Phát triển nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Đ o Duy Giới
UBND Phƣờng Lam Sơn, Quận Lê Chân, Hải Phòng
Ths. Nguyễn Đức V n
Khoa Kinh tế Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Hải Phòng
TÓM TẮT
Cách mạng công nghiệp 4.0 là một xu thế vận động khách quan, nó tác động đến mọi
nơi, mọi lĩnh vực, trong đó có nông nghiệp Việt Nam. Tự động hóa, công nghệ sinh học, ứng
dụng công nghệ thông tin làm nông nghiệp thay đổi từ khâu sản xuất tới hoạt động tiêu thụ.
Trước bối cảnh còn nhiều tồn tại và khó khăn, nông nghiệp nước ta cần phải có những giải pháp
để tối ưu hoá quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường, nâng cao
giá trị cho ngành nông nghiệp.
Từ khoá: nông ngiệp , cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), Việt Nam
1. NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
CMCN 4.0 sẽ là một xu thế lớn có tác động đến phát triển kinh tế - xã hội mỗi quốc gia,
từng khu vực và toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Lịch sử phát triển xã hội đã trãi qua bốn cuộc
cách mạng công nghiệp: Lần thứ , diễn ra đầu thế kỷ 18 bởi các thành tựu về cơ khí hóa với máy
chạy bằng thủy lực và hơi nước, mở ra một kỷ nguyên sản xuất cơ khí; Lần thứ hai, xuất hiện từ
cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 được đặc trưng bởi động cơ điện và dây chuyền lắp ráp; Lần thứ
ba bắt đầu vào những năm thập niên 1960, thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay
cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính
cá nhân và Internet; Ngày nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu của CMCN 4.0, được đặc trưng
bởi Internet ngày càng phổ biến và di động, các cảm biến nhỏ và mạnh mẽ hơn với giá thành rẻ
hơn, các công nghệ số với phần cứng máy tính, phần mềm ngày càng phức tạp hơn, được tích
hợp nhiều hơn.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp: với việc tăng cường tự động hóa và ứng dụng số hóa trong
quá trình sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông ngày càng mất dần lợi thế; sản
xuất chuyển dịch dần sang lao động có kỹ năng và chuyên môn cao thì CMCN 4.0 có tác động
tích cực rõ rệt. Sự phát triển của công nghệ sinh học cho phép chọn tạo ra những giống cây
trồng, vật nuôi mới phù hợp với mục đích sử dụng, nó sẽ tác động mạnh mẽ đến năng suất cũng
như chất lượng cây trồng vật nuôi, từ đó tăng giá trị gia tăng trong mỗi sảsn phẩm nông nghiệp.
Những phát minh mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin có thể làm tăng khả năng thích ứng
của nông dân trước những thay đổi, bằng cách tăng khả năng tiếp cận thông tin thời tiết và thị
trường, các công nghệ kỹ thuật số có thể giúp nông dân đưa ra quyết định sáng suốt hơn về thời
gian và cây trồng nào, cũng như thời gian và nơi bán cây trồng. Hơn nữa, CNTT phát triển sẽ
cắt giảm thời gian và chi phí vận chuyển trong quá trình phán hợp đồng, đánh giá mùa màng và
thu hồi các khoản vay thanh toán…Kết nối giữa người sản xuất, người vận chuyển và người tiêu
dùng dễ dàng hơn.
