Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 9 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Số 09 (433)
Tháng 5/2021
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030
-
XÃ HỘI
Số 09 (433)
Tháng 5/2021
Mục lục Số 09/2021
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE
Ở
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Lựa chọn các đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã
hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030
3
PGS. TS. Đinh Dꢀng Sꢁ
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước
TS. Phạm Thị Duyên Thảo
11
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất
trong pháp luật đất đai của Việt Nam
17
ThS. Nguyễn Diệu Anh
CHÍNH SÁCH
Hạn ngạch đối với nông sản xuất khẩu sang EU theo EVFTA
22
29
ThS. Đỗ Thu Hương
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
TS. Nguyễn Hải Ninh
Quy định của pháp luật về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam
38
42
Nguyễn Hoꢂng Nam
Hoạt động quảng cáo trên YouTube ở Việt Nam: thực trạng
và kiến nghị
Cao Ngọc Anh Thi
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Giáo dục bắt buộc áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và
gợi mở cho Việt Nam
48
58
ThS. Mai Thị Thủy
Ảnh bìa: Cầu Cửa Hội
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Quy trình bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân
ThS. Hoꢂng Thị Lan
Ảnh: ST.
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030
-
XÃ HỘI
Số 09 (433)
Tháng 5/2021
Legis No 9/2021
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN YOUTUBE
Ở
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN
STATE AND LAW
Selection of Strategic Breakthroughs in Socio-economic
Development for the period 2021-2025 and up to 2030
3
Prof. Dr. Dinh Dung Sy
Responsibility for Legal Aid of the State
11
Dr. Pham Thi Duyen Thao
DISCUSSION OF BILLS
Surface Rights in Civil Law and the Land Use Rights in Land
Law of Vietnam
17
22
29
LLM. Nguyen Dieu Anh
POLICY
Quotas for Agricultural Products exported to the EU under
EVFTA
LLM. Do Thu Huong
LEGAL PRACTICE
Protection of the Legitimate Rights and Interests of Victims and the
Plaintiffs in accordance with the Criminal Procedure Code of 2015
Dr. Nguyen Hai Ninh
Legal Regulations on Embryo and Fetus in Vietnam
Nguyen Hoang Nam
38
42
Advertising Activities on YouTube in Vietnam: Status and
Recommendations
Cao Ngoc Anh Thi
FOREIGN EXPERIENCE
Compulsory Education to the Juvenile Offenders according to the
provisions of the Criminal Code of the Russian Federation and
References to Vietnam.
48
58
LLM. Mai Thi Thuy
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION
Procedure for Election of Members of the People's Committee
PRICE: 25.000VND
LLM. Hoang Thi Lan
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030
Đinh Dũng Sỹ
PGS. TS. Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Giai đoạn 5 đến 10 năm tới là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong con đường phát
triển của Việt Nam để trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm
2045 như mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng. Trên con đường phát triển của 25 năm tới, có nhiều thách thức
nhưng cũng có nhiều cơ hội rất lớn; nếu tận dụng được cơ hội, có những lựa chọn
và quyết sách đúng cho ưu tiên phát triển sẽ đưa đến thành công. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả chia sẻ một vài suy nghĩ về chiến lược phát triển đất nước cho
giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030.
Từ khóa: Đột phá chiến lược; phát
triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2021-2025 và đến năm 2030; cách
mạng công nghiệp lần thứ tư.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 26/3/2021
: 12/4/2021
: 14/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
The period of 5 years to 10 years shall be an important milestone for Vietnam's
development roadmap to becoming a developed and high-income country by
2045 as it is set the goal in the Resolution of the 13th National Party Congress.
On the development roadmap of the next 25 years, there are many challenges
but also great opportunities; if it is to take advantage of opportunities, give out
the right choices and decisions for development priorities, which shall lead to
success. Within the scope of this article, the author shares some thoughts on the
country's development strategy for the period 2021-2025 and up to 2030.
Keywords: Strategic breakthrough;
socio-economic development in the
period of 2021-2025 and to 2030;
fourth industrial revolution.
Article History:
Received
Edited
: 26 Mar. 2021
: 12 Apr. 2021
: 14 Apr. 2021
Approved
Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước
cũng như trên thế giới của 5 đến 10 năm
tới có nhiều vấn đề, nhưng tất cả mọi thách
thức cũng như cơ hội cho phát triển đều
xoay quanh ba từ “CHUYỂN ĐỔI SỐ”.
Điều đó cắt nghĩa rằng, tác động của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN
4.0) là nhân tố chính tạo ra cơ hội và cũng
là thách thức cho con đường phát triển của
chúng ta trong 5 đến 10 năm tới cũng như
chặng đường 25 năm để trở thành một nước
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Việc chúng ta có tận dụng, nắm bắt được
cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư tạo ra hay không sẽ là một trong
những nhân tố quyết định sự thành bại của
chúng ta trên con đường phát triển đó,
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII nói về ba
đột phá chiến lược, gồm: (1) Hoàn thiện
đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể
chế phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN; đổi mới quản trị quốc gia theo
hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả; (2) Phát
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao; (3) Xây dựng hệ thống kết
cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế
và xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, tất cả ba
đột phá chiến lược nêu trên, nếu muốn thành
Số 09(433) - T5/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
công đều phải xoay quanh trục chính của sự
nghiệp “chuyển đổi số”. Với quan điểm nêu
trên, nhiệm kỳ Quốc hội, Chính phủ 2021-
2026, tầm nhìn 2030 cần lựa chọn trọng tâm
để thực hiện ba đột phá chiến lược nêu trên
(các đột phá của đột phá); đồng thời với việc
lựa chọn trọng tâm cho ba đột phá chiến lược
cũng cần phát huy tiềm năng, lợi thế của đất
nước để thúc đẩy phát triển bền vững. Với
nhận thức đó, tác giả đề xuất lựa chọn bốn
lĩnh vực trọng tâm đột phá dưới đây:
hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập
môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách
hành chính. Nghị quyết Đại hội XIII đã có
những thay đổi quan trọng trong đột phá chiến
lược này. Với cụm từ “hoàn thiện đồng bộ thể
chế phát triển”, nội hàm của đột phá chiến lược
này tại Nghị quyết Đại hội XIII đã mở rộng
hơn, bao gồm toàn bộ hệ thống thể chế cho
phát triển. Ở đây, đặc biệt nhấn mạnh từ “phát
triển”, và lựa chọn này phù hợp với quan điểm
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển hay
Chính phủ kiến tạo phát triển hiện nay.
1. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,
tiếp tục rà soát và sửa đổi, bổ sung toàn
diện hệ thống pháp luật để phục vụ
chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển
Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số
Sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã từng
bước xây dựng được một hệ thống thể chế,
pháp luật khá đầy đủ và đồng bộ trên hầu hết
các lĩnh vực, đủ để điều chỉnh các quan hệ
kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho quản
lý nhà nước cũng như môi trường, hành lang
pháp lý dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội. Trong giai đoạn này, chúng ta có ba
lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp2 và mỗi lần
như vậy đánh dấu một giai đoạn mới của sự
phát triển hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu
cầu đổi mới, phát triển của đất nước. Giai
đoạn thứ nhất từ 1986 đến 2001 (thời điểm
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
năm 1992), đặc trưng của hệ thống pháp luật
giai đoạn này là hệ thống pháp luật chuyển
đổi, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu, bao cấp sang “phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng XHCN”3. Giai đoạn hai
từ năm 2002 đến năm 2013 (thời điểm ban
hành Hiến pháp năm 2013), đặc trưng của
hệ thống pháp luật trong giai đoạn này là
hệ thống pháp luật chuyển đổi và hội nhập.
Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này có
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ
rõ: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,
trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Đổi mới quản
trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh
hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng
bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt
hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo
lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận
lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành
phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy
động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài
chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời
tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát
quyền lực bằng hệ thống pháp luật”1.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011-2020 cũng như Nghị quyết Đại hội XI và
XII của Đảng mới chỉ xác định khâu đột phá
này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
1 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia sự thật, năm 2021, tr.337.
2 Năm 1992 ban hành Hiến pháp năm 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980; Năm 2001 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 ban hành Hiến pháp mới.
3 Điều 15 Hiến pháp năm 1992.
4
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thể coi là thế hệ thứ hai của hệ thống pháp
luật thời kỳ đổi mới và cũng là thế hệ thứ hai
của hệ thống pháp luật chuyển đổi, đồng thời
hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.
Giai đoạn ba từ năm 2014 đến nay và trong
những thập kỷ tới, đặc trưng của hệ thống
pháp luật giai đoạn này là hệ thống pháp luật
hội nhập và kiến tạo phát triển. Có thể hiểu
rằng, chủ ý và cũng là điểm nhấn đặc biệt
của Nghị quyết Đại hội XIII là hoàn thiện thể
chế cho phát triển chứ không phải là thể chế
chung chung. Điều đó cũng có thể cắt nghĩa
rằng, giai đoạn tới đây là giai đoạn nâng cấp,
hoàn thiện thể chế ở một tầm cao mới, đó là
thể chế cho phát triển gắn liền với quan điểm
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trên
nền tảng của hệ thống thể chế, pháp luật đã
được xây dựng khá đầy đủ và đồng bộ sau 35
năm đổi mới. Tác giả cho rằng, vấn đề cần
ưu tiên, tập trung trong đột phá chiến lược
của giai đoạn này là: Tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật để phục vụ chuyển đổi số,
đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, nền
kinh tế số, xã hội số. Sự lựa chọn này xuất
phát từ lý do sau:
kinh tế quy định, chi phối trình độ phát triển
của pháp luật. Cũng có thể nói, pháp luật -
một yếu tố của kiến trúc thượng tầng không
bao giờ cao hơn hay đi trước hạ tầng kinh
tế. Tuy nhiên, trong thời đại phát triển như
vũ bão của khoa học, công nghệ ngày nay,
đặc biệt là CMCN 4.0 thì có những lĩnh vực
thể chế cần phải đi trước đón đầu, tạo cơ hội
cho phát triển nhanh hơn. Chúng ta cũng đã
có bài học và kinh nghiệm trong 35 năm đổi
mới, khi vào thời điểm năm 1987 về cơ bản
Việt Nam chưa có đầu tư nước ngoài, nhưng
lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng và ban
hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam4.
Khi đó, Việt Nam chủ yếu nghiên cứu, tham
khảo kinh nghiệm và thể chế pháp luật về
đầu tư nước ngoài trong khu vực và trên thế
giới, chắt lọc và cân nhắc từng nội dung để
xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên
của Việt Nam khi trong nước loại quan hệ
đầu tư này còn rất hiếm hoi. Thậm chí, chỉ
sau 10 năm, đến năm 1996 khi Việt Nam ban
hành Luật Đầu tư nước ngoài mới thay thế
Luật năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996 được đánh giá là tiến bộ nhất khu vực
Đông Nam Á.
- Tác động của CMCN 4.0 đến chuyển
đổi nền kinh tế ở mọi quốc gia là rất lớn
và cũng đã rất rõ ràng. Nếu quốc gia nào đi
chậm trong cuộc cách mạng này thì sẽ tụt
hậu rất xa. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội
trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước
đây, nay phải nắm bắt thời cơ, không thể để
thời cơ trôi đi và mãi vẫn chỉ là một nước
đi sau về muộn. Để phát triển được một nền
kinh tế số trong 5 đến 10 năm tới, việc xây
dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật, tạo
nền tảng, môi trường pháp lý cho kinh tế số
phải được ưu tiên, đi trước. Về mặt nguyên
lý, pháp luật không bao giờ đi trước điều kiện
kinh tế - xã hội. Điều kiện, trình độ phát triển
- Trong bối cảnh CMCN 4.0, Việt Nam
cần chạy đua với thời gian để nghiên cứu,
từng bước hình thành khung khổ pháp lý cho
phát triển các nền tảng số, như mạng 5G, trí
tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), điện
toán đám mây (Cloud Computing), Internet
vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain)… Chỉ
có thể phát triển thật nhanh các nền tảng số
mới tạo lập được cơ sở và mở ra những ứng
dụng đa dạng cho sự phát triển của kinh tế số,
xã hội số. Theo đó, xây dựng và hoàn thiện
thể chế cho sự phát triển của các nền tảng số
và sau đó là các quan hệ của nền kinh tế số,
xã hội số là yêu cầu cấp bách của 5 đến 10
4 Trên thực tế, từ năm 1977, Việt Nam đã có văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư nước ngoài là “Điều lệ đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam”, được ban hành bởi Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng.
Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài theo Nghị định này hầu như không đáng kể.
Số 09(433) - T5/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
năm tới. Trong lĩnh vực này và ở thời điểm
hiện nay, tác giả cho rằng, thể chế phải đi tiên
phong, vừa làm, vừa quan sát, vừa học hỏi,
không phải đứng đợi sự xuất hiện hay hoàn
thiện của các quan hệ kinh tế, công nghệ.
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Chính phủ
cần tập trung chỉ đạo rà soát toàn bộ hệ thống
pháp luật để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể
chế phát triển, trong đó ưu tiên trọng tâm vào
việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các
luật để phục vụ xây dựng Chính phủ số, phát
triển nền kinh tế số, xã hội số.
trong nửa cuối của năm 2021 đến năm 2023,
cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ,
Luật Giao dịch điện tử, Luật Tần số vô tuyến
điện, Luật Viễn thông…, đồng thời nghiên
cứu sớm, ban hành các dự án luật mới để
phục vụ phát triển các nền tảng số cũng như
ứng dụng các nền tảng này trong phát triển
kinh tế - xã hội như: Luật Công nghệ số,
Luật về tiền số, tài sản số (thường gọi là tiền
ảo, tài sản ảo)... Đặc biệt, trên tinh thần nghị
quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần
nghiên cứu, xây dựng và ban hành cơ chế
khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo
như cơ chế, chính sách cho hoạt động đầu
tư mạo hiểm, phương thức làm thí điểm, thể
chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory
sandbox) trong lĩnh vực công nghệ tài chính
(Fintech); cơ chế khuyến khích và bảo vệ
những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đương đầu với những khó
khăn, thử thách và quyết liệt trong hành
động vì lợi ích chung.
Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên,
ở khía cạnh tổ chức thực hiện, tác giả
cho rằng:
- Quốc hội khóa XV, tại kỳ họp thứ nhất,
cần ban hành nghị quyết (hoặc thể hiện
trong Nghị quyết kỳ họp của Quốc hội) về
rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật, dự kiến
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản
luật, tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số,
phát triển nền kinh tế, xã hội số.
- Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo triển
khai sâu rộng với những giải pháp thiết
thực, hiệu quả “Chương trình chuyển đổi
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030”, được ban hành theo Quyết định
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ
tướng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Thông tin
và Truyền thông cũng sớm hoàn thiện, trình
Chính phủ ban hành trong năm 2021 “Đề
án phát triển kinh tế số Việt Nam đến năm
2025, định hướng đến năm 2030” đã được
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày
01/01/2021 của Chính phủ, tạo cơ sở, định
hướng chính sách cho việc xây dựng, hoàn
thiện lĩnh vực pháp luật này.
- Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tổng rà soát
hệ thống pháp luật giai đoạn hai ngay trong
năm 2021. Tháng 2/2020, Thủ tướng Chính
phủ đã thành lập Tổ công tác của Thủ tướng
về rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật trên 10
lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành.
Kết quả rà soát bước đầu đã được Chính
phủ báo cáo Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp
thứ 10 Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, kết
quả rà soát chủ yếu đánh giá về những mâu
thuẫn, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ của
hệ thống pháp luật, chưa thực sự toàn diện,
và đặc biệt là chưa đi sâu nghiên cứu nhằm
mục tiêu đổi mới hệ thống pháp luật trong
bối cảnh của CMCN 4.0, chưa cập nhật đầy
đủ những định hướng trong hoàn thiện đồng
bộ thể chế phát triển của Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XIII. Kết quả rà soát giai đoạn
hai tiếp theo sẽ là cơ sở để đề xuất chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh cho các năm
2022 đến 2026 và nhiệm kỳ tiếp theo. Ngay
2. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ:
“Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,
hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát
triển một số công trình trọng điểm quốc gia
6
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu;
chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn
thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia,
từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”5.
Từ những định hướng này, tác giả cho rằng,
Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển hai
lĩnh vực sau:
từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; đến
2030 mới phổ cập dịch vụ mạng di động
5G. Tác giả cho rằng, các mục tiêu nêu trên
là khá khiêm tốn, tốc độ phổ cập mạng 5G
cũng như kinh tế số như vậy là chậm. Nếu
chúng ta quyết tâm thực hiện chuyển đổi số
nền kinh tế nhanh hơn, thì cần tập trung đầu
tư xây dựng mạng 5G nhanh hơn nữa, đến
năm 2026 có thể phổ cập dịch vụ mạng 5G,
đặc biệt là phải phổ cập ở tất cả các thành
phố và các trung tâm kinh tế, các khu kinh
tế, khu công nghiệp trên cả nước.
1) Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng
công nghệ thông tin, các nền tảng số như:
mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu
lớn (Big data), điện toán đám mây (Cloud
Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi
khối (Blockchain)… thậm chí chúng ta
cũng phải bắt đầu nghiên cứu ngay về mạng
6G và điện toán lượng tử... là những công
nghệ có thể nói là tất yếu của nhân loại trong
tương lai gần. Bởi lẽ, việc phát triển nhanh
các nền tảng số nêu trên và ứng dụng rộng
rãi trong chuyển đổi số mới là tiền đề cho
nền kinh tế Việt Nam có bước nhảy vọt, thay
đổi về chất, để đi nhanh hơn trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc
biệt, trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, cần tập
trung đầu tư phát triển mạng 5G nhanh hơn
nữa, tạo cơ sở nền tảng cho việc chuyển đổi
số các ngành kinh tế, các cơ quan, doanh
nghiệp cũng như các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Hiện nay, tốc độ phát triển mạng
5G của Việt Nam được cho là không chậm
hơn so với các nước trên thế giới, nhưng
chúng ta vẫn đang thua một số nước ở Đông
Nam Á như Thái Lan (các nhà mạng của
Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm và dự
kiến sẽ khai thác thương mại từ giữa năm
2021). Theo Chương trình chuyển đổi số
quốc gia đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030 được phê duyệt bởi Quyết định
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ
tướng Chính phủ, đến năm 2025, kinh tế số
chiếm 20% GDP; trong đó, tỷ trọng kinh tế
số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu
10%; đến 2030 kinh tế số chiếm 30% GDP,
2) Tập trung nguồn lực cả đầu tư công,
cả đầu tư tư nhân xây dựng tuyến đường sắt
Bắc - Nam tốc độ cao trong 10 năm (2021-
2030). Theo tác giả, xây dựng tuyến đường
sắt Bắc - Nam mới tốc độ cao cần được coi
là bước đột phá về hạ tầng giao thông trong
10 năm tới (cùng với việc hoàn thành tuyến
đường bộ cao tốc phía Đông). Đường sắt
Việt Nam là một trong những ngành công
nghiệp lâu đời nhất Việt Nam. Tuy nhiên,
trong 140 năm kể từ năm 1881, khi người
Pháp đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đầu
tiên ở Việt Nam và sau 75 năm thành lập
nước Việt Nam mới đến nay, đường sắt Việt
Nam vẫn gần như giẫm chân tại chỗ. Đất
nước Việt Nam trải dài từ Bắc tới Nam, hệ
thống sân bay và các cảng biển cũng như
các trung tâm, các vùng kinh tế trọng điểm
được phân bổ suốt dọc chiều dài đất nước.
Vì vậy, nhu cầu vận chuyển hành khách
cũng như hàng hóa, kết nối các vùng kinh tế
trong cả nước là rất lớn. Chúng ta đã chậm
trong đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao
tốc phía Đông nhưng đã quá chậm trong
đầu tư thêm một tuyến đường sắt Bắc - Nam
tốc độ cao.
Hiện nay, Bộ Giao thông Vận tải đang
xây dựng dự thảo quy hoạch đường sắt thời
kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, trong đó dự
5 Xem: sách đã dẫn, tr. 338.
Số 09(433) - T5/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
kiến sẽ xây dựng hai đoạn đường sắt tốc độ
cao là Hà Nội - Vinh và Nha Trang - TP.
Hồ Chí Minh và đưa vào khai thác vào năm
2030-2032; đoạn Vinh - Nha Trang sẽ xây
dựng trong thời kỳ 2030-2050. Nếu đến
năm 2050 Việt Nam mới có tuyến đường
sắt tốc độ cao hoàn chỉnh thì thực sự là quá
chậm trễ, không đáp ứng được yêu cầu phát
triển cũng như đột phá chiến lược về kết cấu
hạ tầng theo Nghị quyết đại hội XIII.
