Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
150
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại
Thị xã Giá Rai, Tỉnh Bạc Liêu
Technical efficiency analysis of intensive black tiger shrimp farmers
in Gia Rai town, Bac Lieu Province
Thi Thị Mỹ Duyên1*
1Trường Đại học Bạc Liêu, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
Bài nghiên cứu nhằm mục đích đo lường hiệu quả kỹ thuật và
xác định các yếu tố quyết định hiệu quả kỹ thuật sản xuất tôm sú
thâm canh của nông hộ tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Dựa vào
kết quả khảo sát 44 nông hộ nuôi tôm sú thâm canh trên địa bàn thị
xã Giá Rai, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích màng bao
dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả theo quy
mô. Kết quả cho thấy, hiệu quả kỹ thuật trung bình và hiệu quả quy
mô trung bình của các hộ nuôi tôm sú thâm canh lần lượt là 59%
và 79.9%. Kết quả của mô hình Tobit cho thấy có ba yếu tố có tác
động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi, bao gồm trình độ
học vấn, mật độ giống và xét nghiệm.
Ngày nhận: 13/11/2020
Ngày nhận lại: 14/05/2021
Duyệt đăng: 06/06/2021
ABSTRACT
Từ khóa:
This paper aims to measure the technical efficiency and
determine the determinants of the technical efficiency of intensive
black tiger shrimp production of farmers in Gia Rai town, Bac Lieu
province. Based on the survey results of 44 intensive black tiger
shrimp farming households in Gia Rai town, the study uses Data
Envelope Analysis (DEA) method to measure technical efficiency
and scale efficiency. The results show that the average technical
efficiency and the average scale efficiency of the intensive black tiger
shrimp farming households are 59% and 79.9% respectively. The
results of the Tobit model show that there are three factors that have
a positive impact on the technical efficiency of intensive farming
households, including education level, seed density and testing.
Gia Rai; hiệu quả kỹ thuật; hồi
quy tobit; màng bao dữ liệu;
tôm sú thâm canh
Keywords:
Gia Rai; technical efficiency;
tobit regression; data
envelopment analysis; intensive
black tiger shrimp
1. Giới thiệu
Bạc Liêu là tỉnh có diện tích tôm nuôi lꢀn thứ hai của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long,
toàn tỉnh có 136,048ha nuôi tôm, trong đó diện tích nuôi tôm sú, tôm thẻ siêu thâm canh, thâm
canh và bán thâm canh 21,182ha; quảng canh cải tiến chuyên tôm 500ha; nuôi thủy sản trên đất
tôm - lúa 33,747ha; quảng canh cải tiến kết hợp 79,140ha. Tổng sản lượng toàn tỉnh là 210,779
tấn, riêng tôm 116,365 tấn, đạt 100.47% kế hoạch và đạt 106.90% so vꢀi cùng kỳ (Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, 2017). Diện tích và sản lượng nuôi tôm tập trung chủ yếu
ở huyện Đông Hải (39,137ha), thị xã Giá Rai (22,195ha) và Hồng Dân (25,460ha) (Niên giám
thống kê Bạc Liêu, 2017).
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
151
Bạc Liêu là một trong những tỉnh phát triển mô hình nuôi tôm sú thâm canh rất mạnh ở
một số huyện như thành phố Bạc Liêu, Vĩnh Lợi, Đông Hải, Giá Rai, Phưꢀc Long. Nhờ thế mạnh
sẵn có về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi, người dân cần cù lao động nên các mô hình sản
xuất kinh tế trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều bưꢀc phát triển mꢀi, riêng các mô hình nuôi trồng
thủy sản được người dân thực hiện mang lại kết quả khá tốt. Nhiều người dân trên địa bàn có thu
nhập bình quân khá cao, đời sống ngày càng được nâng lên.
Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng đang gặp phải một số khó khăn và thử thách như rủi ro
cao, hiệu quả sản xuất mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh còn bấp bênh. Ngành thủy
sản phải đối mặt vꢀi nhiều khó khăn về thời tiết, xâm nhập mặn, mưa bão, lũ lụt, dịch bệnh diễn
biến phức tạp, người nuôi phải đối mặt giá thức ăn, giá giống tăng cao, khó tiếp cận nguồn vốn
nên ảnh hưởng đến kết quả nuôi. Nhằm tìm ra những ưu điểm, khuyết điểm của đối tượng nuôi ở
các khu vực khác nhau đồng thời tìm ra những giải pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh tế cao
cho người nuôi góp phần giúp nghề nuôi tôm sú thâm canh phát triển bền vững.
Vì vậy đề tài “Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã
Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu” là cần thiết.
2. Cơ sở lý thuyết
Để đo lường hiệu quả kỹ thuât, bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp màng bao số liệu
Data Envelopment Analysis (DEA). DEA được phát triển đầu tiên bởi Charnes, Cooper, và Rhodes
(1978). DEA là một công cụ phân tích kinh tế khá mạnh được sử dụng trong phân tích hiệu quả
hoạt động sản xuất của các tổ chức, doanh nghiệp, nhóm hộ sản xuất. DEA là phương pháp phi
tham số (non-parametric), được xác định dưꢀi hai hình thức cơ bản là đo lường theo các yếu tố
đầu vào (input-orientated measures) và theo đầu ra (output-orientated measures).
DEA là phương pháp đánh giá tổng quát kết quả thực hiện của một hoạt động kinh tế nào
đó dựa vào tập hợp nhiều chỉ tiêu phức hợp. Nó giúp chúng ta có được những ưꢀc lượng biên
thông qua việc sử dụng mô hình tuyến tính phi tham số, kết quả ưꢀc lượng sẽ là những điểm số
hiệu quả cho tất cả các quan sát và chúng có giá trị trong khoảng từ 0 đến 1. Mục tiêu của phân
tích này không phải là việc đi ưꢀc lượng hàm sản xuất. Thay vào đó, nó sử dụng để xác định những
đơn vị quan sát đạt hiệu quả tốt nhất. Thông qua phân tích này, biên độ sản xuất tốt nhất sẽ được
xác định cho tất cả các quan sát được sử dụng trong phân tích, một đường sản xuất hiệu quả biên
bao gồm những hộ sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật hoàn toàn sẽ được xác định, những hộ sản xuất
không nằm trên đường này sẽ được xem là những hộ sản xuất không đạt hiệu quả về măt kỹ thuật.
