Thách thức đối với quản trị nhà nước từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
6
CHUYÊN MỤC
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC
THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC
TỪ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
LÊ QUANG HÒA*
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những tác động đa chiều
lên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quản trị nhà
nước trên cả hai phương diện thời cơ và thách thức. Bài viết nhận diện những
thách thức đối với quản trị nhà nước từ cuộc cách mạng này, từ đó đưa ra một
số gợi mở đối với Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: thách thức, quản trị nhà nước, cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Nhận bài ngày: 17/3/2020; đưa vào biên tập: 15/6/2020; phản biện: 21/6/2020;
duyệt đăng: 20/8/2020
1. DẪN NHẬP
phép các chính phủ tăng cường sức
mạnh công nghệ của mình trong quản
lý, kiểm soát người dân thông qua các
hệ thống giám sát, kiểm soát bằng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật số. Trong kỷ
nguyên kỹ thuật số, một mặt cách
mạng công nghiệp 4.0 mang đến cơ
hội nâng cấp hoạt động của nhiều
chính phủ, nhưng mặt khác cũng
mang đến những cơn ác mộng khó
lường về mặt quản trị nhà nước.
Paunova (2016: 12-15) cũng khẳng
định, do cuộc cách mạng công nghiệp
4.0, các chính phủ ngày càng phải
chịu áp lực lớn để tái cấu trúc và sắp
xếp lại các biện pháp ứng phó đối với
các cam kết công khai và hoạch định
chính sách. Lập luận của các tác giả
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư (cách mạng công nghiệp 4.0) được
đặc trưng bởi cách mạng hóa thế giới
vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Đồng
thời, sự ra đời của các công nghệ mới
cho phép người dân bày tỏ ý kiến của
mình thông qua các mạng xã hội
(facebook, zalo, whatsapp, twitter…)
và các nền tảng trực tuyến khác đòi
hỏi các chính phủ phải nâng cao trách
nhiệm xã hội của mình. Bên cạnh đó,
Schwab (2016) lập luận rằng, sự ra
đời của các công nghệ hiện đại cho
*
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.
LÊ QUANG HÒA – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC…
7
được đặt ra trên quan điểm: chức truyền thống, hành chính máy móc,
năng ban hành và thực thi chính sách thứ bậc từ trên xuống, từ đó mất đà,
không theo kịp với những biến đổi của
xã hội dưới tác động của cách mạng
công nghệ mới. Do đó, những thay đổi
nhanh chóng từ cách mạng công
nghiệp 4.0 đang yêu cầu quan chức,
các chính phủ phải nhạy bén và sáng
tạo nắm lấy các công nghệ mới.
của chính phủ chậm nhưng chắc chắn
trước đây bị xuống hạng do sự cạnh
tranh mới trong phân phối lại và phân
cấp quyền lực được kích hoạt bởi các
công nghệ mới. Quá trình chính sách
của các chính phủ tỏ ra chậm chạp và
xơ cứng trước những biến đổi vô
cùng nhanh chóng của xã hội dưới tác
động của cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 (kết nối vạn vật (IOT), dữ
liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo
(AI)...).
Theo quan sát của Prisecaru (2016:
57-62), khu vực tư nhân đã thực hiện
các sáng kiến để chào đón các công
nghệ mới. Do đó, sự hợp tác của các
chính phủ, doanh nghiệp, xã hội công
dân và các cơ quan quản lý có vai trò
rất quan trọng để khai thác lợi ích từ
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Nhìn chung, hầu hết các học giả đều
khẳng định: để quản trị nhà nước có
thể song hành cùng cách mạng công
nghiệp 4.0, các chính phủ cần có khả
năng bắt kịp công nghệ mới vì các
cấu trúc hành chính sẽ phải đáp ứng
được các cơ chế hiệu quả, minh bạch
và cạnh tranh toàn cầu (Schwab,
2016). Tuy nhiên, hiện nay nhiều
chính phủ vẫn còn duy trì theo cách
2. QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG
THÁCH THỨC ĐẶT RA TỪ CUỘC
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN
THỨ TƯ
2.1. Khái lược về quản trị nhà nước
Quản trị nhà nước (Governance) “là
Bảng 1. Quản lý nhà nước và quản trị nhà nước
Quản lý nhà nước
Quản trị nhà nước
Các yếu tố chính:
Các yếu tố chính:
+ xác định thẩm quyền của nhà nước
+ xác định các nguồn lực và tài nguyên được
giao phó cho nhà nước
+ phân định thẩm quyền (phân công,
phân nhiệm)
+ tổ chức quản trị các tài nguyên đó qua các thể
chế chính thức/phi chính thức
+ tổ chức thực hiện thẩm quyền
+ biện pháp khuyến khích và cưỡng chế
Quan tâm chính:
+ đảm bảo quyền tham gia của người dân
Quan tâm chính: => nhận biết quyền lực =>
quyền lực được trao cho ai, trao như thế nào, =>
người điều hành quốc gia tổ chức các chính sách
sao cho hiệu quả và cung cấp các dịch vụ công
thật tốt, => đảm bảo sự giám sát, tham gia của
người dân.
