Thế chấp tài sản trí tuệ - Những khía cạnh pháp lý và thực tiễn thi hành

DOI: 10.31276/VJST.63(10).41-45  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Thế chấp tài sản trí tuệ -  
Những khía cạnh pháp lý và thực tiễn thi hành  
Hoàng Lan Phương*  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Ngày nhận bài 27/8/2021; ngày chuyển phản biện 1/9/2021; ngày nhận phản biện 4/10/2021; ngày chấp nhận đăng 11/10/2021  
Tóm tắt:  
Việc sử dụng tài sản trí tuệ (TSTT) như một tài sản đảm bảo cho quá trình thế chấp đã được phát triển rộng khꢀp  
trên thế giới, nhưng tại Việt Nam đây là một vấn đề còn tương đối mới. Pháp luật hiện hành cũng đã có những quy  
định về việc chấp nhận tài sản đảm bảo khi vay vốn là TSTT. Đây được coi là một cơ hội mở cho các cá nhân, tổ  
chức, doanh nghiệp hiện thực hoá việc vay vốn kinh doanh bằng TSTT. Tuy nhiên, để có thể vay vốn bằng việc thế  
chấp TSTT tại các ngân hàng ở Việt Nam là điều không dễ dàng. Những khó khăn có thể xuất phát từ việc chưa có  
những hướng dẫn chi tiết, từ phía pháp luật hoặc từ chính bản chất “vô hình” của TSTT, dẫn tới khó khăn trong  
định giá TSTT khi thế chấp, xử lý TSTT sau khi bên thế chấp không có khả năng thực hiện nghĩa vụ... Bài viết phân  
tích những khía cạnh pháp lý, từ đó chỉ ra những khó khăn trong thực hiện các giao dịch thế chấp TSTT tại Việt  
Nam hiện nay.  
Từ khóa: tài sản đảm bảo, tài sản trí tuệ, thế chấp, thế chấp tài sản trí tuệ.  
Chỉ số phân loại: 5.5  
Đặt vấn đề  
Intellectual property mortgage -  
Thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu  
của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế  
chấp mà không cần chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.  
Như vậy, thế chấp là cách thức để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa  
Legal aspects and practice  
Lan Phuong Hoang*  
vụ thông qua một tài sản và giá trị của tài sản có thể lớn hơn, bằng  
University of Social Sciences and Humanities,  
hoặc nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được đảm bảo. Là một biện pháp  
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phổ biến hiện nay, thế chấp tài sản  
có các đặc trưng sau:  
Vietnam National University, Hanoi  
Received 27 August 2021; accepted 11 October 2021  
Abstract:  
Thứ nhất, tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa  
thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.  
Using intellectual property as collateral for loans is  
widely accepted around the world, but this is new in  
Vietnam despite the allowance of contemporary legal  
regulations. This is an opportunity for individuals and  
enterprises in Vietnam. However, in practice, accessing  
loans by mortgaging intellectual property at banks  
in Vietnam is challenging. The difficulties may come  
from the lack of detailed regulations, the challenge of  
valuating “intangible” intellectual property, or potential  
conflict resolutions. This paper examines the issue from a  
legal perspective and shows difficulties when mortgaging  
intellectual property in Vietnam.  
Thứ hai, trong thời gian thế chấp tài sản, bên thế chấp vẫn có  
quyền sử dụng tài sản. Bên thế chấp không được thực hiện quyền  
định đoạt đối với các tài sản thế chấp như bán, thay thế, trao đổi, tặng  
cho trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc được bên  
nhận thế chấp đồng ý.  
Thứ ba, tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành trong tương  
lai.  
Để trở thành một tài sản đảm bảo nghĩa vụ dân sự thì tài sản được  
thế chấp phải: (1) Thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp; (2) Là tài  
sản có thể chuyển giao được; (3) Không bị tranh chấp; (4) Không bị  
kê biên tài sản. Tài sản thế chấp có thể là vật, quyền tài sản, giấy tờ  
có giá trị, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Việc  
bên nhận thế chấp có giữ giấy tờ gốc chứng nhận quyền sở hữu của  
bên thế chấp và các giấy tờ khác liên quan đến tài sản thế chấp hay  
không sẽ do thoả thuận của hai bên và pháp luật cũng không bắt buộc  
bên nhận thế chấp phải giữ các giấy tờ này [1]. Tuy nhiên, để phát sinh  
Keywords: collateral, intellectual property, mortgage,  
mortgage intellectual property.  
Classification number: 5.5  
*Email: hoanglanphu[email protected]  
41  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì việc thế chấp tài sản cần phải  
được đăng ký [2].  
giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu; 2) Tài sản bảo đảm có thể được mô  
tả chung, nhưng phải xác định được; 3) Tài sản bảo đảm có thể là tài  
sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai; 4) Giá trị của tài  
sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được  
bảo đảm.  