Hộ sản xuất tôm sú A và C được xem là đạt hiệu quả kỹ thuật hoàn toàn vì nằm trên đường sản
xuất biên hiệu quả (Hình 1), hộ B được xem là không hiệu quả vì nằm ngoài đường sản xuất biên,
nếu muốn trở thành hộ sản xuất hiệu quả thì hộ B phải dịch chuyển điểm sản xuất đến điểm B`.
Những hộ sản xuất hiệu quả này sẽ được xem là các hộ tham chiếu cho những hộ không hiệu quả
trong số các hộ được quan sát.
Hình 1 ta thấy hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm sú được đo lường bằng tỷ số OB`/OB và
mức độ không hiệu quả được đo lường bằng tỷ số B`B/OB và nó cũng chính bằng 1- OB`/OB, các
mức độ hiệu quả này nằm trong giꢀi hạn từ 0 đến 1. Như vậy khi xác định được mức độ hiệu quả
kỹ thuật (TE) giả sử là 90%, chúng ta cũng có thể kết luận là mức độ không hiệu quả của hộ B là
10%.
Trong DEA một hộ được xem là có hiệu quả hơn một hộ khác trong cùng một mẫu điều
tra khi nó sử dụng ít nhập lượng hơn nhưng nó tạo ra cùng một lượng sản phẩm. Hoặc vꢀi cùng
một lượng nhập lượng nào đó, nó có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn so vꢀi những hộ khác. Các hệ
số hiệu quả được tính toán dựa trên tỷ số cao nhất giữa xuất lượng trên nhập lượng của tất cả các
quan sát được sử dụng để phân tích.
152
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
x2/y
S
A
B
B`
C
S’
O
Hình 1. Đường sản xuất biên hiệu quả (Coelli, Rao, O’Donnell, & Battese, 2005)
Mô hình DEA được sử dụng ở đây dựa trên cơ sở số liệu m biến nhập lượng và s sản phẩm
trên mỗi n hộ sản xuất. Đối vꢀi hộ sản xuất thứ i, những số liệu về lượng sản phẩm và nhập lượng
được thể hiện trên những véc tơ cột yi và xi tương ứng. Ma trận nhập lượng m x n, ký hiệu là X,
và ma trận xuất lượng s x n, ký hiệu là Y, sẽ thể hiện tất cả số liệu cho tất cả các hộ sản xuất trong
mẫu điều tra.
Theo Coelli và cộng sự (2005) mô hình DEA được sử dụng để tính toán hiệu quả kỹ thuật
(TE) là:
Minθk (k ∈ i, I = 1, 2, ... n)
λ, θk
Điều kiện ràng buộc
θkxjk - Xλ ≥ 0 (j = 1,2, ... m)
λi ≥ 0
- yrk + Yλ≥ 0 (r = 1, 2, ..., s)
vꢀi λ = (λ1, λ2, ... λn)
Trong đó θ là đại lượng vô hưꢀng, λ là véc tơ n x 1 của các gia trọng. Giá trị của λ biểu
hiện mức độ ảnh hưởng của các hộ tham chiếu đến điểm sản xuất hiệu quả mà hộ không hiệu quả
đang hưꢀng tꢀi. Điểm hiệu quả mà hộ này hưꢀng tꢀi được xác định bởi nối kết tuyến tính giữa
điểm đó vꢀi các điểm sản xuất của các hộ tham chiếu. Giá trị λi càng lꢀn thể hiện hộ tham chiếu
thứ i có ảnh hưởng càng lꢀn đến việc hình thành điểm sản xuất hiệu quả của hộ không hiệu quả
đang hưꢀng đến. Vꢀi những khái niệm trên, mô hình có thể viết dưꢀi dạng chi tiết sau (vꢀi giả
định các hộ sản xuất trong mẫu điều tra sản xuất một loại sản phẩm và sử dụng loại nhập lượng và
chúng ta sẽ đánh giá hiệu quả kỹ thuật cho hộ B):
MinθB (B ∈ i, i = 1, 2, 3)
λ, θB
Điều kiện ràng buộc
-y1B + (y1AλA + y1BλB + y1CλC) ≥ 0
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
153
θBx1B – (x1AλA + x1BλB + x1CλC) ≥ 0
θBx2B – (x2AλA + x2BλB + x2CλC) ≥ 0
λi ≥ 0
Gía trị của θ đạt được từ mô hình chính là hệ số hiệu quả kỹ thuật của hộ sản xuất thứ k. θ
luôn có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 1, vꢀi giá trị bằng 1 chỉ ra hộ sản xuất nằm trên đường biên sản
xuất hiệu quả, và do vậy hộ đó được xem là đạt hiệu quả hoàn toàn về mặt kỹ thuật (Farrell, 1957).
Nghiên cứu này sử dụng mô hình phân tích màng dữ liệu (Data Envelopment Analysis -
DEA) được sử dụng rộng rãi trên thế giꢀi vꢀi nhiều lĩnh vực khác nhau. Sharma, Leung, và Zaleski
(1999) đã áp dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả kinh tế của các trại nuôi cá ở Trung
Quốc, Kaliba và Engle (2006) cũng áp dụng phương pháp này cho các trang trại nuôi cá tầm cỡ
vừa và nhỏ ở Chicot County, Arkansas; Cinemre, Ceyhan, Bozoglu, Demiryurek, và Kilic (2006)
cho các trang trại cá hồi ở khu vực Biển Đen, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra còn có nghiên cứu của Dey,
Paraguas, Bimbao, và Regaspi (2000); Mehmet, Vedat, Cinemre, Kursat, và Osman (2006), Den,
Ancev, và Harris (2007); Thamrong, Phantipa, và Fleming (2003); Reddy, Reddy, Sontakki, và
Prakash (2008); Singh, Madan, Abed, Pratheesh, và Ganesh (2009). Ở Việt Nam, DEA đã được
sử dụng trong một số nghiên cứu về các trang trại trồng lúa của đồng bằng sông Cửu Long, các
công ty xây dựng, chế biến thủy sản và các công ty chế biến thực phẩm (Quan, 2010). Đánh giá
hiệu quả sản xuất khóm của nông hộ ở huyện Tân Phưꢀc, tỉnh Tiền Giang (N. Q. Nguyen & Mai,
2015).
Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp màng bao dữ liệu để ưꢀc lượng hiệu quả sản xuất
kết hợp vꢀi mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng, trong đó kể đến là nghiên
cứu của D. T. A. Tran, Quan, và Thach (2017); Mar, Yabe, và Ogata (2013); Thong, John, và
Prabodh (2011); Thai (2009); K. T. Nguyen (2013). Thông qua mô hình hồi quy Tobit, kết quả
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất cho ta thấy được mỗi loại hiệu quả thường
chịu ảnh hưởng của từng nhân tố khác nhau. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả là số người quản
lý, loại giống, diện tích nuôi, số ngày nuôi, mật độ nuôi, lượng nhiên liệu, lượng thức ăn. Ngoài ra
còn một số biến chỉ ảnh hưởng đến từng loại hiệu quả riêng tùy theo đặc tính của từng mô hình
như giꢀi tính, kinh nghiệm sản xuất, kích thưꢀc giống, tôm bệnh, số lượng thuốc. Tuy nhiên cũng
có một số biến hoàn toàn không ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất như học vấn, tập huấn, xét
nghiệm giống. Kết quả của phân tích hồi quy Tobit của K. T. Nguyen (2013) cho thấy quy mô hộ
gia đình có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa vꢀi TE đối vꢀi người nuôi tôm thâm canh, có nghĩa
là người nuôi tôm có nhiều thành viên trong gia đình có điểm TE cao hơn nông dân có ít thành
viên hơn. Tuy nhiên, biến này không có ảnh hưởng đến TE đối vꢀi hộ nuôi bán thâm canh và
quảng canh. Ngoài ra hai yếu tố kinh nghiệm và đào tạo cũng ảnh hưởng đến TE của hộ nuôi thâm
canh, bán thâm canh và quảng canh.
Giá Rai là khu vực có diện tích nuôi tôm sú khá lꢀn tại tỉnh Bạc Liêu vꢀi diện tích 22,195ha
(Niên giám thống kê Bạc Liêu, 2017), tuy nhiên, trong những năm gần đây thiệt hại về nuôi tôm
tại khu vực là khá lꢀn, các nguyên nhân chính gây thiệt hại cho tôm nuôi như do thời tiết thay đổi
bất thường, môi trường nuôi bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu,hạn hán, ngập lũ, gió bão, triều cường,
nưꢀc biển dâng, xâm nhập mặn, ... Ngoài ra, còn các nguyên nhân khác như con giống và thức ăn
kém chất lượng, hộ nuôi bố trí ao nuôi, khu nuôi chưa hợp lý, chi phí đầu vào tăng cao trong khi
đó giá tôm thương phẩm biến động bất lợi cho người nuôi. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật
và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tốm sú thâm canh tại thị
xã Giá Rai là điều cần thiết.
Kế thừa khung lý thuyết như trên, bài viết sử dụng phương pháp DEA để ưꢀc lượng hiệu
quả kỹ thuật và sử dụng hồi quy tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ kỹ của
154
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, nhằm giúp nông hộ cải thiện hiệu
quả, gia tăng lợi nhuận trong nuôi tôm sú thâm canh.
Mô tả các biến được ứng dụng trong phân tích DEA:
Biến đầu ra:
yi: Sản lượng tôm sú (kg/1,000m2/vụ)
Những biến đầu vào:
x1: diện tích thả nuôi tính theo 1,000m2;
x2: lượng tôm giống tính theo đơn vị ngàn con trên 1,000m2;
x3: lượng thức ăn tính theo đơn vị kg trên 1,000m2;
x4: lượng phân tính theo đơn vị kg trên 1,000m2;
x5: lượng thuốc dạng bột tính theo đơn vị kg trên 1,000m2;
x6: lượng lao động gia đình tính theo đơn vị ngày trên 1,000m2;
x7: lượng điện tính theo đơn vị Kw trên 1,000m2.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng vꢀi 44 hồ nuôi Thâm
Canh (TC). Do vùng nuôi tôm ở khu vực không tập trung nên tác giả phải xác định số lượng các
hộ được chọn ở mỗi tầng (xã, ấp) trưꢀc khi tiến hành điều tra. Dựa trên số liệu báo cáo của Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tỉnh Bạc Liêu năm 2017 về diện tích nuôi tôm sú, tác giả
chọn từ 04 - 05 xã có diện tích nuôi tôm sú lꢀn nhất để khảo sát theo số quan sát định trưꢀc. Vꢀi
sự giúp đỡ của các cán bộ phụ trách nông nghiệp ở các xã, điều tra viên sẽ phỏng vấn các hộ vꢀi
bảng câu hỏi soạn sẵn.
Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại nông hộ sản xuất tôm sú
thâm canh tại năm xã thuộc Thị xã Giá Rai gồm: xã Phong Thạnh Tây, xã Phong Thạnh A, Thị
trấn Hộ Phòng, xã Tân Phong, xã Tân Thạnh. Các thông tin được phỏng vấn bao gồm: thông tin
chung về chủ hộ (tên, giꢀi tính, trình độ văn hoá, kinh nghiệm, quy mô sản xuất, số lao động gia
đình); thông tin kỹ thuật nuôi (diện tích, số ao, độ sâu mực nưꢀc, mật độ thả, kích cỡ con giống,
thời gian nuôi, sản lượng); thông tin về tài chính (chi phí cố định và biến đổi, giá bán, doanh thu,
lợi nhuận); những thuận lợi và khó khăn trong nuôi tôm sú.
