Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
13.  
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  
ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI  
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT  
VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI  
Ngô Hồng Mai(*)  
Tóm tắt  
Trong hoạt động thương mại, doanh nghiệp nào cũng phải sử dụng hợp đồng  
để mua bán và cung cấp dịch vụ. Thực tế, hàng năm, Công ty cổ phần Pico đã tiến  
hành ký hàng trăm hợp đồng thương mại với các nhà cung cấp và thực hiện hợp đồng  
thương mại với hàng triệu khách hàng mua hàng từ hệ thống các siêu thị của Pico.  
Khi hợp đồng đã được giao kết và hiệu lực pháp luật thì các doanh nghiệp phải có  
nghĩa vụ thực hiện đúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nếu bên nào không thực  
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm với bên  
đối tác, tức là họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định như: buộc thực  
hiện đúng hợp đồng, phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại v.v... Do vậy, những quy định  
cụ thể về các chế tài trong Hợp đồng thương mại để áp dụng đối với bên vi phạm hợp  
đồng thương mại là vô cùng quan trọng.  
Tuy nhiên, các quy định về chế tài trong thương mại trong Luật Thương mại còn  
nhiều bất cập, nhiều quy định không rõ ràng, thiếu thực tế. Các quy định không rõ  
ràng đó đã gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp giữa các bên và chưa đảm  
(*) Công ty Cổ phần Pico  
167  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
bảo được quyền và lợi ích chính đáng của bên bị vi phạm. Cũng như trong thực tế,  
với số lượng lớn hợp đồng tại Công ty Cổ phần Pico đã ký kết, việc áp dụng chế tài  
thương mại cũng không mang lại hiệu quả. Nhiều chế tài được đưa vào hợp đồng chỉ  
mang tính hình thức và các quy định chế tài trong hợp đồng đó chưa thực sự phát huy  
tác dụng khi giải quyết những vi phạm hợp đồng.  
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI  
Chế tài hiểu theo nghĩa hẹp là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm  
pháp luật, trong đó chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi  
có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định và  
giả định của quy phạm pháp luật. Tiếp cận theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả  
pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật. Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan  
hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, chế tài được phân chia thành nhiều loại: chế tài  
hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự,...  
Pháp luật điều tiết các quan hệ xã hội bằng cách đặt ra các quyền và nghĩa vụ cho  
các chủ thể khi tham gia các quan hệ xã hội nhất định. Trong quan hệ mua bán hàng  
hóa, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên  
mua, nhưng ngược lại, có quyền yêu cầu bên mua trả tiền cho bên bán; còn bên mua  
có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho mình,  
và ngược lại, có nghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền mua. Nếu một bên không  
thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của mình  
thì mục đích quan hệ của bên kia không đạt được. Điều này sẽ gây thiệt hại cho bên  
bị vi phạm. Vì vậy pháp luật can thiệp mạnh vào các quan hệ xã hội và đảm bảo công  
bằng bằng cách thiết lập phương thức áp đặt hậu quả bất lợi cho người không thực  
hiện nghĩa vụ, và phần nào đó giúp khôi phục lại quan hệ xã hội bị phá vỡ bởi sự vi  
phạm hoặc khôi phục lại tình trạng nhẽ ra phải có của người có quyền yêu cầu.  
Chế tài thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người có hành  
vi vi phạm pháp Luật Thương mại khi họ không thực hiện hay thực hiện không đúng  
hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi thương mại.  
Có quan niệm cho rằng chế tài thương mại bao gồm cả các chế tài áp dụng cho  
các hành vi vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm  
phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước được quy định tại Điều 320  
- Luật Thương mại 2005, bao gồm:  
168  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
- Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; Giấy phép kinh doanh của thương  
nhân; Thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân  
Việt Nam và của thương nhân nước ngoài;  
- Vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa,  
dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu;  
quá cảnh;  
- Vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán;  
- Vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ;  
- Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất  
khẩu, nhập khẩu;  
- Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả hoặc nguyên liệu, vật  
liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép;  
- Vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ kinh doanh  
trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu;  
- Gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;  
- Vi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;  
- Vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh  
trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;  
- Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;  
- Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật.  
