Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản (Phần 2)

CHƯƠNG 5  
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC  
Mục tiêu của chương:  
Về kiến thức: Cung cấp khái niệm, vai trò và nội dung tổ  
chức hoạt động quản trị nhân lực tác nghiệp, đó là tuyển dụng  
nhân lực, bố trí và sử dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nhân  
lực, đánh giá thực hiện công việc, đãi ngộ nhân lực,…  
Về kỹ năng: Vận dụng kỹ năng thực hành các tác nghiệp  
quản trị nhân lực, từ việc thiết kế quy trình khoa học cho đến  
triển khai có kết quả và hiệu quả.  
Về thái độ: Rèn luyện khả năng thích nghi, ứng xử linh  
hoạt, phản ứng nhanh và cũng như tập trung tâm điểm trong  
từng hoạt động của mỗi tác nghiệp quản trị nhân lực.  
Tình huống dẫn đề:  
TỔ CHỨC BỘ PHẬN QUẢN LÝ NHÂN LỰC  
Ở MỘT DOANH NGHIỆP NHỎ1  
Manon Pichette, 28 tuổi, tốt nghiệp đại học ở Quebec cách đây 5 năm  
và hiện đang thử sức ở lĩnh vực kinh doanh mà cô yêu thích từ nhỏ là  
trượt patin nghệ thuật. Cô đến với môn thể thao này khi còn học phổ  
thông và đã nhiều lần tham gia các kỳ Olympique trong vùng từ gần 15  
năm nay. Sau khi tốt nghiệp, với tấm bằng Quản trị kinh doanh, Manon  
quyết định mở một cửa hàng kinh doanh các thiết bị và dụng cụ cho môn  
thể thao trượt patin nghệ thuật và môn hockey. Tiêu chí của cô trong kinh  
doanh là "Chất lượng hàng hoá và chất lượng dịch vụ" - tất cả các nhân  
1 Lê Quân (2010), Bài tập tình huống và thực hành quản trị nhân lực, NXB Thống kê, Hà  
Nội, tr.64.  
182  
viên bán hàng của cô đều say mê thể thao, am hiểu chuyên môn, nhiệt  
tình và có thể tư vấn miễn phí cho khách hàng khi có yêu cầu. Với tiêu  
chí hành động trên, Manon đã thu được những thành công bước đầu và  
tiếp tục mở thêm 7 cửa hàng kinh doanh khác trong vùng.  
Việc mở rộng quy mô hoạt động cũng đòi hỏi việc phát triển thêm  
các sản phẩm bán ra. Hiện tại các cửa hàng kinh doanh của Manon cung  
cấp các thiết bị và dụng cụ cho tất cả các môn thể thao đang được ưa  
chuộng và tiêu chí hành động vẫn được các cửa hàng tôn trọng.  
Tuy nhiên, thời gian gần đây, Manon nhận thấy có những dấu hiệu  
bất thường từ phía các nhân viên của mình. Ở 2 trong số 8 cửa hàng  
của cô, tỷ lệ nhân viên rời bỏ việc làm rất cao. Hơn nữa, việc thuyên  
chuyển công tác cho nhân viên giữa các cửa hàng gặp khó khăn do quy  
chế và điều kiện làm việc rất khác nhau, đặc biệt là vấn đề giờ giấc và  
lương bổng.  
Câu hỏi: Phân tích ưu điểm và hạn chế của công tác quản trị nhân  
lực của Manon. Theo anh/chị, những điều chỉnh gì là cần thiết để công  
tác quản trị nhân lực tại công ty tốt hơn?  
5.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN  
TRỊ NHÂN LỰC  
5.1.1. Khái niệm  
Tổ chức hoạt động quản trị nhân lực là quá trình triển khai các hoạt  
động tác nghiệp của QTNL như tuyển dụng nhân lực, bố trí và sử dụng  
nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá thực hiện công việc,  
đãi ngộ nhân lực... nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.  
Từ khái niệm trên cho thấy:  
- Tổ chức hoạt động quản trị nhân lực là hoạt động nhằm hiện thực  
hóa các sản phẩm của hoạch định nhân lực và được thực hiện thường  
xuyên, liên tục tại các tổ chức/doanh nghiệp.  
- Tổ chức hoạt động quản trị nhân lực gắn với việc triển khai thực  
hiện các nghiệp vụ cụ thể của quản trị nhân lực như: tuyển dụng nhân  
183  
lực, bố trí và sử dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá  
thực hiện công việc, đãi ngộ nhân lực,…  
- Tổ chức hoạt động quản trị nhân lực có thể khác nhau đối với từng  
tổ chức/doanh nghiệp khác nhau, tùy thuộc quan điểm của các nhà quản  
trị cấp cao đối với hoạt động quản trị nhân lực, quy mô tổ chức/doanh  
nghiệp, bộ phận chuyên trách quản trị nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp  
đó (quy mô, mức độ chuyên nghiệp,…),…  
5.1.2. Vai trò của tổ chức hoạt động quản trị nhân lực  
Tổ chức hoạt động quản trị nhân lực thể hiện một số vai trò cơ  
bản sau:  
- Thứ nhất, tổ chức hoạt động quản trị nhân lực đóng vai trò quan  
trọng trong việc hiện thực hóa các chiến lược, chính sách, kế hoạch và  
chương trình về quản trị nhân lực đã được xây dựng.  
- Thứ hai, tổ chức hoạt động quản trị nhân lực giúp phát hiện các sai  
lệch trong quá trình hoạch định nguồn nhân lực để từ đó tổ chức/doanh  
nghiệp có các hành động điều chỉnh thích hợp trước khi vấn đề trở nên  
nghiêm trọng.  
- Thứ ba, tổ chức hoạt động quản trị nhân lực giúp tạo cơ sở cho việc  
thiết lập, xây dựng và hoàn thiện mối quan hệ giữa người lao động và  
người sử dụng lao động, giúp thiết lập quan hệ lao động lành mạnh trong  
tổ chức/doanh nghiệp.  
5.2. NỘI DUNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC  
5.2.1. Tổ chức hoạt động tuyển dụng nhân lực  
Như đã trình bày ở chương 1, tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm  
kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực phù hợp để thỏa mãn nhu cầu sử dụng  
và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của  
doanh nghiệp.  