3.2. Phương pháp phân tích
3.2.1. Ước lượng hiệu quả kỹ thuật
Để ưꢀc lượng TE của từng DMU, một tập hợp phương trình tuyến tính phải được xác lập
và giải quyết cho từng DMU bằng mô hình CRS Input-Oriented DEA tối thiểu hóa tỷ lệ giữa mức
đầu vào tối thiểu so vꢀi mức thực tế sử dụng tại một mức đầu ra nhất định (θ) có dạng như sau:
Minθ, λθ,
Vꢀi điều kiện:
푁
∑ λi Y − ykp ≥ 0, ∀ k
푖=1
푁
∑
푖=1 λi X − θxjp ≤ 0, ∀ j
(1)
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
155
λi ≥ 0, ∀ i
Trong đó: θ: vô hưꢀng, đo lường mức độ hiệu quả của DMU thứ p
i = 1, ..., p, ... N (số lượng DMU);
k = 1, …, S (số sản phẩm);
j = 1, …, M (số biến đầu vào);
ykp: lượng sản phẩm k được sản xuất bởi DMU thứ p;
xjp: lượng đầu vào j được sử dụng bởi DMU thứ p;
Y: (N x S) ma trận của S sản phẩm đầu ra của N DMU quan sát;
X: (N x M) ma trận của M đầu vào của N DMU quan sát;
λi: Vector Nx1 các quyền số tổng hợp các đầu vào.
Việc ưꢀc lượng TE theo mô hình (1) được thực hiện bằng cách sử dụng chương trình DEAP
phiên bản 2.1.
3.2.2. Ước lượng hiệu quả theo quy mô (SE)
Hiệu quả kỹ thuật phần trình bày ở trên là được ưꢀc lượng trong trường hợp giả định thu
nhập theo qui mô cố định (TECRS). Giả định này phù hợp khi các DMU có qui mô hoạt động tối
ưu. Thực tế thì không phải đơn vị sản xuất nào cũng được như vậy. Mô hình DEA vꢀi trường hợp
thu nhập theo qui mô thay đổi đã được xây dựng bổ sung để ưꢀc lượng TEVRS. Mức hiệu quả qui
mô (SE) của mỗi DMU chính là tỷ lệ TECRS/TEVRS. Để ưꢀc lượng TEVRS thì mô hình sử dụng công
cụ lập trình toán để xây dựng thêm đường biên sản xuất VRS cong lồi dựa trên mô hình (1) và bổ
sung thêm điều kiện:
푛
∑ λi = 1
푖=1
Liên quan đến tình huống nhiều biến đầu vào - một biến đầu ra như trong tình huống phân
tích này. Giả định một tình huống có N đơn vị tạo quyết định (Decision Making Unit - DMU), mỗi
DMU sản xuất S sản phẩm bằng cách sử dụng M biến đầu vào khác nhau. Theo tình huống này,
để ưꢀc lượng SE của từng DMU, một tập hợp chương trình tuyến tính phải được xác lập và giải
quyết cho từng DMU. Mô hình phân tích màng bao dữ liệu định hưꢀng dữ liệu đầu vào theo đường
biên quy mô biến động (the Variable Returns to Scale Input - Oriented DEA Model, VRS-DEA
Model) có dạng như sau: Minθ, λθ,
Vꢀi điều kiện
푁
∑ λi Y − ykp ≥ 0, ∀ k
푖=1
푁
∑ λi X − θxjp ≤ 0, ∀ j
(2)
푖=1
푁
∑ λi = 1
푖=1
λi ≥ 0, ∀ i
156
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Trong đó: θ = giá trị hiệu quả
i = 1, ..., p, ... N (số lượng DMU);
k = 1, …, S (số sản phẩm);
j = 1, …, M (số biến đầu vào);
ykp: lượng sản phẩm k được sản xuất bởi DMU thứ p;
xjp: lượng đầu vào j được sử dụng bởi DMU thứ;
λi: Vector Nx1 các quyền số tổng hợp các đầu vào;
Y: (N x S) ma trận của S sản phẩm đầu ra của N DMU quan sát;
X: (N x M) ma trận của M đầu vào của N DMU quan sát.
Việc ưꢀc lượng SE theo mô hình (2) được thực hiện bằng cách sử dụng chương trình DEAP
phiên bản 2.1.
3.2.3. Ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
Do các chỉ số hiệu quả kỹ thuật của các hộ sản xuất được ưꢀc lượng chỉ dao động từ 0 đến
1 nên việc sử dụng mô hình hồi quy Tobit (Tobin, 1958) để ưꢀc lượng mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố đến hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm là phù hợp Biến phụ thuộc của hàm Tobit là
biến bị chặn trong khoảng giá trị từ 0 đến 1. Căn cứ vào các nghiên cứu đã thực hiện trưꢀc đây và
thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của 44 hộ nuôi tôm sú TC tại thị xã Giá Rai gồm các biến như sau:
TEi = TE* = 0 + 1Gioitinhi + 2Hocvani + 3Quymolaodongi + 4Kinhnghiemi +
5Taphuani + 6tiepcantindungii + 7xetnghiemi + 8Matdonuoii + εi
(3)
TEi = 1 nếu TE* ≥ 1
TEi = TE* nếu 0 < TE* < 1
TEi = 0 nếu TE* ≤ 0
Trong đó:
Ei là giá trị của chỉ số hiệu quả kỹ thuật được ưꢀc lượng bằng phương pháp DEA (biến phụ
thuộc hay biến được giải thích);
εi là phần sai số ưꢀc lượng;
βm là hệ số của phương trình hồi quy Tobit cần được ưꢀc lượng.
