Vấn đề “hình sự hóa” quan hệ dân sự, kinh tế khi định tội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

VẤN ĐỀ “HÌNH SỰ HÓA” QUAN HỆ DÂN SỰ, KINH TẾ...  
KHI ĐỊNH TỘI ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN  
HÀ THỊ HỒNG THẮM*  
Trong bối cảnh nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tội phạm xâm phạm  
sở hữu nói chung, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng có xu hướng gia tăng với tính  
chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn, do đó quy định của pháp luật đã có sự  
thay đổi, bổ sung cho phù hợp. Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người  
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn gặp phải một số hạn chế nhất định. Trong phạm  
vi bài viết, tác giả phân tích hạn chế về việc hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế khi  
xử lý đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.  
Từ khóa: Chiếm đoạt tài sản, dân sự hóa, hình sự hóa, lừa đảo, trách nhiệm hình sự.  
Ngày nhận bài: 07/9/2020; Biên tập xong: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020  
In the context of increasingly developed economy, the crimes infringing  
property generally, the crime of fraudulent appropriation of property particularly  
tends to increase with dangerous and sophisticated modus operandi. Therefore,  
the laws have been accordantly amended and supplemented. However, the  
criminal prosecution for the offenders of fraudulent appropriation of property still  
encounters some limitations. In this article, the author analyzes shortcomings on  
the criminalization of civil and economic relations in dealing with the crime of  
fraudulent appropriation of property.  
Keywords: Appropriation of property, civilianize, criminalize, fraud, criminal liability.  
1. Đặt vấn đề  
“Hình sự hóa” là một khái niệm  
pháp lý được sử dụng rộng rãi trong  
lĩnh vực lập pháp hình sự. Đây là việc  
quy định mới trong Phần các tội phạm  
của Bộ luật hình sự (BLHS), chế tài hình  
sự (hình phạt) đối với hành vi nguy  
hiểm cho xã hội nào đó mà nay mới bị  
coi là tội phạm hoặc tăng nặng hơn loại,  
mức hình phạt đối với một số loại tội  
phạm mà trước đây đã quy định hoặc  
loại, mức hình phạt nhẹ hơn đối với một  
Trong những năm vừa qua, việc  
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với  
hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài  
sản được thực hiện tương đối nhiều trên  
thực tế. Trong quá trình đó, không ít hạn  
chế đã bộc lộ, trong đó có thể kể đến việc  
hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế.  
Đây là hướng xử lý tiêu cực khi truy cứu  
trách nhiệm hình sự đối với hành vi lừa  
đảo chiếm đoạt tài sản mà cơ quan tiến  
hành tố tụng phải khắc phục để có thể  
định tội đúng đối với tội danh này.  
1
số loại tội phạm đó. Nội dung hình sự  
hóa là việc quy định mới chế tài hình sự  
2. Vấn đề hình sự hóa các quan hệ  
dân sự, kinh tế  
* Thạc sĩ, Khoa Luật - Trường Đại học Công nghệ  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 17  
VẤN ĐỀ “HÌNH SỰ HÓA” QUAN HỆ DÂN SỰ, KINH TẾ...  
đối với hành vi nguy hiểm mới bị coi là  
tội phạm hoặc tăng nặng hơn loại, mức  
hình phạt đối với một số loại tội phạm  
trong BLHS.  
của mình phải phân biệt được sự khác  
nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  
và vi phạm nghĩa vụ trong các giao dịch  
dân sự, kinh tế.  
Như vậy, hình sự hóa là hoạt động  
lập pháp hình sự mà chỉ Quốc hội mới  
được tiến hành. Tuy nhiên, trong thực  
tiễn, thuật ngữ “hình sự hóa” thường  
sử dụng để chỉ hoạt động của các cơ  
quan tiến hành tố tụng gắn liền với hiện  
tượng tiêu cực trong công tác khởi tố,  
điều tra, truy tố, xét xử. Đó là việc cơ  
quan, người tiến hành tố tụng hình sự  
áp dụng quy định của pháp luật hình  
sự để giải quyết các tranh chấp, vi phạm  
pháp luật mà đáng lẽ ra phải dùng các  
quy phạm pháp luật phi hình sự để giải  
quyết nên đã gây ra tình trạng oan, sai.  