+ tổ chức bộ máy
+ quy trình
+ thẩm quyền của từng cơ quan
Nguồn: Đại học Fulbright. 2018. Chương trình Fulbright về “Quản trị nhà nước và chính
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
8
cách thức chính quyền thực thi quyền cao việc áp dụng các nguyên tắc thị
trường cũng như kỹ năng và quy trình
quản lý của khu vực tư nhân vào các
tổ chức công; (3) mô hình quản trị
công mới, xuất hiện từ những năm
đầu thế kỷ XXI, với 3 đặc điểm căn
bản, thứ nhất; đề cao sự hợp tác giữa
các chủ thể đa dạng để hiện thực hóa
các giá trị phổ quát, cụ thể là, hướng
đến thỏa mãn các mong đợi của số
đông người dân, chứ không chỉ nhằm
đạt được hiệu lực hay hiệu quả trong
thực thi chính sách, thứ hai, nhấn
mạnh các quy trình chính thức nhằm
tạo ra các cam kết đa chủ thể có thể
thực thi - chính quyền sẽ hoạt động
như một nhà điều phối sự khác biệt
về mong đợi và lợi ích của các chủ
thể đa dạng, thứ ba, coi hàng hóa
công là sản phẩm của sự hợp tác
giữa các chủ thể công, tư và các chủ
thể phi lợi nhuận. Thời gian gần đây,
nhiều học giả còn bàn đến lý thuyết/
mô hình quản trị nhà nước tốt (good
governance) với những phân tích và
điểm nhấn vào các hệ quy chiếu và
tiêu chí cụ thể để đo lường, đánh giá,
tuy nhiên, về căn bản vẫn dựa vào
các đặc điểm của mô hình quản trị
công vừa nêu.
lực của mình trong quản lý nguồn lực
kinh tế, xã hội của đất nước vì mục
tiêu phát triển” (Ngân hàng Thế giới -
WB, 1994: xiv). Đây là khái niệm
thường được sử dụng và trích dẫn
hiện nay. Theo đó, quản trị nhà nước
được Ngân hàng Thế giới (1994: xiv)
định hình, đánh giá, đo lường từ 3
phương diện căn bản: “(i) cấu trúc của
thể chế chính trị; (ii) quá trình thực thi
quyền lực chính trị trong quản lý
nguồn lực kinh tế, xã hội của đất nước
vì mục tiêu phát triển; (iii) năng lực
của chính quyền trong hoạch định,
thực thi chính sách công và trong việc
thực hiện các chức năng khác của
của mình”. Như vậy, có thể nói rằng,
khái niệm quản trị nhà nước không
phải là khái niệm mới với nội hàm
hoàn toàn mới mà chỉ là phái sinh từ
khái niệm quản lý nhà nước [một cách
truyền thống] với hàm ý nhấn mạnh
các yếu tố và sự quan tâm của chính
quyền trước những biến đổi của xã
hội hiện đại (Bảng 1).