CMCN 4.0 biến nông nghiệp không còn là nông nghiệp thuần túy. Với công nghệ mới có
thể giúp bón phân đúng thời điểm, lượng cần thiết vừa đủ cho cây, tiết kiệm chi phí…được xem
là một trong những giải pháp hiệu quả để nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy
nhiên, CMCN 4.0 cũng giúp các nước phát triển có thể tự sản xuất lương thực, thực phẩm bằng
diện tích đất chỉ bằng 1/100 hay 1/1000 các nước đang phát triển làm, với năng suất cao hơn
143
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
nhiều lần, dẫn đến hiện tượng các nước phát triển sẽ không sử dụng sản phẩm từ các nước đang
phát triển như Việt Nam nữa. Tại diễn đàn nông dân Việt Nam lần thứ hai, Phó Thủ tướng
Vương Đình Huệ khẳng định: “Phát triển nông nghiệp 4.0 là xu hướng tất yếu trong bối
cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Việt Nam không thể đứng ngoài làn sóng
này”. Tiềm năng phát triển của Việt Nam còn rất lớn, song thách thức lớn đặt ra là làm sao tranh
thủ phát huy tối đa và hiệu quả CMCN 4.0.
2. THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang còn nhiều tồn tại và đứng trước rất nhiều khó khăn,
thách thức. Theo tổng cục thống kê, giai đoạn 2011 – 2016, so với các nước trong khu vực,
ngành Nông nghiệp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thất thường và có xu hướng giảm đi, từ
mức 4,02% năm 2011 còn 1,36% năm 2016, đây cũng là mức thấp nhất từ trước đến nay. Điểm
% đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế và điểm % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế của
ngành Nông nghiệp đã giảm nhanh trong thời gian gần đây. Đến năm 2016, điểm % đóng góp
vào nền kinh tế chỉ còn 0,22, giảm hơn 50% so với năm 2015 và hơn 3 lần so với năm 2011; %
đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế ở mức 3,5% trong năm 2016, giảm 60% so với năm 2015
và giảm hơn 4 lần so với năm 2011. Đây là mức thấp kỷ lục trong vòng 30 năm qua. Sự suy
giảm tốc độ tăng trưởng của ngành Nông nghiệp đã làm giảm tốc độ tăng trưởng chung của nền
kinh tế, năm 2016, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chỉ đạt 6,21% (không đạt mục tiêu kế
hoạch đề ra là 6,7%).
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có điểm số thấp về điều kiện
quản lý, kinh doanh nông nghiệp. Môi trường kinh doanh giống cây trồng của Việt Nam ở mức
62,5/100 điểm, thấp hơn cả Campuchia, Bangladesh và Philippines. Thời gian đăng ký cấp giấy
phép kinh doanh giống nông nghiệp mới ở Việt Nam lên tới 901 ngày so với Philippines (571
ngày) và Myanmar (306 ngày). Môi trường kinh doanh máy móc nông nghiệp chỉ đạt 24,4/100
điểm (hơn Lào và Myanmar). Thủ tục và quy định cho phép hưởng ưu đãi về thuế, phí còn
nhiều bất cập. Xuất khẩu nông sản của Việt Nam vẫn chủ yếu dưới dạng thô. Vì vậy, cần xây
dựng mô hình mẫu, đầu tư vào khu vực, sản phẩm cụ thể để tạo nên sản phẩm, giá trị của Việt
Nam.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: Thứ nhất, dòng vốn đầu tư vào ngành Nông
nghiệp thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; Thứ hai, thiên tai, biến đổi khí hậu và khả năng
ứng phó của ngành Nông nghiệp còn hạn chế; Thứ ba, mô hình sản xuất trong nông nghiệp phần
lớn vẫn là quy mô nhỏ bé, manh mún, phân tán; Thứ tư, lực lượng lao động trong ngành Nông
nghiệp đông nhưng trình độ thấp.
Tình trạng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển được dự báo
tiếp tục ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, năng lực sản xuất dư thừa của một số
ngành hàng như chăn nuôi khiến những ngành này gặp nhiều rủi ro từ thị trường xuất khẩu.
Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế nội địa, thay đổi nhân khẩu học và đô thị hóa đang chuyển
dịch bản chất cân bằng cung – cầu hàng hóa nông sản và thực phẩm nội địa từ lượng sang chất,
đặt ra rủi ro chênh lệch cơ cấu cung – cầu, thay vì lượng cung – cầu.