Việc giao kết và thực hiện hợp đồng  
trong lĩnh vực dân sự, kinh tế làm phát  
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham  
gia hợp đồng và hầu hết đều có liên  
quan đến việc giao, nhận, hoàn trả tài  
sản giữa các bên. Việc vi phạm nghĩa vụ  
giao, nhận, hoàn trả tài sản giữa các bên  
ký kết hợp đồng, tùy theo từng trường  
hợp mà phải chịu trách nhiệm dân sự,  
kinh tế; chấm dứt hợp đồng, bồi thường  
thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng theo  
thỏa thuận, phạt tiền; trường hợp lợi  
dụng việc giao kết, thực hiện hợp đồng  
trong lĩnh vực dân sự, kinh tế để chiếm  
đoạt tài sản của người khác thì phải chịu  
trách nhiệm hình sự. Nếu có hành vi  
gian dối để giao kết, thực hiện hợp đồng  
rồi chiếm đoạt tài sản của người khác  
thì phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.  
Như vậy, hành vi chiếm đoạt chính là  
tiêu chí chủ yếu để phân biệt hành vi có  
dấu hiệu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt  
tài sản với hành vi vi phạm hợp đồng,  
tránh hình sự hóa quan hệ dân sự.  
Hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh  
tế nảy sinh từ các quan hệ dân sự, kinh  
tế, những quan hệ có tính chất giao dịch  
hợp đồng giữa hai bên hoặc nhiều bên.  
Trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự  
đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,  
hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế là  
việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi  
tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội lừa đảo  
chiếm đoạt tài sản đối với những trường  
hợp đáng lẽ do pháp luật dân sự và kinh  
tế điều chỉnh. Đây chính là việc áp dụng  
sai pháp luật dẫn đến hậu quả xử lý oan  
người vô tội, làm ảnh hưởng lớn đến uy  
tín của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do  
đó, chống hình sự hóa quan hệ dân sự,  
kinh tế trong áp dụng pháp luật hình sự  
đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là  
một vấn đề hết sức quan trọng mà yêu  
cầu đặt ra là các cơ quan tiến hành tố  
tụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ  
Tuy nhiên, mục đích, ý thức chiếm  
đoạt tài sản thường được che giấu nên  
các cơ quan tiến hành tố tụng phải  
chứng minh nhằm xác định có hành vi  
chiếm đoạt hay không. Đây là một việc  
làm tương đối khó khăn. Vì vậy, trong  
thực tế xảy ra không ít các trường hợp  
cơ quan tiến hành tố tụng đã hình sự  
hóa các quan hệ dân sự, kinh tế khi giải  
quyết các vụ án về tội lừa đảo chiếm  
đoạt tài sản. Để xác định có hành vi  
18 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
HÀ THỊ HỒNG THẮM  
chiếm đoạt hay không trong các trường  
hợp có liên quan đến giao kết hay thực  
hiện các nghĩa vụ của hợp đồng, cần  
phải xem xét một cách đầy đủ, toàn diện  
các nội dung như: Thời hạn phải hoàn  
trả tài sản theo hợp đồng; Bên vi phạm  
hợp đồng có cố ý không thực hiện nghĩa  
vụ hoàn trả tài sản hay không, có ý thức  
chiếm đoạt hay không; Người có tài sản  
(chủ sở hữu hoặc người đang quản lý  
hợp pháp) đã thực sự mất quyền hợp  
pháp của mình đối với tài sản chưa; Xem  
xét việc thực tế thực hiện hợp đồng. Ví  
dụ như mục đích vay, mượn tài sản ghi  
trong hợp đồng và thực tế có sử dụng  
tài sản theo nghĩa vụ hợp đồng hay  
không,... Chỉ sau khi xem xét đầy đủ nội  
dung trên kết hợp với các yếu tố, tình  
tiết khác có trong hồ sơ vụ án thì mới có  
thể xác định được có hành vi chiếm đoạt  
hay không. Nếu chứng minh được có  
hành vi chiếm đoạt trong khi thực hiện  
thì mới có thể xử lý hình sự (kết hợp với  
giá trị tài sản thỏa mãn định lượng theo  
quy định của luật), nếu không thì việc  
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chỉ có thể bị  
xử lý theo trách nhiệm dân sự, kinh tế.  
