Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 9 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI  
Số 09 (433)  
Tháng 5/2021  
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030  
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ  
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ  
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030  
-
XÃ HỘI  
Số 09 (433)  
Tháng 5/2021  
Mục lục Số 09/2021  
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE  
Ở
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ  
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Lựa chọn các đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã  
hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030  
3
PGS. TS. Đinh Dꢀng Sꢁ  
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước  
TS. Phạm Thị Duyên Thảo  
11  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất  
trong pháp luật đất đai của Việt Nam  
17  
ThS. Nguyễn Diệu Anh  
CHÍNH SÁCH  
Hạn ngạch đối với nông sản xuất khẩu sang EU theo EVFTA  
22  
29  
ThS. Đỗ Thu Hương  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy  
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015  
TS. Nguyễn Hải Ninh  
Quy định của pháp luật về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam  
38  
42  
Nguyễn Hoꢂng Nam  
Hoạt động quảng cáo trên YouTube ở Việt Nam: thực trạng  
và kiến nghị  
Cao Ngọc Anh Thi  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Giáo dục bắt buộc áp dụng đối với người chưa thành niên  
phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và  
gợi mở cho Việt Nam  
48  
58  
ThS. Mai Thị Thủy  
Ảnh bìa: Cầu Cửa Hội  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Quy trình bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân  
ThS. Hoꢂng Thị Lan  
Ảnh: ST.  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ  
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030  
-
XÃ HỘI  
Số 09 (433)  
Tháng 5/2021  
Legis No 9/2021  
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE  
Ở
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ  
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN  
STATE AND LAW  
Selection of Strategic Breakthroughs in Socio-economic  
Development for the period 2021-2025 and up to 2030  
3
Prof. Dr. Dinh Dung Sy  
Responsibility for Legal Aid of the State  
11  
Dr. Pham Thi Duyen Thao  
DISCUSSION OF BILLS  
Surface Rights in Civil Law and the Land Use Rights in Land  
Law of Vietnam  
17  
22  
29  
LLM. Nguyen Dieu Anh  
POLICY  
Quotas for Agricultural Products exported to the EU under  
EVFTA  
LLM. Do Thu Huong  
LEGAL PRACTICE  
Protection of the Legitimate Rights and Interests of Victims and the  
Plaintiffs in accordance with the Criminal Procedure Code of 2015  
Dr. Nguyen Hai Ninh  
Legal Regulations on Embryo and Fetus in Vietnam  
Nguyen Hoang Nam  
38  
42  
Advertising Activities on YouTube in Vietnam: Status and  
Recommendations  
Cao Ngoc Anh Thi  
FOREIGN EXPERIENCE  
Compulsory Education to the Juvenile Offenders according to the  
provisions of the Criminal Code of the Russian Federation and  
References to Vietnam.  
48  
58  
LLM. Mai Thi Thuy  
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION  
Procedure for Election of Members of the People's Committee  
PRICE: 25.000VND  
LLM. Hoang Thi Lan  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030  
Đinh Dũng Sỹ  
PGS. TS. Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Giai đoạn 5 đến 10 năm tới là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong con đường phát  
triển của Việt Nam để trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm  
2045 như mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần  
thứ XIII của Đảng. Trên con đường phát triển của 25 năm tới, có nhiều thách thức  
nhưng cũng có nhiều cơ hội rất lớn; nếu tận dụng được cơ hội, có những lựa chọn  
và quyết sách đúng cho ưu tiên phát triển sẽ đưa đến thành công. Trong phạm vi  
bài viết này, tác giả chia sẻ một vài suy nghĩ về chiến lược phát triển đất nước cho  
giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030.  
Từ khóa: Đột phá chiến lược; phát  
triển kinh tế - xã hội giai đoạn  
2021-2025 và đến năm 2030; cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 26/3/2021  
: 12/4/2021  
: 14/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The period of 5 years to 10 years shall be an important milestone for Vietnam's  
development roadmap to becoming a developed and high-income country by  
2045 as it is set the goal in the Resolution of the 13th National Party Congress.  
On the development roadmap of the next 25 years, there are many challenges  
but also great opportunities; if it is to take advantage of opportunities, give out  
the right choices and decisions for development priorities, which shall lead to  
success. Within the scope of this article, the author shares some thoughts on the  
country's development strategy for the period 2021-2025 and up to 2030.  
Keywords: Strategic breakthrough;  
socio-economic development in the  
period of 2021-2025 and to 2030;  
fourth industrial revolution.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 26 Mar. 2021  
: 12 Apr. 2021  
: 14 Apr. 2021  
Approved  
Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước  
cũng như trên thế giới của 5 đến 10 năm  
tới có nhiều vấn đề, nhưng tất cả mọi thách  
thức cũng như cơ hội cho phát triển đều  
xoay quanh ba từ “CHUYỂN ĐỔI SỐ”.  
Điều đó cắt nghĩa rằng, tác động của cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN  
4.0) là nhân tố chính tạo ra cơ hội và cũng  
là thách thức cho con đường phát triển của  
chúng ta trong 5 đến 10 năm tới cũng như  
chặng đường 25 năm để trở thành một nước  
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.  
Việc chúng ta có tận dụng, nắm bắt được  
cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư tạo ra hay không sẽ là một trong  
những nhân tố quyết định sự thành bại của  
chúng ta trên con đường phát triển đó,  
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII nói về ba  
đột phá chiến lược, gồm: (1) Hoàn thiện  
đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể  
chế phát triển nền kinh tế thị trường định  
hướng XHCN; đổi mới quản trị quốc gia theo  
hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả; (2) Phát  
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực  
chất lượng cao; (3) Xây dựng hệ thống kết  
cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế  
và xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, tất cả ba  
đột phá chiến lược nêu trên, nếu muốn thành  
Số 09(433) - T5/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
công đều phải xoay quanh trục chính của sự  
nghiệp “chuyển đổi số”. Với quan điểm nêu  
trên, nhiệm kỳ Quốc hội, Chính phủ 2021-  
2026, tầm nhìn 2030 cần lựa chọn trọng tâm  
để thực hiện ba đột phá chiến lược nêu trên  
(các đột phá của đột phá); đồng thời với việc  
lựa chọn trọng tâm cho ba đột phá chiến lược  
cũng cần phát huy tiềm năng, lợi thế của đất  
nước để thúc đẩy phát triển bền vững. Với  
nhận thức đó, tác giả đề xuất lựa chọn bốn  
lĩnh vực trọng tâm đột phá dưới đây:  
hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập  
môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách  
hành chính. Nghị quyết Đại hội XIII đã có  
những thay đổi quan trọng trong đột phá chiến  
lược này. Với cụm từ “hoàn thiện đồng bộ thể  
chế phát triển”, nội hàm của đột phá chiến lược  
này tại Nghị quyết Đại hội XIII đã mở rộng  
hơn, bao gồm toàn bộ hệ thống thể chế cho  
phát triển. Ở đây, đặc biệt nhấn mạnh từ “phát  
triển”, và lựa chọn này phù hợp với quan điểm  
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển hay  
Chính phủ kiến tạo phát triển hiện nay.  
1. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,  
tiếp tục rà soát và sửa đổi, bổ sung toàn  
diện hệ thống pháp luật để phục vụ  
chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển  
Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số  
Sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã từng  
bước xây dựng được một hệ thống thể chế,  
pháp luật khá đầy đủ và đồng bộ trên hầu hết  
các lĩnh vực, đủ để điều chỉnh các quan hệ  
kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho quản  
lý nhà nước cũng như môi trường, hành lang  
pháp lý dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế -  
xã hội. Trong giai đoạn này, chúng ta có ba  
lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp2 và mỗi lần  
như vậy đánh dấu một giai đoạn mới của sự  
phát triển hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu  
cầu đổi mới, phát triển của đất nước. Giai  
đoạn thứ nhất từ 1986 đến 2001 (thời điểm  
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp  
năm 1992), đặc trưng của hệ thống pháp luật  
giai đoạn này là hệ thống pháp luật chuyển  
đổi, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,  
quan liêu, bao cấp sang “phát triển nền  
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ  
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,  
theo định hướng XHCN”3. Giai đoạn hai  
từ năm 2002 đến năm 2013 (thời điểm ban  
hành Hiến pháp năm 2013), đặc trưng của  
hệ thống pháp luật trong giai đoạn này là  
hệ thống pháp luật chuyển đổi và hội nhập.  
Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này có  
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ  
rõ: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,  
trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị  
trường định hướng XHCN. Đổi mới quản  
trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh  
hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng  
bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt  
hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo  
lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận  
lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành  
phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy  
động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi  
nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài  
chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân  
cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời  
tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát  
quyền lực bằng hệ thống pháp luật”1.  