Theo quan niệm này, chế tài thương mại lại trùm lấn sang cả lĩnh vực hành chính,  
hình sự. Các vi phạm này hầu hết là các vi phạm hành chính hoặc hình sự mà chế tài  
đối với chúng có thể được quy định tại các văn bản pháp luật về hành chính hay hình  
sự, chứ không được quy định tại pháp luật về thương mại hay dân sự. Trong khoa học  
pháp lý, mỗi lĩnh vực pháp luật có những hình thức chế tài riêng của nó, tên của những  
chế tài này được gọi theo lĩnh vực pháp luật mà ngành luật đó điều chỉnh. Một hành  
vi vi phạm pháp luật có thể bị nhiều chế tài khác nhau. Ví dụ, hành vi gian lận, lừa dối  
khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì ngoài việc bị xử phạt hành  
chính thương nhân còn có trách nhiệm hoàn trả lại tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại  
169  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
(nếu có) cho người mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ.  
Do vậy, khi nói tới Luật Thương mại là nói tới một ngành luật điều chỉnh các hành  
vi thương mại với tính cách là các hành vi pháp lý có tính chất thương mại. Chính vì  
thế chế tài thương mại hầu hết là các chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại. Có  
lẽ với tư duy như vậy, nên tại Điều 292 Luật Thương mại 2005 quy định chế tài trong  
thương mại bao gồm:  
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.  
2. Phạt vi phạm.  
3. Buộc bồi thường thiệt hại.  
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.  
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.  
6. Huỷ bỏ hợp đồng.  
7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận.  
Theo quy định này, các loại chế tài trong thương mại kể trên chỉ được áp dụng  
giữa các bên tham gia hợp đồng thương mại khi một bên vi phạm nghĩa vụ phát sinh  
từ hợp đồng. Với nghĩa này, chế tài thương mại là các chế tài phát sinh khi có vi phạm  
nghĩa vụ phát sinh từ hành vi thương mại mà nhà làm luật gọi là “chế tài trong thương  
mại”. Các chế tài này có thể là những chế tài do pháp luật quy định hoặc có thể là chế  
tài do các bên thỏa thuận. Trong phạm vi bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu các chế  
tài trong hoạt động thương mại, tức là các chế tài được áp dụng giữa các thương nhân  
với nhau trên cơ sở giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.  
2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG  
MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI  
THƯƠNG MẠI  
2.1 Nâng cao chất lượng nhân sự  
Những nhân viên, chuyên viên và quản lý là một trong những nhân tố quyết định  
hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. Kết quả này phụ  
thuộc lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính năng động, sáng tạo, đạo đức nghề  
nghiệp, thái độ phục vụ khách hàng,... Ví dụ, một nhân viên bán hàng khi nói quá lên  
170  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
về chính sách bảo hành hoặc chính sách khuyến mại đối với hàng hóa đó làm khách  
hàng hiểu không đúng về sản phẩm khi mua hàng thì cũng có thể là nguyên nhân gây  
ra xung đột tranh chấp khách hàng với Công ty.  
Do vậy, để nâng cao chất lượng nhân sự là một giải pháp quan trọng và có giá trị  
trong giai đoạn phát triển công ty hiện nay. Thực hiện giải pháp này, công ty nên tập  
trung vào những phương diện sau:  
- Công ty nên xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên khoa học, chính xác  
và hợp lý nhằm tuyển dụng cho mình những nhân viên có trình độ và phù hợp với yêu  
cầu công việc.  
- Định kỳ tổ chức các khóa đào tạo về đàm phán, ký kết hợp đồng cho nhân viên  
kinh doanh. Hình thức đào tạo nội bộ thông qua dạy về quy trình và tuân thủ hoặc có  
thể thuê các chuyên gia có kinh nghiệm về giảng dạy. Mỗi nhân viên kinh doanh đều  
cần hiểu các yếu tố cơ bản của hợp đồng, cách đánh giá năng lực nhà cung cấp và  
những rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng.  
- Tổ chức các cuộc thi kiểm tra về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng theo định kỳ.  
Qua cuộc kiểm tra có thể biết được năng lực của nhân viên, có thể một mặt khích lệ để  
khen thưởng, mặt khác có thể rút ra những khuyết điểm còn tồn tại để có biện pháp cải  
thiện kịp thời. Ngoài ra, thông qua cuộc kiểm tra theo định kỳ sẽ xây dựng được tinh  
thần thi đua, cố gắng học hỏi lẫn nhau của các nhân viên. Từ đó, năng lực của nhân  
viên được nâng cao và chất lượng phục vụ khách hàng cũng từ đó mà được cải thiện.  