Thực ra, quản trị nhà nước có nội
hàm là bước phát triển dài trong lịch
sử lý thuyết/mô hình về “Quản lý
công”. Quản trị nhà nước được bắt
đầu từ (1) lý thuyết hành chính công
truyền thống, xuất hiện từ cuối thế kỷ
XIX, đặc biệt coi trọng vai trò của hệ
thống các cơ quan và đội ngũ công
chức chính quyền, cũng như các quy
trình quản lý hành chính trong việc
quản lý xã hội; (2) lý thuyết quản lý
công mới (new public management),
nổi lên từ đầu những năm 1980, đề
Với những đặc điểm căn bản trên,
quản trị nhà nước (quản trị công mới)
buộc phải đối mặt với những thách thức
từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
2.2. Những thách thức từ cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư
đối với quản trị nhà nước
Thứ nhất, thách thức đối với vấn đề
giải quyết việc làm (quản lý thất nghiệp)
LÊ QUANG HÒA – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC…
9
Việc sử dụng công nghệ ngày càng Backhouse, 2016: 228-240). Sự sẵn
sàng về các yêu cầu ấy (tri thức và kỹ
năng điện tử) quyết định việc công
dân có khả năng tham gia đầy đủ vào
các hoạt động kinh tế - xã hội trong xã
hội thông minh hay không (Manda and
Backhouse, 2016: 228-240). Mức độ
sẵn sàng đáp ứng rất thấp của công
dân ở các nước đang phát triển đang
là một trở ngại lớn trong việc chuyển
đổi sang xã hội thông minh, tất yếu
dẫn đến thất nghiệp, tạo ra vấn đề
nan giải đối với các chính phủ hiện
nay.
tăng trong cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 đã đem lại nỗi ám ảnh về
nạn thất nghiệp. Theo Diễn đàn Kinh
tế Thế giới (World Economic Forum),
những chuyển đổi hiện nay đang ảnh
hưởng đến các ngành công nghiệp
toàn cầu, đặc biệt là liên quan đến
công việc vì khoảng cách giữa các
công việc thiết yếu, sáng tạo với công
việc giản đơn, mang tính dây chuyền;
giữa lao động chất lượng cao với lao
động mang tính kỹ năng ngày càng
nới rộng. Các công việc giản đơn,
mang tính dây chuyền ngày càng bị
thay thế bởi tự động hóa, rô-bốt hóa.
Điều này tất yếu dẫn đến tỷ lệ thất
nghiệp cao, đặc biệt đối với các nước
đang phát triển, nơi mà lao động thủ
công, lao động giản đơn, lao động tay
nghề thấp vẫn đang chiếm tỷ lệ chủ
yếu (Schwab, 2016). Chính phủ các
nước đang phải đấu tranh quyết liệt
để hạn chế tỷ lệ thất nghiệp cao, nhất
là các nước đang phát triển, ví dụ
chính phủ Nam Phi đang phải gánh
chịu một đòn nặng nề khi đất nước
đang vật lộn với tỷ lệ thất nghiệp khá
cao theo dữ liệu tài khoản quốc gia.
Thứ hai, thách thức đối với việc quản
lý khu vực doanh nghiệp, khu vực FDI
Cùng với sự phát triển của khoa học
công nghệ, các doanh nghiệp cũng
nhanh chóng thích ứng, tận dụng cơ
hội và nền tảng công nghệ mới, nhiều
mô hình, dạng doanh nghiệp mới với
các phương thức kinh doanh mới
(ứng dụng công nghệ mới, sử dụng
phần mềm, thương mại điện tử…)
được hình thành, ví dụ như Uber hay
Airbnb. Các doanh nghiệp với mô hình
kinh doanh mới này hoạt động khoảng
10 năm nhưng đã đặt ra nhiều vấn đề
về quản trị nhà nước. Khi các loại
Các hệ thống đổi mới và cộng đồng tri hình này phát triển ngày càng đa dạng,
thức hiện thời đã cung cấp một cách chính phủ cần phải chuẩn bị tốt hơn
phổ biến các hướng dẫn cần thiết cho để có thể tái cấu trúc thể chế quản lý,
phát triển và ứng dụng các sáng kiến
tránh tình trạng lũng đoạn, chuyển giá,
thông minh, kỹ thuật số (Abdoullaev, trốn thuế… gây thất thoát cho nhà
2016). Tư duy - hành động điện tử (kỹ nước – một trong những nguyên nhân
năng điện tử và kiến thức điện tử) của cái gọi là nhà nước thất bại. Các
được xác định là cơ bản trong sự doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là
thành công của cái gọi là xã hội thông doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
minh (Smart Society) (Manda and ngoài đã ứng dụng linh hoạt thành tựu
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
10
mới của khoa học công nghệ để tiến thông minh. Nhìn chung, do cơ sở hạ