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội  
2011-2020 cũng như Nghị quyết Đại hội XI và  
XII của Đảng mới chỉ xác định khâu đột phá  
này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định  
1 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nhà xuất bản Chính  
trị quốc gia sự thật, năm 2021, tr.337.  
2 Năm 1992 ban hành Hiến pháp năm 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980; Năm 2001 sửa đổi, bổ sung một số  
điều của Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 ban hành Hiến pháp mới.  
3 Điều 15 Hiến pháp năm 1992.  
4
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
thể coi là thế hệ thứ hai của hệ thống pháp  
luật thời kỳ đổi mới và cũng là thế hệ thứ hai  
của hệ thống pháp luật chuyển đổi, đồng thời  
hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.  
Giai đoạn ba từ năm 2014 đến nay và trong  
những thập kỷ tới, đặc trưng của hệ thống  
pháp luật giai đoạn này là hệ thống pháp luật  
hội nhập và kiến tạo phát triển. Có thể hiểu  
rằng, chủ ý và cũng là điểm nhấn đặc biệt  
của Nghị quyết Đại hội XIII là hoàn thiện thể  
chế cho phát triển chứ không phải là thể chế  
chung chung. Điều đó cũng có thể cắt nghĩa  
rằng, giai đoạn tới đây là giai đoạn nâng cấp,  
hoàn thiện thể chế ở một tầm cao mới, đó là  
thể chế cho phát triển gắn liền với quan điểm  
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trên  
nền tảng của hệ thống thể chế, pháp luật đã  
được xây dựng khá đầy đủ và đồng bộ sau 35  
năm đổi mới. Tác giả cho rằng, vấn đề cần  
ưu tiên, tập trung trong đột phá chiến lược  
của giai đoạn này là: Tiếp tục hoàn thiện hệ  
thống pháp luật để phục vụ chuyển đổi số,  
đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, nền  
kinh tế số, xã hội số. Sự lựa chọn này xuất  
phát từ lý do sau:  
kinh tế quy định, chi phối trình độ phát triển  
của pháp luật. Cũng có thể nói, pháp luật -  
một yếu tố của kiến trúc thượng tầng không  
bao giờ cao hơn hay đi trước hạ tầng kinh  
tế. Tuy nhiên, trong thời đại phát triển như  
vũ bão của khoa học, công nghệ ngày nay,  
đặc biệt là CMCN 4.0 thì có những lĩnh vực  
thể chế cần phải đi trước đón đầu, tạo cơ hội  
cho phát triển nhanh hơn. Chúng ta cũng đã  
có bài học và kinh nghiệm trong 35 năm đổi  
mới, khi vào thời điểm năm 1987 về cơ bản  
Việt Nam chưa có đầu tư nước ngoài, nhưng  
lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng và ban  
hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam4.  
Khi đó, Việt Nam chủ yếu nghiên cứu, tham  
khảo kinh nghiệm và thể chế pháp luật về  
đầu tư nước ngoài trong khu vực và trên thế  
giới, chắt lọc và cân nhắc từng nội dung để  
xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên  
của Việt Nam khi trong nước loại quan hệ  
đầu tư này còn rất hiếm hoi. Thậm chí, chỉ  
sau 10 năm, đến năm 1996 khi Việt Nam ban  
hành Luật Đầu tư nước ngoài mới thay thế  
Luật năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài năm  
1996 được đánh giá là tiến bộ nhất khu vực  
Đông Nam Á.  
- Tác động của CMCN 4.0 đến chuyển  
đổi nền kinh tế ở mọi quốc gia là rất lớn  
và cũng đã rất rõ ràng. Nếu quốc gia nào đi  
chậm trong cuộc cách mạng này thì sẽ tụt  
hậu rất xa. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội  
trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước  
đây, nay phải nắm bắt thời cơ, không thể để  
thời cơ trôi đi và mãi vẫn chỉ là một nước  
đi sau về muộn. Để phát triển được một nền  
kinh tế số trong 5 đến 10 năm tới, việc xây  
dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật, tạo  
nền tảng, môi trường pháp lý cho kinh tế số  
phải được ưu tiên, đi trước. Về mặt nguyên  
lý, pháp luật không bao giờ đi trước điều kiện  
kinh tế - xã hội. Điều kiện, trình độ phát triển  
- Trong bối cảnh CMCN 4.0, Việt Nam  
cần chạy đua với thời gian để nghiên cứu,  
từng bước hình thành khung khổ pháp lý cho  
phát triển các nền tảng số, như mạng 5G, trí  
tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), điện  
toán đám mây (Cloud Computing), Internet  
vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain)… Chỉ  
có thể phát triển thật nhanh các nền tảng số  
mới tạo lập được cơ sở và mở ra những ứng  
dụng đa dạng cho sự phát triển của kinh tế số,  
xã hội số. Theo đó, xây dựng và hoàn thiện  
thể chế cho sự phát triển của các nền tảng số  
và sau đó là các quan hệ của nền kinh tế số,  
xã hội số là yêu cầu cấp bách của 5 đến 10  
4 Trên thực tế, từ năm 1977, Việt Nam đã có văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư nước ngoài là “Điều lệ đầu tư  
nước ngoài tại Việt Nam”, được ban hành bởi Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng.  
Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài theo Nghị định này hầu như không đáng kể.  
Số 09(433) - T5/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
năm tới. Trong lĩnh vực này và ở thời điểm  
hiện nay, tác giả cho rằng, thể chế phải đi tiên  
phong, vừa làm, vừa quan sát, vừa học hỏi,  
không phải đứng đợi sự xuất hiện hay hoàn  
thiện của các quan hệ kinh tế, công nghệ.  
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Chính phủ  
cần tập trung chỉ đạo rà soát toàn bộ hệ thống  
pháp luật để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể  
chế phát triển, trong đó ưu tiên trọng tâm vào  
việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các  
luật để phục vụ xây dựng Chính phủ số, phát  
triển nền kinh tế số, xã hội số.  
trong nửa cuối của năm 2021 đến năm 2023,  
cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ,  
Luật Giao dịch điện tử, Luật Tần số vô tuyến  
điện, Luật Viễn thông…, đồng thời nghiên  
cứu sớm, ban hành các dự án luật mới để  
phục vụ phát triển các nền tảng số cũng như  
ứng dụng các nền tảng này trong phát triển  
kinh tế - xã hội như: Luật Công nghệ số,  
Luật về tiền số, tài sản số (thường gọi là tiền  
ảo, tài sản ảo)... Đặc biệt, trên tinh thần nghị  
quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần  
nghiên cứu, xây dựng và ban hành cơ chế  
khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo  
như cơ chế, chính sách cho hoạt động đầu  
tư mạo hiểm, phương thức làm thí điểm, thể  
chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory  
sandbox) trong lĩnh vực công nghệ tài chính  
(Fintech); cơ chế khuyến khích và bảo vệ  
những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu  
trách nhiệm, dám đương đầu với những khó  
khăn, thử thách và quyết liệt trong hành  
động vì lợi ích chung.  
Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên,  
ở khía cạnh tổ chức thực hiện, tác giả  
cho rằng:  
- Quốc hội khóa XV, tại kỳ họp thứ nhất,  
cần ban hành nghị quyết (hoặc thể hiện  
trong Nghị quyết kỳ họp của Quốc hội) về  
rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật, dự kiến  
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản  
luật, tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số,  
phát triển nền kinh tế, xã hội số.  
- Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo triển  
khai sâu rộng với những giải pháp thiết  
thực, hiệu quả “Chương trình chuyển đổi  
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030”, được ban hành theo Quyết định  
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ  
tướng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Thông tin  
và Truyền thông cũng sớm hoàn thiện, trình  
Chính phủ ban hành trong năm 2021 “Đề  
án phát triển kinh tế số Việt Nam đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030” đã được  
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày  
01/01/2021 của Chính phủ, tạo cơ sở, định  
hướng chính sách cho việc xây dựng, hoàn  
thiện lĩnh vực pháp luật này.  
- Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tổng rà soát  
hệ thống pháp luật giai đoạn hai ngay trong  
năm 2021. Tháng 2/2020, Thủ tướng Chính  
phủ đã thành lập Tổ công tác của Thủ tướng  
về rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật trên 10  
lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành.  
Kết quả rà soát bước đầu đã được Chính  
phủ báo cáo Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp  
thứ 10 Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, kết  
quả rà soát chủ yếu đánh giá về những mâu  
thuẫn, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ của  
hệ thống pháp luật, chưa thực sự toàn diện,  
và đặc biệt là chưa đi sâu nghiên cứu nhằm  
mục tiêu đổi mới hệ thống pháp luật trong  
bối cảnh của CMCN 4.0, chưa cập nhật đầy  
đủ những định hướng trong hoàn thiện đồng  
bộ thể chế phát triển của Nghị quyết Đại hội  
Đảng lần thứ XIII. Kết quả rà soát giai đoạn  
hai tiếp theo sẽ là cơ sở để đề xuất chương  
trình xây dựng luật, pháp lệnh cho các năm  
2022 đến 2026 và nhiệm kỳ tiếp theo. Ngay  
2. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng  
đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội  
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ:  
“Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,  
hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát  
triển một số công trình trọng điểm quốc gia  
6
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu;  
chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn  
thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia,  
từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”5.  
