá trong khi tính hiệu lực, tính hiệu quả  
và tính bền vững được đánh giá ở mức độ trung bình. Từ đồ thị phân tán cho thấy trong 24 yếu tố  
thì có thì có 8 yếu tố cần tập trung cải thiện, 4 yếu tố nên tiếp tục duy trì, 5 yếu tố không nên đầu tư  
nguồn lực quá mức và 7 yếu tố nên chú ý thấp.  
Trên cơ sở phân tích thực trạng thị trường lao động định hướng phát triển bền vững ở Việt  
Nam, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất như sau:  
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về việc làm, thị trường lao động định hướng  
phát triển bền vững phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh  
hội nhập: nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích  
doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi, nhất là trong bối cảnh định hướng phát triển bền vững và  
tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho các đối tượng  
yếu thế, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội; hoàn thiện khung khổ pháp lý để vận  
hành thông suốt và đồng bộ các thị trường, phát triển các yếu tố của thị trường lao động; xem xét và  
phê chuẩn các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến thị trường lao động. Tổ chức  
thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, hoạt động hỗ trợ tạo việc làm như Chương trình việc  
làm xanh, việc làm bền vững, việc làm và  n toàn lao động giai đoạn 2020 - 2025; Sử dụng hiệu  
quả quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội; lồng ghép  
chính sách việc làm công trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.  
Thứ hai, đảm bảo nguồn cung lao động chất lượng. Lao động có chuyên môn tốt là một trong  
những yếu tố vô cùng quan trọng vì nhiều người lao động hiện nay không thể đáp ứng nhu cầu công  
việc của doanh nghiệp hoặc chuyên môn thấp sẽ để thua ngay trên “sân nhà”. Vì vậy, tăng cường hợp  
tác giữa các cơ sở đào tạo và người lao động để đào tạo nâng cao trình độ cho người lao động. Bên  
cạnh đó, cần hoàn thiện các kỹ năng mềm để sẵn sàng đón nhận cơ hội việc làm. Theo báo cáo phân  
tích thị trường lao động (2019) ở 5 thành phố lớn, gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà  
Nẵng và Cần Thơ, nhà tuyển dụng thường đề cập đến những kỹ năng mềm sau: kỹ năng giao tiếp, kỹ  
năng viết báo cáo, sự trung thực, làm việc theo nhóm, đàm phán, sự linh hoạt, sự thích nghi, tư duy  
sáng tạo, kỹ năng tìm hiểu và xử lý thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề... Chính vì vậy, người lao  
động cần mở rộng học hỏi và hoàn thiện chúng trong môi trường làm việc. Đây là những kỹ năng cơ  
bản nhất để người lao động có thể tự tin đáp ứng yêu cầu công việc mà các nhà tuyển dụng luôn mong  
đợi ở ứng viên và NLĐ hiện nay cũng cần có thái độ làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm cao để có  
thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh việc làm khắc nghiệt. Đây cũng là các yếu tố giúp mọi NLĐ  
nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc trong điều kiện kinh tế phát triển bền vững.  
Thứ ba, tăng cường quản lý nhà nước thị trường lao động định hướng phát triển bền vững.  
Nâng cao tính chuyên nghiệp và hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật của các cơ quan thống kê và cung ứng  
thông tin thị trường lao động các cấp. Tiếp tục phát triển và hoàn thiện các hình thức thông tin thị  
trường lao động (hội chợ việc làm, trang web việc làm trên Internet, thông tin và quảng cáo việc  
làm...). Tạo lập cơ sở dữ liệu về thị trường lao động kết nối giữa trung ương với 63 tỉnh, thành phố  
và thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động định hướng phát triển bền vững. Bên cạnh đó sử  
85  
dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đưa các chương trình cụ thể như: “Chương trình thị  
trường lao động” tới gần với người lao động giúp đỡ để NLĐ có được những thông tin, kỹ năng cần  
thiết về nghề nghiệp và những hiểu biết cần thiết khi tìm việc làm. Xây dựng kế hoạch, dự báo nhu  
cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động, tổ chức nghiên cứu, khảo sát, thu thập, phân tích,  
đánh giá, cung cấp thông tin về nguồn cung - cầu lao động, việc làm và dạy nghề một cách khả thi.  
Cần thiết phải có các quy định quản lý lực lượng lao động cả về số lượng và chất lượng làm cơ sở  
cho việc hoạch định các chính sách điều tiết thị trường lao động, hạn chế mất cân đối cung - cầu lao  
động cục bộ, góp phần nâng cao chất lượng lao động cũng như chất lượng việc làm cho NLĐ.  
Thứ tư, tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động định  
hướng phát triển bền vững: phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện có hiệu quả công tác  
phân luồng đào tạo, hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên. Tiếp tục đầu tư đồng bộ cho đào tạo  
nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến  
của khu vực, quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đẩy mạnh đào tạo kỹ năng,  
năng lực thực hành. Bên cạnh đó, Nhà nước tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tuyên truyền,  
phổ biến việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc làm  
nhằm nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm. Cải cách hành chính, tăng cường phân cấp,  
nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý Nhà nước về việc làm; thực hiện  
dân chủ, công khai, minh bạch về chính sách, chế độ đối với người dân. Bên cạnh đó, thị trường lao  
động đang thay đổi mạnh mẽ với những đòi hỏi còn rất khó lường. Người lao động phải được tăng  
cường kỹ năng, khả năng tự học, khả năng thích ứng với nhiều nghề mới xuất hiện, trong không  
gian việc làm rộng mở hơn.  