Theo quy định tại Điều 115 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015,  
các TSTT được xếp vào “quyền tài sản”, do vậy TSTT cũng có thể trở  
thành một đối tượng để thế chấp, nên việc thế chấp TSTT cũng mang  
đầy đủ các đặc điểm chung của thế chấp tài sản nói chung. Trong bài  
viết này, thuật ngữ “TSTT” được hiểu là các đối tượng của quyền sở  
hữu trí tuệ (SHTT) theo quy định của Luật SHTT 2005 (sửa đổi bổ  
sung năm 2009 và 2019), bao gồm các đối tượng của quyền tác giả và  
quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây  
trồng. Đối với các TSTT không nhất thiết phải đăng ký quyền sở hữu  
theo quy định của pháp luật như quyền tác giả và quyền liên quan đến  
quyền tác giả do được bảo hộ theo nguyên tắc bảo hộ tự động thì khi  
thực hiện các giao dịch thế chấp, chủ sở hữu phải có các giấy tờ chứng  
minh quyền sở hữu hợp pháp các TSTT này. Còn đối với những TSTT  
phải đăng ký bảo hộ mới trở thành chủ sở hữu hợp pháp như sáng chế,  
nhãn hiệu... thì văn bằng bảo hộ các đối tượng của quyền SHTT chính  
là tài liệu để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp TSTT khi thế chấp.  
Ngoài ra, Điều 318 về tài sản thế chấp trong BLDS 2015 cũng  
chỉ quy định tài sản thế chấp là động sản, bất động sản và đã lược bỏ  
quy định về “quyền tài sản” dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân  
sự (trong đó có thế chấp) để phù hợp với quy định tại Điều 105 về tài  
sản: “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Như vậy,  
theo quy định tại Điều 105, việc dùng thuật ngữ chung là “tài sản”  
đã bao gồm nội hàm “quyền tài sản”, việc tách ra quy định một điều  
riêng về quyền tài sản làm tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự  
là không cần thiết.  
Rõ ràng, trong BLDS 2015 hiện nay không có quy định riêng về  
việc dùng quyền tài sản nói chung và TSTT nói riêng là tài sản thế  
chấp. Việc sử dụng TSTT làm tài sản thế chấp sẽ tuân thủ theo các  
nguyên tắc chung, được quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ từ  
Điều 292 đến Điều 308 và toàn bộ quy định về thế chấp tài sản từ Điều  
317 đến Điều 327 của BLDS 2015. Điều này theo góc nhìn từ phía  
pháp luật dân sự là hợp lý, bởi theo đúng quy định thì TSTT là một  
loại quyền tài sản và là một loại tài sản. Do các giao dịch dân sự luôn  
mang tính chất tự do ý chí, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nên  
việc quy định các nguyên tắc chung là một điều cần thiết. Tuy nhiên,  
đứng từ góc độ pháp luật chuyên ngành về SHTT thì điều này lại thực  
sự chưa phù hợp, bởi TSTT là một tài sản vô hình và mang nhiều đặc  
trưng riêng. Do là một loại tài sản đặc biệt nên việc đưa các nguyên  
tắc chung của BLDS trong thế chấp TSTT là chưa thực sự hợp lý và  
không thể dự báo trước được các hậu quả pháp lý khi thế chấp loại tài  
sản này để điều chỉnh. Do đó, đến Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày  
19/3/2021 của Chính phủ Quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ đã đề cập đến quyền tài sản phát sinh từ quyền SHTT  
và các quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ quyền SHTT là  
một loại tài sản được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ [3]. Tuy  
nhiên, Nghị định này cũng không có các quy định cụ thể về thế chấp  
TSTT mà chỉ đề cập tới thế chấp tài sản nói chung. Tương tự, các quy  
định của pháp luật chuyên ngành về SHTT như Luật SHTT và các  
Nghị định hướng dẫn thi hành cũng chưa có quy định chi tiết, cụ thể  
về thế chấp TSTT.  
Thế chấp TSTT ngày càng trở nên có ý nghĩa đối với các doanh  
nghiệp trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay, đặc biệt là đối với các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp. Do  
có ít tài sản cố định có giá trị nên các doanh nghiệp này rất khó để  
tiếp cận nguồn vốn vay truyền thống từ phía các ngân hàng và thường  
phải chấp nhận vay với giá cao, nên nếu TSTT được sử dụng làm tài  
sản đảm bảo cho các khoản vay tại ngân hàng sẽ là một giải pháp tìm  
vốn thay thế. Do vậy, việc có các quy định về thế chấp TSTT sẽ tạo ra  
hành lang pháp lý thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch thế chấp  
TSTT. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc thế chấp TSTT còn có những  
khó khăn. Dưới đây phân tích những quy định pháp lý của Việt Nam  
và so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới về thế chấp  
TSTT, từ đó chỉ ra những khó khăn trong thế chấp TSTT ở Việt Nam  
hiện nay.  