độ cao. Chia thành các đoạn, các gói thầu
khác nhau để gọi thầu tư nhân đầu tư theo
phương thức đối tác công tư (PPP). Trong
đó, Nhà nước bỏ vốn đầu tư công để giải
phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, sau đó tư
nhân bỏ vốn đầu tư, xây dựng nhà ga, tuyến
đường và quản lý vận hành (hoặc Nhà nước
quản lý vận hành), bảo đảm thu hồi vốn của
chủ đầu tư tư nhân (thậm chí bảo đảm thu
hồi vốn của chủ đầu tư tư nhân trước rồi mới
đến Nhà nước). Những đoạn nào tư nhân
không đầu tư thì Nhà nước tập trung nguồn
vốn đầu tư công để có thể 10 đến 15 năm
hoàn thành toàn bộ tuyến đường sắt này.
Về giải pháp tổ chức thực hiện, tác giả
đề xuất:
Thứ nhất, muốn xây dựng được tuyến
đường sắt này, trước hết đỏi hỏi phải có một
quyết tâm chính trị cao, sự đồng lòng của
mọi cấp, mọi ngành và các địa phương cùng
nhân dân cả nước như chúng ta đã quyết tâm
và thành công trong xây dựng tuyến đường
điện 500kv Bắc - Nam thời Cố Thủ tướng
Võ Văn Kiệt. Cần phải có giải pháp để huy
động cho công trình này một lực lượng lao
động đông đảo, nhất là thanh niên, quân
đội, thậm chí cần phải có các phong trào
thanh niên như chúng ta đã từng làm trước
đây trong các công trình xây dựng Thủy
điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An, Hồ Kẻ
Gỗ… Tất nhiên, trong điều kiện hiện nay,
các phong trào động viên, khơi dậy lòng
yêu nước và cống hiến của lực lượng lao
động, nhất là thanh niên phải đi liền với chế
độ đãi ngộ, thù lao xứng đáng.
Thứ ba, việc đầu tư đòi hỏi nguồn vốn rất
lớn, câu hỏi đặt ra là vốn đầu tư ở đâu? Đối
với đầu tư tư nhân, nếu triển khai các gói
thầu theo phương thức PPP như nêu trên,
tính toán có lợi thì chắc chắn các nhà đầu
tư tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư nước
ngoài sẽ làm. Về nguồn vốn đầu tư công,
chắc chắn là phải đi vay. Theo đó, tác giả
đề nghị Quốc hội nên chấp nhận điều chỉnh
tỷ lệ nợ công cao hơn so với mức hiện nay6.
Mức cụ thể là bao nhiêu thì cần phải tính
toán trên cơ sở các cân đối vĩ mô của nền
kinh tế. Tác giả khuyến nghị nên hạn chế
vay ODA, vay từ nước ngoài mà cần tập
trung phát hành trái phiếu Chính phủ để vay
trong nước là chính. Theo tác giả, hiện nay
cũng như trong những năm tới mặt bằng lãi
suất huy động cũng như cho vay tín dụng
của hệ thống ngân hàng có xu hướng giảm7,
nếu Chính phủ phát hành trái phiếu dài hạn
Thứ hai, cần sớm khảo sát, đánh giá và
xây dựng dự án tuyến đường sắt mới tốc
6 Theo Báo cáo đánh giá nợ công giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ, năm 2019 nợ công/GDP là 55,0%; năm
2020 ước đạt 56,8%. Nợ Chính phủ/GDP năm 2019 là 48,0%; năm 2020 ước 50,8%. Nợ nước ngoài Quốc
gia/GDP năm 2019 là 47,1%; năm 2020 ước 47,9%. Xem bài viết “Tỷ lệ nợ công /GDP của Việt Nam không
ngừng giảm”, Tạp chí vneconomy.vn, ngày 22/10/2020.
7 Báo cáo của Ngân hàng nhà nước cho biết, từ năm 2016 đến thời điểm cuối tháng 10/2020, cơ quan này đã điều chỉnh
giảm 2-2,5% các mức lãi suất điều hành. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam là giảm mạnh nhất (Philippines
giảm 1,75%; Thái Lan giảm 0,75%; Indonesia giảm 1%; Malaysia giảm 1,25%). Tuy nhiên, theo thống kê của Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF) ở thời điểm tháng 7/2020, lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-6 khoảng 5,7%/năm; ASEAN-4
khoảng 4,82%/năm; Việt Nam vẫn còn khá cao với 7,2%/năm. Mặc dù vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với
các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam là 4,5%/năm, thấp hơn mức bình quân của ASEAN-4 (Xem bài viết: “Lãi suất cho
vay của Việt Nam cao hay thấp so với khu vực”, Tạp chí điện tử VnEconomy ngày 31/10/2020). Theo quan sát của tác
giả, từ thời điểm đó đến nay lãi suất huy động cũng như cho vay của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm.
8
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
5 đến 10 năm, với lãi suất hợp lý thì vẫn có
thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ
dân cư hiện còn rất lớn. Kinh nghiệm nhiều
nước phát triển có tỷ lệ nợ công rất cao,
thậm chí lên đến 200%/GDP nhưng chủ yếu
là từ vay trong nước (ví dụ như Nhật Bản8),
nên họ vẫn bảo đảm an toàn các cân đối vĩ
mô của nền kinh tế.
phục vụ chuyển đổi số nền kinh tế. Theo
đó, cần tập trung vào xây dựng cơ chế và
giải pháp đồng bộ cho cả ba lĩnh vực: giáo
dục, đào tạo nghề và đào tạo đại học. Đặc
biệt là đào tạo nghề, cần đổi mới chương
trình, nội dung, tập trung đào tạo các nghề
đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số nền kinh tế.
Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến việc liên
kết trong đào tạo nghề với sử dụng lao động
giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh
nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp. Đồng thời,
với việc cập nhật bổ sung tư duy, kiến thức
của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, để
nâng cao nhận thức cũng như chất lượng
trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và
quản lý nhà nước thời CMCN 4.0 của đội
ngũ này, Bộ Thông tin và Truyền thông cần
sớm hoàn thiện trình Chính phủ ban hành
“Đề án nâng cao nhận thức, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực chuyển đổi số đến năm
2025, định hướng đến năm 2030” đã được
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của
Chính phủ, ngày 01/01/2021. Mục tiêu cần
đạt là trong 10 năm tới, nguồn nhân lực Việt
Nam phải đủ về số lượng và năng lực, từng
bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế
số, xã hội số.
Trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, theo
tác giả, nếu có cơ chế kêu gọi được đầu tư
tư nhân và dành nguồn lực đầu tư công để
hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao (cùng
với tuyến đường bộ cao tốc phía đông) thì
mục tiêu đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế
theo Nghị quyết của Đại hội Đảng XII và
XIII cơ bản là thành công, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội cả nước.
3. Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII ghi: “Phát
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn
nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và
các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao,
tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ
bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với
cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân
tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và
ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới
sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá
trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam,
tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”9
4. Đầu tư, tạo bước phát triển đột phá,
bền vững về nông nghiệp trong 10 năm tới
Vấn đề này không nằm trong ba đột phá
chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIII,
nhưng tác giả cho rằng, nông nghiệp là lĩnh
vực có nhiều tiềm năng và dư địa phát triển,
cần khai thác cho phát triển bền vững đất
nước, cải thiện đời sống người dân. Việc
chọn trọng tâm phát triển nông nghiệp vì
lý do sau:
Tác giả cho rằng, chiến lược phát triển
nguồn nhân lực trong 5 đến 10 năm tới
vẫn xoay quanh việc đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực để cập nhật các thành tựu
khoa học, công nghệ của CMCN 4.0 và
8 Theo thống kê của IMF, nợ công của Nhật Bản là 237,6%/GDP; Singapore là 111,1%/DGP; Mỹ là 105,2%/
GDP. Xem bài viết “Những quốc gia vay nợ nhiều nhất”, Tạpchitaichinh.vn ngày 27/10/2019. Theo khảo sát
của tác giả, ở thời điểm hiện nay nợ công của Nhật Bản có thể đã lên đến 250%/GDP.
9 Xem: Sách đã dẫn, tr.338.
Số 09(433) - T5/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- Chúng ta có tiềm năng về phát triển
nông nghiệp: tài nguyên đất đai, khí hậu cơ
bản có nhiều lợi thế, sản phẩm đa dạng và
giàu tiềm năng xuất khẩu, người nông dân
cần cù, chịu khó, có khả năng sáng tạo và
khao khát làm giàu;
thế Luật Hợp tác xã hiện hành; (2) nông
dân cho doanh nghiệp thuê đất; (3) góp vốn
bằng đất để cùng đầu tư thành lập doanh
nghiệp nông nghiệp hoặc thực hiện dự án;
(4) ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để
chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu;
- Dư địa cho phát triển nông nghiệp còn
rất lớn: nếu khai thác được các tiềm năng
nêu trên, đặc biệt, nếu sản phẩm nông nghiệp
của Việt Nam được sản xuất theo đúng tiêu
chuẩn, quy chuẩn theo mô hình nông nghiệp
hữu cơ thì khả năng xuất khẩu nông sản là rất
lớn từ lợi thế của 16 hiệp định thương mại tự
do mang lại; đồng thời thị trường trong nước
với gần 100 triệu dân đang khao khát thực
phẩm sạch cũng là dư địa lớn cho phát triển
nông nghiệp bền vững;
- Đưa khoa học, công nghệ cao vào
nông nghiệp.
Để hiện thực hóa được ba việc trên, Nhà
nước cần có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ
phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sạch,
hướng mạnh vào xuất khẩu. Cụ thể, trong
10 năm tới mỗi năm Nhà nước cần đầu tư
khoảng 30 đến 35 nghìn tỷ đồng (khoảng
trên dưới 2% chi ngân sách), tập trung cho
ba việc sau: (1) chuyển đổi cơ cấu sản xuất
nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu;
(2) thực hiện điều tra, khảo sát, thống kê
để thông tin, dự báo cho người dân về sản
phẩm, về thị trường; tăng cường xúc tiến
thương mại, giúp người dân, doanh nghiệp
tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khắc phục
tình trạng được mùa mất giá, tình trạng “giải
cứu” nông sản, người nông dân mù mờ về
thông tin thị trường; (3) thực hiện khuyến
nông mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ chuyển
giao khoa học, công nghệ cho doanh nghiệp
nông nghiệp, nông dân. Trong đó, đặc biệt
chú trọng hỗ trợ nghiên cứu và cung cấp
giống cây trồng, vật nuôi mới có năng
suất, chất lượng cao; hỗ trợ nghiên cứu và
chuyển giao quy trình công nghệ về nuôi
trồng hiện đại, sạch, đáp ứng yêu cầu xuất
khẩu sang các thị trường khó tính, tận dụng
tối đa lợi thế của các hiệp định thương mại
tự do đang còn rất nhiều dư địa cho xuất
khẩu nông sản.
- Phát triển được nông nghiệp thì tức
khắc sẽ giải quyết được vấn đề nông dân
và nông thôn - khu vực mà Nhà nước cần
quan tâm cải thiện và thay đổi; người nông
dân cần được quan tâm hơn để nâng cao thu
nhập và chất lượng cuộc sống. GDP tăng
cao phải đi liền với thu nhập của người nông
dân tăng cao, đó mới là phát triển bền vững.
Để tạo bước phát triển đột phá, bền vững
trong nông nghiệp, tác giả cho rằng, cần
phải xử lý ba vấn đề sau:
- Sớm sửa đổi Luật Đất đai (trong năm
2022) để mở rộng hạn điền, cho phép tích
tụ đất đai nhiều hơn, đồng thời với việc điều
chỉnh mục đích sử dụng đất nông nghiệp
linh hoạt, phù hợp, bảo đảm cân đối, hài hòa
giữa an ninh lương thực của quốc gia với
hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất;
- Phải kết nối được các doanh nghiệp,
nhà đầu tư với nông dân để sản xuất nông
nghiệp quy mô lớn theo các phương thức
chính như sau: (1) Phát triển đa dạng các
mô hình kinh tế hợp tác ngoài mô hình hợp
tác xã hiện nay. Theo đó, cần phải xây dựng
và ban hành Luật về kinh tế hợp tác thay
Nếu làm được như trên, theo tác giả,
sau 10 năm, đến 2030, nông nghiệp Việt
Nam chắc chắn sẽ cất cánh. Đây là thế
mạnh mà Việt Nam cần khai thác cho phát
triển bền vững
10
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TRÁCH NHIỆM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
Phạm Thị Duyên Thảo
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý, trách
nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà
nước, Luật Trợ giúp pháp lý
năm 2017.
Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được pháp luật quốc tế
ghi nhận trong tương quan với quyền được trợ giúp pháp lý của người
dân. Một hệ các quy chuẩn và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này cũng đã
được gợi ý cho các nước trong những văn kiện quốc tế liên quan. Tham
chiếu với các văn kiện đó cho thấy, pháp luật hiện hành của Việt Nam
đã có những quy định cơ bản, thể hiện độ tương thích nhất định, nhưng
cũng còn những bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 10/02/2021
: 04/3/2021
: 07/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Legal aid; the state's
legal aid responsibilities, Law on
Legal Aid of 2017.
The state's legal aid responsibility has been recognized in international laws
in relation to the people's right to legal aid. Aportfolio of specific standards
and guidelines on this issue has also been recommended to the countries
in relevant international documents. References to those documents show
that the current law of Vietnam has basic provisions, reflecting certain
compatibility, but there are also shortcomings that need to be review for
further improvements in order to contribute to improving the quality of
legal aid activities, ensuring human rights, and citizens' rights.
History:
Received
Edited
: 10 Feb. 2021
: 04 Mar. 2021
: 07 Mar. 2021
Approved
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho đối tượng
được trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của đối tượng này; nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng
và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc
phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Quyền được TGPL là một quyền con người
cơ bản, thuộc nội hàm của quyền tiếp cận
tư pháp, “là cơ sở cho việc thụ hưởng các
quyền khác, bao gồm quyền được xét xử
công bằng và là một biện pháp bảo vệ quan
trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và
niềm tin của công chúng đối với quá trình
tư pháp...”1. Bản chất của quyền TGPL là
khả năng chính đáng của cá nhân được pháp
luật đảm bảo, được tiếp cận hệ thống dịch
vụ tư vấn pháp lý miễn phí, được đại diện
và được xét xử một cách công bằng mà
không phải trả tiền.
1. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà
nước trong các văn kiện quốc tế
Nhu cầu được TGPL luôn tồn tại trong
xã hội và có xu thế ngày một tăng; do đó,
nếu để xã hội tự đáp ứng, sẽ có nhiều vấn
đề nảy sinh, từ sự đa dạng, phức tạp về chủ
thể, đối tượng, tính chất các vụ việc. Những
đối tượng thuộc diện TGPL là những người
1 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
Số 09(433) - T5/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gặp những khó khăn nhất định, mà đôi
khi không phải do bản thân người đó; nếu
không có sự can thiệp, hỗ trợ, họ không thể
hoặc hiếm có được cơ hội như người khác
trong tiếp cận công lý.
gia cần bảo đảm quyền được TGPL trong
hệ thống pháp luật quốc nội ở mức độ cao
nhất có thể, bao gồm cả Hiến pháp2. Luật
hóa quyền TGPL của công dân là một trong
những trách nhiệm của Nhà nước, tạo cơ sở
pháp lý cho việc xây dựng cơ chế bảo đảm
thực hiện TGPL cho công dân. Để thực hiện,
Nhà nước phải có các kế hoạch, chương trình
hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho công
dân có quyền được TGPL. Thông qua pháp
luật, quyền TGPL được quy định rõ ràng, từ
đó xác định khung khổ hành động của các
chủ thể công quyền, hạn chế sự lạm quyền
vốn dễ xảy ra trong quá trình thực thi.
Nhà nước là chủ thể chính thức và chủ
yếu của quan hệ pháp luật, trong đó có quan
hệ liên quan đến nhân quyền. Quyền được
TGPL là quyền cơ bản, Nhà nước là tổ chức
thích hợp nhất cho việc đáp ứng cam kết,
chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế và sử dụng
nguồn lực, cũng như phát triển các quan hệ
hợp tác trong lĩnh vực TGPL. Bên cạnh đó,
TGPL là hoạt động không sinh lợi trực tiếp
đối với chủ thể thực hiện, nếu không có sự
can thiệp của Nhà nước, các chủ thể khác
có thể không muốn làm hoặc không đủ khả
năng làm, dẫn đến tính bền vững của hoạt
động TGPL bị hạn chế.
- Bảo đảm nguyên tắc không phân biệt,
bình đẳng trong quá trình cung cấp TGPL:
Khi cung cấp dịch vụ TGPL, Nhà nước phải
đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử
về tất cả các khía cạnh: “giới, chủng tộc,
màu da, tôn giáo, tài sản, quan điểm chính
trị và các quan điểm khác, quốc tịch, dân
tộc, tư cách công dân hoặc nơi ở, nơi sinh,
trình độ giáo dục, địa vị xã hội và các vấn đề
khác”3, “bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận
TGPL cho phụ nữ, trẻ em hoặc nhóm người
có nhu cầu đặc biệt, người tị nạn, người di
cư, người dân tộc thiểu số, nạn nhân bị mua
bán, người già và những người khuyết tật”4.
Trách nhiệm TGPL của Nhà nước đã
được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế
như: Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948
(Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 14),
Công ước chống phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1981 (Điều 2), Công ước quốc tế
về quyền trẻ em năm 1982 (Điều 37), Công
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...
Trong các văn kiện pháp lý quốc tế nêu
trên, trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm
quyền TGPL của công dân được thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Bảo đảm quyền sớm được tiếp cận
TGPL: Quyền sớm được tiếp cận TGPL là
quyền tiếp cận với TGPL ngay từ thời điểm
mà một người bị tình nghi, bị bắt giữ, bị
tạm giam hoặc bị buộc tội đã phạm tội, tùy
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đồng
thời, trong suốt thời gian từ lần tiếp cận
- Chủ động tạo cơ sở pháp lý cho việc
đảm bảo quyền được TGPL của công dân:
Văn kiện quốc tế khẳng định, các quốc
2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ) về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (Nguyên
nghien-cuu-trao-doi/gioi-thieu-huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
3 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017,
justice-and-prison-reform/LegalAid/Model_Law_on_Legal_Aid.pdf.
4 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017
(Điều 5 Không phân biệt đối xử), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,
12
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TGPL đầu tiên đó, TGPL được tiến hành
liên tục cho tới và trong lần xuất hiện đầu
tiên trước khi có phán quyết bởi thẩm phán
xem người đó sẽ bị tạm giam hoặc được thả
tự do trong thời gian chờ xét xử. Cụ thể, “từ
thời điểm một người nhận thức được mình
là đối tượng điều tra, kể cả trong trường hợp
bị bắt hoặc bị tạm giữ và trong toàn bộ các
giai đoạn của tiến trình tư pháp hình sự”5.
Theo các Nguyên tắc và Hướng dẫn của
Liên hợp quốc (LHQ), quyền được trợ giúp
pháp lý là quyền cần phải được đảm bảo ở
mức cao nhất có thể, một thẩm phán không
nên có những suy luận hoặc kết luận bất
lợi về việc một người bị tình nghi hoặc bị
cáo buộc thực hiện quyền được TGPL. Việc
bảo đảm quyền được tiếp cận sớm TGPL
nhằm giảm thiểu nguy cơ người bị cáo
buộc bị ngược đãi hoặc ép phải nhận tội,
nhất là những người thuộc nhóm yếu thế,
đồng thời, khắc phục được những hạn chế
có thể đến từ sự thiếu kiến thức, nguồn lực
tài chính hoặc năng lực pháp luật của các
chủ thể. Việc đảm bảo quyền tiếp cận sớm
TGPL đòi hỏi Nhà nước có trách nhiệm tạo
cơ chế cho các các luật sư, cán bộ tư pháp,
các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động
giáo dục, phổ biến pháp luật, tăng cường
kiến thức và hiểu biết của công chúng đối
với quyền này.
vấn đề về hành chính, dân sự và hình sự và
các công chức có nghĩa vụ thông báo, giải
thích các khía cạnh về thủ tục và nội dung
của các vấn đề pháp lý cho mọi thành viên
trong xã hội”6. “Chính phủ và các nhà tài
trợ quốc tế đảm bảo rằng các chương trình
hỗ trợ cho hệ thống tư pháp ở cả các quốc
gia đang phát triển và chuyển đổi bao gồm
việc cung cấp thông tin về TGPL và các
biện pháp khác để tăng cường quyền tiếp
cận công lý, đặc biệt là đối với người nghèo
và nhóm đối tượng dễ bị tổn thương một
cách bền vững”7. Sự đa dạng và toàn diện
của các thông tin cần cung cấp phải phù hợp
với các nhóm chủ thể của quyền, liên quan
cả đến các luật hiện hành, các mô hình, quy
trình và thủ tục có thể hỗ trợ trong TGPL.
Việc đảm bảo cung cấp thông tin góp phần
làm gia tăng trách nhiệm của quốc gia trong
quá trình thực hiện nghĩa vụ TGPL.