Từ những định hướng này, tác giả cho rằng,  
Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển hai  
lĩnh vực sau:  
từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; đến  
2030 mới phổ cập dịch vụ mạng di động  
5G. Tác giả cho rằng, các mục tiêu nêu trên  
là khá khiêm tốn, tốc độ phổ cập mạng 5G  
cũng như kinh tế số như vậy là chậm. Nếu  
chúng ta quyết tâm thực hiện chuyển đổi số  
nền kinh tế nhanh hơn, thì cần tập trung đầu  
tư xây dựng mạng 5G nhanh hơn nữa, đến  
năm 2026 có thể phổ cập dịch vụ mạng 5G,  
đặc biệt là phải phổ cập ở tất cả các thành  
phố và các trung tâm kinh tế, các khu kinh  
tế, khu công nghiệp trên cả nước.  
1) Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng  
công nghệ thông tin, các nền tảng số như:  
mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu  
lớn (Big data), điện toán đám mây (Cloud  
Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi  
khối (Blockchain)… thậm chí chúng ta  
cũng phải bắt đầu nghiên cứu ngay về mạng  
6G và điện toán lượng tử... là những công  
nghệ có thể nói là tất yếu của nhân loại trong  
tương lai gần. Bởi lẽ, việc phát triển nhanh  
các nền tảng số nêu trên và ứng dụng rộng  
rãi trong chuyển đổi số mới là tiền đề cho  
nền kinh tế Việt Nam có bước nhảy vọt, thay  
đổi về chất, để đi nhanh hơn trong sự nghiệp  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc  
biệt, trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, cần tập  
trung đầu tư phát triển mạng 5G nhanh hơn  
nữa, tạo cơ sở nền tảng cho việc chuyển đổi  
số các ngành kinh tế, các cơ quan, doanh  
nghiệp cũng như các lĩnh vực của đời sống  
xã hội. Hiện nay, tốc độ phát triển mạng  
5G của Việt Nam được cho là không chậm  
hơn so với các nước trên thế giới, nhưng  
chúng ta vẫn đang thua một số nước ở Đông  
Nam Á như Thái Lan (các nhà mạng của  
Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm và dự  
kiến sẽ khai thác thương mại từ giữa năm  
2021). Theo Chương trình chuyển đổi số  
quốc gia đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030 được phê duyệt bởi Quyết định  
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ  
tướng Chính phủ, đến năm 2025, kinh tế số  
chiếm 20% GDP; trong đó, tỷ trọng kinh tế  
số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu  
10%; đến 2030 kinh tế số chiếm 30% GDP,  
2) Tập trung nguồn lực cả đầu tư công,  
cả đầu tư tư nhân xây dựng tuyến đường sắt  
Bắc - Nam tốc độ cao trong 10 năm (2021-  
2030). Theo tác giả, xây dựng tuyến đường  
sắt Bắc - Nam mới tốc độ cao cần được coi  
là bước đột phá về hạ tầng giao thông trong  
10 năm tới (cùng với việc hoàn thành tuyến  
đường bộ cao tốc phía Đông). Đường sắt  
Việt Nam là một trong những ngành công  
nghiệp lâu đời nhất Việt Nam. Tuy nhiên,  
trong 140 năm kể từ năm 1881, khi người  
Pháp đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đầu  
tiên ở Việt Nam và sau 75 năm thành lập  
nước Việt Nam mới đến nay, đường sắt Việt  
Nam vẫn gần như giẫm chân tại chỗ. Đất  
nước Việt Nam trải dài từ Bắc tới Nam, hệ  
thống sân bay và các cảng biển cũng như  
các trung tâm, các vùng kinh tế trọng điểm  
được phân bổ suốt dọc chiều dài đất nước.  
Vì vậy, nhu cầu vận chuyển hành khách  
cũng như hàng hóa, kết nối các vùng kinh tế  
trong cả nước là rất lớn. Chúng ta đã chậm  
trong đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao  
tốc phía Đông nhưng đã quá chậm trong  
đầu tư thêm một tuyến đường sắt Bắc - Nam  
tốc độ cao.  
Hiện nay, Bộ Giao thông Vận tải đang  
xây dựng dự thảo quy hoạch đường sắt thời  
kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, trong đó dự  
5 Xem: sách đã dẫn, tr. 338.  
Số 09(433) - T5/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
kiến sẽ xây dựng hai đoạn đường sắt tốc độ  
cao là Hà Nội - Vinh và Nha Trang - TP.  
Hồ Chí Minh và đưa vào khai thác vào năm  
2030-2032; đoạn Vinh - Nha Trang sẽ xây  
dựng trong thời kỳ 2030-2050. Nếu đến  
năm 2050 Việt Nam mới có tuyến đường  
sắt tốc độ cao hoàn chỉnh thì thực sự là quá  
chậm trễ, không đáp ứng được yêu cầu phát  
triển cũng như đột phá chiến lược về kết cấu  
hạ tầng theo Nghị quyết đại hội XIII.  
độ cao. Chia thành các đoạn, các gói thầu  
khác nhau để gọi thầu tư nhân đầu tư theo  
phương thức đối tác công tư (PPP). Trong  
đó, Nhà nước bỏ vốn đầu tư công để giải  
phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, sau đó tư  
nhân bỏ vốn đầu tư, xây dựng nhà ga, tuyến  
đường và quản lý vận hành (hoặc Nhà nước  
quản lý vận hành), bảo đảm thu hồi vốn của  
chủ đầu tư tư nhân (thậm chí bảo đảm thu  
hồi vốn của chủ đầu tư tư nhân trước rồi mới  
đến Nhà nước). Những đoạn nào tư nhân  
không đầu tư thì Nhà nước tập trung nguồn  
vốn đầu tư công để có thể 10 đến 15 năm  
hoàn thành toàn bộ tuyến đường sắt này.  
Về giải pháp tổ chức thực hiện, tác giả  
đề xuất:  
Thứ nhất, muốn xây dựng được tuyến  
đường sắt này, trước hết đỏi hỏi phải có một  
quyết tâm chính trị cao, sự đồng lòng của  
mọi cấp, mọi ngành và các địa phương cùng  
nhân dân cả nước như chúng ta đã quyết tâm  
và thành công trong xây dựng tuyến đường  
điện 500kv Bắc - Nam thời Cố Thủ tướng  
Võ Văn Kiệt. Cần phải có giải pháp để huy  
động cho công trình này một lực lượng lao  
động đông đảo, nhất là thanh niên, quân  
đội, thậm chí cần phải có các phong trào  
thanh niên như chúng ta đã từng làm trước  
đây trong các công trình xây dựng Thủy  
điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An, Hồ Kẻ  
Gỗ… Tất nhiên, trong điều kiện hiện nay,  
các phong trào động viên, khơi dậy lòng  
yêu nước và cống hiến của lực lượng lao  
động, nhất là thanh niên phải đi liền với chế  
độ đãi ngộ, thù lao xứng đáng.  
Thứ ba, việc đầu tư đòi hỏi nguồn vốn rất  
lớn, câu hỏi đặt ra là vốn đầu tư ở đâu? Đối  
với đầu tư tư nhân, nếu triển khai các gói  
thầu theo phương thức PPP như nêu trên,  
tính toán có lợi thì chắc chắn các nhà đầu  
tư tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư nước  
ngoài sẽ làm. Về nguồn vốn đầu tư công,  
chắc chắn là phải đi vay. Theo đó, tác giả  
đề nghị Quốc hội nên chấp nhận điều chỉnh  
tỷ lệ nợ công cao hơn so với mức hiện nay6.  
Mức cụ thể là bao nhiêu thì cần phải tính  
toán trên cơ sở các cân đối vĩ mô của nền  
kinh tế. Tác giả khuyến nghị nên hạn chế  
vay ODA, vay từ nước ngoài mà cần tập  
trung phát hành trái phiếu Chính phủ để vay  
trong nước là chính. Theo tác giả, hiện nay  
cũng như trong những năm tới mặt bằng lãi  
suất huy động cũng như cho vay tín dụng  
của hệ thống ngân hàng có xu hướng giảm7,  
nếu Chính phủ phát hành trái phiếu dài hạn  
Thứ hai, cần sớm khảo sát, đánh giá và  
xây dựng dự án tuyến đường sắt mới tốc  
6 Theo Báo cáo đánh giá nợ công giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ, năm 2019 nợ công/GDP là 55,0%; năm  
2020 ước đạt 56,8%. Nợ Chính phủ/GDP năm 2019 là 48,0%; năm 2020 ước 50,8%. Nợ nước ngoài Quốc  
gia/GDP năm 2019 là 47,1%; năm 2020 ước 47,9%. Xem bài viết “Tỷ lệ nợ công /GDP của Việt Nam không  
ngừng giảm”, Tạp chí vneconomy.vn, ngày 22/10/2020.  