Hoạt động tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp được thực hiện  
theo quy trình được thể hiện ở hình 5.1. Cần lưu ý quy trình tuyển dụng  
được áp dụng trong từng doanh nghiệp có sự sáng tạo phù hợp với điều  
kiện và môi trường kinh doanh cụ thể.  
184  
Xác định nhu cầu tuyển dụng nhân lực  
Tuyển mộ nhân lực  
Tuyển chọn nhân lực  
Hội nhập nhân lực mới  
Đánh giá tuyển dụng nhân lực  
Hình 5.1: Quy trình tuyển dụng nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp  
Nội dung cụ thể của các bước trong quy trình tuyển dụng nhân lực  
được mô tả như sau:  
5.2.1.1. Xác định nhu cầu tuyển dụng nhân lực  
Xác định nhu cầu tuyển dụng nhân lực là việc xác định số lượng,  
chất lượng, cơ cấu nhân lực cần tuyển và thời gian cần có những nhân  
lực đó tại doanh nghiệp.  
Ví dụ: Để đạt mục tiêu mở rộng thị trường, tăng thị phần của công ty  
A trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ quý 4 năm n đến hết năm n+1, sau khi cân  
đối nhân sự toàn công ty, tính đến các giải pháp luân chuyển, bộ phận  
nhân sự công ty xác định cần tuyển 20 nhân sự (phản ánh nhu cầu số  
lượng), trong đó có 3 giám sát bán hàng, 16 nhân viên bán hàng, 1 kế  
toán bán hàng (phản ánh nhu cầu về cơ cấu: số lượng gắn với chức  
danh). Công ty A cũng đưa ra yêu cầu cụ thể để tuyển dụng các chức  
danh nêu trên (phản ánh nhu cầu về mặt chất lượng). Thời điểm các nhân  
lực này cần có mặt tại công ty là ngày 15/08/n (phản ánh nhu cầu về mặt  
thời gian).  
Thông thường, nhu cầu tuyển dụng nhân lực phản ánh trạng thái  
thiếu hụt (bao gồm cả số lượng và chất lượng) trong tương quan giữa  
cung, cầu nhân lực tại một khoảng thời gian nhất định của doanh nghiệp.  
Tuy nhiên, cần lưu ý không phải mọi trường hợp trạng thái thiếu hụt này  
185  
đều dẫn đến nhu cầu tuyển dụng nhân lực. Tổ chức/doanh nghiệp sẽ phải  
cân nhắc đến một số giải pháp thay thế: luân chuyển, kiêm nhiệm, tăng  
ca, làm thêm giờ, ký hợp đồng phụ, thuê gia công,… và chỉ trong trường  
hợp các giải pháp thay thế không đáp ứng được nhu cầu và trạng thái  
thiếu hụt này gắn với thời gian trung và dài hạn thì mới trở thành nhu cầu  
tuyển dụng.  
Trong quá trình xác định nhu cầu tuyển dụng nhân lực, việc xác định  
nhu cầu về chất lượng đóng vai trò rất quan trọng. Nhu cầu về chất lượng  
được phản ánh qua tiêu chuẩn tuyển dụng đưa ra đối với từng vị trí. Đặc  
biệt trong bối cảnh hiện nay, tuyển dụng hướng đến tuyển người phù hợp  
chứ không tuyển người tốt nhất. Sự phù hợp của nhân lực cần tuyển bao  
gồm cả sự phù hợp về năng lực gắn với yêu cầu của vị trí cần tuyển (theo  
mô tả công việc), gắn với mức thu nhập doanh nghiệp có thể chi trả cho  
vị trí đó. Đồng thời, sự phù hợp còn bao hàm cả phù hợp đối với đội ngũ  
nhân lực hiện có (liên quan đến việc bổ sung năng lực khuyết thiếu) và  
phù hợp với môi trường, văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy, xác định tiêu  
chuẩn tuyển dụng nhân lực rất cần nhận được sự quan tâm đúng mức của  
các nhà tuyển dụng và các nhà quản trị trong doanh nghiệp.  
Ví dụ: Một trong các bí quyết thành công của Microsoft là quản lý  
theo nhóm nhỏ. Mỗi khi nhóm có nhu cầu tuyển dụng, họ sẽ chuyển nhu  
cầu này cho bộ phận nhân sự. Bộ phận nhân sự sẽ thực hiện tuyển mộ,  
còn việc tuyển chọn sẽ do bộ phận có nhu cầu thực hiện. Họ sẽ lần lượt  
thực hiện các biện pháp khác nhau để tuyển ứng viên phù hợp (thông qua  
phỏng vấn, thi tuyển,…) và tự ra quyết định tuyển hay không tuyển (kể  
cả nhóm đó cần tuyển nhóm trưởng, các thành viên trong nhóm cũng sẽ  
quyết định đối với việc tuyển quản lý của mình). Việc phân quyền rộng  
rãi này ở Microsoft dựa trên quan điểm cho rằng, những nhân lực hiện tại  
trong nhóm sẽ là người nắm rõ nhất năng lực còn thiếu, cần bổ sung của  
nhóm là năng lực nào? Và đặc biệt họ coi việc tuyển nhân lực của nhóm  
là việc tìm "miếng ghép hình" phù hợp để năng lực chung của nhóm trở  
thành "bức tranh hoàn chỉnh".  