hành “chuyển giá” rất tinh vi trong các tầng công nghệ thông tin kém, nên
lĩnh vực từ sản xuất, thương mại cho hầu hết chính phủ ở các nước đang
đến dịch vụ, du lịch; trong các khâu phát triển gặp khó khăn trong nỗ lực
của quá trình sản xuất kinh doanh - thực hiện công nghiệp 4.0. Ví dụ, sự
đặt ra áp lực mạnh mẽ lên các cơ thâm nhập băng thông rộng ở các
quan thuế và cơ quan quản lý khác nước đang phát triển vẫn còn thấp so
của nhà nước. Ở phương diện khác, với các nước, các nền kinh tế phát
các doanh nghiệp là các tập đoàn đa triển - nơi được coi là dẫn đầu về
quốc gia, xuyên quốc gia, với lợi thế băng thông rộng và cơ sở hạ tầng
về tiềm lực tài chính - nhân lực - công nghệ thông tin khác. Thâm nhập
nghiên cứu và phát triển… đã nhanh băng thông rộng là một trong những
chóng ứng dụng, tận dụng lợi thế từ điều kiện để chuyển đổi sang xã hội
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo thông minh – xã hội được dẫn dắt bởi
ra những thành công bứt phá; đồng kết nối kỹ thuật số, công nghệ tiên tiến,
thời cũng tạo ra không ít khó khăn cho kỹ năng, tri thức và sáng tạo. Hạ tầng
quản lý của các nước sở tại liên quan công nghệ thông tin liên quan đến các
đến dịch chuyển dòng vốn và chuyển nội dung chính như: chính phủ điện tử,
giá. Các nước đang phát triển có nhu quản lý xã hội thông minh, quản lý nền
cầu rất lớn về vốn và thường kêu gọi kinh tế kỹ thuật số - thương mại điện
đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các tập tử… Hiện nay, hạ tầng công nghệ
đoàn này. Không thể phủ nhận những thông tin đang là những thách thức
thành tựu mà khu vực này đóng góp, vô cùng lớn đối với các chính phủ
như chuyển giao các công nghệ hiện trong bối cảnh cách mạng công
đại, trao đổi kinh nghiệm quản lý, rèn nghiệp 4.0.
luyện đội ngũ công nhân lao động
Thứ tư, thách thức đối với năng lực
lành nghề…; tuy nhiên, những hạn
thích ứng và tác phong làm việc của
chế về năng lực, trình độ quản lý của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà
chính phủ các nước cũng là thách
nước
thức không nhỏ.
Tính thứ bậc và mệnh lệnh hành
Thứ ba, thách thức đối với việc nâng
chính là một chuẩn mực mang tính
cấp cơ sở hạ tầng thông tin
đặc trưng riêng có của bộ máy quản lý
hành chính nhà nước. Tính thứ bậc
không chỉ thể hiện mối quan hệ giữa
Ngay cả ở Trung Quốc, một quốc gia
đang phát triển được xem là có cơ sở
hạ tầng tiên tiến, Liu and Zhou (2016: trung ương - địa phương, cấp trên -
cấp dưới, mà còn thể hiện ở cả sự
phân định rành mạch, rõ ràng về thẩm
quyền, chức năng, nhiệm vụ của các
cơ quan trong bộ máy quản lý hành
2016: 23-35) đã xác định những thách
thức xung quanh việc xuất hiện các
công nghệ mới như phân tích, phát
triển mạng lưới kết nối và thiết bị
LÊ QUANG HÒA – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC…
11
chính và cung cấp dịch vụ công. Tính thiểu rò rỉ nước; điều chỉnh ánh sáng
thứ bậc là chuẩn mực quan trọng để đường phố nông thôn bằng trực tuyến;
đảm bảo cho bộ máy quản lý hành giám sát và ra mắt chính quyền điện
chính nhà nước vận hành một cách tử Pragati - một nền tảng dữ liệu mở
thống nhất, thông suốt, hiệu lực và cho công dân, nhằm cải thiện quyền
hiệu quả, tuy nhiên, nó cũng chính là dữ liệu riêng tư, cung cấp dịch vụ
một trong những rào cản đối với chính phủ kỹ thuật số và tăng sự tham
những yêu cầu về tính đột phá, tốc độ, gia trực tuyến của công dân. Tuy
sáng tạo, đặc trưng của cuộc cách nhiên, Loesh Nara cũng chỉ ra những
mạng công nghiệp 4.0… Với thực tế mặt trái của công nghệ ảnh hưởng rất
ấy, năng lực ứng dụng công nghệ mới nghiêm trọng đến xã hội, đó là các
và lề lối, tác phong làm việc hiện đại, vấn đề về an ninh đời tư, an ninh
năng động của đội ngũ quản lý hành thông tin, lạm dụng phụ nữ và trẻ em
chính nhà nước đang được đặt ra để qua mạng xã hội, buôn lậu, bệnh
xây dựng các chính phủ năng động, nghiện game... Những áp lực mới đối
hiệu quả ngày nay.