Thế chấp TSTT theo quy định của pháp luật Việt Nam  
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về  
thế chấp TSTT  
Các quy định pháp lý của Việt Nam về việc thế chấp TSTT bắt  
đầu được quy định từ khi ra đời BLDS năm 1995. Điều 328 của BLDS  
1995 quy định về việc dùng “quyền tài sản” làm tài sản trong giao  
dịch đảm bảo đồng thời quy định quyền tài sản bao gồm quyền SHTT.  
Năm 2005, khi BLDS mới ra đời thay thế cho BLDS 1995 đã có bước  
phát triển hơn khi quy định một cách cụ thể về “quyền tài sản” được  
dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có thế chấp tại  
Điều 322 của BLDS 2005 như sau: “Các quyền tài sản thuộc sở hữu  
của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả,  
quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi  
nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài  
sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh  
từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm  
đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.  
Bên cạnh đó, TSTT có thể trở thành tài sản bảo đảm cũng được  
ghi nhận tại Điều 11 của Nghị định 76/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018  
của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều  
của Luật Chuyển giao công nghệ. Theo đó, các đối tượng được dùng  
làm tài sản bảo đảm cho giao dịch vay vốn để thực hiện các dự án  
khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển sản xuất,  
kinh doanh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là:  
quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng SHTT theo quy định của pháp  
luật SHTT có thể xác định được giá trị quyền tài sản và các quyền  
khác phát sinh từ đối tượng SHTT theo quy định của pháp luật có thể  
xác định được giá trị quyền tài sản. Điều kiện, thủ tục sử dụng quyền  
tài sản này làm tài sản bảo đảm cho các giao dịch vay vốn đầu tư được  
thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và quy  
định quản lý, quy chế hoạt động của tổ chức cho vay vốn.  
Tuy nhiên, đến BLDS 2015 lại bỏ quy định này về việc thừa nhận  
“quyền tài sản” là một đối tượng có thể thế chấp (trong đó có các  
TSTT được liệt kê tại Điều 322 của BLDS 2005) và chỉ nêu một quy  
định chung về tài sản đảm bảo tại Điều 295 như sau: 1) Tài sản bảo  
đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm  
Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam hiện nay đã có  
những quy định về việc thế chấp TSTT trong BLDS 2015, Nghị định  
63(10) 10.2021  
42  
Khoa học xã hội và nhân văn  
21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ Quy định thi hành  
BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Nghị định 76/2018/NĐ-CP.  
Tuy nhiên, các quy định còn đang dừng lại ở việc hướng dẫn chung  
cho việc thế chấp tài sản. Còn pháp luật chuyên ngành về SHTT lại  
chưa có các hướng dẫn chi tiết về việc thế chấp TSTT.  
không thực hiện nghĩa vụ dân sự.  
Các loại TSTT là đối tưꢀng đưꢀc thế chấp kèm theo điều kiện  
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra được quy định các loại  
TSTT có thể là đối tượng được thế chấp nhưng phải kèm theo những  
điều kiện nhất định do xuất phát từ chính đặc điểm của các loại TSTT  
này, đó là: bí mật kinh doanh (BMKD) và tên thương mại.  
Các loại TSTT không thể là đối tưꢀng đưꢀc thế chấp  
Xuất phát từ bản chất của biện pháp thế chấp nhằm đảm bảo thực  
hiện cho nghĩa vụ của bên thế chấp hoặc của một bên thứ ba đối với  
bên nhận thế chấp; khi có căn cứ xử lý thế chấp, BLDS cho phép bên  
nhận thế chấp được xử lý tài sản thế chấp thông qua các phương thức  
chính là bán tài sản thế chấp để thanh toán cho nghĩa vụ được bảo  
đảm (bán đấu giá hoặc tự bán tài sản); nhận chính tài sản thế chấp để  
thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc các phương  
thức khác nếu các bên thoả thuận. Để có thể áp dụng các phương thức  
xử lý này, TSTT là đối tượng của hợp đồng thế chấp cũng giống như  
các loại tài sản khác là phải có khả năng chuyển giao được. Do đó,  
các TSTT mà pháp luật cấm hoặc hạn chế chuyển dịch quyền sở hữu  
theo quy định của Luật SHTT sẽ không thể là đối tượng có thể thế  
chấp. Điều 17 Nghị định 21/2021/NĐ-CP chỉ quy định các quyền tài  
sản phát sinh từ quyền SHTT có thể trở thành tài sản đảm bảo là hoàn  
toàn phù hợp với việc thế chấp TSTT, bởi theo quy định của pháp luật  
SHTT thì các quyền nhân thân phát sinh từ quyền SHTT không phải  
là đối tượng có thể chuyển giao được (trừ quyền công bố hoặc cho  
phép người khác công bố tác phẩm, được quy định tại Điều 19 Khoản  
3 Luật SHTT là quyền nhân thân có thể chuyển giao được). Tuy nhiên,  
quy định này còn chưa đầy đủ bởi trong thế chấp TSTT thì còn có  
các TSTT khác cũng thuộc đối tượng loại trừ không thể trở thành đối  
tượng để thế chấp.  