Về bối cảnh vĩ mô, có ba vấn đề nổi bật ảnh hưởng tới thương mại nông sản Việt Nam
gồm: Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tăng phụ thuộc lẫn nhau trong thương mại toàn
cầu, đồng thời tập trung hơn vào phát triển thị trường nội địa; Các thị trường phát triển dần bão
hòa và tăng bảo hộ; Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm hơn, chuyển hướng động lực vào
tiêu dùng nội địa. Bối cảnh này ảnh hưởng đến việc duy trì tăng trưởng, khả năng cạnh tranh của
nông nghiệp Việt Nam có định hướng chính xuất khẩu, hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp nông nghiệp cũng như bảo đảm sinh kế bền vững cho cư dân nông thôn.
144
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Dự báo thị trường nông sản quốc tế, tiêu dùng nông sản toàn cầu tiếp tục mở rộng và
phát triển theo hướng hàng hóa có giá trị cao hơn; Tăng trưởng tiêu dùng sẽ chậm lại so với thập
kỷ trước; Trung Quốc, Ấn Độ và Châu Phi hạ Sahara thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu; Giá nông
sản thực tế có xu hướng giảm nhẹ trong dài hạn; Tăng trưởng năng suất sẽ là động lực chính cho
sản xuất cây lương thực và thức ăn chăn nuôi; Tăng trưởng đa dạng theo hướng phát triển chăn
nuôi và thủy sản.
Với bối cảnh vĩ mô và thị trường như vậy, ngành nông nghiệp Việt Nam cần xác định lại
động lực chính thúc đẩy ngành nông nghiệp đi lên: tăng năng suất, chất lượng. Bên cạnh đó, cần
xác định vị thế của từng ngành hàng nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu để ưu tiên
nguồn lực phát triển. Đồng thời, cần xác định lại cơ cấu thị trường cho từng ngành hàng nông
sản.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CÁCH
MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Trong bối cảnh nông nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn thì việc tận dụng những lợi thế
từ cuộc cách mạng 4.0 sẽ là hướng mới cho nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên ứng dụng thành
tựu trong sản xuất nông nghiệp không thể thực hiện trong “một sớm, một chiều” mà đó là một
quá trình lâu dài, là sự kết hợp của nhiều lĩnh vực, hướng đến mục tiêu: Phát triển nền nông
nghiệp toàn diện, hiệu quả theo hướng chuyên canh bền vững, gắn với phát triển công nghiệp
chế biến và thị trường tiêu thụ phù hợp với xu hướng phát triển. Trong điều kiện của tỉnh, tiềm
lực khoa học, công nghệ chưa cao, trước mắt cần xây dựng một số mô hình sản xuất nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao điển hình tại các vùng sản xuất ổn định. Trong dài hạn, nước ta
cần có chiến lược phát triển nông nghiệp công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
thị trường, với các giải pháp cụ thể:
Giải pháp về đẩy nhanh công tác quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao: xác định rõ quy mô các vùng sản xuất tập trung để đề xuất phát triển lên vùng sản
xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với đối tượng sản xuất chủ lực và đánh giá tiềm năng
phát triển lâu dài; quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên với
quy mô phù hợp đến năm 2020;
Các giải pháp về đào tạo và thu hút nguồn nhân lực: Chú trọng nâng cao trình độ cán bộ
kỹ thuật, cán bộ quản lý; có chính sách thu hút nguồn lao động công nghệ cao. Đào tạo, bồi
dưỡng cho người dân tiếp cận và sử dụng các loại máy móc, thiết bị trong bảo quản, sơ chế sản
phẩm và chế biến nông sản. Tăng cường phát triển hệ thống công nghệ thông tin, giúp người
dân nắm bắt được các chính sách của Đảng và nhà nước, những tiến bộ khoa học và công nghệ
mới có khả năng ứng dụng cao.Đặc biệt, cần khuyến khích các doanh nghiệp nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao trong một số sản phẩm chủ lực, tạo điều kiện lôi kéo các doanh nghiệp
trong và ngoài tỉnh đầu tư, Tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ các chương trình, dự án, lồng
ghép, vốn vay ưu đãi từ ngân hàng phát triển, Quỹ khoa học công nghệ kết hợp với nguồn vốn