Gioitinh, Hocvan, Quymolaodong, Kinhnghiem, Taphuan, Tiepcantindung, Xetnghiem,
Matdonuoi được diễn giải trong Bảng 1 như sau:
Bảng 1
Diễn giải các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
ký hiệu
Gioitinh
Diễn giải
Giꢀi tính chủ hộ (1 = nam, 0 Ancev, Azad, Den, và Harris
= nữ) (2010)
Căn cứ chọn biến
Kỳ vọng
+
Hocvan
Trình độ học vấn của chủ hộ, Thai (2009); Ancev và cộng sự
được tính bằng số năm đi học (2010); Thong và cộng sự
+
của chủ hộ (năm)
(2011)
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
157
ký hiệu
Diễn giải
Căn cứ chọn biến
Kỳ vọng
Quymolaodong Là số thành viên trong gia K. T. Nguyen (2013)
đình có độ tuổi từ 16 tuổi trở
+
lên và có tham gia hoạt động
sản xuất tôm
Kinhnghiem
Taphuan
Kinh nghiệm sản xuất của chủ Mar và cộng sự (2013); Ancev
+
hộ (năm)
và cộng sự (2010); Thong và
cộng sự (2011)
Tập huấn (1 = có tập huấn, 0 Nathaniel, Agrey, và Natalia
= không) (2014)
+
+
+
Tiepcantindung Tín dụng (1 = có vay, 0 = Thai (2009)
không vay)
Xetnghiem
Matdonuoi
Xét nghiệm con giống (1 = có Le và Nguyen (2009)
xét nghiệm, 0 = không xét
nghiệm)
Mật độ thả giống là số con Thong và cộng sự (2011)
được thả trên m2
+
Nguồn: Tác giả tổng hợp
4. Kết quả thảo luận
4.1. Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm sú thâm canh
Các biến về sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào được sử dụng trong mô hình CRS-DEA
và VRS-DEA để tính toán TE và SE trong sản xuất tôm sú được trình bày trong Bảng 2. Lượng
đầu vào của mô hình nuôi TC bao gồm: diện tích, con giống, thức ăn, phân bón, thuốc thủy sản,
điện và lao động.
Bảng 2
Các biến sử dụng trong mô hình DEA của hộ nuôi tôm sú TC tại thị xã Giá Rai
THÂM CANH (TC)
Biến số
Năng suất
Đơn vị tính
Trung bình
Độ lệch
chuẩn
Kg/1,000m2
221
181
Các yếu tố đầu vào
Diện tích
1,000m2
1,000con/1,000m2
Kg/1,000m2
Kg/1,000m2
Kg/1,000m2
KW/1,000m2
Ngày/1,000m2
11.63
23,851
565
8.8
18,092
508
630
11
Con giống
Thức ăn
Phân
256
Thuốc dạng bột
Điện
7.5
167
130
39
Lao động
90
Nguồn: Kết quả tính toán từ số liệu điều tra (2018)
158
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Kết quả ưꢀc lượng hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm sú TC tại thị xã Giá Rai được thể
hiện ở Bảng 3.
Bảng 3
Kết quả ưꢀc lượng hiệu quả kỹ thuật của 44 hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã Giá Rai
Thâm canh
Mức hiệu quả
Số hộ
Tỉ lệ (%)
25
1.000
11
0.900 - 0.999
0.800 - 0.899
0.700 - 0.799
0.600 - 0.699
0.500 - 0.599
0.400 - 0.499
0.300 - 0.399
0.200 - 0.299
0.001 < 0.199
Tổng
1
2.27
2
4.55
8
18.18
2.27
1
2
4.55
0
0.00
5
11.36
15.91
15.91
100
7
7
44
Trung bình
0.590
0.344
1.000
0.033
Độ lệch chuẩn
Lớn nhất
Nhỏ nhất
Nguồn: Kết quả tính toán từ số liệu điều tra (2018)
Từ kết quả phân tích cho thấy các nông hộ nuôi tôm sú đạt hiệu quả kỹ thuật trung bình là
thấp. Hiệu quả kỹ thuật trung bình của các hộ nuôi TC là 59%. Có nghĩa là trung bình, nông hộ
nuôi theo phương thức TC có thể cải thiện năng suất bằng cách giảm 41% lượng đầu vào mà không
làm giảm năng suất đầu ra tương ứng. Số hộ đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu là 11 hộ (25%). Tỷ lệ hộ
đạt hiệu quả kỹ thuật từ 0.700 - 0.999 và đạt hiệu quả kỹ thuật nhỏ hơn 0.700 lần lượt là 25% và
50%. Hiệu quả kỹ thuật trung bình của hộ nuôi thâm canh tại thị xã Giá Rai (59%) thấp hơn so vꢀi
kết quả nghiên cứu của Ancev và cộng sự (2010) tại Bạc Liêu (71%) nhưng cao hơn so vꢀi kết quả
nghiên cứu của Pham (2010), hiệu quả kỹ thuật hộ nuôi tôm sú tại Cà Mau đạt 36%.
Từ kết quả nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã
Giá Rai cho thấy nông hộ chưa áp dụng được các biện pháp khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
Nông hộ cũng chưa tận dụng tốt các yếu tố đầu vào trong sản xuất làm thất thoát một lượng lꢀn
các yếu tố đầu vào, gây lãng phí nguồn lực.
4.2. Kết quả ước lượng hiệu quả theo quy mô
Kết quả ưꢀc lượng hiệu quả theo quy mô cho ta thấy, giá trị hiệu quả theo quy mô trung
bình (mean scale efficiency) của 44 nông hộ sản xuất tôm TC tại thị xã Giá Rai là 79.9%.
Điều này cho thấy 44 hộ nuôi tôm tại địa bàn nghiên cứu có thể thay đổi quy mô sản xuất
để gia tang năng suất tôm.