BMKD: là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ  
chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh [4]. Một  
trong các điều kiện để bảo hộ BMKD là được chủ sở hữu bảo mật  
bằng các biện pháp cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không  
dễ dàng tiếp cận được. Đây là đặc trưng khiến cho việc bảo hộ BMKD  
trở nên khác biệt hoàn toàn với việc bảo hộ của các đối tượng khác  
thuộc quyền SHTT. BMKD chỉ được bảo hộ khi được chủ sở hữu  
giữ bí mật và không bộc lộ công khai, điều này có nghĩa là khi một  
chủ thể khác biết được hoặc độc lập tìm ra được BMKD đó thì nó sẽ  
không được pháp luật bảo vệ độc quyền nữa và mất đi lợi thế về kinh  
tế. Trong thế chấp tài sản, tài sản thế chấp dù tồn tại dưới dạng hữu  
hình hay vô hình thì vẫn cần phải được xác định thông qua hệ thống  
giấy chứng nhận, tài liệu… chứng minh quyền sở hữu. Vì vậy, nếu chủ  
sở hữu chứng minh được mình là chủ sở hữu hợp pháp của BMKD thì  
BMKD vẫn có thể trở thành tài sản bảo đảm để thế chấp. Tuy nhiên,  
để bảo vệ sự độc quyền cũng như việc bảo mật BMKD thì khi giao kết  
hợp đồng thế chấp BMKD, các bên phải có thêm những thoả thuận về  
việc bảo mật BMKD như: nghĩa vụ bảo mật BMKD của bên nhận thế  
chấp, quyền được kiểm tra, giám sát việc bảo mật BMKD, quyền ngăn  
chặn bên thứ ba tiếp cận và bộc lộ BMKD, các chế tài khi bên nhận  
thế chấp bộc lộ BMKD...  
Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt  
động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với  
chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.  
Tên thương mại không thể trở thành tài sản độc lập để thế chấp tài  
sản bởi quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng  
với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh  
doanh dưới tên thương mại đó. Điều này sẽ không đảm bảo quyền của  
bên nhận thế chấp khi thu hồi tài sản thế chấp nếu bên thế chấp không  
thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp tên thương  
mại là tài sản thế chấp gắn việc thế chấp toàn bộ cơ sở kinh doanh và  
các hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó thì tên thương mại  
về nguyên tắc chung vẫn có thể thế chấp. Song, đây là vấn đề hết sức  
phức tạp trên cả phương diện pháp lý và phương diện kinh tế.  
Chỉ dẫn địa lý: là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc  
từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Theo quy  
định tại Điều 139 Luật SHTT, quyền đối với chỉ dẫn địa lý không  
được chuyển nhượng vì chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý là Nhà nước.  
Do đó, chỉ dẫn địa lý không thể là đối tượng có thể thế chấp vì không  
thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự.  
Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch  
vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng  
hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức  
đó. Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ  
chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập  
thể đó. Vì vậy, nhãn hiệu tập thể cũng không thể trở thành đối tượng  
để thế chấp.  
Thế chấp TSTT theo quy định của một số quốc gia trên thế giới  
Nhãn hiệu chứng nhận: theo Điều 4 Khoản 18 Luật SHTT, nhãn  
hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ  
chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá  
nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu,  
cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng,  
độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch  
vụ mang nhãn hiệu. Một trong các đặc trưng khác biệt của nhãn hiệu  
chứng nhận là chủ sở hữu không sử dụng nhãn hiệu của mình trong  
quá trình thương mại mà cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn  
hiệu chứng nhận trên hàng hóa dịch vụ nhằm chứng nhận các đặc tính  
của sản phẩm. Nếu nhãn hiệu chứng nhận được đem thế chấp thì sẽ  
không đảm bảo quyền của các bên sử dụng nhãn hiệu chứng nhận khi  
nhãn hiệu này bị thu hồi nếu bên chủ sở hữu nhãn hiệu là bên thế chấp  
Pháp luật của Hoa Kỳ về thế chấp TSTT  
Trong Luật Quyền tác giả Hoa Kỳ (Copyright Law) có các quy  
định liên quan đến thế chấp quyền tác giả. Cụ thể, tại Điều 101 khi giải  
thích về khái niệm “chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả” (transfer  
of copyright ownership) [5] thì việc chuyển giao quyền sở hữu quyền  
tác giả bao gồm chuyển nhượng, thế chấp, li-xăng độc quyền hoặc bất  
cứ hình thức chuyển nhượng khác hay sự cầm cố quyền tác giả hoặc  
bất kỳ sự độc quyền nào về quyền tác giả cho dù nó bị giới hạn bởi  
thời gian hay địa điểm (trừ việc li-xăng không độc quyền). Như vậy,  
theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, thế chấp quyền tác giả phải gắn  
liền với việc chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả đó.  