Ngân sách dành cho phát triển nông nghiệp, nông thôn để đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát
triển sản xuất, công tác tiếp nhận chuyển giao ứng dụng công nghệ, đào tạo nghề, tập huấn kỹ
thuật cho các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Giải pháp phát triển các tổ chức kinh doanh, sản xuất: Để các vùng sản xuất nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao phát triển bền vững cần thiết phải có sự tham gia của cả “bốn nhà”
trong chuỗi giá trị sản xuất; cần khuyến khích phát triển các hình thức liên kết tự nguyện, các
liên minh trong tổ chức sản xuất, dịch vụ đầu vào, chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa nông hộ với
doanh nghiệp; nâng cao năng lực của các thành viên Ban chủ nhiệm hợp tác xã, tạo điều kiện
giúp cho các hợp tác xã, các chủ trang trại và hộ nông dân gặp gỡ giao lưu, trao đổi kinh
nghiệm… Cần có chính sách hỗ trợ các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có
145
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
nhu cầu liên kết, phát triển thành HTX, áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển theo
Luật công nghệ cao.
Giải pháp về vận động tuyên truyền phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao: Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức đến các cấp, các ngành xác định phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao là một trong những nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm của ngành
nông nghiệp, cần có sự phối hợp của các ngành, địa phương, các tổ chức đoàn thể... Đẩy mạnh
công tác khuyến nông, khuyến ngư, có kế hoạch đào tạo chuyên môn, nâng cao trình độ năng
lực chuyên môn cho lực lượng cán bộ ngành nông nghiệp, đội ngũ cán bộ khuyến nông -
khuyến ngư của tỉnh. Tiếp tục duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả lực lượng khuyến nông
viên và công tác viên khuyến nông huyện, xã...
4. KẾT LUẬN
Để phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, cần xác định rõ hướng “xây dựng nền
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng
sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”,
tạo tiền đề cho việc triển khai cách mạng công nghiệp 4.0 trong nông nghiệp (nông nghiệp 4.0)
với bản chất là áp dụng thành tựu công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất, làm việc trên
những cánh đồng bằng phương pháp công nghệ hóa. Cần áp dụng đồng bộ các giải pháp như:
Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Đào tạo và thu hút nguồn nhân
lực; Phát triển các tổ chức kinh doanh, sản xuất; Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao... để tối ưu hoá quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường,
nâng cao giá trị cho ngành nông nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tổng cục Thống kê (2016), báo cáo kinh tế - xã hội năm 2016;
2. Desigh Principles for Industrie 4.0 Scenarios, Hermann, Pentek, Otto, 2015;
3. Only One – Tenth of Germany‟s High – Tech Stratery, Bill Lydon, Industry 4.0, 2014.
4. Mahul O and C.J. Stutley (2010), Government Support to Agricultural Insurance
Challenges and Options for Developing Countries”, World Bank Publishion, Washington
D.C, 2010
VIET NAM AGRICULTURAL DEVELOPMENT IN THE CONTEXT OF THE
INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
ABSTRACT
Industrial Revolution 4.0 is a motivational tendency that affects all areas, including
agriculture in Vietnam. Automation, biotechnology, and application of information technology
to agriculture change from production to consumption. In the context of many shortcomings and
difficulties, our country needs to have solutions to optimize the production process, improve the
quality of agricultural products, protect the environment, enhance the value for the agricultural
sector.
Keywords: agriculture, industrial revolution 4.0, Vietnam
146
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_nong_nghiep_viet_nam_trong_boi_canh_cach_mang_con.pdf