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
159
Bảng 4
Hiệu quả theo quy mô của nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại Giá Rai
Thâm canh
Chỉ tiêu
Số hộ
Tỷ lệ (%)
Hộ nuôi có hiệu quả tăng theo
quy mô (IRS)
29
65.91
Hộ nuôi có hiệu quả giảm theo
quy mô (DRS)
4
9.09
Hộ nuôi có hiệu quả không đổi
theo quy mô (CRS)
11
25
Tổng số hộ nuôi tôm sú
44
100
Hiệu quả theo quy mô trung
bình (Scale)
0.799
Độ rộng
0.033 - 1.000
0.259
Độ lệch chuẩn
Chú thích: IRS = increasing returns to scale, DRS = decreasing returns to scale, CRS = constant returns to scale
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra (2018)
Có 25% nông hộ nuôi thâm canh đang hoạt động ở quy mô tối ưu (CRS) (Bảng 4). Và
65.91% nông hộ TC có thể tăng hiệu quả theo quy mô (IRS). Điều này có nghĩa là các trang trại
này đang hoạt động dưꢀi quy mô tối ưu; hộ có thể giảm chi phí bằng cách tăng sản xuất. Mặt khác,
các trang trại thể hiện lợi nhuận giảm theo quy mô (DRS) - 9.1% hộ nuôi TC có thể tăng hiệu quả
kỹ thuật bằng cách giảm sản xuất.
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm sú thâm canh tại
thị xã Giá Rai
Thống kê mô tả các biến dùng trong phân tích hồi quy Tobit
Bảng 5
Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy
Biến định tính
Biến định lượng
Độ
Chỉ tiêu
Trung
Thấp Cao
% = 0
lệch
% = 1
bình
nhất nhất
chuẩn
4.5
50
95.5
50
Giꢀitính (1 = Nam, 0 = Nữ)
Tậphuấn (1 = có, 0 = không)
Xétnghiệm (1 = có,0 = không)
Tiếp cận tín dụng (1 = có, 0 = không)
Trình độ học vấn (năm)
39
61
81.8
18.2
8.09
11.2
2
2.3
5.6
0.6
2.9
2
2
12
22
Kinh nghiệm sản xuất (năm)
Quy mô lao động GĐ (người)
Mật độ (con/m2)
1
3
24
22
33.3
Nguồn: Kết quả tính toán từ số liệu điều tra (2018)
160
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Bảng 6
Kết quả ưꢀc lượng hồi quy Tobit
Biến số Tham số hồi qui
Hằng số
Sai số chuẩn
0.430
Giá trị xác suất
0.016
-1.083**
-0.036 ns
0.040 ns
0.241***
0.054 ***
0.001 ns
0.069 ns
0.038 **
0.012 ns
Giꢀi tính
0.184
0.846
Tập huấn
0.087
0.642
Xét nghiệm
0.084
0.007
Học vấn
0.017
0.003
Kinh nghiệm
Quy mô lao động GĐ
Mật độ (con/m2)
Tiếp cận tín dụng
Số quan sát
Prob>chi2
0.006
0.809
0.060
0.257
0.014
0.013
0.108
0.910
44
0.0002
-1.8565
log likelihood
Chú thích: ***chỉ mức độ ý nghĩa thống kê 1%; ** chỉ mức ý nghĩa thống kê 5%; ns: không có ý nghĩa thống kêNguồn:
Kết quả tính toán từ số liệu điều tra (2018)
Kết quả ưꢀc lượng mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
kỹ thuật của các hộ nuôi tôm sú TC được thể hiện ở Bảng 6. Giá trị Prob > χ2 của mô hình hồi quy
Tobit rất nhỏ (nhỏ mức ý nghĩa 1%), điều này chứng tỏ mô hình hồi quy Tobit phù hợp vꢀi tập dữ
liệu và có thể sử dụng được.
Mô hình Tobit được sử dụng vꢀi biến số phụ thuộc là hiệu quả kỹ thuật TE, có giá trị nằm
trong khoảng từ 0 đến 1. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có ba yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật
của nông hộ nuôi TC gồm: trình độ học vấn chủ hộ, mật độ và yếu tố xét nghiệm (xem Bảng 6).
+ Ảnh hưởng của trình độ học vấn của chủ hộ: Vꢀi hệ số ưꢀc lượng β = 0.054 và có ý
nghĩa thống kê ở mức 1%, điều này cho thấy rằng trình độ học vấn của chủ hộ có một vai trò tích
cực trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật trong nuôi tôm. Kết quả này giống vꢀi nghiên cứu của
Thai (2009), Ancev và cộng sự (2010) và Thong và cộng sự (2011) nông hộ có trình độ học vấn
cao thì khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học vào trong sản xuất là tốt hơn, do đó nông hộ có
trình độ học vấn cao có tác động tích cực tꢀi hiệu quả kỹ thuật. Khi số năm đi học của chủ hộ tăng
lên thì họ dễ dàng hiểu được tầm quan trọng của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, từ đó chủ động học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất từ những hộ khác hay thông qua
các lꢀp tập huấn, phương tiện thông tin đại chúng góp phần làm tăng hiệu quả kỹ thuật trong sản
xuất.
+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi: vꢀi giá trị β = 0.038 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%,
cho thấy biến này có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm TC. Nuôi
vꢀi mật độ cao sẽ dẫn đến thu hoạch sản lượng nhiều hơn nhưng phải nằm ở mật độ nuôi cho phép.
Mô hình nuôi tôm sú TC cho phép nông dân thả tôm vꢀi mật độ tương đối dầy, có thể trên 30
con/m2 (H. N. Tran, Nguyen, Le, Huynh, & Do, 2017). Phần lꢀn nông hộ nuôi theo phương thức
TC được khảo sát thả vꢀi mật độ thấp hơn mức khuyến cáo kỹ thuật nên việc tăng mật độ có thể
tận dụng tốt hơn diện tích mặt nưꢀc.