Sáng chế cũng được coi là một đối tượng của việc thế chấp. Theo  
43  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Bảng 1. Sự khác nhau giữa các quy định về thế chấp TSTT của Việt Nam,  
Hoa Kỳ và Trung Quốc.  
quy định tại Chương 26, Điều 261 của Luật Sáng chế Hoa Kỳ [6], việc  
thế chấp sáng chế phải được đăng ký tại Cơ quan Sáng chế và Nhãn  
hiệu Hoa Kỳ (USPTO) trong vòng 3 tháng kể từ ngày thế chấp hoặc  
trước ngày thực hiện việc thế chấp tiếp theo thì mới có giá trị pháp  
lý. Tức là trong khoảng thời gian này, hai bên tham gia thế chấp sáng  
chế phải đăng ký một thoả thuận bảo mật quyền SHTT (IP security  
agreement) với USPTO [7].  
Tiêu chí  
Việt Nam  
Hoa Kỳ  
Trung Quốc  
Bộ luật Dân sự và Nghị  
định 21/2021/NĐ-CP quy  
định thi hành BLDS về  
đảm bảo thực hiện nghĩa  
vụ; Nghị định 76/2018/  
NĐ-CP ngày 15/5/2018  
hướng dẫn thi hành một  
số điều của Luật Chuyển  
giao công nghệ  
Văn bản pháp  
luật điều  
chỉnh  
Luật Quyền tác giả, Luật Sáng chế,  
Điều 9 UCC  
Bộ luật  
Dân sự  
Điều 9 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform  
Commercial Code - UCC) về giao dịch bảo đảm [8] đã quy định về  
các tài sản bảo đảm từ động sản và tài sản gắn liền với bất động sản tại  
Điều 9-109(a)(1). Mặc dù, UCC không quy định trực tiếp các TSTT  
có là tài sản bảo đảm hay không nhưng vẫn ngầm định các TSTT là  
tài sản vô hình chung [9]. Theo Điều 9-102(42) của UCC, tài sản vô  
hình chung nghĩa là động sản, bao gồm cả quyền khởi kiện và phần  
mềm. Tuy nhiên, UCC cũng áp đặt các yêu cầu khác nhau đối với việc  
tạo ra quyền bảo đảm đối với các TSTT khi thực hiện các giao dịch  
bảo đảm. Ví dụ, để hoàn thành các giao dịch đối với tài sản bảo đảm  
là quyền tác giả đã được đăng ký bảo hộ hoặc quyền tác giả đang chờ  
được cấp văn bằng bảo hộ thì hợp đồng bảo đảm TSTT phải nộp cho  
Cơ quan Bản quyền Hoa Kỳ (U.S Copyright Office - USCO). Đối với  
sáng chế, hợp đồng bảo đảm cũng phải được đăng ký với USPTO để  
xác lập hiệu lực đối kháng với bên mua hoặc những người nhận thế  
chấp “ngay tình” [7]. Như vậy, tại Hoa Kỳ yêu cầu đăng ký giao dịch  
bảo đảm bằng quyền tác giả hoặc sáng chế tại cơ quan SHTT tương  
ứng nhằm để xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba.  
Các quyền tài sản phát  
sinh từ quyền SHTT và  
các quyền khác trị giá  
được bằng tiền phát sinh  
từ quyền SHTT  
Các TSTT  
được phép thế  
chấp  
Tất cả các  
TSTT  
Tất cả các TSTT  
Để xác lập hiệu lực đối kháng với người  
thứ ba của giao dịch bảo đảm bằng  
quyền SHTT ở Hoa Kỳ, bên nhận bảo  
đảm phải đăng ký tại cơ quan đăng ký  
giao dịch bảo đảm ở mỗi bang, riêng  
đối với quyền tác giả thì phải đăng ký  
tại USCO. Ngoài ra, đối với sáng chế và  
nhãn hiệu, không bắt buộc đăng ký tại  
USPTO, nhưng trên thực tế các luật sư  
vẫn khuyên đăng ký để cho chắc chắn.  
Chưa có quy định cụ thể  
nên việc đăng ký hợp  
đồng thế chấp TSTT sẽ  
thực hiện như thế chấp  
tài sản là đăng ký tại Cục  
Đăng ký quốc gia giao  
dịch bảo đảm thuộc Bộ  
Tư pháp  
Đăng ký thế  
chấp TSTT  
SIPO  
Nguồn: tác giả tổng hợp.  