- Sử dụng chính sách đãi ngộ cũng là một cách để nâng cao tinh thần thi đua của  
các nhân viên. Trong chính sách đãi ngộ cần chú trọng đến trình độ, năng lực của nhân  
viên và có chính sách thỏa đáng đối với những nhân viên có trình độ chuyên môn cao,  
làm việc hiệu quả cao và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của công ty. Cơ chế  
khuyến khích vật chất đối với nhân viên như: cần thiết có chế độ lương, thưởng khác  
nhau đối với các nhiệm vụ quan trọng khác nhau để khuyến khích sự làm việc của  
nhân viên đối với công ty.  
- Xây dựng môi trường làm việc, thi đua lành mạnh. Nâng cao tính kỷ luật, tinh  
thần trách nhiệm đối với công việc và sự phát triển của công ty.  
- Tổ chức các đợt kiểm soát nội bộ về hợp đồng để kiểm tra đánh giá tính tuân thủ  
của nhân viên, quản lý trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng.  
171  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
Đặc biệt, với nhân viên kinh doanh và quản lý các ngành hàng là người trực tiếp  
đàm phán với nhà cung cấp cần những khóa đào tạo ngắn hạn về pháp luật hợp đồng  
để đảm bảo giảm thiểu những bất lợi và rủi ro về hợp đồng. Ban Trợ lý là nơi rà soát  
hợp đồng và hồ sơ đi kèm trước khi trình Ban Tổng Giám đốc ký hợp đồng cũng cần  
tuyển dụng cán bộ am hiểu về pháp luật và đào tạo cho phù hợp với yêu cầu công việc.  
2.2. Xây dựng khung chính sách, quy chế chặt chẽ và phù hợp với các hoạt  
động để đưa các quy định pháp luật vào thực tế  
Thông thường trong quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng sẽ xuất hiện sự  
xung đột giữa nhân viên kinh doanh và người phụ trách tuân thủ. Bản thân nhân viên  
kinh doanh chỉ quan tâm đến doanh số và hiệu quả, không lường hết được rủi ro từ  
hợp đồng. Bộ phận Kiểm soát tuân thủ thì quá chú trọng đến quy trình, điều khoản  
hợp đồng. Để tạo ra sự kết nối hài hòa thì cần phải nâng cao ý thức tuân thủ của nhân  
viên kinh doanh những người trực tiếp giao dịch với đối tác hoặc khách hàng. Xây  
dựng quy trình có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận sẽ làm tránh những xung  
đột nêu trên.  
3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI  
THƯƠNG MẠI  
3.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng và vi phạm cơ bản hợp đồng  
Như đã phân tích, hành vi vi phạm hợp đồng bao gồm “không thực hiện, thực  
hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Tuy nhiên, việc xác định vi  
phạm hợp đồng bao gồm cả hành vi “không thực hiện” và “thực hiện không đầy đủ”  
là không cần thiết bởi vì hành vi “thực hiện không đúng” đã bao gồm cả không thực  
hiện và thực hiện không đầy đủ. Do đó, chi cần quy định vi phạm hợp đồng là hành vi  
thực hiện không đúng nghĩa vụ là đủ. Do đó, để thống nhất với Bộ Luật dân sự 2015,  
Luật Thương mại có thể điều chỉnh theo hướng quy định khái niệm vi phạm nghĩa vụ  
trong khoản 1, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015: “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa  
vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ và hoặc  
thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.  
Theo Luật Thương mại, vi phạm cơ bản hợp đồng là một trong các căn cứ quan  
trọng để áp dụng chế tài: tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng và hủy bỏ  
hợp đồng, trong đó hủy bỏ hợp đồng là chế tài có hậu quả pháp lý rất nặng nề. Công  
ước Viên không có quy định về vi phạm hợp đồng nhưng khái niệm vi phạm cơ bản  
172  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
hợp đồng được quy định cụ thể tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó “một sự vi phạm  
hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia  
bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có  
quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa  
đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào  
hoàn cảnh tương tự”.  
Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được  
xác định dựa trên các yếu tố: (1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; (2) Sự vi  
phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều mà họ chờ  
đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn  
thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó.  
So sánh với Công ước Viên 1980 thì quy định tại Luật Thương mại: “vi phạm cơ  
bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho  
bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” đang bị thiếu hụt yếu  
tố thứ (3), bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước hậu quả của sự vi phạm.  