Hay ở một ví dụ khác1:  
1 Mai Thanh Lan (2014), Giáo trình tuyển dụng nhân lực, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.125.  
186  
Phòng Lập trình Công ty McQ hiện có 5 lập trình viên (An, Bình,  
Chi, Dũng, Minh). Theo bản mô tả công việc, vị trí này cần 5 năng lực  
cốt lõi, lần lượt được gọi tên là năng lực 1 đến năng lực 5. Công ty McQ  
cần tuyển lập trình viên thứ 6. Trưởng phòng lập trình của công ty có bản  
phân tích năng lực của các lập trình viên hiện tại như sau:  
Bảng 5.1: Bảng phân tích năng lực của các lập trình viên hiện có  
Năng lực 1  
Tốt  
Năng lực 2  
Khá  
Năng lực 3  
Trung bình  
TB Yếu  
Năng lực 4  
Khá  
Năng lực 5  
TB Yếu  
An  
Bình  
Chi  
Tốt  
Khá  
Trung bình  
Khá  
Trung bình  
TB Yếu  
Khá  
Tốt  
Trung bình  
TB Yếu  
Dũng  
Minh  
Khá  
Trung bình  
Tốt  
Tốt  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Khá  
Tốt  
Nếu theo bảng phân tích này, công ty McQ sẽ cần tuyển lập trình  
viên thứ 6 được đánh giá tốt ở năng lực 3 và năng lực 5. Còn năng lực  
1,2,4 chỉ cần ở mức độ trung bình. Việc bổ sung được thành viên thứ 6  
của phòng lập trình có 2 năng lực nổi trội đúng với 2 năng lực còn thiếu  
của phòng sẽ giúp tăng cường sức mạnh chung nhóm làm việc hiệu quả.  
Việc xác định nhu cầu tuyển dụng nhân lực có thể được áp dụng  
theo quy trình dưới lên, quy trình trên xuống, hoặc quy trình kết hợp (kết  
hợp dưới lên, trên xuống).  
- Quy trình dưới lên là quy trình các doanh nghiệp thường để các bộ  
phận có nhu cầu tuyển dụng đề xuất (đề xuất này có thể là định kỳ theo  
đợt tuyển dụng của công ty hoặc đột xuất khi có nhu cầu thay thế nhân  
lực, bổ sung do nghỉ việc,…) theo mẫu của bộ phận nhân sự. Bộ phận  
nhân sự tiến hành tổng hợp thành nhu cầu tuyển dụng của toàn công ty.  
- Quy trình trên xuống là quy trình bộ phận nhân sự sẽ tiến hành  
phân tích cân đối nhu cầu nhân lực tổng thể của doanh nghiệp cần có với  
hiện trạng của đội ngũ nhân lực hiện tại để xác định nhu cầu tuyển dụng  
nhân lực của doanh nghiệp trong thời gian xác định (đã bao hàm cả việc  
cân đối các giải pháp thay thế cho tuyển dụng: tăng ca, làm thêm giờ,  
kiêm nhiệm, luân chuyển, ký hợp đồng phụ, thuê gia công,…).  
187  
- Quy trình kết hợp là quy trình trong đó bộ phận nhân sự sẽ tiến  
hành tổng hợp nhu cầu để phân tích đưa ra quyết định cuối cùng về nhu  
cầu tuyển dụng của công ty trên cơ sở kết hợp nhu cầu theo quy trình  
dưới lên với nhu cầu theo quy trình trên xuống. Trong nhiều trường hợp,  
sự thiếu hụt xảy ra ở từng bộ phận có thể được giải quyết qua bài toán  
luân chuyển nên cả doanh nghiệp có thể ở trạng thái cân bằng.  
Một số phương pháp có thể sử dụng để xác định nhu cầu tuyển dụng  
nhân lực có thể kể đến bao gồm: phương pháp Delphi, phương pháp phân  
tích xu hướng, phương pháp tỷ suất nhân quả1.  
- Phương pháp Delphi: Là phương pháp được sử dụng tương đối  
phổ biến trong kỹ thuật dự báo ở rất nhiều khoa học khác nhau. Phương  
pháp này được sử dụng để dự báo nhu cầu nhân lực cần tuyển của doanh  
nghiệp dựa trên ý kiến của chuyên gia nhân lực trong doanh nghiệp, của  
các nhà quản trị cấp trung gian ở những bộ phận chức năng, các trưởng  
đơn vị. Dựa vào đánh giá của họ về tình hình tổ chức trong tương lai,  
điều kiện kinh tế, xã hội của tổ chức, với kinh nghiệm mà họ đã từng tích  
lũy được sẽ đưa ra phương án dự đoán cầu nhân lực của tổ chức và nhu  
cầu nhân lực cần tuyển trong thời kỳ kế hoạch.  
- Phương pháp phân tích xu hướng: Căn cứ vào kế hoạch kinh  
doanh và mục tiêu cần đạt được của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch  
như: số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ; doanh số bán ra; ước tính những  
thay đổi về kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của tổ chức; các  
xu hướng tuyển dụng của công ty trong một vài năm… so với thời kỳ  
hiện tại, ước tính cầu nhân lực cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của tổ  
chức thời kỳ kế hoạch. Từ đó, có cơ sở để xác định nhu cầu nhân lực cần  
tuyển dụng.  
- Phương pháp tỷ suất nhân quả: Phương pháp này xác định nhu cầu  
nhân lực cần tuyển dựa vào khối lượng, quy mô sản xuất - kinh doanh và  
năng lực của một nhân viên với lưu ý rằng ta giả định năng suất lao động  
của một nhân viên là không thay đổi trong tương lai.  
1 Mai Thanh Lan (2014), Giáo trình tuyển dụng nhân lực, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.63-64.  
188  
5.2.1.2. Tuyển mộ nhân lực  
Tuyển mộ nhân lực là quá trình tìm kiếm và thu hút ứng viên nhằm  
có một lực lượng ứng viên phù hợp với yêu cầu tuyển dụng nộp đơn ứng  
tuyển để doanh nghiệp lựa chọn.  
Tuyển mộ nhân lực có hiệu quả, thu hút được lượng ứng viên phong  
phú, đa dạng cả về số lượng và chất lượng sẽ làm cơ sở để tuyển chọn  
được nhân lực phù hợp với vị trí cần tuyển. Đồng thời, tuyển mộ nhân  
lực tốt cũng tạo cơ sở thuận lợi để triển khai các hoạt động khác của quản  
trị nhân lực.  
Để thực hiện tuyển mộ nhân lực, có 2 công việc chính cần thực hiện:  
- Xác định nguồn tuyển mộ nhân lực  
Xác định nguồn tuyển mộ nhân lực là xác định các địa chỉ cung cấp  
ứng viên phù hợp đối với từng vị trí để xây dựng phương án tuyển mộ  
phù hợp. Có hai nguồn tuyển mộ cơ bản mà nhà tuyển dụng có thể cân  
nhắc sử dụng tùy thuộc trường hợp cụ thể, đó là nguồn bên trong doanh  
nghiệp và nguồn bên ngoài doanh nghiệp.  