Những vấn đề khó khăn trong thực tiễn thế chấp TSTT tại Việt Nam  
Pháp luật của Trung Quốc về thế chấp TSTT  
Tuy thế chấp TSTT là một việc có ý nghĩa thiết thực, nhất là đối  
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa hay những doanh nghiệp khởi nghiệp  
để có thể vay vốn được ngân hàng, song thế chấp TSTT còn gặp rất  
nhiều khó khăn, do đây là một giao dịch mang tính rủi ro nhiều hơn  
so với việc thế chấp các loại tài sản khác. Tại Việt Nam, việc thế chấp  
TSTT đã diễn ra song còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho bên nhận thế chấp  
(ngân hàng) do không xác định rõ quyền sở hữu TSTT trước khi nhận  
thế chấp. Ví dụ, trường hợp thế chấp quyền sử dụng 6 nhãn hiệu của  
Công ty Lifepro với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn (Agribank) với trị giá khoản vay là 70 triệu USD  
vào năm 2012 [12]. Khi Công ty Lifepro không thể thanh toán được  
khoản vay trước đó, Agribank cũng không thể xử lý quyền sử dụng 6  
nhãn hiệu với tư cách là tài sản thế chấp vì 6 nhãn hiệu này được Công  
ty Lifepro nhận li-xăng từ FGF Industrial Spa (Italia). Do đó, Công ty  
Lifepro không là chủ sở hữu của 6 nhãn hiệu trên mà chỉ có quyền sử  
dụng các nhãn hiệu này. Hiện nay, hoạt động này đang được hạn chế  
thực hiện do có những khó khăn trong việc thực thi hoạt động thế chấp  
TSTT vì tiềm ẩn những rủi ro, xuất phát từ những lý do sau:  
BLDS đầu tiên của Trung Quốc được ban hành vào năm 2020 và  
có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 đã có những quy định về việc thế chấp  
tài sản. Tuy nhiên, BLDS này không quy định giao dịch bảo đảm bằng  
TSTT ở Chương 17 về thế chấp mà quy định ở Chương 18 về cầm cố.  
Theo đó, tại Chương 17, Điều 395 quy định về những tài sản có thể  
được thế chấp và Điều 399 quy định về các tài sản không thể thế chấp  
nhưng không nêu rõ các TSTT có thể là đối tượng của thế chấp tài sản  
hay không. Tuy nhiên, pháp luật cũng đã có quy định chung về tài sản  
thế chấp, trong đó không loại trừ các TSTT và có thể hiểu các TSTT  
sẽ là “tài sản khác có thể thế chấp theo quy định của pháp luật và quy  
tắc hành chính” theo quy định tại Điều 395 Khoản 7 của Bộ luật này  
[10]. Tại Chương 18 quy định về cầm cố, Điều 440(5) và 444 đã quy  
định những quyền có thể chuyển giao độc quyền trong lĩnh vực SHTT  
như: quyền sử dụng độc quyền nhãn hiệu đã được đăng ký, quyền đối  
với sáng chế và quyền tác giả. Việc cầm cố những quyền độc quyền  
này được tạo ra dựa trên việc đăng ký và sau khi được cầm cố, bên  
cầm cố sẽ không được chuyển giao hoặc li-xăng các quyền nêu trên  
cho người khác (trừ trường hợp có sự đồng ý giữa bên cầm cố và bên  
nhận cầm cố thông qua việc thoả thuận).  
Thứ nhất, thiếu những quy định pháp lý về thế chấp TSTT. Mặc  
dù thế chấp TSTT là một giao dịch dân sự dựa trên sự tự do thoả  
thuận, tôn trọng ý chí của các bên, pháp luật chỉ đóng vai trò đưa ra  
các quy định khung để các bên dựa vào đó tham khảo và đưa ra những  
điều khoản phù hợp với các bên trong hợp đồng thế chấp, song các  
quy định rõ ràng về việc thế chấp TSTT vẫn đóng vai trò quan trọng  
mang tính chất định hướng cho các bên khi tham gia giao dịch này.  
Như đã phân tích ở trên thì các quy định về thế chấp TSTT tại Việt  
Nam hiện nay chưa được quy định rõ ràng và phù hợp với đặc trưng  
của loại tài sản đặc biệt này nên các bên không tránh khỏi những lúng  
túng khi tham gia giao dịch thế chấp TSTT. Hơn thế nữa, khi có những  
tranh chấp hay hậu quả pháp lý xảy ra trong quá trình thế chấp TSTT  
Hợp đồng thế chấp TSTT được khuyến khích đăng ký tại Văn  
phòng SHTT của Trung Quốc (SIPO) để có thể sử dụng hợp đồng thế  
chấp TSTT đã được đăng ký này chống lại bên thứ ba [11].  
Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam cũng giống như  
pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc là đều có quy định về việc  
thế chấp TSTT và mọi đối tượng của quyền SHTT có giá trị, có thể  
chuyển giao trong giao lưu dân sự đều có thể được sử dụng làm tài sản  
bảo đảm. Sự khác biệt giữa quy định pháp luật Việt Nam với Hoa Kỳ  
và Trung Quốc được thể hiện ở bảng 1.  
63(10) 10.2021  
44  
Khoa học xã hội và nhân văn  
thì việc thiếu vắng các quy định pháp luật cũng đem lại những rủi ro  
cho các bên tham gia thế chấp. Do đó, trong thời gian tới, pháp luật về  
thế chấp TSTT cần phải có những quy định chi tiết hơn nữa về: (i) Các  
TSTT được thế chấp hoặc các TSTT có thể thế chấp kèm theo những  
điều kiện nhất định; (ii) Vấn đề đăng ký và bảo mật thông tin trong  
quá trình thế chấp TSTT; (iii) Các biện pháp để bảo vệ bên nhận thế  
chấp trong quá trình thế chấp; (iv) Xử lý TSTT sau khi bên thế chấp  
không thực hiện được nghĩa vụ...  
xử lý thực hiện nghĩa vụ sẽ gặp phải một số rủi ro xuất phát từ bản  
chất “vô hình” của loại tài sản này cũng như do giá trị của TSTT có  
thể không ổn định. Chẳng hạn, trong trường hợp sáng chế là tài sản thế  
chấp song công nghệ của sáng chế đó đã lạc hậu (do có một sản phẩm  
mới với công nghệ mới được đưa vào thị trường) nên khi bán sáng  
chế để thực hiện nghĩa vụ có thể bị trả giá thấp hơn so với giá trị mà  
các bên định giá khi thực hiện giao kết hợp đồng thế chấp hoặc thậm  
chí không ai mua sáng chế do công nghệ đã lỗi thời. Tương tự, đối với  
việc thế chấp nhãn hiệu, khi thanh lý nhãn hiệu để thực hiện nghĩa vụ  
mà giá trị của nhãn hiệu đã bị giảm sút do chất lượng sản phẩm không  
được người tiêu dùng tin tưởng nữa hoặc do sự xâm phạm quyền đối  
với nhãn hiệu dẫn đến sự sụt giảm uy tín của nhãn hiệu hoặc không  
có nhu cầu từ phía thị trường thì giá trị của nhãn hiệu cũng sẽ giảm đi  
so với thời điểm định giá để thế chấp. Ngoài ra, việc xử lý TSTT cũng  
sẽ rất khó vì không có thị trường ổn định cho việc mua bán các TSTT.  
Thứ hai, định giá TSTT khi thế chấp thường gặp khó khăn và giá  
trị của TSTT thường không ổn định. Căn cứ để xác định giới hạn mức  
cho vay tối đa dựa trên giá trị của tài sản đảm bảo. Do đó, việc định  
giá được giá trị của tài sản đảm bảo như TSTT là vô cùng quan trọng  
trong thế chấp TSTT. Mặc dù việc định giá TSTT là do hai bên tham  
gia giao dịch thế chấp TSTT tự do thỏa thuận dựa trên ý chí của các  
bên, song do đặc tính “vô hình” của các TSTT nên việc định giá các  
tài sản này không phải là dễ. Nếu định giá quá cao thì sẽ gây thiệt hại  
cho bên nhận thế chấp, nhưng nếu định giá quá thấp thì cũng sẽ gây  
ra sự thua thiệt cho bên thế chấp. Trên thực tế, thông thường các tài  
sản thế chấp (trong đó có TSTT) đều được bên nhận thế chấp định giá.  
Kết luận và khuyến nghị  
Mặc dù có nhiều ý nghĩa, song trong thực tiễn hiện nay việc sử  
dụng TSTT như một tài sản đảm bảo nghĩa vụ vay vốn tại Việt Nam  
vẫn còn được cân nhắc và sử dụng một cách thận trọng bởi việc thế  
chấp TSTT sẽ đem lại một số bất lợi cho các ngân hàng nói riêng, bên  
nhận thế chấp nói chung. Hy vọng trong thời gian tới, vấn đề thế chấp  
TSTT sẽ được điều chỉnh trong các quy định pháp lý để các cá nhân,  
tổ chức, doanh nghiệp có thể tận dụng được các ưu thế của TSTT để  
vay vốn được từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để khắc  
phục được những rủi ro và khó khăn trong quá trình thế chấp một loại  
tài sản vô hình như TSTT thì pháp luật sẽ cần tập trung quy định rõ  
những vấn đề như: i) Các TSTT được phép thế chấp và TSTT có thể  
thế chấp kèm theo điều kiện; ii) Đăng ký thế chấp TSTT và bảo mật  
thông tin trong quá trình thế chấp TSTT; iii) Các biện pháp để bảo vệ  
bên nhận thế chấp trong quá trình thế chấp; iv) Xử lý TSTT sau khi  
bên thế chấp không thực hiện được nghĩa vụ...  