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
161
+ Ảnh hưởng của xét nghiệm giống: Vꢀi hệ số ưꢀc lượng β = 0.241 và có ý nghĩa thống
kê ở mức 1%, điều này cho thấy rằng những hộ có xét nghiệm giống thì hiệu quả kỹ thuật sẽ tăng
thêm trung bình 0.241%. Trong mô hình nuôi tôm sú TC thì giống là yếu tố quan trọng nhất, nếu
con giống tốt thì yếu tố thành công sẽ tăng đáng kể. Nghiên cứu của D. H. Nguyen (2007) cho
thấy tôm giống sản xuất có nguồn gốc từ Miền Trung chất lượng tốt hơn so vꢀi tôm giống sản xuất
ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vì tôm giống Miền Trung phải qua nhiều khâu kiểm dịch.
Hiện nay thị trường tôm giống chưa được kiểm soát chặt chẽ, giống không có chứng nhận, giống
kém chất lượng tràn lang thì việc xét nghiệm giống là rất cần thiết đối vꢀi người nuôi tôm.
5. Kết luận, gợi ý
Dựa trên kết quả khảo sát 44 nông hộ nuôi tôm sú thâm canh trên địa bàn thị xã Giá Rai,
nghiên cứu đã ưꢀc lượng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả theo quy mô dựa trên phương pháp phân
tích màng bao dữ liệu (DEA). Kết quả cho thấy, nông hộ nuôi đạt hiệu quả kỹ thuật ở mức trung
bình, cụ thể đạt hiệu quả kỹ thuật 0.590, hiệu quả theo quy mô 0.799; ưꢀc lượng mô hình hồi quy
Tobit đã chỉ rằng, có 03 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi TC là trình độ học
vấn của chủ hộ, mật độ nuôi và yếu tố xét nghiệm, 3 yếu tố này đóng góp tích cực đến hiệu quả kỹ
thuật của hộ nuôi tôm sú TC.
Hộ nuôi cần tăng cường tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tích cực tham
gia các lꢀp tập huấn để học hỏi kinh nghiệm từ những hộ nuôi đạt hiệu quả kỹ thuật.
Chính quyền cần có những biện pháp để quản lý chất lượng con giống, thức ăn, thuốc hiệu
quả hơn, tránh tình trạng người nuôi tôm sử dụng những sản phẩm kém chất lượng gây ảnh hưởng
đến hiệu quả sản xuất.
Tài liệu tham khảo
Akter, S. (2010). Effect of financial and environmental variables on the production efficiency of
white leg shrimp farms in Khan Hoa province, Vietnam (Master’s thesis). The Norwegian
College of Fishery Science University of Tromso, Norway & Nha Trang University,
Nhatrang, Vietnam.
Ancev, T., Azad, M. A. S., Den, D. T., & Harris, M. (2010). Technical efficiency of shrimp farms
in Mekong Delta, Vietnam. In V. Beckmann, N. H. Dung, M. Spoor, X. Shi & J. Wesseler
(Eds.), Economic transition and natural resource management in East and Southeast Asia
(pp. 141-157). Aachen, Germany: Shaker Publishing.
Battese, E. G., Rao, D. S. P., & O’Donnell, C. J. (2004). A meta-frontier production for estimation
of technical efficiency gaps for firms operating under different technologies. Journal
of Productivity Analysis, 21(1), 91-103.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2015). Báo cáo tổng hợp quy hoạch nuôi tôm nước lợ
vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn 2030 [General report on brackish
water shrimp farming planning in the Mekong Delta until 2020, vision to 2030]. Retrieved
Charnes, A., Cooper, W. W., & Rhodes, E. (1978). Measuring the efficiency of decision making
units. European Journal of Operation Research, 2(6), 429-444.
Cinemre, H. A., Ceyhan, V., Bozoglu, M., Demiryurek, K., & Killic, O. (2006). The cost efficiency
162
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Coelli, T. (1996). A guide to DEAP version 2.1: A data envelopment analysis (computer) program
(CEPA working paper 96/08). Australia: Center for efficiency and productivity analysis,
University of New England.
Coelli, T. J., Rao, D. S. P., O’Dolnell, C. J., & Battese, G. E. (2005). An introduction to efficiency
and productivity analysis (2nd ed.). New York, NY: Springer US.
Dang, H. X. H. (2009). Technical efficiency analysis for commercial Black Tiger Prawn
(Penaeus monodon) aquaculture farms in Nha Trang City, Vietnam (Master’s thesis).
University of Tromso, Norway and Nha Trang University, Nha trang, Vietnam.
Dang, H. X. H. (2010). Evaluation of input efficiency for catfish farms in Mekong river delta,
Vietnam (UNU-Fisheries Training Programme). Nha Trang, Vietnam: Nha Trang
University.
Vietnam.
Retrieved
October
12,
2020,
from
ms_in_the_Mekong_Delta_Vietnam
Dey, M. M., Paraguas, F. J., Bimbao, G. B., & Regaspi, P. B. (2000). Technical efficiency of
tilapia growout pond operations in the Philippines. Aquaculture Economics and
Management, 4(1), 33-47.
Farrell, J. (1957). The measurement of productive efficiency. Journal of the Royal Statistical
Society Series A, 12(3), 235-281.
Kaliba, A. R., & Engle, C. (2006). Productive efficiency of Catfish farms in Chicot county,
Le, S. X., & Nguyen, C. T. (2009). Organic black tiger (Penaeus monodon) shrimp in Camau. Can
Tho University Journal of Science, 11(2009), 347-359.
Lovell, C. A. K., Harold, O. F., & Shelton, S. S. (1993). The measurement of productive efficiency:
Techniques and applications. Oxford, UK: Oxford University Press.
Mamoud, M., Agbekpornu, H., Zhang, Z., Zhu, W., & Yuan, X. (2108). Technical efficiency of
white leg shrimp production using Data Envelopment Analysis (DEA), case study: Jiangsu
province, China. Asian Journal of Fisheries and Aquatic Research, 1(3), 1-9.