Điều này có thể được minh họa thông  
qua ví dụ cụ thể sau: A hợp đồng thuê  
xe ô tô của B để đi du lịch tại địa điểm H  
trong 10 ngày. Đến thời hạn trả nhưng  
A đã không trả xe cho B. Như vậy, A đã  
vi phạm hợp đồng (hợp đồng thuê xe)  
giữa A và B. Việc xử lý hành vi của A có  
thể có các trường hợp sau:  
nói với B là để đi du lịch nên B giao xe  
cho A. Tuy nhiên, ngay sau khi nhận xe  
ôtô, A không đi du lịch mà đem đặt xe  
lấy tiền đánh bạc. Trường hợp này, A có  
ý định chiếm đoạt từ trước khi thuê xe  
của B để lấy tiền đánh bạc nhưng lại lừa  
dối B là thuê xe để đi du lịch nên B đã  
tưởng thật và giao xe cho A. Đến khi phải  
trả xe, A không trả được và thực tế xe đã  
bị chiếm đoạt. Vì vậy, trường hợp này A  
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.  
Trường hợp thứ hai: A thuê xe ôtô  
đúng là để đi du lịch, A đã chuẩn bị đầy  
đủ hành trang và sau khi thuê xe, A lái  
xe đó đi du lịch. Tuy nhiên, trong thời  
gian đi du lịch A đã đánh bạc hết tiền, A  
đem xe đi cầm cố tại tiệm cầm đồ lấy tiền  
chơi bạc, đến thời hạn phải trả xe cho B  
thì A không trả được. Trong trường hợp  
này, việc A nhận xe của B là hoàn toàn  
ngay thẳng, hợp pháp, nhưng sau khi  
nhận xe, A đã sử dụng vào mục đích bất  
hợp pháp và chiếm đoạt nên A phạm tội  
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.  
Trường hợp thứ ba: Sau khi thuê  
xe ôtô, A đã đi du lịch theo đúng thỏa  
thuận ghi trong hợp đồng. Đến thời hạn  
phải trả xe cho B, A không trả mà sử  
dụng xe ôtô đi du lịch tiếp ở nơi khác,  
A điện thoại về nói với B là tiếp tục thuê  
xe thêm để đi du lịch nơi khác, B không  
đồng ý nhưng A vẫn đi và nói với B sẽ  
trả xe ôtô cho B sau vài ngày nữa. A  
không có ý thức chiếm đoạt và sau 15  
ngày A mang xe đến trả B. Trong trường  
hợp này, A đã vi phạm hợp đồng về thời  
hạn hoàn trả xe, nhưng do A không có  
hành vi chiếm đoạt nên A chỉ phải chịu  
trách nhiệm dân sự.  
Trường hợp thứ nhất: Trước khi đến  
thuê xe, do A đánh bạc đã thua hết tiền  
nên đã tìm cách thuê xe của B với mục  
đích chiếm đoạt chiếc xe. Khi thuê xe, A  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 19  
VẤN ĐỀ “HÌNH SỰ HÓA” QUAN HỆ DÂN SỰ, KINH TẾ...  