Hiện nay, có ba cách tiếp cận (theo chi phí, thu nhập và thị trường)  
để định giá một tài sản vô hình theo quy định của Tiêu chuẩn thẩm  
định giá số 13 được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC  
ngày 7/1/2014 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, TSTT thường là tài sản  
đứng một mình, không có tài sản tương đương trên thị trường, do  
vậy cũng rất khó xác định được tỷ lệ chiết khấu đối với loại tài sản  
này [13], do đó việc sử dụng cách tiếp cận thị trường hay cách tiếp  
cận chi phí cũng khó có thể xác định chính xác giá trị của TSTT. Bên  
cạnh đó, giá trị của các TSTT có thể bị giảm sút hoặc bị mất do phụ  
thuộc vào sự thay đổi của thị trường, công nghệ, thời hạn bảo hộ cũng  
như các yếu tố liên quan đến thị hiếu, niềm tin của người tiêu dùng  
đối với TSTT đó. Ngoài ra, đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi  
cạnh tranh không lành mạnh hoặc xâm phạm quyền SHTT như làm  
hàng giả, hàng nhái cũng có thể làm giảm sút uy tín cũng như giá trị  
của TSTT đang được thế chấp. Do đó, sự không ổn định về giá trị của  
TSTT bởi những yếu tố như trên sẽ gây ảnh hưởng đến việc định giá  
TSTT khi thế chấp cũng như có thể gây rủi ro cho bên nhận thế chấp  
khi xử lý TSTT để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Quốc hội (2015a), Bộ luật Dân sự.  
[2] Quốc hội (2015b), Bộ luật Dân sự, Điều 319 Khoản 2.  
[3] Chính phủ (2021), Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 Quy định thi  
hành Bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.  
Thứ ba, xử lý TSTT được thế chấp để thực hiện nghĩa vụ. Nếu đến  
thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc  
thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý để thực  
hiện nghĩa vụ. Theo quy định tại Điều 303 Khoản 1 của BLDS 2015,  
việc xử lý tài sản thế chấp do các bên tham gia thế chấp tự thoả thuận  
lựa chọn một trong các phương thức sau: (i) Bán đấu giá tài sản; (ii)  
Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (iii) Bên nhận bảo đảm nhận chính  
tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (iv)  
Phương thức khác. Trường hợp các bên không thoả thuận về phương  
thức xử lý tài sản bảo đảm theo 4 phương thức nêu trên thì tài sản sẽ  
được bán đấu giá (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Nếu  
các bên đã thỏa thuận trước hoặc khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ  
các bên tự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thì tài sản thế chấp  
được xử lý theo thỏa thuận của các bên.  
[4] Quốc hội (2005, 2009, 2019), Luật Sở hữu trꢀ tuệ.  
[5] Copyright Law of the United States (1976, 2020), Title 17 U.S.Code, Article 101.  
[6] Consolidated Patent Laws (1952, 2013), 35 U.S.C. Article 261 Ownership.  
[7] Dashpungtsag Erdenechimeg (2016), Using Intellectual Property as Collateral:  
International Experience and a Mongolian Perspective, University of Turin.  
[8] UCC (2012), Article 9 (Amendments Enacted in 26 States, Uniform Law  
Commission).  
[9] Alica Griffin Mills (2008), “Perfecting security interests in IP: avoiding the traps”,  
The Banking Law Journal, pp.746-747.  
[10] Civil Code of the People’s Republic of China (2020), Article 395 and Article  
399.  
[11] Francois Painchaud, Jason Moscovici (2010), “Intellectual property and secured  
publications/intellectual-property-and-secured-transactions-going-the-wrong-way-in-the-  
right-direction/.  
Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản  
thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản và các chi phí liên quan khác.  
Để đảm bảo được quyền lợi của bên nhận thế chấp cần đòi hỏi giá trị  
thương mại của tài sản được đảm bảo phải duy trì ở mức ổn định so  
với khi giao kết hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng TSTT để  
nghiep-nhin-tu-vu-viec-agribank-va-lifepro-viet-nam---n-32570.  
[13] Trần Thị Thu Hường (2016), “Cho vay dựa trên tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ-  
Cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chꢀ Quản trị Ngân  
hàng và Doanh nghiệp, 170, tr.46-52.  
45  
63(10) 10.2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 12440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thế chấp tài sản trí tuệ - Những khía cạnh pháp lý và thực tiễn thi hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthe_chap_tai_san_tri_tue_nhung_khia_canh_phap_ly_va_thuc_tie.pdf