Còn trong Bộ luật Dân sự 2015, thuật ngữ được dùng nhiều là “vi phạm nghiêm  
trọng”, theo quy định tại khoản 2, Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015: “Vi phạm nghiêm  
trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia  
không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.Chúng ta có thể thấy về mặt  
bản chất hai thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng hay vi phạm cơ bản có tương đồng nhau,  
tuy nhiên sự tồn tại song song hai thuật ngữ có cùng bản chất trong pháp luật về hợp  
đồng là điều bất cập cần được gỡ bỏ bởi nó không chỉ dễ gây nhầm lẫn mà còn không  
đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế như Công ước Viên 1980.  
3.2. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại  
Theo quy định tại Điều 418 - Bộ luật Dân sự (2015) về Thỏa thuận phạt vi phạm:  
“1. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy  
định khác.  
2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi  
phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải  
bồi thường thiệt hại.  
3. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về  
173  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa  
vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”  
Theo quy định tại Điều 307 Luật Thương mại, nếu không đưa điều khoản về bồi  
thường thiệt hại vào hợp đồng thì vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nghĩa  
là việc bồi thường thiệt hại là điều đương nhiên không cần các bên phải thỏa thuận...  
Tuy nhiên, khoản 3, Điều 418, Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có thỏa  
thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và  
vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”  
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự nếu có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng  
không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm không có nghĩa vụ bồi  
thường thiệt hại.  
Thỏa thuận phạt vi phạm trong lĩnh vực dân sự không có giới hạn về mức phạt,  
trong Luật Thương mại quy định mức phạt tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm.  
Quy định này trong Luật Thương mại là khá cứng nhắc và gặp nhiều khó khăn khi áp  
dụng thể hiện ở điểm sau:  
+ Thứ nhất, rất khó xác định “giá trị phần nghĩa vụ vi phạm” đặc biệt là đối với  
hợp đồng dịch vụ. Đối với một số nghĩa vụ gần như không thể xác định được “giá  
trị”. Ví dụ, A bán cho B một cái máy, cam kết giao máy trong vòng 30 ngày, nhưng A  
không giao toàn bộ máy mà thiếu một số chi tiết như đã hứa thì trong trường hợp này  
giá trị phần nghĩa vụ là giá trị toàn bộ máy hay là giá trị một số chi tiết chưa bàn giao.  
+ Thứ hai, trong trường hợp hai bên có thỏa thuận về phạt lãi chậm thanh toán  
theo quy định tại Điều 306, vậy thỏa thuận trên có mâu thuẫn với quy định về mức  
phạt tối đa 8% hay không? Cần được quy định cụ thể hơn để tạo điều kiện cho doanh  
nghiệp áp dụng.  
+ Mức phạt vi phạm có được khấu trừ vào khoản bồi thường thiệt hại không, vì  
sau khi áp dụng biện pháp phạt, thiệt hại thực tế của bên bị vi phạm đã giảm.  
3.3. Hoàn thiện chế định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại  
Bồi thường thiệt hại là một chế tài thường xuyên được áp dụng khi giải quyết vi  
phạm hợp đồng thương mại. Do vậy, Luật Thương mại cần quy định cụ thể hơn về  
những thiệt hại nào phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cách thức xác định thiệt  
hại, tạo điều kiện cho bên bị vi phạm chứng minh thiệt hại, chứng minh các biện pháp  
174  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
hạn chế thiệt hại đã được áp dụng một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn.  
Khi xác định thiệt hại cần phải chú ý đến thời điểm xác định thiệt hại bởi là cùng  
một thiệt hại nhưng thời điểm khác nhau thì tổn thất sẽ khác nhau, do chênh lệch về  
giá cả, biến động tỷ giá,... Theo quy định hiện hành chưa quy định cụ thể thời điểm  
gây ra thiệt hại là thời điểm xảy ra thiệt hại hay thời điểm đưa vụ án ra xét xử.  