Trường hợp thứ tư: A thuê xe của  
B và sử dụng vào mục đích để đi du  
lịch đúng như trong hợp đồng thuê xe  
nhưng trong khi lái xe A bị tai nạn, xe  
của B bị hỏng, đến thời hạn trả xe cho  
B nhưng A không trả được. A không có  
tiền để đi sửa xe hoặc mua xe mới để trả  
cho B. Trong trường hợp này, đúng là  
A không trả xe cho B nhưng việc không  
trả là có lý do khách quan, A không có ý  
định chiếm đoạt, vì thế A chỉ phải chịu  
trách nhiệm dân sự.  
trường hợp hợp đồng trong lĩnh vực dân  
sự, kinh tế được bảo đảm bằng các biện  
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân  
sự như: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh,... ký  
kết theo đúng quy định của pháp luật thì  
các hành vi vi phạm nghĩa vụ được giải  
quyết bằng các biện pháp dân sự, kinh tế.  
Vì vậy, hành vi vi phạm đó không phải  
là hành vi phạm tội và không thể bị truy  
cứu trách nhiệm hình sự. Hoặc trường  
hợp hợp đồng được ký kết do một bên  
bị ép buộc, cưỡng bức và bị tố cáo hình  
sự thì hợp đồng đó là vô hiệu, không làm  
phát sinh quyền hợp pháp được bảo vệ  
của bên cưỡng bức nên đã loại trừ trách  
nhiệm hình sự của bên vi phạm nghĩa  
vụ, bên bị cưỡng bức. Ví dụ: A sở hữu  
một căn nhà và đã thế chấp nhà để vay  
tiền ở ngân hàng. A nợ B một số tiền, đến  
hạn phải trả mà chưa có tiền để trả. Mặc  
dù A đã nói rõ cho B biết là căn nhà đó A  
đang thế chấp tại ngân hàng nhưng B vẫn  
dùng vũ lực ép buộc A viết giấy bán nhà  
cho B nhằm ràng buộc việc trả nợ. Không  
còn cách nào khác, A đã phải viết giấy  
bán căn nhà đó cho B theo yêu cầu của B.  
Sau đó, do không nhận được nhà, Acũng  
chưa trả được nợ, B đến cơ quan Công  
an tố cáo hành vi của A là lừa đảo chiếm  
đoạt tài sản. Trong trường hợp này, việc  
khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  
đối với hành vi của A chính là đang hình  
sự hóa quan hệ dân sự. A viết giấy bán  
nhà do bị B ép buộc và A cũng không có  
ý định cũng như hành vi chiếm đoạt số  
tiền mà A đã vay của B thông qua việc  
viết giấy bán nhà đó.  
Như vậy, mặc dù trong các trường  
hợp nêu trên đều có biểu hiện cụ thể giống  
nhau, đó là: A thuê xe ô tô của B để đi du  
lịch và đến thời hạn phải trả xe, A không  
trả được. Tuy nhiên, nếu chứng minh  
được A có ý thức chiếm đoạt và có hành  
vi chiếm đoạt thì tùy từng trường hợp mà  
A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội  
lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm  
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, còn  
trong những trường hợp không chứng  
minh được A có hành vi chiếm đoạt thì A  
chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự.  