7 Báo cáo của Ngân hàng nhà nước cho biết, từ năm 2016 đến thời điểm cuối tháng 10/2020, cơ quan này đã điều chỉnh  
giảm 2-2,5% các mức lãi suất điều hành. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam là giảm mạnh nhất (Philippines  
giảm 1,75%; Thái Lan giảm 0,75%; Indonesia giảm 1%; Malaysia giảm 1,25%). Tuy nhiên, theo thống kê của Quỹ tiền  
tệ quốc tế (IMF) ở thời điểm tháng 7/2020, lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-6 khoảng 5,7%/năm; ASEAN-4  
khoảng 4,82%/năm; Việt Nam vẫn còn khá cao với 7,2%/năm. Mặc dù vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với  
các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam là 4,5%/năm, thấp hơn mức bình quân của ASEAN-4 (Xem bài viết: “Lãi suất cho  
vay của Việt Nam cao hay thấp so với khu vực”, Tạp chí điện tử VnEconomy ngày 31/10/2020). Theo quan sát của tác  
giả, từ thời điểm đó đến nay lãi suất huy động cũng như cho vay của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm.  
8
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
5 đến 10 năm, với lãi suất hợp lý thì vẫn có  
thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ  
dân cư hiện còn rất lớn. Kinh nghiệm nhiều  
nước phát triển có tỷ lệ nợ công rất cao,  
thậm chí lên đến 200%/GDP nhưng chủ yếu  
là từ vay trong nước (ví dụ như Nhật Bản8),  
nên họ vẫn bảo đảm an toàn các cân đối vĩ  
mô của nền kinh tế.  
phục vụ chuyển đổi số nền kinh tế. Theo  
đó, cần tập trung vào xây dựng cơ chế và  
giải pháp đồng bộ cho cả ba lĩnh vực: giáo  
dục, đào tạo nghề và đào tạo đại học. Đặc  
biệt là đào tạo nghề, cần đổi mới chương  
trình, nội dung, tập trung đào tạo các nghề  
đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số nền kinh tế.  
Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến việc liên  
kết trong đào tạo nghề với sử dụng lao động  
giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh  
nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp. Đồng thời,  
với việc cập nhật bổ sung tư duy, kiến thức  
của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho  
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, để  
nâng cao nhận thức cũng như chất lượng  
trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và  
quản lý nhà nước thời CMCN 4.0 của đội  
ngũ này, Bộ Thông tin và Truyền thông cần  
sớm hoàn thiện trình Chính phủ ban hành  
“Đề án nâng cao nhận thức, đào tạo và phát  
triển nguồn nhân lực chuyển đổi số đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030” đã được  
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của  
Chính phủ, ngày 01/01/2021. Mục tiêu cần  
đạt là trong 10 năm tới, nguồn nhân lực Việt  
Nam phải đủ về số lượng và năng lực, từng  
bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế  
số, xã hội số.  
Trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, theo  
tác giả, nếu có cơ chế kêu gọi được đầu tư  
tư nhân và dành nguồn lực đầu tư công để  
hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao (cùng  
với tuyến đường bộ cao tốc phía đông) thì  
mục tiêu đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế  
theo Nghị quyết của Đại hội Đảng XII và  
XIII cơ bản là thành công, góp phần thúc  
đẩy phát triển kinh tế - xã hội cả nước.  
3. Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực  
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII ghi: “Phát  
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân  
lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn  
nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và  
các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao,  
tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ  
bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với  
cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân  
tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và  
ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới  
sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất  
nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá  
trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam,  
tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự  
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”9  
4. Đầu tư, tạo bước phát triển đột phá,  
bền vững về nông nghiệp trong 10 năm tới  
Vấn đề này không nằm trong ba đột phá  
chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIII,  
nhưng tác giả cho rằng, nông nghiệp là lĩnh  
vực có nhiều tiềm năng và dư địa phát triển,  
cần khai thác cho phát triển bền vững đất  
nước, cải thiện đời sống người dân. Việc  
chọn trọng tâm phát triển nông nghiệp vì  
lý do sau:  
Tác giả cho rằng, chiến lược phát triển  
nguồn nhân lực trong 5 đến 10 năm tới  
vẫn xoay quanh việc đào tạo, bồi dưỡng  
nguồn nhân lực để cập nhật các thành tựu  
khoa học, công nghệ của CMCN 4.0 và  
8 Theo thống kê của IMF, nợ công của Nhật Bản là 237,6%/GDP; Singapore là 111,1%/DGP; Mỹ là 105,2%/  
GDP. Xem bài viết “Những quốc gia vay nợ nhiều nhất”, Tạpchitaichinh.vn ngày 27/10/2019. Theo khảo sát  
của tác giả, ở thời điểm hiện nay nợ công của Nhật Bản có thể đã lên đến 250%/GDP.  
9 Xem: Sách đã dẫn, tr.338.  
Số 09(433) - T5/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
- Chúng ta có tiềm năng về phát triển  
nông nghiệp: tài nguyên đất đai, khí hậu cơ  
bản có nhiều lợi thế, sản phẩm đa dạng và  
giàu tiềm năng xuất khẩu, người nông dân  
cần cù, chịu khó, có khả năng sáng tạo và  
khao khát làm giàu;  
thế Luật Hợp tác xã hiện hành; (2) nông  
dân cho doanh nghiệp thuê đất; (3) góp vốn  
bằng đất để cùng đầu tư thành lập doanh  
nghiệp nông nghiệp hoặc thực hiện dự án;  
(4) ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để  
chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu;  
- Dư địa cho phát triển nông nghiệp còn  
rất lớn: nếu khai thác được các tiềm năng  
nêu trên, đặc biệt, nếu sản phẩm nông nghiệp  
của Việt Nam được sản xuất theo đúng tiêu  
chuẩn, quy chuẩn theo mô hình nông nghiệp  
hữu cơ thì khả năng xuất khẩu nông sản là rất  
lớn từ lợi thế của 16 hiệp định thương mại tự  
do mang lại; đồng thời thị trường trong nước  
với gần 100 triệu dân đang khao khát thực  
phẩm sạch cũng là dư địa lớn cho phát triển  
nông nghiệp bền vững;  
- Đưa khoa học, công nghệ cao vào  
nông nghiệp.  
Để hiện thực hóa được ba việc trên, Nhà  
nước cần có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ  
phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sạch,  
hướng mạnh vào xuất khẩu. Cụ thể, trong  
10 năm tới mỗi năm Nhà nước cần đầu tư  
khoảng 30 đến 35 nghìn tỷ đồng (khoảng  
trên dưới 2% chi ngân sách), tập trung cho  
ba việc sau: (1) chuyển đổi cơ cấu sản xuất  
nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu;  
(2) thực hiện điều tra, khảo sát, thống kê  
để thông tin, dự báo cho người dân về sản  
phẩm, về thị trường; tăng cường xúc tiến  
thương mại, giúp người dân, doanh nghiệp  
tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khắc phục  
tình trạng được mùa mất giá, tình trạng “giải  
cứu” nông sản, người nông dân mù mờ về  
thông tin thị trường; (3) thực hiện khuyến  
nông mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ chuyển  
giao khoa học, công nghệ cho doanh nghiệp  
nông nghiệp, nông dân. Trong đó, đặc biệt  
chú trọng hỗ trợ nghiên cứu và cung cấp  
giống cây trồng, vật nuôi mới có năng  
suất, chất lượng cao; hỗ trợ nghiên cứu và  
chuyển giao quy trình công nghệ về nuôi  
trồng hiện đại, sạch, đáp ứng yêu cầu xuất  
khẩu sang các thị trường khó tính, tận dụng  
tối đa lợi thế của các hiệp định thương mại  
tự do đang còn rất nhiều dư địa cho xuất  
khẩu nông sản.  
- Phát triển được nông nghiệp thì tức  
khắc sẽ giải quyết được vấn đề nông dân  
và nông thôn - khu vực mà Nhà nước cần  
quan tâm cải thiện và thay đổi; người nông  
dân cần được quan tâm hơn để nâng cao thu  
nhập và chất lượng cuộc sống. GDP tăng  
cao phải đi liền với thu nhập của người nông  
dân tăng cao, đó mới là phát triển bền vững.  