với chính phủ liên quan đến giải quyết
các vấn đề xã hội mới nảy sinh: tương
tác xã hội yếu (quá lệ thuộc vào máy
móc, công nghệ) dẫn đến bệnh trầm
cảm tăng đột biến; bất bình đẳng; tội
phạm xã hội mới như mại dâm online,
đánh bạc online… có thể sẽ hoành
hành và rất khó kiểm soát. Hàng loạt
những vấn đề nan giải từ mặt trái của
công nghệ được đặt ra trong quản lý
nhà nước, đặc biệt là sự gia tăng của
tội phạm công nghệ cao, suy giảm
tương tác, kết nối xã hội và vấn đề an
ninh phi truyền thống.
Thứ năm, thách thức trong việc bảo
đảm an ninh và trật tự xã hội
Vấn đề đảm bảo an ninh là thách thức
không nhỏ đối với chính phủ các nước
trong thời đại cách mạng công nghiệp
4.0. Trước sự phát triển về công nghệ,
các vấn đề về an ninh khu vực, chủ
quyền quốc gia, an ninh chính trị như
“chiến tranh mạng”, “chủ quyền không
gian mạng”, “tội phạm công nghệ cao”,
“truyền bá tư tưởng”…, cho đến an
ninh, trật tự xã hội – do đời sống xã
hội dân sự đã thay đổi về phương
thức sống, cách thức tổ chức xã hội,
được đặt ra một cách cấp thiết. Một ví
dụ tiêu biểu là vấn đề an ninh trật tự
3. QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT
NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
xã hội ở Ấn Độ, Lokesh Nara - Bộ Những đánh giá chung về thách thức
đối với quản trị nhà nước trên thế giới
từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
như đã phân tích trên đây hoàn toàn
có thể diễn ra ở Việt Nam. Tuy nhiên,
việc định hình các thách thức cụ thể
và sắp xếp thứ tự, mức độ của mỗi
trưởng Bộ Công nghệ Thông tin và
Phát triển nông thôn bang Andhra
Pradesh của Ấn Độ đã chia sẻ một số
ví dụ về dân chủ hóa dữ liệu ở Andhra
Pradesh, như tạo ra bảng điều khiển
để theo dõi tàu chở nước và giảm
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
12
thách thức có thể sẽ khác nhau, xuất giá trị cơ bản cốt lõi trong các hoạt
phát từ và dựa vào đặc trưng động của mình.
riêng/điều kiện cụ thể của quản trị nhà
nước ở Việt Nam (đặc trưng về thể
chế chính trị và văn hóa chính trị).
4) Tính hệ thống: quản trị nhà nước
được thiết kế và vận hành theo một
hệ thống chặt chẽ và thông suốt từ
Trung ương tới các địa phương. Mỗi
cấp, mỗi cơ quan, công chức hoạt
động trong phạm vi thẩm quyền được
trao để cùng thực hiện tốt chức năng
quản trị công.
Quản trị nhà nước ở Việt Nam có
những đặc trưng riêng biệt và tùy vào
góc nhìn khác nhau mà có thể dẫn
đến các xác định khác nhau, tuy nhiên,
căn bản có thể phác họa mấy đặc
trưng (Ban Tổ chức Trung ương, 2016)
sau:
5) Tính chuyên môn hóa và nghề
nghiệp cao: hoạt động quản trị nhà
nước là một hoạt động đặc biệt và
cũng tạo ra những sản phẩm đặc biệt.