Trong đó, nguồn bên trong doanh nghiệp được hiểu là những người  
lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, có nhu cầu và có khả năng đáp  
ứng vị trí doanh nghiệp cần tuyển. Còn nguồn bên ngoài doanh nghiệp là  
những người lao động hiện đang không làm việc tại doanh nghiệp,  
có nhu cầu và khả năng đáp ứng vị trí doanh nghiệp cần tuyển. Đối tượng  
này có thể là những người đã từng làm tại doanh nghiệp (nhân viên cũ)  
hoặc chưa từng làm tại doanh nghiệp (bao gồm cả những người đã có  
kinh nghiệm và chưa có kinh nghiệm). Nhu cầu được hiểu theo nghĩa  
rộng nhất của từ này, nghĩa là bao gồm cả nhu cầu hiện tại và nhu cầu  
tiềm năng trong tương lai (đặc biệt có những người lao động có khả năng  
đáp ứng yêu cầu của vị trí nhưng họ chưa có nhu cầu thì công việc của  
tuyển mộ là phải sử dụng các biện pháp tiếp cận làm nảy sinh nhu cầu ở  
họ để thu hút họ đến với vị trí cần tuyển, như trường hợp "head-hunt").  
- Tiếp cận nguồn và thu hút ứng viên  
Tiếp cận nguồn và thu hút ứng viên là việc sử dụng các phương pháp  
khác nhau nhằm tiếp cận được các địa chỉ cung cấp ứng viên và thu hút  
ứng viên nộp đơn ứng tuyển tại doanh nghiệp. Mỗi nguồn tuyển mộ khác  
189  
nhau, nhà tuyển dụng sẽ có cách thức tiếp cận nguồn khác nhau, có thể  
tiếp cận qua hệ thống các cơ sở đào tạo, qua sự giới thiệu của người  
quen, qua các công ty tuyển dụng, qua mạng tuyển dụng, qua xây dựng  
mạng lưới,…  
Bên cạnh đó, tại doanh nghiệp, khi thực hiện hoạt động tuyển mộ  
nhân lực cần lưu ý các vấn đề về bài toán thu hút (doanh nghiệp có sức  
hút càng lớn thì càng có nhiều cơ hội có được những ứng viên tiềm  
năng); về việc xây dựng thương hiệu trong tuyển dụng (giá trị doanh  
nghiệp, hệ thống quản lý, chính sách, phương thức sử dụng nhân lực,  
phương thức tạo động lực, khả năng thu hút và giữ chân người lao  
động…) và xây dựng chương trình quảng cáo tuyển dụng.  
Một trong các hình thức chuyển tải thông tin về nhu cầu tuyển dụng  
của doanh nghiệp đến thị trường lao động được thực hiện phổ biến nhất  
là thông báo tuyển dụng. Thông báo tuyển dụng nhằm thu hút được nhiều  
nhất các ứng viên từ các nguồn khác nhau giúp cho việc lựa chọn thuận  
lợi và đạt kết quả mong muốn. Một số trường hợp thông báo tuyển dụng  
còn có thêm mục tiêu là truyền thông về hình ảnh, thương hiệu của doanh  
nghiệp nhằm tạo ấn tượng tốt với cộng đồng. Thông báo tuyển dụng cần  
được tiến hành theo ba bước: xác định đích cần thông tin; thiết kế thông  
báo; triển khai thông báo thông tin tuyển dụng.  
5.2.1.3. Tuyển chọn nhân lực  
Tuyển chọn nhân lực được hiểu là quá trình đánh giá năng lực của  
các ứng viên nhằm lựa chọn ứng viên phù hợp với nhu cầu cần tuyển của  
doanh nghiệp.  
Để có thông tin phục vụ việc đánh giá ứng viên, các nhà tuyển dụng  
thường thông qua một số hoạt động như: thu nhận và xử lý hồ sơ, sơ  
tuyển, thi tuyển (trắc nghiệm kiến thức chuyên môn, trắc nghiệm IQ, trắc  
nghiệm EQ, thực hành tay nghề,...) phỏng vấn,…  
Tuyển chọn nhân lực gắn liền với việc lựa chọn ứng viên phù hợp nhất  
(đáp ứng tối ưu nhất) nhu cầu tuyển dụng đã xác định của doanh nghiệp.  
Để thực hiện tuyển chọn nhân lực, có một số công việc cần thực hiện:  
190  
- Thu nhận và xử lý hồ sơ  
Thu nhận hồ sơ là tiếp nhận hồ sơ ứng viên ứng tuyển vào doanh  
nghiệp đảm bảo tính khoa học, tiết kiệm chi phí và không thất lạc. Khi  
thực hiện thu nhận hồ sơ, nhà tuyển dụng cần thiết thực hiện một số công  
việc như: xây dựng kế hoạch tiếp nhận hồ sơ ứng viên, tổ chức tiếp nhận  
và đánh giá việc tiếp nhận hồ sơ.  
Sau tiếp nhận hồ sơ, doanh nghiệp cần tổ chức nghiên cứu và xử lý  
hồ sơ nhằm đánh giá sơ bộ năng lực ứng viên, đánh giá mức độ phù hợp  
nhằm lựa chọn ứng viên cho các bước kế tiếp trong quá trình tuyển dụng  
(thi tuyển và phỏng vấn).  
Việc thu nhận và xử lý hồ sơ được thực hiện tốt sẽ giúp doanh  
nghiệp có được định hướng tốt trong quá trình tuyển chọn sau này.  
- Thi tuyển  
Thi tuyển được tiến hành nhằm đánh giá sự phù hợp của kiến thức,  
kỹ năng, cũng như phẩm chất nghề nghiệp của từng ứng viên với vị trí  
cần tuyển. Một số trường hợp thi tuyển là cơ sở để nhà tuyển dụng loại  
hồ sơ, một số trường hợp khác thi tuyển được sử dụng để thu thập thông  
tin phục vụ cho giai đoạn đánh giá ứng viên sau phỏng vấn.  