Để tạo bước phát triển đột phá, bền vững  
trong nông nghiệp, tác giả cho rằng, cần  
phải xử lý ba vấn đề sau:  
- Sớm sửa đổi Luật Đất đai (trong năm  
2022) để mở rộng hạn điền, cho phép tích  
tụ đất đai nhiều hơn, đồng thời với việc điều  
chỉnh mục đích sử dụng đất nông nghiệp  
linh hoạt, phù hợp, bảo đảm cân đối, hài hòa  
giữa an ninh lương thực của quốc gia với  
hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất;  
- Phải kết nối được các doanh nghiệp,  
nhà đầu tư với nông dân để sản xuất nông  
nghiệp quy mô lớn theo các phương thức  
chính như sau: (1) Phát triển đa dạng các  
mô hình kinh tế hợp tác ngoài mô hình hợp  
tác xã hiện nay. Theo đó, cần phải xây dựng  
và ban hành Luật về kinh tế hợp tác thay  
Nếu làm được như trên, theo tác giả,  
sau 10 năm, đến 2030, nông nghiệp Việt  
Nam chắc chắn sẽ cất cánh. Đây là thế  
mạnh mà Việt Nam cần khai thác cho phát  
triển bền vững  
10  
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TRÁCH NHIỆM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NHÀ NƯỚC  
Phạm Thị Duyên Thảo  
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý, trách  
nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà  
nước, Luật Trợ giúp pháp lý  
năm 2017.  
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được pháp luật quốc tế  
ghi nhận trong tương quan với quyền được trợ giúp pháp lý của người  
dân. Một hệ các quy chuẩn và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này cũng đã  
được gợi ý cho các nước trong những văn kiện quốc tế liên quan. Tham  
chiếu với các văn kiện đó cho thấy, pháp luật hiện hành của Việt Nam  
đã có những quy định cơ bản, thể hiện độ tương thích nhất định, nhưng  
cũng còn những bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm góp phần  
nâng cao hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý, bảo đảm quyền con  
người, quyền công dân.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/02/2021  
: 04/3/2021  
: 07/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Legal aid; the state's  
legal aid responsibilities, Law on  
Legal Aid of 2017.  
The state's legal aid responsibility has been recognized in international laws  
in relation to the people's right to legal aid. Aportfolio of specific standards  
and guidelines on this issue has also been recommended to the countries  
in relevant international documents. References to those documents show  
that the current law of Vietnam has basic provisions, reflecting certain  
compatibility, but there are also shortcomings that need to be review for  
further improvements in order to contribute to improving the quality of  
legal aid activities, ensuring human rights, and citizens' rights.  
History:  
Received  
Edited  
: 10 Feb. 2021  
: 04 Mar. 2021  
: 07 Mar. 2021  
Approved  
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung  
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho đối tượng  
được trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ quyền,  
lợi ích hợp pháp của đối tượng này; nâng  
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng  
và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc  
phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công  
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,  
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.  
Quyền được TGPL là một quyền con người  
cơ bản, thuộc nội hàm của quyền tiếp cận  
tư pháp, “là cơ sở cho việc thụ hưởng các  
quyền khác, bao gồm quyền được xét xử  
công bằng và là một biện pháp bảo vệ quan  
trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và  
niềm tin của công chúng đối với quá trình  
tư pháp...”1. Bản chất của quyền TGPL là  
khả năng chính đáng của cá nhân được pháp  
luật đảm bảo, được tiếp cận hệ thống dịch  
vụ tư vấn pháp lý miễn phí, được đại diện  
và được xét xử một cách công bằng mà  
không phải trả tiền.  
1. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà  
nước trong các văn kiện quốc tế  
Nhu cầu được TGPL luôn tồn tại trong  
xã hội và có xu thế ngày một tăng; do đó,  
nếu để xã hội tự đáp ứng, sẽ có nhiều vấn  
đề nảy sinh, từ sự đa dạng, phức tạp về chủ  
thể, đối tượng, tính chất các vụ việc. Những  
đối tượng thuộc diện TGPL là những người  
1 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên  
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
Số 09(433) - T5/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
gặp những khó khăn nhất định, mà đôi  
khi không phải do bản thân người đó; nếu  
không có sự can thiệp, hỗ trợ, họ không thể  
hoặc hiếm có được cơ hội như người khác  
trong tiếp cận công lý.  
gia cần bảo đảm quyền được TGPL trong  
hệ thống pháp luật quốc nội ở mức độ cao  
nhất có thể, bao gồm cả Hiến pháp2. Luật  
hóa quyền TGPL của công dân là một trong  
những trách nhiệm của Nhà nước, tạo cơ sở  
pháp lý cho việc xây dựng cơ chế bảo đảm  
thực hiện TGPL cho công dân. Để thực hiện,  
Nhà nước phải có các kế hoạch, chương trình  
hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho công  
dân có quyền được TGPL. Thông qua pháp  
luật, quyền TGPL được quy định rõ ràng, từ  
đó xác định khung khổ hành động của các  
chủ thể công quyền, hạn chế sự lạm quyền  
vốn dễ xảy ra trong quá trình thực thi.  
Nhà nước là chủ thể chính thức và chủ  
yếu của quan hệ pháp luật, trong đó có quan  
hệ liên quan đến nhân quyền. Quyền được  
TGPL là quyền cơ bản, Nhà nước là tổ chức  
thích hợp nhất cho việc đáp ứng cam kết,  
chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế và sử dụng  
nguồn lực, cũng như phát triển các quan hệ  
hợp tác trong lĩnh vực TGPL. Bên cạnh đó,  
TGPL là hoạt động không sinh lợi trực tiếp  
đối với chủ thể thực hiện, nếu không có sự  
can thiệp của Nhà nước, các chủ thể khác  
có thể không muốn làm hoặc không đủ khả  
năng làm, dẫn đến tính bền vững của hoạt  
động TGPL bị hạn chế.  
- Bảo đảm nguyên tắc không phân biệt,  
bình đẳng trong quá trình cung cấp TGPL:  
Khi cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước phải  
đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử  
về tất cả các khía cạnh: “giới, chủng tộc,  
màu da, tôn giáo, tài sản, quan điểm chính  
trị và các quan điểm khác, quốc tịch, dân  
tộc, tư cách công dân hoặc nơi ở, nơi sinh,  
trình độ giáo dục, địa vị xã hội và các vấn đề  
khác”3, “bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận  
TGPL cho phụ nữ, trẻ em hoặc nhóm người  
có nhu cầu đặc biệt, người tị nạn, người di  
cư, người dân tộc thiểu số, nạn nhân bị mua  
bán, người già và những người khuyết tật”4.  
Trách nhiệm TGPL của Nhà nước đã  
được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế  
như: Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948  
(Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền  
dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 14),  
Công ước chống phân biệt đối xử với phụ  
nữ năm 1981 (Điều 2), Công ước quốc tế  
về quyền trẻ em năm 1982 (Điều 37), Công  
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...  
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế nêu  
trên, trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm  
quyền TGPL của công dân được thể hiện ở  
các khía cạnh sau:  
- Bảo đảm quyền sớm được tiếp cận  
TGPL: Quyền sớm được tiếp cận TGPL là  
quyền tiếp cận với TGPL ngay từ thời điểm  
mà một người bị tình nghi, bị bắt giữ, bị  
tạm giam hoặc bị buộc tội đã phạm tội, tùy  
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đồng  
thời, trong suốt thời gian từ lần tiếp cận  
- Chủ động tạo cơ sở pháp lý cho việc  
đảm bảo quyền được TGPL của công dân:  
Văn kiện quốc tế khẳng định, các quốc  
2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên  
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
3 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017,  
justice-and-prison-reform/LegalAid/Model_Law_on_Legal_Aid.pdf.  
4 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017  
(Điều 5 Không phân biệt đối xử), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,  
12  
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TGPL đầu tiên đó, TGPL được tiến hành  
liên tục cho tới và trong lần xuất hiện đầu  
tiên trước khi có phán quyết bởi thẩm phán  
xem người đó sẽ bị tạm giam hoặc được thả  
tự do trong thời gian chờ xét xử. Cụ thể, “từ  
thời điểm một người nhận thức được mình  
là đối tượng điều tra, kể cả trong trường hợp  
bị bắt hoặc bị tạm giữ và trong toàn bộ các  
giai đoạn của tiến trình tư pháp hình sự”5.  