Điều này thể hiện trên cả phương diện
nghệ thuật và khoa học trong quản lý
nhà nước. Muốn nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản trị nhà nước, yêu cầu
những người làm việc trong các cơ
quan nhà nước phải có trình độ
chuyên môn nghề nghiệp cao trên các
lĩnh vực được phân công quản lý.
Tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp
cao là đòi hỏi bắt buộc đối với hoạt
động quản lý của các cơ quan nhà
nước và là yêu cầu cơ bản đối với
quản trị công phát triển theo hướng
hiện đại.
1) Nguyên tắc Đảng lãnh đạo: quản trị
nhà nước nói chung và nền hành
chính nhà nước nói riêng thuộc hệ
thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng lãnh
đạo toàn diện hệ thống chính trị và xã
hội.
2) Tính pháp quyền: quản trị nhà
nước được tổ chức và hoạt động tuân
theo những quy định của hiến pháp và
pháp luật, phải tuyệt đối tuân thủ pháp
luật, đảm bảo tính dân chủ, chính quy,
hiện đại, nhưng hoạt động phải có kỷ
luật, kỷ cương, nghiêm cấm tự do, tùy
tiện vượt lên trên hoặc đứng ngoài
pháp luật.
Từ việc nhận diện các đặc trưng cơ
bản của quản trị nhà nước, có thể
thấy một số thách thức cụ thể và nổi
lên đối với Việt Nam từ cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 như sau:
3) Tính phục vụ: quản trị nhà nước
phải hướng đến một nền công vụ tốt,
nền công vụ tạo lập môi trường, thể
chế hướng đến phục vụ người dân,
doanh nghiệp và tổ chức xã hội; một
nền công vụ lấy mục tiêu phục vụ
nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất để nhân dân thực hiện các hoạt
Thứ nhất, thách thức đối với việc đổi
mới tư duy và hành động ứng phó
trong quản lý nhà nước
động lao động sản xuất của cải vật Đây là thách thức mang tính trực diện
chất, cũng như các hoạt động hữu ích và tiên quyết trong đổi mới, cải cách
khác cho sự phát triển của xã hội làm quản trị nhà nước thích ứng với biến
LÊ QUANG HÒA – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC…
13
đổi của thời đại ở Việt Nam hiện nay. Trong suốt công cuộc đổi mới, việc cải
Có lẽ trong bất kỳ sự đổi mới nào, đổi cách nền quản trị công ở Việt Nam
được thể hiện qua rất nhiều văn kiện,
cương lĩnh, nghị quyết của Đảng cho
đến các chương trình, đề án cụ thể
của Chính phủ với mục tiêu như “xây
dựng một nền quản trị công dân chủ,
trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa”, hay “xây dựng
hệ thống cơ quan hành pháp thống
nhất, thông suốt, hiện đại”…, và mục
tiêu bao quát nhất là có được một
nền quản trị hiện đại. Tiêu chí để
đánh giá một nền quản trị nhà nước
hiện đại có thể được thiết lập từ rất
nhiều căn cứ khác nhau, căn bản có
thể dựa trên ba phương diện để đánh
giá: 1) có bộ máy hành chính hiện đại
(trọng tâm là cơ quan hành chính ứng
dụng khoa học, công nghệ thông tin;
cơ sở hạ tầng thông tin… - tức chính
phủ điện tử, chính quyền điện tử); 2)
có con người hiện đại (năng lực ứng
dụng, thích ứng với khoa học, công
nghệ thông tin của đội ngũ công chức,
viên chức nhà nước); 3) có cơ chế,
thể chế hiện đại (hệ thống quy định,
nền tảng pháp lý, các nguyên tắc vận
hành…). Trong đó, phương diện (1)
và (2) đều là những thách thức lớn
trong tiến trình cải cách quản trị nhà
nước thích ứng với cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 ở Việt Nam hiện nay.
Chỉ riêng Chỉ số cải cách hành chính
(PAR Index) - bộ công cụ quan trọng
để theo dõi, đánh giá hoạt động cải
cách hành chính được thực hiện trên
tất cả các lĩnh vực, gồm: cải cách thể
chế; cải cách tổ chức bộ máy hành
chính; đổi mới, nâng cao chất lượng
mới về tư duy là quan trọng và là
khởi đầu cho các đổi mới về thể chế
hay tổ chức bộ máy. Trong bối cảnh
hiện nay, với đối tượng quản trị nhà
nước là doanh nghiệp, người dân và
xã hội có nhiều thay đổi bởi sự phát
triển của cách mạng công nghiệp 4.0.