Thứ năm, thực hiện có hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, tăng cường tư vấn, giới thiệu  
việc làm và đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ khi thất nghiệp để sớm quay trở lại thị trường lao  
động; tổ chức thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, bồi dưõng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để  
duy trì việc làm cho NLĐ; mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp và luôn  
đảm bảo việc làm thỏa đáng, bền vững cho mọi NLĐ trên thị trường lao động định hướng phát triển  
bền vững. Theo Phó Thủ tướng - Vũ Đức Đam: “Phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo việc làm  
thỏa đáng, bền vững luôn được Chính phủ Việt Nam coi là tiền đề quan trọng trong xây dựng, hoàn  
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tận dụng lợi thế của thời kỳ  
dân số vàng phục vụ phát triển bền vững, với con người là trung tâm và không ai đứng ngoài, không  
ai bị bỏ lại phía sau.”  
6. KẾT LUẬN  
Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế.  
Trong đó, thị trường lao động định hướng phát triển bền vững cần coi trọng phát triển nguồn nhân  
lực, coi đây là một khâu then chốt, quyết định trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển  
bền vững. Từ bức tranh thực trạng nghiên cứu về thị trường lao động định hướng phát triển bền  
vững ở Việt Nam cho thấy Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về việc làm, thị  
trường lao động định hướng phát triển bền vững phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã  
hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập, đảm bảo nguồn cung lao động chất lượng; nâng cao  
tính chuyên nghiệp và hiện đại trong cung ứng thông tin thị trường lao động các cấp để tạo trạng  
thái cân bằng cung - cầu lao động trên thị trường cũng như đảm bảo việc làm thỏa đáng, bền vững  
cho NLĐ.  
86  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ti ng Việt  
1. Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012), Kinh tế ngu n nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.  
2. Trịnh Thị Thu Giang (2015), Quản lý nhà nước về thị trường lao động ở Hà Nội, Luận văn  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.  
3. Nguyễn Xuân Hưng (2015), Quản lý Nhà nước về xuất xuất khẩu lao động của Việt Nam, Luận  
án tiến sỹ kinh tế.  
4. Navigos Search và Vietnamworks (2018), Báo cáo thị trường tuyển dụng.  
5. Phạm Công Nhất (2018), Phát triển ngu n nhân lực bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế  
ở nước ta hiện nay.  
6. Bùi Quý Thuấn (2017), Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho lực lượng lao động Việt  
Nam khi tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN, Tạp chí Quản lý Kinh tế.  
7. Thủ tướng Chính phủ (2014), Nghị định số 103/2014/NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia  
đình, cá nhân và cơ quan, tổ chức có thuê mượn lao động theo hợp đ ng.  
8. Thủ tướng Chính phủ (2015), Nghị định số 122/2015/NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia  
đình, cá nhân và cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đ ng.  
9. Thủ tướng Chính phủ (2016), Nghị định số 153/2016/NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đ ng.  
10. Thủ tướng Chính phủ (2017), Nghị định số 141/2017/NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đ ng lao động.  
11. Thủ tướng Chính phủ (2018), Nghị định số 157/2018/NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đ ng lao động.  
12. Thủ tướng Chính phủ (2019), Nghị định số 90/2019/ NĐ-CP, Quy định mức lương tối thiểu  
vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đ ng lao động.  
13. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt  
Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020  
14. Tổng cục Thống kê (GSO) (2019), Báo cáo về tình hình dân số và việc làm.  
15. Nguyễn Thị Hải Vân (2018), Hệ thống thông tin thị trường lao động Việt Nam, Tạp chí Lao động.  
Ti ng Anh  
Comment [WU1]: Sửa lỗi rớt chữ  
1. ILO and ADB (2015), ASEAN Community 2015: Managing Integration for Better Jobs and  
shared prosperity.  
2. ILO (2016), A review of the effectiveness of Active Labour Market Programmes with a focus on  
Latin America and the Caribbean, Researchdepartment working paper No.9.  
87  
3. Martilla JA, James JC. (1977), Importance - Performance Analysis, J Mark 1977; 41:77-9.  
4. OECD (1996), Enhancing the Effectiveness of Active Labour Market Policies: Evidence from  
Programme Evaluations in OECD Countries, Labour Market and Social Policy Occasional  
Papers No.18.  
5. WEF (2018), Global Competitiveness Report 2017-2018, Annex C: The Executive Opinion  
Survey: The Voice of the Business Community.  
6. WEF (2018), Readiness for the Future of Production Report 2018.  
7. Werner Eichhorst, Regina Konle-Seidl (2016), Evaluating Labour Market Policy, IZA DP No. 9966.  
88  
pdf 18 trang Thùy Anh 15420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thị trường lao động theo định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthi_truong_ao_dong_theo_dinh_huong_phat_trien_ben_vung_o_vie.pdf