Căn cứ vào vị trí tuyển dụng, mục tiêu thi tuyển, số ứng viên tham  
gia thi tuyển, ngân sách tuyển dụng và quan điểm, năng lực của nhà quản  
trị, năng lực của đội ngũ nhân lực trong doanh nghiệp… nhà tuyển dụng  
có thể lựa chọn các dạng bài thi tuyển như: tự luận, trắc nghiệm (kiến  
thức chuyên môn, hiểu biết xã hội, IQ, EQ, ngoại ngữ,…) và thi tay nghề  
(thực hành).  
- Phỏng vấn tuyển dụng  
Mục đích chính của phỏng vấn tuyển dụng là để đánh giá năng lực  
và động cơ làm việc của ứng viên thông qua việc tiếp xúc với ứng viên.  
Để phỏng vấn tuyển dụng thành công, nhà tuyển dụng cần lựa chọn hình  
thức, phương pháp phỏng vấn phù hợp và phỏng vấn viên cần phải được  
trang bị những kỹ năng phỏng vấn nhất định: kỹ năng đặt câu hỏi phỏng  
vấn, kỹ năng nhập vai phỏng vấn, kỹ năng đánh giá phỏng vấn.  
Trước phỏng vấn tuyển dụng, nhà tuyển dụng cần thực hiện một số  
công việc như: nghiên cứu lại hồ sơ ứng viên, xây dựng kế hoạch phỏng  
191  
vấn tuyển dụng, chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn, xây dựng phiếu đánh giá  
ứng viên, xác định hội đồng phỏng vấn và phân vai trong hội đồng  
phỏng vấn.  
Trong phỏng vấn tuyển dụng, tùy thuộc phương pháp phỏng vấn, các  
thành viên của hội đồng tuyển dụng có thể sử dụng các kịch bản khác  
nhau. Tuy nhiên, quá trình phỏng vấn thường bao gồm 5 giai đoạn: thiết  
lập quan hệ và thông tin ban đầu, khai thác và nắm bắt thông tin, mô tả vị  
trí cần tuyển, giới thiệu công ty và kết thúc phỏng vấn.  
Sau phỏng vấn tuyển dụng, công việc chủ yếu nhà tuyển dụng cần  
làm là đánh giá ứng viên dựa trên kết quả phỏng vấn và thông báo kết  
quả phỏng vấn với ứng viên theo lịch đã hẹn.  
- Quyết định tuyển dụng  
Sau phỏng vấn tuyển dụng, để có cơ sở ra quyết định tuyển dụng  
nhân lực, các nhà tuyển dụng cần thiết thực hiện đánh giá ứng viên. Đánh  
giá ứng viên nhằm tổng hợp kết quả nhìn nhận về từng ứng viên tham gia  
quá trình tuyển dụng tại doanh nghiệp. Với mục đích này, các ứng viên  
còn lại ở vòng phỏng vấn cuối cùng cần được tổng hợp kết quả đánh giá  
đã có khi sử dụng các phương pháp tuyển chọn khác nhau. Các nhà tuyển  
dụng có thể sử dụng phương pháp thang điểm có trọng số, phương pháp  
đơn giản (dựa vào linh cảm, trực giác, kinh nghiệm) hoặc kết hợp hai  
phương pháp trên để đánh giá ứng viên và chú ý tránh các sai lầm khi  
đánh giá ứng viên.  
Sau khi có kết quả đánh giá ứng viên, doanh nghiệp ra quyết định  
tuyển dụng. Ra quyết định tuyển dụng là việc lựa chọn ứng viên bước  
vào giai đoạn hội nhập và ứng viên dự phòng. Các ứng viên được quyết  
định tuyển dụng sẽ được mời kí hợp đồng với doanh nghiệp để có thể bắt  
đầu chương trình hội nhập nhân lực mới.  
5.2.1.4. Hội nhập nhân lực mới  
Hội nhập nhân lực mới là việc giới thiệu cho người mới được tuyển  
những kiến thức quan trọng nhất về doanh nghiệp, môi trường làm việc  
và công việc giúp người lao động nhanh chóng nắm bắt được phương  
thức tiến hành công việc đạt được yêu cầu của doanh nghiệp. Để đảm  
bảo hội nhập nhân lực mới thành công, nhà tuyển dụng cần xây dựng  
192  
chương trình hội nhập với đầy đủ các nội dung về: đối tượng hội nhập,  
người chịu trách nhiệm hội nhập, thời gian, địa điểm, nội dung, hình  
thức, phương pháp và ngân sách hội nhập.  
Bên cạnh đó, có thể kể đến cách hội nhập nhân lực mới bằng cách  
"Làm mềm nhân lực mới"1. Phương pháp này được thực hiện bằng cách  
giao cho nhân lực mới được tuyển một khối lượng công việc "khổng lồ"  
đến mức mà chắc chắn người mới được tuyển không thể làm hết. Phương  
pháp này nhằm cung cấp một thước đo để đo chính xác năng lực của  
nhân lực mới được tuyển để có cơ sở xây dựng kế hoạch sử dụng nhân  
lực lâu dài. Đồng thời tạo cơ hội cho nhân lực mới thử sức và bộc lộ tất  
cả các khả năng của mình trên cơ sở có sự dìu dắt, giúp đỡ, quản lý của  
những người đi trước trong cả công việc và trong đời sống tập thể. Trong  
bối cảnh đó, họ thực hiện công việc được đến đâu chứng tỏ năng lực của  
họ đến đó. Từ đó, giúp người quản lý đánh giá được khả năng thích nghi,  
hướng phát triển của nhân viên mới từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng  
và phát triển nhân viên nhằm phát huy tối đa được năng lực sáng tạo và  
tiềm năng của người lao động.  
5.2.1.5. Đánh giá tuyển dụng nhân lực  
Đánh giá tuyển dụng nhân lực được hiểu là quá trình thu thập và xử  
lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả tuyển dụng theo các mục  
tiêu tuyển dụng nhân lực đã đề ra của doanh nghiệp, từ đó có các hành  
động điều chỉnh thích hợp.  
Đánh giá tuyển dụng nhân lực thường gồm ba giai đoạn chính: đầu  
tiên là xác định các chỉ tiêu đánh giá tuyển dụng tức là xác định các mục  
tiêu cần đạt và mức độ cần đạt, thứ hai là đo lường kết quả tuyển dụng để  
từ đó so sánh kết quả đo lường được với các chỉ tiêu đã xác định, phát  
hiện các sai lệch và cuối cùng là thực hiện các hoạt động điều chỉnh để  
đảm bảo cho kết quả đạt được như mục tiêu tuyển dụng đã xác định hoặc  
rút kinh nghiệm cho các lần tuyển dụng kế tiếp.  