Vì vậy, cách tư duy trong quản trị nhà
nước cũng cần tiếp tục đổi mới. Tuy
nhiên, không có mô hình ứng xử
chung nào có thể áp dụng cho tất cả
các nước, mỗi quốc gia có quan điểm
và cách thức ứng xử riêng đối với
từng vấn đề đặt ra. Đối với Việt Nam
chuyển đổi tư duy và mức độ chuyển
đổi trong bối cảnh quản lý nền kinh tế
số hóa, kinh tế chia sẻ thời cách
mạng công nghiệp 4.0 vẫn đang là
thách thức lớn trong cải cách nền
quản trị quốc gia hiện nay. Trong
quản lý xã hội, những cụm từ “xã hội
mở”, “xã hội thông minh”, “công dân
toàn cầu”… không còn xa lạ, vấn đề
là quản lý hành chính/cung cấp dịch
vụ công/huy động nguồn lực đối với
những đối tượng này đòi hỏi phải bắt
đầu từ sự thay đổi mạnh mẽ tư duy
của đội ngũ quản lý hành chính nhà
nước. Những quan điểm nặng tính
“mệnh lệnh hành chính có lẽ cần
chuyển mạnh sang cách tư duy và
hành động mang tính linh hoạt và
mềm dẻo hơn, như “đối thoại, đàm
phán, hợp tác, kết nối”.
Thứ hai, thách thức đối với việc xây
dựng một nền quản trị nhà nước hiện
đại
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
14
đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách duy quản lý và xây dựng nền quản trị
hành chính công và hiện đại hóa nền công hiện đại đối với Việt Nam hiện
hành chính – được khảo sát ở các bộ
và tỉnh đều đang thể hiện ở mức độ
chưa cao.
nay. Những thách thức ấy đòi hỏi phải
có một sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về
tâm thế và năng lực của nhà nước
Việt Nam để thích ứng và đổi mới. Để
có được các giải pháp khả thi và hiệu
quả, cần thiết phải có những nghiên
cứu và quyết sách dựa trên các khảo
sát về nhu cầu, thực trạng; đánh giá
được những hạn chế yếu kém và
nguyên nhân một cách hệ thống và
quy mô.
4. KẾT LUẬN
Nhìn chung, cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 đặt ra những thách thức rất
lớn đối với quản trị nhà nước nói
chung, trong đó có Việt Nam. Bên
cạnh những thách thức mang tính phổ
quát (quản lý thất nghiệp; quản lý
doanh nghiệp; hạ tầng thông tin), nổi
lên những thách thức về đổi mới tư
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Abdoullaev, Azamat. 2011. A Smart World: A Development Model for Intelligent
Cities. The 11th IEEE International Conference on Computer.
2. Ban Tổ chức Trung ương. 2016. Nền hành chính và cải cách hành chính nhà nước.
Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên chính khối Đảng, Đoàn thể năm 2016.
3. Đại học Fulbright. 2018. Chương trình Fulbright về “Quản trị nhà nước và chính sách
5. Manda, Ickson and Backhouse, Judy. 2016. Towards a “Smart Society” Through a
Connected and Smart Citizenry in South Africa: A Review of the National Broadband
6. Paunova, E. 2016. “The Global Platform: Launching the Fourth Industrial Revolution”.
World Commerce Review, 10(1), pp. 12-15.
7. Prisecaru, P. 2016. “Challenges of the Fourth Industrial Revolution”. Knowledge
Horizons - Economics, 8(1), pp. 57-62.
8. Schwab, Klaus. 2016. The Fourth Industrial Revolution: What it Means and How to
Respond. World Economic Forum, Jan 2016.
9. World Bank. 1994. Development in Practice, Governance, the World Bank’s
Experience. Washington, D.C.
Bạn đang xem tài liệu "Thách thức đối với quản trị nhà nước từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thach_thuc_doi_voi_quan_tri_nha_nuoc_tu_cuoc_cach_mang_cong.pdf