Theo các Nguyên tắc và Hướng dẫn của  
Liên hợp quốc (LHQ), quyền được trợ giúp  
pháp lý là quyền cần phải được đảm bảo ở  
mức cao nhất có thể, một thẩm phán không  
nên có những suy luận hoặc kết luận bất  
lợi về việc một người bị tình nghi hoặc bị  
cáo buộc thực hiện quyền được TGPL. Việc  
bảo đảm quyền được tiếp cận sớm TGPL  
nhằm giảm thiểu nguy cơ người bị cáo  
buộc bị ngược đãi hoặc ép phải nhận tội,  
nhất là những người thuộc nhóm yếu thế,  
đồng thời, khắc phục được những hạn chế  
có thể đến từ sự thiếu kiến thức, nguồn lực  
tài chính hoặc năng lực pháp luật của các  
chủ thể. Việc đảm bảo quyền tiếp cận sớm  
TGPL đòi hỏi Nhà nước có trách nhiệm tạo  
cơ chế cho các các luật sư, cán bộ tư pháp,  
các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động  
giáo dục, phổ biến pháp luật, tăng cường  
kiến thức và hiểu biết của công chúng đối  
với quyền này.  
vấn đề về hành chính, dân sự và hình sự và  
các công chức có nghĩa vụ thông báo, giải  
thích các khía cạnh về thủ tục và nội dung  
của các vấn đề pháp lý cho mọi thành viên  
trong xã hội”6. “Chính phủ và các nhà tài  
trợ quốc tế đảm bảo rằng các chương trình  
hỗ trợ cho hệ thống tư pháp ở cả các quốc  
gia đang phát triển và chuyển đổi bao gồm  
việc cung cấp thông tin về TGPL và các  
biện pháp khác để tăng cường quyền tiếp  
cận công lý, đặc biệt là đối với người nghèo  
và nhóm đối tượng dễ bị tổn thương một  
cách bền vững”7. Sự đa dạng và toàn diện  
của các thông tin cần cung cấp phải phù hợp  
với các nhóm chủ thể của quyền, liên quan  
cả đến các luật hiện hành, các mô hình, quy  
trình và thủ tục có thể hỗ trợ trong TGPL.  
Việc đảm bảo cung cấp thông tin góp phần  
làm gia tăng trách nhiệm của quốc gia trong  
quá trình thực hiện nghĩa vụ TGPL.  
- Kết nối, tạo điều kiện để xã hội tham  
gia TGPL: Nhà nước cần hợp tác với các  
chủ thể có liên quan khác như các tổ chức  
phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các  
tổ chức từ thiện có hoặc không có tính chất  
tôn giáo, các cơ quan, các hiệp hội nghề  
nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và bảo  
đảm sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng  
trong việc xây dựng các chính sách, chương  
trình và pháp luật về TGPL. Các Chính phủ  
cần sử dụng nhiều loại chủ thể để thực hiện  
TGPL như: văn phòng bào chữa công do  
Chính phủ tài trợ, các chương trình sử dụng  
luật sư, các trung tâm TGPL, các trung tâm  
thực hành nghề luật của trường đại học  
cũng như sự hợp tác với các tổ chức xã hội  
dân sự và các tổ chức tôn giáo8. Tham gia  
- Bảo đảm cung cấp thông tin, thông báo  
cho các chủ thể có thẩm quyền liên quan:  
Nhằm đảm bảo tính toàn diện của hoạt  
động TCPL cũng như đảm bảo quyền của  
nhóm được TGPL mang tính đặc thù, “các  
Chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo việc cung  
cấp thông tin pháp luật đối với tất cả các  
5 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017  
(Điều 8 Quyền được tiếp cận sớm), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,  
6 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_  
Right_to_Legal_Aid.pdf.  
7 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
8 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
Số 09(433) - T5/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TGPL vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của xã  
hội trong tương quan với trách nhiệm TGPL  
của Nhà nước, vì “TGPL mang lại lợi ích  
cho xã hội bằng cách bảo vệ các cộng đồng  
lành mạnh, tiết kiệm nguồn lực, và tạo cảm  
giác an toàn cho người dân”9; qua đó, thúc  
đẩy TGPL phát triển, hiệu quả.  
TGPL, bảo đảm cho luật sư và những người  
thực hiện TGPL tránh khỏi sự quấy rầy, dọa  
dẫm và đe dọa đối với an ninh, an toàn của  
bản thân họ13.  
Như vậy, trách nhiệm của Nhà nước đã  
được các văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận ở  
nhiều khía cạnh, từ nghĩa vụ chính thức, đảm  
bảo tính chất bền vững, nguồn tài chính cho  
TGPL, bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực,  
tạo lập cơ chế để có nhiều chủ thể tham gia  
hoạt động TGPL, cho đến việc bảo đảm các  
nguyên tắc cần tuân thủ đối với từng nhóm  
chủ thể, từng hoạt động TGPL ...  
- Bảo đảm cung cấp về mặt tài chính và  
đội ngũ nhân lực có chất lượng: Các Chính  
phủ cần bảo đảm cung cấp đầy đủ tài chính  
và các nguồn lực khác cho dịch vụ pháp  
lý dành cho người nghèo và người yếu thế  
khác nếu cần thiết10; bố trí nguồn nhân lực  
và tài lực cần thiết cho hệ thống TGPL, bảo  
đảm biên chế đầy đủ cho hệ thống TGPL  
trong toàn quốc và bảo đảm các chuyên gia  
làm việc cho hệ thống TGPL quốc gia có  
trình độ và được đào tạo phù hợp với dịch  
vụ họ cung cấp11; bảo đảm quy trình tố tụng  
và cơ chế tiếp cận luật sư thuận lợi, có hiệu  
quả và bình đẳng dành cho tất cả mọi người  
mà không có bất kỳ sự phân biệt nào12.  
2. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của  
Nhà nước theo quy định của pháp luật  
Việt Nam  
Theo quy định của Điều 2 Luật TGPL  
năm 2017, lần đầu tiên TGPL được tiếp  
cận dưới góc độ là một hoạt động. Theo  
đó, “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp  
lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ  
việc TGPL”. Sự thay đổi này không những  
giúp cho việc xây dựng một cơ chế TGPL  
phù hợp, mà còn góp phần xác định cụ thể  
được các trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà  
nước trong hoạt động TGPL; phân tách  
trách nhiệm TGPL với trách nhiệm giáo  
dục, phổ biến pháp luật, tránh bỏ sót nhu  
cầu TGPL của người dân.  
Bảo đảm về tài chính cho TGPL chính  
là cách Nhà nước xóa bỏ trở ngại lớn nhất  
ngăn cản các chủ thể thụ hưởng quyền  
TGPL trong quá trình tiếp cận công lý. Bảo  
đảm này cần đặt trong tương quan với bảo  
đảm quyền tiếp cận sớm với TGPL.  
- Bảo đảm môi trường an toàn cho việc  
thực hiện TGPL: Các Chính phủ cần bảo  
đảm môi trường an toàn cho việc thực hiện  
Khoản 1 Điều 4 Luật TGPL năm 2017  
tiếp tục khẳng định, TGPL là trách nhiệm  
9
Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính  
sách và các nhà thực tiễn, Tuyển tập ấn phẩm về tư pháp hình sự, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm  
Vie_final.pdf.  
10  
Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.  
11 Hướng dẫn số 13, Hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình  
huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.  
12 Điểm 2, các nguyên tắc của Liên hợp quốc năm 1990 về vai trò của luật sư, https://thuvienphapluat.vn/van-  
ban/Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.  
13 Điểm 14 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_  
Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.  
14  
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của Nhà nước”, đồng thời quy định rõ  
“chính sách về TGPL” là của “Nhà nước”.  
Quy định này bảo đảm phù hợp với chính  
sách về TGPL của Nhà nước được quy định  
trong các văn bản luật liên quan như: Luật  
Tố tụng hành chính (khoản 3 Điều 19); Bộ  
luật Tố tụng dân sự (khoản 3 Điều 9); Bộ  
luật Tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 76).  
Mục đích của TGPL cũng được khẳng định,  
nhằm: “góp phần bảo đảm quyền con người,  
quyền công dân trong tiếp cận công lý và  
bình đẳng trước pháp luật”. Trách nhiệm  
quản lý nhà nước được giao cho Chính phủ,  
Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy  
ban nhân dân cấp tỉnh.  
năm 2017 quy định theo hướng tăng cường  
tính chịu trách nhiệm, hạn chế thành lập ồ  
ạt, nhằm TGPL được triển khai chất lượng,  
tránh thụ động, hình thức.  
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 còn  
quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện  
TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư,  
tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất  
lượng vụ việc TGPL; tiêu chuẩn đối với trợ  
giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL  
theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà  
nước và theo phân công của tổ chức tham  
gia TGPL. Theo đó, trợ giúp viên pháp lý,  
luật sư phải trải qua tập sự, đề cao sự tham  
gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp  
luật có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm,  
hiệu quả làm việc tốt; trợ giúp viên pháp lý  
là viên chức nhà nước phải có trách nhiệm  
tập trung thực hiện vụ việc tố tụng, nếu  
không thực hiện trong thời gian 02 năm  
liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do  
nguyên nhân khách quan (điểm 1 khoản 1  
Điều 22).  