Đánh giá tuyển dụng nhân lực là cần thiết và hữu ích bởi chính nhờ  
đánh giá tuyển dụng mà doanh nghiệp xác định tính hiệu quả của tuyển  
1
Mai Thanh Lan (2014), Giáo trình Tuyển dụng nhân lực, NXB Thống kê, Hà Nội,  
tr.196-197.  
193  
dụng nhân lực, mức độ đóng góp của tuyển dụng nhân lực đối với việc  
đạt được các mục tiêu chung của doanh nghiệp.  
5.2.2. Tổ chức hoạt động bố trí và sử dụng nhân lực  
Bố trí và sử dụng nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là quá trình  
bố trí, sắp đặt nhân lực vào các vị trí và khai thác tối đa năng lực làm  
việc của nhân lực nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược và mục tiêu của  
doanh nghiệp.  
Quy trình bố trí và sử dụng nhân lực của doanh nghiệp được thể hiện  
ở hình 5.2.  
Xác định mục tiêu bố trí  
và sử dụng nhân lực  
Tiến hành các hoạt động bố trí  
và sử dụng nhân lực  
Kiểm soát nhân lực sau bố trí  
và sử dụng  
Hình 5.2: Quy trình bố trí và sử dụng nhân lực  
của tổ chức/doanh nghiệp  
Nội dung cụ thể của các bước trong quy trình bố trí và sử dụng nhân  
lực được mô tả như sau:  
5.2.2.1. Xác định mục tiêu bố trí và sử dụng nhân lực  
Mục tiêu chung nhất của bố trí và sử dụng nhân lực là tạo lập sức  
mạnh thống nhất cho tổ chức/doanh nghiệp và các nhóm làm việc, phát  
huy được sở trường của mỗi cá nhân trong quá trình làm việc, từ đó thúc  
đẩy nâng cao hiệu suất làm việc để hoàn thành mục tiêu chung của doanh  
nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu chung này, bố trí và sử dụng nhân  
lực hướng tới ba mục tiêu cụ thể: đủ số lượng, chất lượng nhân lực; đúng  
người, đúng việc; đúng thời hạn, mềm dẻo và linh hoạt1.  
1
Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Thống kê,  
Hà Nội, tr.56.  
194  
- Thứ nhất, bố trí và sử dụng nhân lực đảm bảo đủ số lượng,  
chất lượng nhân lực, đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp.  
Trong một thời kỳ nhất định, tổ chức/doanh nghiệp luôn có nhu cầu  
về nhân lực (bao gồm cả số lượng, chất lượng, cơ cấu, thời gian) để đảm  
bảo thực thi chiến lược và kế hoạch kinh doanh đã xác định. Khi đó, mục  
tiêu của bố trí và sử dụng là phải đảm bảo đủ số lượng, chất lượng nhân  
lực cho yêu cầu theo từng giai đoạn cụ thể.  
Thực tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các tổ chức/doanh nghiệp trong  
thu hút nhân lực ngày càng gia tăng, bài toán đảm bảo đủ số lượng, chất  
lượng nhân lực trở thành cơ bản nhất và cũng là bài toán khó khăn đòi  
hỏi doanh nghiệp phải làm tốt khi thực hiện công tác quản trị nhân lực.  
- Thứ hai, bố trí và sử dụng nhân lực đảm bảo đúng người và  
đúng việc.  
Trong đó, đúng người và đúng việc được hiểu là phải đảm bảo sử  
dụng nhân lực đúng với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi cá  
nhân, đáp ứng đúng yêu cầu đặt ra của công việc theo phân tích công  
việc nhằm làm gia tăng năng suất lao động và động lực của nhân viên khi  
làm việc. Bố trí và sử dụng nhân lực đảm bảo đúng người và đúng việc  
sẽ hướng vào nâng cao hiệu suất công việc. Việc nâng cao hiệu suất công  
việc của mỗi cá nhân sẽ giúp tăng hiệu suất chung của nhóm, của tập thể  
lao động. Do vậy, bố trí và sử dụng nhân lực đạt mục tiêu này sẽ giúp  
nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực chung của cả tổ chức/doanh nghiệp.  
- Thứ ba, bố trí và sử dụng nhân lực đảm bảo đúng thời hạn, đảm  
bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong sử dụng nhân lực.  
Bố trí và sử dụng nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp phải đảm bảo  
nhân lực có mặt tại vị trí công việc được bố trí đúng thời hạn cần có.  
Điều này đảm bảo hiệu suất cho quá trình sử dụng, đồng thời đảm bảo  
tạo thuận lợi cho các hoạt động khác của quản trị nhân lực (đào tạo và  
phát triển,...).  
Bố trí và sử dụng nhân lực đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt cũng  
có nghĩa phải đảm bảo tính "động" và "mở". Việc bố trí và sử dụng phải  
195  
đảm bảo tránh các đột biến về nhân lực trong quá trình kinh doanh do tác  
động đến từ hưu trí, bỏ việc, thuyên chuyển công tác... Hoặc trong nhiều  
trường hợp cần đa dạng hoá các loại hình hợp đồng lao động nhằm tiết  
kiệm chi phí nhân công đối với các doanh nghiệp mà hoạt động mang  
tính thời vụ.  
5.2.2.2. Tiến hành bố trí và sử dụng nhân lực  
Tiến hành bố trí và sử dụng nhân lực đồng nghĩa với việc triển khai  
sắp đặt nhân lực vào các vị trí và sử dụng họ thông qua hoạt động giao  
việc cụ thể nhằm đưa nhân lực vào các hoạt động thực tiễn.  
Tiến hành bố trí và sử dụng nhân lực phải được dựa trên cơ sở của  
việc dự báo nhu cầu nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp trong những năm  
tiếp theo, so sánh nhu cầu đó với hiện trạng của đội ngũ nhân lực hiện có  
nhằm phân tích chênh lệch (phân tích GAP). Chênh lệch này có thể là  
trạng thái dư thừa, thiếu hụt hoặc cân bằng về nhân lực (chi tiết đã được  
phân tích ở chương 2 giáo trình này).  