Cùng với đó, trên thực tế việc đòi bồi thường các chi phí cơ hội do mất thị trường,  
khách hàng,... rất khó xác định. Việc tính toán thiệt hại chỉ xem xét đến thiệt hại thực  
tế, không xem xét đến thiệt hại vô hình như: khoản thu nhập bị mất, thiệt hại về danh  
dự, uy tín,... do vi phạm hợp đồng gây ra. Vì vậy, pháp luật cần thừa nhận thiệt hại do  
mất cơ hội làm ăn, uy tín bị giảm sút cũng là một thiệt hại cần được bồi thường  
Tại Điều 303 Luật Thương mại quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại nhưng lại không đề cập đến yếu tố lỗi của bên vi phạm phải chịu trách  
nhiệm. Về nguyên tắc một người chỉ phải chịu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm  
pháp luật và có lỗi khi vi phạm. Điều 303 Luật Thương mại đã gây ra sự hiểu lầm rằng  
cứ có thiệt hại bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường, bên vi phạm phải bồi  
thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi. Điều 294 Luật thương mại, cũng chỉ quy  
định trường hợp miễn trách nhiệm khi “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi  
của bên kia”. Do đó, để bảo vệ quyền lợi bên vi phạm, pháp luật cần quy định phân  
biệt hệ quả pháp lý do lỗi cố ý và lỗi vô ý để làm căn cứ xem xét việc giảm hoặc miễn  
trách nhiệm pháp lý trong trường hợp bên vi phạm có lỗi vô ý.  
3.4. Hoàn thiện các trường hợp miễn trách  
Như đã phân tích mục 3.7.3, tại Điều 294 Luật Thương mại chỉ đưa ra 4 trường  
hợp miễn trách nhiệm dẫn đến nguy cơ phát sinh trách nhiệm bồi thường rất cao với  
bên vi phạm. Việc quy định bổ sung các trường hợp giảm hoặc miễn trừ trách nhiệm  
là rất cần thiết.  
Thứ nhất, quy định bổ sung về trường hợp giảm hoặc miễn trừ trách nhiệm do  
một hoặc các bên trong hợp đồng gặp phải những điều kiện, hoàn cảnh khách quan  
dẫn đến khó khăn khi thực hiện hợp đồng và trường hợp cả hai bên chủ thể hợp đồng  
đều có lỗi, bên vi phạm nghĩa vụ không có lỗi cố ý hoặc hành vi vi phạm là do lỗi của  
bên thứ ba.  
Thứ hai, cần quy định thêm về thỏa thuận giữa các bên chủ thể về miễn và giảm  
trách nhiệm dân sự chỉ có hiệu lực khi bên vi phạm không phải là do lỗi cố ý hoặc là  
175  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
vi phạm cơ bản dẫn đến mục đích của hợp đồng không thể đạt được. Vì khi giao kết  
hợp đồng mỗi bên đều có mục đích nhất định nếu là vi phạm cơ bản sẽ làm cho bên bị  
vi phạm không đạt được múc đích.  
Thứ ba, cùng với chủ trương xây dựng án lệ tại Việt Nam,việc thừa nhận những án  
lệ để tạo dựng một bộ quy tắc để kiểm tra tính hợp lý của các thỏa thuận miễn trừ trách  
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là cần thiết. Trước hết, cần quy định trong pháp  
luật nguyên tắc chung để thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm có hiệu lực trên nguyên tắc,  
trung thực thiện chí. Trên cơ sở đó, cần phát huy vai trò của Tòa án các cấp trong việc  
xử lý tình huống cụ thể kết hợp với hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất của Tòa  
án nhân tối cao để hướng dẫn hình thành một bộ quy tắc thống nhất cho việc xem xét  
hiệu lực pháp lý của các thỏa thuận miễn trừ. Bởi vì, việc quy định một quy tắc chung  
cho tất cả những tình huống đa dạng trong kinh doanh thương mại là không thể.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb  
Chính trị quốc gia, Hà Nội  
2. Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp  
luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
3. Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận, Tập 1 và 2, Nhà xuất bản  
Hồng Đức -Hội Luật gia Việt Nam  
4. Lê Văn Sua (2005), Một số quy định về chế tài của Luật Thương mại năm 2005 cần được  
hoàn thiện.  
5. Lê Văn Sua (2005), Quy định về chế tài trong Luật Thương mại 2005 - một số vướng mắc  
và kiến nghị - (Tòa án quân sự khu vực 1 - QK 9)  
6. Nguyễn Đăng Duy (2014), Chế tài thương mại trong Luật Thương mại Việt Nam 2005,  
Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia.  
7. Phan Thùy Linh, Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại dưới góc độ so sánh pháp luật  
Việt Nam và Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, Luận văn thạc  
sĩ, Đại học Luật Hà Nội.  
8. Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam, (Đề tài khoa  
học và công nghệ cấp bộ - Mã số: b2008-10-11).  
176  
pdf 10 trang Thùy Anh 8880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_hieu_qua_ap_dung_che_tai_thuong_mai_va_mo.pdf