Điều 5 Luật TGPL năm 2017 quy định  
Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân  
sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý  
nhà nước về TGPL theo quy định của pháp  
luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh  
chưa tự cân đối được ngân sách, Nhà nước sẽ  
ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối  
ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực  
hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Quy  
định này nhằm khắc phục tình trạng nhu cầu  
TGPL của người dân không được đáp ứng vì  
lý do thiếu kinh phí.  
Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng đối  
tượng được TGPL với 14 nhóm người (thay  
vì 6 nhóm như trước); tăng người được  
TGPL thuộc nhóm yếu thế. Khía cạnh này  
thể hiện nhận thức, sự cam kết của Nhà  
nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý  
có chất lượng và công bằng cho mọi nhóm  
xã hội.  
Luật TGPL năm 2017 cũng quy định cụ  
thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước  
trong TGPL. Ví dụ, Sở Tư pháp được giao  
quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL  
với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu tham  
gia hoạt động TGPL; phối hợp với cơ quan  
tiến hành tố tụng là Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an  
để tạo điều kiện cho người được TGPL được  
hưởng quyền TGPL, người thực hiện TGPL  
tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật;  
các cơ quan nhà nước có liên quan có trách  
nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới  
thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL...  
Luật TGPL năm 2017 cũng thể hiện  
chính sách của Nhà nước đảm bảo đối với  
việc tiếp cận sớm với TGPL. Theo quy định  
của khoản 3 Điều 31 Luật TGPL 2017,  
trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận  
được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người  
bị tạm giữ hoặc trong 24 giờ kể từ thời điểm  
nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo,  
người bị hại thuộc diện được TGPL, thì cơ  
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung  
tâm TGPL nhà nước tại địa phương cử  
Điều kiện thành lập các chi nhánh Trung  
tâm TGPL của Nhà nước được Luật TGPL  
Số 09(433) - T5/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
người thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo  
trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy  
định của pháp luật tố tụng.  
quan với quyền được đảm bảo TGPL của  
người dân.  
Thứ hai, mặc dù Luật TGPL năm 2017  
đã mở rộng đối tượng được TGPL, nhưng  
quy định hiện hành còn bỏ sót đối tượng cần  
được TGPL. Cụ thể: Người từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình  
sự chỉ được TGPL khi khó khăn về tài chính  
là chưa tương thích với pháp luật quốc tế  
về TGPL.  
Đặc biệt, Luật TGPL năm 2017 bổ sung  
quy định về quản lý và đánh giá chất lượng  
đối với vụ việc TGPL. Các tiêu chí đánh  
giá gồm: tuân thủ đầy đủ các quy định của  
pháp luật về TGPL; đáp ứng điều kiện, tiêu  
chuẩn về kỹ năng, đạo đức, trách nhiệm; đáp  
ứng được mục tiêu của hoạt động TGPL;  
đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người được  
TGPL. Quản lý chất lượng bao gồm: thẩm  
định chất lượng vụ việc TGPL của tổ chức  
thực hiện trợ giúp pháp lý và đánh giá chất  
lượng hoạt động của cơ quan quản lý nhà  
nước về TGPL.  
Thứ ba, pháp luật về TGPL hiện hành  
còn thiếu quy định về cơ chế giám sát đối  
với những người thực hiện TGPL để ngăn  
chặn tham nhũng theo hướng dẫn của Liên  
hợp quốc. Quy định hiện nay về giám sát  
hoạt động TGPL chủ yếu dừng trong nội bộ  
tổ chức hoặc trong hệ thống quản lý; chưa  
có quy định về giám sát của một tổ chức có  
thẩm quyền hoặc giám sát của xã hội - bên  
thứ ba đối với công tác này.  
Nhìn chung, quy định của Luật TGPL  
năm 2017 đã đáp ứng khá đầy đủ yêu cầu,  
chuẩn mực của pháp luật quốc tế đối với  
quốc gia trong TGPL. Bên cạnh đó, pháp  
luật về TGPL của nước ta còn một số hạn  
chế sau đây:  
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về  
trợ giúp pháp lý  
Để bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động  
TGPL ở nước ta hiện nay, bảo đảm quyền  
con người, tác giả cho rằng, cần sửa đổi, bổ  
sung các quy định của pháp luật hiện hành  
về TGPL như sau:  
Thứ nhất, theo các quy định hiện hành,  
trách nhiệm TGPL của Nhà nước chủ yếu  
mới dừng ở góc độ nghĩa vụ pháp lý tích  
cực, thể hiện ở các quy định về thẩm quyền  
quản lý, nghĩa vụ phối hợp, các quy định  
về quyền, nghĩa vụ liên quan (Chương VI  
Luật TGPL năm 2017). Còn trách nhiệm  
dưới góc độ trách nhiệm pháp lý - hậu quả  
bất lợi đối với hành vi vi phạm của các chủ  
thể TGPL hầu như không được đề cập, hoặc  
nếu có, thì cũng mang tính chung chung,  
dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp  
luật khác. Trong khi đó, các văn bản liên  
quan cũng không có chế tài cụ thể cho các  
dạng hành vi này, dẫn đến tính răn đe đối  
với chủ thể vi phạm rất thấp. Cùng với đó,  
các quy định mang tính giới hạn quyền đối  
với các chủ thể công quyền (hạn chế sự lạm  
quyền) trong quá trình quản lý, thực hiện  
TGPL cũng không được thể hiện. Điều này  
tạo nên sự thiếu tương thích trong tương  
Thứ nhất, bổ sung quy định về trách  
nhiệm pháp lý của các chủ thể công đối  
với vi phạm hoặc để xảy ra thiệt hại trong  
TGPL; bổ sung quy định về giám sát đối  
với mọi hoạt động TGPL.  
Thứ hai, sửa đổi điểm đ khoản 7 Điều 7  
Luật TGPL năm 2017 theo hướng chuyển  
đối tượng quy định ở điểm đ thành đối  
tượng được TGPL không phụ thuộc vào  
điều kiện khó khăn về tài chính.  
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm  
đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo ra sự  
linh hoạt trong hoạt động TGPL; xây dựng  
hệ thống phần mền quản lý TGPL nhằm  
giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả hoạt  
động TGPL  
16  
Số 09(433) - T5/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
QUYỀN BỀ MẶT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT  
TRONG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA VIỆT NAM  
Nguyễn Diệu Anh*  
*ThS. Phòng Pháp chế và Tuân thủ Ngân hàng GPBank  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Quyền bề mặt là một quyền mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm  
2015. Khác với nhiều nước trên thế giới ghi nhận quyền bề mặt gắn với  
chế độ tư hữu về đất đai, Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất  
đai. Theo đó, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và trên cơ sở thẩm quyền  
luật định, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác sử dụng.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả so sánh quyền bề mặt trong Bộ luật Dân  
sự năm 2015 và quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013, từ đó đề  
xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về quyền bề mặt.  
Từ khóa: Quyền bề mặt, quyền  
sử dụng đất, Bộ luật Dân sự năm  
2015, Luật Đất đai năm 2013.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 05/3/2021  
: 25/3/2021  
: 28/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The surface right is a new provision stipulated in the Civil Code of 2015.  
Unlike many countries in the world that recognize the surface right  
associated with private ownership of land, Vietnam takes the enforcement  
of the land ownership of the whole people. Accordingly, the State is the  
representative of the owner and on the basis of statutory authority, the  
State grants land use rights to other subjects to use. Within the scope of this  
article, the author makes a comparision of the surface rights in the Civil  
Code of 2015 and land use rights in the Law on Land of 2013, thereby  
proposing recommendations to improve the provisions on surface right in  
the Civil Code.  
Keywords: Surface rights, land  
use rights, Civil Code of 2015,  
Law on Land of 2013.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 05 Mar. 2021  
: 25 Mar. 2021  
: 28 Mar. 2021  
Approved  
Mã cổ đại trước công nguyên1. Do chịu ảnh  
1. Dẫn nhập  
hưởng từ Luật La Mã, nhiều quốc gia châu  
Âu cũng sớm ghi nhận quyền bề mặt trong  
pháp luật dân sự của họ2. Trải qua các giai  
đoạn lịch sử, pháp luật châu Âu lại tiếp tục  
ảnh hưởng đến pháp luật các quốc gia khác.  
Theo cách hiểu của Luật La Mã, quyền bề  
mặt gắn với chế độ tư hữu về đất đai, và  
mang nội dung là quyền sử dụng bề mặt đất  
Quyền bề mặt là một quyền mới được  
quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) năm  
2015. BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005  
đều không quy định về loại quyền này. Tuy  
nhiên, trong hệ thống pháp luật ở nhiều  
quốc gia trên thế giới, quyền bề mặt không  
phải là một quyền mới. Thuật ngữ “Quyền  
bề mặt” (Superficies) bắt nguồn từ Luật La  
1 Nguyễn Thị Nhung, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Nghệ An, Tìm hiểu về quyền bề mặt theo  
Tim-hieu-ve-Quyen-be-mat-theo-quy.aspx, truy cập ngày 08/02/2021.  