Trên thực tế, các trường hợp hình  
sự hóa trách nhiệm dân sự, kinh tế khi  
xử lý về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài  
sản rất đa dạng, tương đối phức tạp và  
không dễ dàng nhận thấy nên các cơ  
quan tiến hành tố tụng có thể mắc phải  
sai lầm này. Tuy nhiên, thực tế có một số  
trường hợp đặc trưng khi vi phạm nghĩa  
vụ được thỏa thuận trong hợp đồng  
nhưng chưa có căn cứ để xác định trách  
nhiệm hình sự; truy cứu trách nhiệm  
hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  
trong các trường hợp đó là đang hình sự  
hóa quan hệ dân sự, kinh tế. Ví dụ như  
Qua những phân tích trên có thể  
nói rằng, yếu tố chiếm đoạt là dấu hiệu  
20 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
HÀ THỊ HỒNG THẮM  
định tội bắt buộc đối với tội phạm thuộc  
nhóm các tội xâm phạm sở hữu nói  
chung, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  
nói riêng. Ranh giới giữa vi phạm pháp  
luật dân sự, kinh tế hay tội phạm chủ  
yếu từ việc chứng minh: Có hay không  
có yếu tố chiếm đoạt tài sản. Vì vậy,  
để tránh việc hình sự hóa các quan hệ  
dân sự, kinh tế khi xử lý về tội lừa đảo  
chiếm đoạt tài sản, điều cốt lõi là phải  
có nhận thức, quan điểm đúng đắn về  
yếu tố chiếm đoạt tài sản. Trong khoa  
học pháp lý hình sự, “Chiếm đoạt tài sản  
là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật  
tài sản đang thuộc sự quản lý của người  
khác thành tài sản của mình”1. Các đặc  
điểm pháp lý của hành vi chiếm đoạt  
bao gồm:  
dụng ngân hàng, tài sản bị chiếm đoạt  
có thể là vốn dưới hình thức tiền tệ (tiền  
Việt Nam hoặc ngoại tệ), quyền tài sản,  
các công cụ thanh toán (ngân phiếu thanh  
toán, séc hoặc các giấy tờ có giá). Tài sản  
này phải có thực, thuộc sở hữu của người  
bị chiếm đoạt và chủ sở hữu không từ  
chối quyền sở hữu đối với tài sản;  
Về mặt chủ quan, lỗi của người thực  
hiện hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực  
tiếp và với mục đích tư lợi. Người phạm  
tội biết rõ rằng tài sản mà mình có ý  
định chiếm đoạt đang có người quản lý  
nhưng vẫn mong chuyển dịch trái pháp  
luật tài sản đó thành tài sản của mình.  
3. Kết luận  
Khắc phục tình trạng “hình sự hóa”  
các vi phạm pháp luật dân sự để góp  
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả  
phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt  
tài sản cũng là một biện pháp cần được  
các cơ quan tư pháp quán triệt và thực  
hiện. Xác định ranh giới giữa tội lừa đảo  
chiếm đoạt tài sản với vi phạm pháp luật  
dân sự và người tiến hành tố tụng hình  
sự nhận thức đúng đắn, thống nhất vấn  
đề này là cơ sở để công tác đấu tranh  
phòng, chống tội phạm này được thực  
hiện một cách hiệu quả./.  
Về mặt khách quan, hành vi làm  
cho chủ tài sản mất khả năng thực tế  
thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử  
dụng, quyền định đoạt đối với tài sản  
đồng thời tạo cho người chiếm đoạt có  
thể thực hiện các quyền này. Những  
vấn đề quan trọng trong việc xác định  
hành vi chiếm đoạt tài sản là: không  
thực hiện việc hoàn trả tài sản, chuyển  
dịch quyền sở hữu tài sản trái pháp  
luật, chủ sở hữu bị mất vĩnh viễn quyền  
hợp pháp của mình đối với tài sản, một  
bên tham gia hợp đồng đã chiếm hữu,  
sử dụng, định đoạt tài sản của người  
khác như của mình;  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi,  
bổ sung năm 2017).  
2. Trường Đại học Luật thành phố Hồ  
Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt  
Nam (Phần các tội phạm – Quyển 1), NXB  
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.  
Đối tượng chiếm đoạt là tài sản phải  
đang có người quản lý. Trong lĩnh vực tín  
1ꢀ.  
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh  
(2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các  
tội phạm – Quyển 1), NXB Hồng Đức – Hội Luật  
gia Việt Nam, tr 166.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 21  
pdf 5 trang Thùy Anh 12380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề “hình sự hóa” quan hệ dân sự, kinh tế khi định tội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_hinh_su_hoa_quan_he_dan_su_kinh_te_khi_dinh_toi_doi_v.pdf