Mar, S., Yabe, M., & Ogata, K. (2013). Technical eficiency analysis of mango production in
Central Myanmar. Journal of International Society for Southeast Asian Agricultural
Sciences, 19(1), 49-62.
Mehmet, B., Vedat, C., Cinemre, H. V., Kursat, D., & Osman, K. (2006). Evaluation of
different trout farming systems and some policy issues in the Black Sea region,
Turkey. Journal of Applied Sciences, 6(14), 2882-2888.
Nathaniel, N. K., Agrey, K., & Natalia, K. (2014). Technical efficiency of cocoa production
through contract farming: Empirical evidence from kilombero and kyela districts.
International Journal of Scientific and Research Publications, 4(10), 1-8.
Nguyen, A. T. H. (2012). Profitability and technical efficiency of black tiger shrimp (Penaeus
monodon) culture and white leg shrimp (Penaeus vannamei) culture in song Cau district,
Phu yen province, Vietnam (Master’s thesis). The Norwegian College of Fishery Science
University of Tromso, Norway & Nha Trang University, Nhatrang, Vietnam.
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
163
Nguyen, D. H. (2007). Điều tra tình hình sử dụng hóa chất và chế phẩm vi sinh trong quản lý môi
trường ao nuôi tôm sú (Peneaus monodon) thâm canh ở Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu
[Investigate the situation of using chemicals and microbial products in environmental
management of intensive black tiger shrimp ponds (Peneaus monodon) in Ben Tre, Soc
Trang and Bac Lieu] (Master thesis). Faculty of Fisheries, Can Tho University, Can Tho,
Vietnam.
Nguyen, K. T. (2013). Efficiency analysis and experimental study of cooperative behaviour of
shrimp farmers facing wastewater pollution in the Mekong river delta (Doctoral
dissertation). School of Economics and University of Sydney Business School, Sydney,
Australia.
Nguyen, N. Q., & Mai, N. V. (2015). Evaluate the productive efficiency of pineapples growing
households in Tan Phuoc District, Tien Giang Province. Can Tho University Journal of
Science, 36(2015), 1-9.
Niên giám thống kê Bạc Liêu. (2017). Retrieved October 15, 2020, from
O’Donnell, C., Rao, D. S. P., & Battese, G. (2008). Meta-frontier frameworks for the study of
firm-level efficiencies and technology ratios. Empirical Economics, 34(2), 231-255.
Pham, T. B. V. (2010). Technical efficiency of improved extensive shrimp farming in Ca Mau
province, Vietnam (Master’s thesis). University of Tromso, Norway & Nha Trang
University, Nhatrang, Vietnam.
Quan, N. M. (2010). An analysis of factors influencing production efficiency of fishery processing
firms in the Mekong River Delta. Can Tho University Journal of Science, 13, 137-143
Quan, N. M. (2011). Using the Metafrontier technique and metatechnology ratio for extension of
application of the DEA model in measurement of productivity and efficiency. Can Tho
University Journal of Science, 18(a), 210-219.
Quan, N. M., & Tran, H. T. T. (2014). Application of nonparametric approach to analyze
production efficiency of rice-black sesame-rice pattern in O Mon district of Can Tho city.
Can Tho University Journal of Science, 31(2014), 24-30.
Quan, N. M., Nguyen, N. Q., & Ha, D. V. (2013). Application of non-parametric approach to
analyze the cost effectiveness and purple union production scale at Vinh Chau in Soc Trang
province. Can Tho University Journal of Science, 28(2013), 33-37.
Reddy, G. P., Reddy, M. N., Sontakki, B. S., & Prakash D. B. (2008). Measurement of
efficiency of shrimp (peneaus monodon) farmers in Andhra Pradesh. Indian Journal of
Agricultural Economics, 63(4), 653-657.
Sharma, K. R. (1999). Technical efficiency of carp production in Pakistan. Aquaculture Economics
and Management, 3(2), 131-141.
Sharma, K. R., Leung, P. S., & Zaleski, H. M. (1999). Technical, allocative and economic
efficiencies in swine production in Hawaii: A comparison of parametric and nonparametric
approaches. Agricultural Economics, 20(1), 23-35.
Singh, K., Madan, M. D., Abed, G. R., Pratheesh, O. S., & Ganesh, T. (2009). Technical efficiency
of freshwater aquaculture and its determinants in Tripura, India. Agricultural Economics
Research Review, 22(2), 185-195.
164
Thi Thị Mỹ Duyên. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 150-164
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu. (2017). Retrieved October 20, 2020, from
Thai, H. T. (2009). Assessments of natural rubber production efficiency of small holder farms in
kontum province by Data Envelopment Analysis (DEA) and tobit regression. Da Nang
University Journal of Science, 4(33), 133-139.
Thamrong, M., Phantipa, P., & Fleming, E. (2003). Economic efficiency of smallholder shrimp
and rice production in Thailand: Stochastic frontier and data envelopment analysis.
Agricultural Economics and Policy, 23(3), 35-54.
Thong, Q. H., John F. Y., & Prabodh, I. (2011). Analysis of socio-economic factors affecting
technical efficiency of small-holder coffee farming in the Krong Ana Watershed, Dak Lak
Province, Vietnam. Asian Journal of Agricultural Extension, Economics & Sociology, 3(1),
37-49.
Tobin, J. (1958). Estimation of relationships for limited dependent variables. Econometrica, 26(1),
24-36.
Tran, D. T. A., Quan, N. M., & Thach, K. K. (2017). Technical efficiency of king mandarin
production in Cai Be dictrict, Tien Giang province. Can Tho University Journal of Science,
48(2017), 112-119.
Tran, H. N., Nguyen, P. T., Le, V. Q., Huynh, H. K., & Do, H. T. T. (2017). Giant freshwater
prawn (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) farming in brackish water areas of the
Mekong Delta, Vietnam. Can Tho University Journal of Science, 7(2017), 82-90.
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ nuôi tôm sú thâm canh tại thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_hieu_qua_ky_thuat_cua_nong_ho_nuoi_tom_su_tham_can.pdf