2 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy  
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.  
Số 09(433) - T5/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
để tạo lập các tài sản gắn liền với đất. Căn  
cứ để xác lập quyền bề mặt là từ thỏa thuận  
và trả chi phí “thuê đất” với chủ sở hữu thửa  
đất đó3.  
thể khác. Đặc điểm đặc trưng của quyền  
bề mặt là quyền này được xác lập trên tài  
sản thuộc sở hữu của chủ thể khác (quyền  
sử dụng đất của người có quyền sử dụng  
đất). Đặc điểm này giúp phân biệt quyền  
bề mặt nói riêng, các quyền khác đối với  
tài sản nói chung với quyền sở hữu - vật  
quyền chính đối với tài sản4. Đây cũng  
là đặc điểm cho thấy tính phụ thuộc của  
quyền bề mặt. Mặt khác, chủ thể mang  
quyền bề mặt được trực tiếp chiếm hữu,  
sử dụng - khai thác quyền sử dụng đất.  
So với chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất,  
chủ thể có quyền bề mặt không có quyền  
định đoạt đối với quyền sử dụng đất như  
chủ thể sở hữu. Tuy nhiên, việc sử dụng,  
khai thác đất đai của chủ thể mang quyền  
bề mặt cũng có tính độc lập, không phụ  
thuộc ý chí của chủ sở hữu trong suốt thời  
hạn có hiệu lực của quyền.  
Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn  
dân về đất đai; Nhà nước là đại diện chủ sở  
hữu, trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể  
khác nhau trong xã hội. Do đó, khi áp dụng  
quyền bề mặt vào pháp luật dân sự, Việt  
Nam cần có sự linh hoạt trong nhận thức  
và ứng dụng để tránh nhầm lẫn với quyền  
sử dụng đất được quy định trong Luật Đất  
đai năm 2013. Ví dụ: A ký hợp đồng thuê  
đất của B. Thực tế A là người đang sử dụng  
đất một cách hợp pháp nhưng A lại không  
được thừa nhận với tư cách là “người sử  
dụng đất” mà phải là B, người đứng tên trên  
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó,  
A chỉ có thể thuê để sử dụng đất, xây dựng,  
khai thác, thế chấp các tài sản trên đất chứ  
không thể giao kết các hợp đồng khác như  
chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế  
quyền sử dụng đất được bởi những quyền  
năng này thuộc về B.  
Bên cạnh đó, quyền bề mặt còn có một  
số đặc điểm khác khi so sánh với quyền  
hưởng dụng, quyền đối với bất động sản  
liền kề, cụ thể:  
Ví dụ trên cho thấy sự cần thiết phải phân  
biệt để làm rõ hai khái niệm quyền bề mặt  
trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất  
trong pháp luật đất đai trong thực tiễn thực  
thi pháp luật ở Việt Nam.  
- Về phạm vi tác động của quyền bề mặt  
Quyền bề mặt chỉ xác lập phạm vi trên  
quyền sử dụng đất của người được Nhà  
nước trao quyền sử dụng đất (chủ sở hữu).  
Trong khi đó, phạm vi của các quyền tài sản  
khác được quy định rộng hơn, như: phạm vi  
quyền hưởng dụng có thể xác lập trên mọi  
tài sản, phạm vi quyền đối với bất động sản  
liền kề có thể xác lập trên quyền sử dụng  
đất của người khác.  
2. Nhận diện quyền bề mặt trong pháp  
luật dân sự và quyền sử dụng đất trong  
pháp luật đất đai tại Việt Nam  
2.1. Nhận diện quyền bề mặt trong Bộ  
luật Dân sự năm 2015  
- Về căn cứ xác lập quyền bề mặt  
Theo quy định của BLDS năm 2015,  
quyền bề mặt là quyền của một chủ thể  
đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không  
gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất  
mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ  
Theo quy định của Điều 268 BLDS năm  
2015, quyền bề mặt được xác lập theo quy  
định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di  
chúc. Đây cũng là căn cứ xác lập của quyền  
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật La Mã, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.  
4 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy  
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.  
18  
Số 09(433) - T5/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hưởng dụng. Tuy nhiên, quyền đối với bất  
động sản liền kề có thể xác lập theo ba căn  
cứ này và theo địa thế tự nhiên (Điều 246  
BLDS năm 2015).  
một cách hiệu quả, góp phần xử lý tài sản  
nhanh chóng hơn tại các tổ chức tín dụng.  
Bởi lẽ, trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp  
thuê đất theo các quy định của pháp luật  
dân sự và pháp luật đất đai của nước ta  
trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu  
lực thi hành; bên thuê quyền sử dụng đất  
chỉ có nhu cầu khai thác mặt đất mà không  
có nhu cầu khai thác lòng đất cũng như  
không gian bên trên. Trong khi đó, phần  
không gian bên trên và lòng đất bên dưới  
hoàn toàn có thể sử dụng độc lập với quá  
trình sử dụng mặt đất và việc sử dụng này  
không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất  
của bên thuê đất. Tính hiệu quả kinh tế của  
quyền bề mặt được thể hiện thông qua ví  
dụ sau: A là chủ sở hữu quyền sử dụng đất,  
A cấp cho B quyền bề mặt nuôi cá và trồng  
hoa sen trong ao nằm trên mảnh đất của  
A, cho C quyền bề mặt xây nhà sàn, kinh  
doanh ăn uống trên mặt ao, cho D quyền  
xây cầu vượt phía trên mảnh đất. Như vậy,  
từ bề mặt, không gian bên trên, lòng đất  
đều được sử dụng và khai thác tối đa. Đây  
cũng là một trong những ưu điểm của chế  
định quyền bề mặt mà những quy định về  
quyền sử dụng đất hiện hành theo pháp  
luật đất đai không có được.  
- Về thời hạn của quyền bề mặt  
BLDS năm 2015 quy định thời hạn của  
quyền bề mặt được xác định theo quy định  
của pháp luật, theo thỏa thuận hoặc theo di  
chúc nhưng không vượt quá thời hạn của  
quyền sử dụng đất. Có thể thấy rằng, nhằm  
tạo sự đảm bảo cho người có quyền bề mặt  
có thời gian dài ổn định tạo lập tài sản gắn  
liền với đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc  
kinh doanh, sản xuất trên đất mà pháp luật  
dân sự không chỉ Việt Nam mà cả các quốc  
gia khác trên thế giới đều quy định quyền bề  
mặt có tính dài hạn. Ví dụ, Bộ luật Dân sự  
Nhật Bản quy định thời hạn này tối đa là 50  
năm, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái  
Lan quy định thời hạn này là cả đời chủ sở  
hữu hoặc của người có quyền bề mặt,5 …  
- Xử lý tài sản sau khi quyền bề mặt  
chấm dứt  
Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không  
xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm  
dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ  
thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm  
quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ  
thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản  
đó (khoản 2 Điều 273 BLDS năm 2015).  
Đây là một trong những vấn đề phức tạp  
nhất khi áp dụng trong thực tiễn của quyền  
bề mặt.  
Bên cạnh đó, quy định của Điều 273  
BLDS năm 2015 về xử lý tài sản khi quyền  
bề mặt chấm dứt sẽ góp phần giải quyết  
những vấn đề phát sinh trong thực tiễn như:  
xử lý tài sản trên đất trong trường hợp thu  
hồi đất khi hết thời hạn thuê đất; xử lý tài  
sản bảo đảm khi thu hồi nợ xấu do Ngân  
hàng thực hiện theo Nghị quyết số 42/2017/  
QH14 ngày 21/6/2017 quy định về thí điểm  
xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do  
Quốc hội ban hành; tranh chấp trong quản  
lý, sử dụng nhà chung cư;…  
Việc ghi nhận quyền bề mặt có ý nghĩa  
nhất định đối với pháp luật Việt Nam và  
được đánh giá sẽ có tác động tích cực đến  
nền kinh tế nói chung và ngành bất động  
sản nói riêng. Quy định này giúp giá trị  
kinh tế của đất đai luôn được khai thác  
5 ThS. Lê Đăng Khoa - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Quyền bề mặt theo quy định của BLDS năm 2015  
và dự báo một số vướng mắc, bất cập, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/giai-dap-phap-luat/vi-vay-viec-tiep-can-  
o-cac-goc-do-khac-nhau-ca-ve-mat-ly-luan-quy-dinh-cua-phap-luat-cac-quy-dinh-quoc-te-co-lien-quan-nhu-  
cong-uoc-newyork-luat-mau-uncitral-binh-luan-an-la-rat-can-thie, truy cập ngày 08/02/2021;  
Số 09(433) - T5/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 12360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 9 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_9_nam_2021.pdf