Việc tiến hành bố trí và sử dụng nhân lực được thực hiện theo 3  
nhóm hoạt động: trong dài hạn, trong trung hạn và trong ngắn hạn1.  
- Bố trí và sử dụng nhân lực trong dài hạn  
Bố trí và sử dụng nhân lực trong dài hạn hướng tới đáp ứng những  
nhu cầu của tổ chức/doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu tổng thể của  
chiến lược phát triển chung của tổ chức/doanh nghiệp đó. Đồng thời chú  
ý tạo ra sự hài hòa giữa sự vận động phát triển của nhân viên với hoạt  
động bố trí và sử dụng nhân lực của doanh nghiệp.  
Bố trí và sử dụng nhân lực trong dài hạn là cơ sở định hướng cho các  
hoạt động bố trí và sử dụng nhân lực trung hạn và ngắn hạn. Đây là hoạt  
động gắn với định biên, quy hoạch, bố trí và sử dụng nhân lực phù hợp  
theo khung chiến lược phát triển tổng thể trên nền tảng tạo lập môi  
trường làm việc và văn hóa học tập của tổ chức/doanh nghiệp đó.  
1
Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Thống kê,  
Hà Nội, tr.73.  
196  
- Bố trí và sử dụng nhân lực trong trung hạn:  
Trong trung hạn, hoạt động bố trí và sử dụng nhân lực hướng tới giải  
quyết các nhu cầu về nhân lực trong thời gian 1 - 3 năm của tổ chức/  
doanh nghiệp. Về cơ bản hoạt động bố trí và sử dụng nhân lực lúc này  
phải bám sát các thông tin về tình hình nhân lực hiện tại và hướng phát  
triển của tổ chức/doanh nghiệp trong dài hạn, từ đó hướng tới theo lộ  
trình của bố trí và sử dụng nhân lực trong dài hạn.  
Sự thiếu hụt hoặc dư thừa của nhu cầu nhân lực của tổ chức/doanh  
nghiệp trong trung hạn có thể được giải quyết thông qua một số hoạt  
động của bố trí và sử dụng nhân lực như:  
+ Tăng cường sử dụng điều chuyển nội bộ.  
+ Sửa đổi lộ trình công danh và phát triển nhân lực (kéo dài hoặc  
rút ngắn).  
+ Giải quyết nghỉ hưu sớm/Kéo dài thời gian công tác (chú ý đảm  
bảo đúng quy định của pháp luật).  
+ Tăng/giảm sử dụng nguồn nội bộ với một số vị trí, nhất là với  
người lao động có học vấn thấp.  
+ …  
- Bố trí và sử dụng nhân lực trong ngắn hạn:  
Trong ngắn hạn, bố trí và sử dụng nhân lực hướng tới việc đảm bảo  
thích ứng giữa nhu cầu của tổ chức/doanh nghiệp và người lao động. Nhu  
cầu phát sinh có thể do tính thời vụ của hoạt động kinh doanh (cao điểm  
của sản xuất,...), do ảnh hưởng của biến động từ điều kiện kinh tế vĩ mô  
(ví dụ khủng hoảng tài chính,...), do biến động về nhân lực trong ngắn  
hạn của doanh nghiệp (người lao động nghỉ chế độ,...), do đột biến của  
hoạt động kinh doanh (hoạt động không thường xuyên, giảm sản lượng...).  
Sự thiếu hụt hoặc dư thừa của nhu cầu nhân lực của tổ chức/doanh  
nghiệp trong ngắn hạn có thể được giải quyết thông qua một số hoạt  
động của bố trí và sử dụng nhân lực như:  
+ Trong trường hợp thiếu hụt lao động: Yêu cầu người lao động làm  
thêm giờ (tăng ca), trường hợp này cần chú ý đảm bảo quyền lợi cho  
197  
người lao động (nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tái sản xuất sức lao động và  
phù hợp với quy định của pháp luật); sử dụng lao động thời vụ; thuê gia  
công; ký hợp đồng phụ, kiêm nhiệm (chú ý áp dụng chế độ phụ cấp  
kiêm nhiệm...).  
+ Trong trường hợp dư thừa lao động: dừng lao động làm thêm giờ;  
dừng lao động thời vụ; cho lao động nghỉ việc tạm thời; giảm thời gian  
làm việc; cử cán bộ đi đào tạo, nghỉ phép; nhận gia công; nhận ký các  
hợp đồng phụ,…  
Bên cạnh việc tiến hành bố trí và sử dụng nhân lực trong dài hạn,  
trung hạn và ngắn hạn như đã trình bày, xu hướng của quản trị nhân lực  
hiện đại hiện nay là bố trí và sử dụng theo nhóm. Lợi ích của việc bố trí  
và sử dụng theo nhóm là hướng tới việc phát huy tinh thần đồng đội, phát  
huy sức mạnh tập thể, tạo sự hỗ trợ bổ khuyết lẫn nhau về năng lực để  
tạo nên nhóm làm việc hiệu quả, tạo "sự cộng hưởng".  
5.2.2.3. Kiểm soát nhân lực sau bố trí và sử dụng  
Sau khi bố trí và sử dụng nhân lực, tổ chức/doanh nghiệp cần kịp  
thời nắm bắt tình hình thực hiện công việc của nhân lực. Việc kiểm soát  
nhân lực sau bố trí và sử dụng có mối liên hệ mật thiết với hoạt động  
đánh giá thực hiện công việc (sẽ được nghiên cứu chi tiết ở mục 5.2.4).  
Kiểm soát nhân lực sau bố trí và sử dụng cần đảm bảo nắm được  
một số thông tin cơ bản liên quan đến:  
- Mức độ hoàn thành công việc của nhân lực được bố trí và sử dụng.  
- Năng lực của từng cá nhân người lao động sau bố trí và sử dụng.  
- Tâm tư, nguyện vọng của người lao động sau bố trí và sử dụng.  
- Mức độ phù hợp của nhân lực được bố trí và sử dụng với công  
việc, môi trường làm việc.  
Để nắm được các thông tin nêu trên, khi kiểm soát nhân lực sau bố  
trí và sử dụng cần đảm bảo thu thập thông tin từ một số đối tượng như:  
- Nhân lực được bố trí và sử dụng.  
- Quản lý trực tiếp của nhân lực được bố trí và sử dụng.  
198  
- Đồng nghiệp (bao gồm cả cùng bộ phận và khác bộ phận có quan  
hệ phối hợp trong công việc) của nhân lực được bố trí và sử dụng.  
-…  
Phương pháp để tiến hành thu thập thông tin có thể sử dụng kết hợp  
với các phương pháp trong đánh giá thực hiện công việc (phương pháp  
thang điểm, phương pháp nhật ký công việc, phương pháp phỏng vấn,  
phương pháp đánh giá chéo,…)  
Sau khi nắm bắt được thông tin liên quan đến nhân lực sau bố trí và  
sử dụng, tùy thuộc trường hợp cụ thể các nhà quản trị có thể thực hiện  
một số biện pháp sau nhằm hướng tới nâng cao hiệu quả của bố trí và sử  
dụng nhân lực:  
- Luân chuyển nhân lực sang vị trí công tác khác.  
- Thực hiện các hoạt động quản trị nhân lực khác để hỗ trợ cho bố trí  
và sử dụng nhân lực: đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá thực hiện  
công việc, đãi ngộ nhân lực,…  
- Sa thải nhân lực.  
- Rút bài học kinh nghiệm cho các lần bố trí và sử dụng nhân lực  
kế tiếp.  
- …  
5.2.3. Tổ chức hoạt động đào tạo và phát triển nhân lực  
Đào tạo và phát triển nhân lực được hiểu là quá trình cung cấp kiến  
thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho  
người lao động để họ có thể thực hiện tốt công việc hiện tại và tương lai1.  
Trong đó, đào tạo nhân lực chú trọng đến công việc hiện tại, phát  
triển nhân lực chú trọng đến công việc tương lai.  
Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực của doanh nghiệp có thể  
được thể hiện ở hình 5.32.  
1
Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Thống kê,  
Hà Nội, tr.82.  
2
Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Thống kê,  
Hà Nội, tr.102.  
199  
Xác định nhu cầu đào tạo  
và phát triển nhân lực  
Xây dựng kế hoạch đào tạo  
và phát triển nhân lực  
Triển khai thực hiện đào tạo  
và phát triển nhân lực  
Đánh giá kết quả đào tạo  
và phát triển nhân lực  
Hình 5.3: Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực  
của tổ chức/doanh nghiệp  
Nội dung cụ thể của các bước trong quy trình đào tạo và phát triển  
nhân lực được mô tả như sau:  
5.2.3.1. Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực  
Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực là giai đoạn đầu tiên  
trong quy trình đào tạo và phát triển nhân lực của doanh nghiệp. Giai  
đoạn này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi:  
- Trong thời gian tới đối tượng nào cần đào tạo và phát triển?  
- Lý do cần đào tạo và phát triển?  
- Các kiến thức, kỹ năng, thái độ phẩm chất nghề cần bổ sung đối  
với các đối tượng đó?  
- …  
Đào tạo và phát triển nhân lực vẫn được coi là hoạt động đầu tư lâu  
dài và hiệu quả nhất của tổ chức/doanh nghiệp, do vậy nếu ở giai đoạn  
đầu tiên này nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực được xác định không  
chính xác, không khách quan và đầy đủ thì sẽ gây ra nhiều lãng phí trong  
việc sử dụng các nguồn lực, làm giảm chất lượng công tác quản trị nhân  
lực trong tổ chức, doanh nghiệp.  
Theo tác giả Raymond A. Noe xác định nhu cầu đào tạo là quá trình  
thu thập và phân tích thông tin về mục tiêu của doanh nghiệp, người lao  
200  
động và mục tiêu của họ nhằm làm rõ đối tượng, nội dung và phương  
pháp đào tạo nhằm cải thiện khả năng thực hiện công việc.  
Qua hình 5.4. có thể thấy để xác định chính xác, khách quan nhu cầu  
đào tạo và phát triển nhân lực cần tiến hành các hoạt động:  
- Phân tích tổ chức/doanh nghiệp: bản chất là phân tích nhu cầu của  
tổ chức/doanh nghiệp nói chung đối với hoạt động đào tạo và phát triển  
nhân lực của tổ chức đó. Kết quả của phân tích tổ chức/doanh nghiệp sẽ  
đặt ra yêu cầu đối với hoạt động đào tạo và phát triển nhân lực của tổ  
chức/doanh nghiệp. Một số nội dung mà phân tích tổ chức doanh nghiệp  
tập trung để phân tích bao gồm:  
+ Môi trường kinh doanh.  
+ Chiến lược kinh doanh.  
+ Công nghệ và đổi mới công nghệ.  
+ Văn hóa tổ chức/doanh nghiệp.  
+ Thực trạng nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp.  
+ Tình hình chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận của tổ chức/doanh nghiệp.  
+ Khả năng tài chính của tổ chức/doanh nghiệp.  
Lý do  
Kết cục  
Họ cần đào  
tạo điều gì?  
Bối cảnh  
- Người học học được gì?  
- Ai là người cần được  
học?  
- Loại hình đào tạo  
- Tần số đào tạo  
- Thuê hay tự làm  
- Đào tạo hay thực hiện  
thông qua các hình thức  
khác như tuyển dụng  
mới hoặc thiết kế lại  
công việc  
- Luật pháp  
Phân tích  
tổ chức  
- Thiếu các kỹ năng cơ bản  
- Thực hiện nhiệm vụ tồi  
- Công nghệ mới  
- Đòi hỏi của khách hàng  
- Sản phẩm mới  
- Tiêu chuẩn thực hiện  
cao hơn  
- Công việc mới  
Phân tích  
nhiệm vụ  
Phân tích  
con người  
Ai là người cần  
được đào tạo  
- Hỗ trợ chiến lược  
kinh doanh  
Hình 5.4: Mô hình xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực1  
1 Raymond A. Noe (2012), Employee Training and Development, McGraw-Hill Education;  
6th edition.  
201  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang Thùy Anh 36482 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_tri_nhan_luc_can_ban_phan_2.pdf