- Kết nối, tạo điều kiện để xã hội tham
gia TGPL: Nhà nước cần hợp tác với các
chủ thể có liên quan khác như các tổ chức
phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các
tổ chức từ thiện có hoặc không có tính chất
tôn giáo, các cơ quan, các hiệp hội nghề
nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và bảo
đảm sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng
trong việc xây dựng các chính sách, chương
trình và pháp luật về TGPL. Các Chính phủ
cần sử dụng nhiều loại chủ thể để thực hiện
TGPL như: văn phòng bào chữa công do
Chính phủ tài trợ, các chương trình sử dụng
luật sư, các trung tâm TGPL, các trung tâm
thực hành nghề luật của trường đại học
cũng như sự hợp tác với các tổ chức xã hội
dân sự và các tổ chức tôn giáo8. Tham gia
- Bảo đảm cung cấp thông tin, thông báo
cho các chủ thể có thẩm quyền liên quan:
Nhằm đảm bảo tính toàn diện của hoạt
động TCPL cũng như đảm bảo quyền của
nhóm được TGPL mang tính đặc thù, “các
Chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo việc cung
cấp thông tin pháp luật đối với tất cả các
5 Luật mẫu trợ giúp pháp lý, Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ chủ trì xây dựng năm 2017
(Điều 8 Quyền được tiếp cận sớm), Model Law on Legal Aid in Criminal Justice Systems with Commentaries,
6 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_
Right_to_Legal_Aid.pdf.
7 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
8 Tlđd, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
Số 09(433) - T5/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TGPL vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của xã
hội trong tương quan với trách nhiệm TGPL
của Nhà nước, vì “TGPL mang lại lợi ích
cho xã hội bằng cách bảo vệ các cộng đồng
lành mạnh, tiết kiệm nguồn lực, và tạo cảm
giác an toàn cho người dân”9; qua đó, thúc
đẩy TGPL phát triển, hiệu quả.
TGPL, bảo đảm cho luật sư và những người
thực hiện TGPL tránh khỏi sự quấy rầy, dọa
dẫm và đe dọa đối với an ninh, an toàn của
bản thân họ13.
Như vậy, trách nhiệm của Nhà nước đã
được các văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận ở
nhiều khía cạnh, từ nghĩa vụ chính thức, đảm
bảo tính chất bền vững, nguồn tài chính cho
TGPL, bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực,
tạo lập cơ chế để có nhiều chủ thể tham gia
hoạt động TGPL, cho đến việc bảo đảm các
nguyên tắc cần tuân thủ đối với từng nhóm
chủ thể, từng hoạt động TGPL ...
- Bảo đảm cung cấp về mặt tài chính và
đội ngũ nhân lực có chất lượng: Các Chính
phủ cần bảo đảm cung cấp đầy đủ tài chính
và các nguồn lực khác cho dịch vụ pháp
lý dành cho người nghèo và người yếu thế
khác nếu cần thiết10; bố trí nguồn nhân lực
và tài lực cần thiết cho hệ thống TGPL, bảo
đảm biên chế đầy đủ cho hệ thống TGPL
trong toàn quốc và bảo đảm các chuyên gia
làm việc cho hệ thống TGPL quốc gia có
trình độ và được đào tạo phù hợp với dịch
vụ họ cung cấp11; bảo đảm quy trình tố tụng
và cơ chế tiếp cận luật sư thuận lợi, có hiệu
quả và bình đẳng dành cho tất cả mọi người
mà không có bất kỳ sự phân biệt nào12.
2. Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của
Nhà nước theo quy định của pháp luật
Việt Nam
Theo quy định của Điều 2 Luật TGPL
năm 2017, lần đầu tiên TGPL được tiếp
cận dưới góc độ là một hoạt động. Theo
đó, “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp
lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ
việc TGPL”. Sự thay đổi này không những
giúp cho việc xây dựng một cơ chế TGPL
phù hợp, mà còn góp phần xác định cụ thể
được các trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà
nước trong hoạt động TGPL; phân tách
trách nhiệm TGPL với trách nhiệm giáo
dục, phổ biến pháp luật, tránh bỏ sót nhu
cầu TGPL của người dân.
Bảo đảm về tài chính cho TGPL chính
là cách Nhà nước xóa bỏ trở ngại lớn nhất
ngăn cản các chủ thể thụ hưởng quyền
TGPL trong quá trình tiếp cận công lý. Bảo
đảm này cần đặt trong tương quan với bảo
đảm quyền tiếp cận sớm với TGPL.
- Bảo đảm môi trường an toàn cho việc
thực hiện TGPL: Các Chính phủ cần bảo
đảm môi trường an toàn cho việc thực hiện
Khoản 1 Điều 4 Luật TGPL năm 2017
tiếp tục khẳng định, TGPL là trách nhiệm
9
Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính
sách và các nhà thực tiễn, Tuyển tập ấn phẩm về tư pháp hình sự, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm
Vie_final.pdf.
10
Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.
11 Hướng dẫn số 13, Hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình
huong-dan-cua-lien-hop-quoc-ve-tiep-can-tro-giup-phap-ly-trong-tu.
12 Điểm 2, các nguyên tắc của Liên hợp quốc năm 1990 về vai trò của luật sư, https://thuvienphapluat.vn/van-
ban/Linh-vuc-khac/Nguyen-tac-co-ban-ve-vai-tro-cua-luat-su-1990-275828.aspx.
13 Điểm 14 Tuyên bố Ky-ép năm 2007 về trợ giúp pháp lý, https://www.legalaidrwanda.org/legal_text/Kyiv_
Declaration_Right_to_Legal_Aid.pdf.
14
Số 09(433) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
của Nhà nước”, đồng thời quy định rõ
“chính sách về TGPL” là của “Nhà nước”.
Quy định này bảo đảm phù hợp với chính
sách về TGPL của Nhà nước được quy định
trong các văn bản luật liên quan như: Luật
Tố tụng hành chính (khoản 3 Điều 19); Bộ
luật Tố tụng dân sự (khoản 3 Điều 9); Bộ
luật Tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 76).
Mục đích của TGPL cũng được khẳng định,
nhằm: “góp phần bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong tiếp cận công lý và
bình đẳng trước pháp luật”. Trách nhiệm
quản lý nhà nước được giao cho Chính phủ,
Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh.
năm 2017 quy định theo hướng tăng cường
tính chịu trách nhiệm, hạn chế thành lập ồ
ạt, nhằm TGPL được triển khai chất lượng,
tránh thụ động, hình thức.
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 còn
quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện
TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư,
tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất
lượng vụ việc TGPL; tiêu chuẩn đối với trợ
giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL
theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà
nước và theo phân công của tổ chức tham
gia TGPL. Theo đó, trợ giúp viên pháp lý,
luật sư phải trải qua tập sự, đề cao sự tham
gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp
luật có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm,
hiệu quả làm việc tốt; trợ giúp viên pháp lý
là viên chức nhà nước phải có trách nhiệm
tập trung thực hiện vụ việc tố tụng, nếu
không thực hiện trong thời gian 02 năm
liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do
nguyên nhân khách quan (điểm 1 khoản 1
Điều 22).
Điều 5 Luật TGPL năm 2017 quy định
Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân
sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý
nhà nước về TGPL theo quy định của pháp
luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh
chưa tự cân đối được ngân sách, Nhà nước sẽ
ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối
ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực
hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Quy
định này nhằm khắc phục tình trạng nhu cầu
TGPL của người dân không được đáp ứng vì
lý do thiếu kinh phí.
Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng đối
tượng được TGPL với 14 nhóm người (thay
vì 6 nhóm như trước); tăng người được
TGPL thuộc nhóm yếu thế. Khía cạnh này
thể hiện nhận thức, sự cam kết của Nhà
nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý
có chất lượng và công bằng cho mọi nhóm
xã hội.
Luật TGPL năm 2017 cũng quy định cụ
thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong TGPL. Ví dụ, Sở Tư pháp được giao
quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL
với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu tham
gia hoạt động TGPL; phối hợp với cơ quan
tiến hành tố tụng là Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an
để tạo điều kiện cho người được TGPL được
hưởng quyền TGPL, người thực hiện TGPL
tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật;
các cơ quan nhà nước có liên quan có trách
nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới
thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL...
Luật TGPL năm 2017 cũng thể hiện
chính sách của Nhà nước đảm bảo đối với
việc tiếp cận sớm với TGPL. Theo quy định
của khoản 3 Điều 31 Luật TGPL 2017,
trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận
được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người
bị tạm giữ hoặc trong 24 giờ kể từ thời điểm
nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo,
người bị hại thuộc diện được TGPL, thì cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung
tâm TGPL nhà nước tại địa phương cử
Điều kiện thành lập các chi nhánh Trung
tâm TGPL của Nhà nước được Luật TGPL
Số 09(433) - T5/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
người thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo
trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy
định của pháp luật tố tụng.
quan với quyền được đảm bảo TGPL của
người dân.
Thứ hai, mặc dù Luật TGPL năm 2017
đã mở rộng đối tượng được TGPL, nhưng
quy định hiện hành còn bỏ sót đối tượng cần
được TGPL. Cụ thể: Người từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình
sự chỉ được TGPL khi khó khăn về tài chính
là chưa tương thích với pháp luật quốc tế
về TGPL.
Đặc biệt, Luật TGPL năm 2017 bổ sung
quy định về quản lý và đánh giá chất lượng
đối với vụ việc TGPL. Các tiêu chí đánh
giá gồm: tuân thủ đầy đủ các quy định của
pháp luật về TGPL; đáp ứng điều kiện, tiêu
chuẩn về kỹ năng, đạo đức, trách nhiệm; đáp
ứng được mục tiêu của hoạt động TGPL;
đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người được
TGPL. Quản lý chất lượng bao gồm: thẩm
định chất lượng vụ việc TGPL của tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý và đánh giá chất
lượng hoạt động của cơ quan quản lý nhà
nước về TGPL.
Thứ ba, pháp luật về TGPL hiện hành
còn thiếu quy định về cơ chế giám sát đối
với những người thực hiện TGPL để ngăn
chặn tham nhũng theo hướng dẫn của Liên
hợp quốc. Quy định hiện nay về giám sát
hoạt động TGPL chủ yếu dừng trong nội bộ
tổ chức hoặc trong hệ thống quản lý; chưa
có quy định về giám sát của một tổ chức có
thẩm quyền hoặc giám sát của xã hội - bên
thứ ba đối với công tác này.
Nhìn chung, quy định của Luật TGPL
năm 2017 đã đáp ứng khá đầy đủ yêu cầu,
chuẩn mực của pháp luật quốc tế đối với
quốc gia trong TGPL. Bên cạnh đó, pháp
luật về TGPL của nước ta còn một số hạn
chế sau đây:
3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về
trợ giúp pháp lý
Để bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động
TGPL ở nước ta hiện nay, bảo đảm quyền
con người, tác giả cho rằng, cần sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật hiện hành
về TGPL như sau:
Thứ nhất, theo các quy định hiện hành,
trách nhiệm TGPL của Nhà nước chủ yếu
mới dừng ở góc độ nghĩa vụ pháp lý tích
cực, thể hiện ở các quy định về thẩm quyền
quản lý, nghĩa vụ phối hợp, các quy định
về quyền, nghĩa vụ liên quan (Chương VI
Luật TGPL năm 2017). Còn trách nhiệm
dưới góc độ trách nhiệm pháp lý - hậu quả
bất lợi đối với hành vi vi phạm của các chủ
thể TGPL hầu như không được đề cập, hoặc
nếu có, thì cũng mang tính chung chung,
dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp
luật khác. Trong khi đó, các văn bản liên
quan cũng không có chế tài cụ thể cho các
dạng hành vi này, dẫn đến tính răn đe đối
với chủ thể vi phạm rất thấp. Cùng với đó,
các quy định mang tính giới hạn quyền đối
với các chủ thể công quyền (hạn chế sự lạm
quyền) trong quá trình quản lý, thực hiện
TGPL cũng không được thể hiện. Điều này
tạo nên sự thiếu tương thích trong tương
Thứ nhất, bổ sung quy định về trách
nhiệm pháp lý của các chủ thể công đối
với vi phạm hoặc để xảy ra thiệt hại trong
TGPL; bổ sung quy định về giám sát đối
với mọi hoạt động TGPL.
Thứ hai, sửa đổi điểm đ khoản 7 Điều 7
Luật TGPL năm 2017 theo hướng chuyển
đối tượng quy định ở điểm đ thành đối
tượng được TGPL không phụ thuộc vào
điều kiện khó khăn về tài chính.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm
đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo ra sự
linh hoạt trong hoạt động TGPL; xây dựng
hệ thống phần mền quản lý TGPL nhằm
giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả hoạt
động TGPL
16
Số 09(433) - T5/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
QUYỀN BỀ MẶT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRONG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Diệu Anh*
*ThS. Phòng Pháp chế và Tuân thủ Ngân hàng GPBank
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Quyền bề mặt là một quyền mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm
2015. Khác với nhiều nước trên thế giới ghi nhận quyền bề mặt gắn với
chế độ tư hữu về đất đai, Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai. Theo đó, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và trên cơ sở thẩm quyền
luật định, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác sử dụng.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả so sánh quyền bề mặt trong Bộ luật Dân
sự năm 2015 và quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013, từ đó đề
xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về quyền bề mặt.
Từ khóa: Quyền bề mặt, quyền
sử dụng đất, Bộ luật Dân sự năm
2015, Luật Đất đai năm 2013.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 05/3/2021
: 25/3/2021
: 28/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
The surface right is a new provision stipulated in the Civil Code of 2015.
Unlike many countries in the world that recognize the surface right
associated with private ownership of land, Vietnam takes the enforcement
of the land ownership of the whole people. Accordingly, the State is the
representative of the owner and on the basis of statutory authority, the
State grants land use rights to other subjects to use. Within the scope of this
article, the author makes a comparision of the surface rights in the Civil
Code of 2015 and land use rights in the Law on Land of 2013, thereby
proposing recommendations to improve the provisions on surface right in
the Civil Code.
Keywords: Surface rights, land
use rights, Civil Code of 2015,
Law on Land of 2013.
Article History:
Received
Edited
: 05 Mar. 2021
: 25 Mar. 2021
: 28 Mar. 2021
Approved
Mã cổ đại trước công nguyên1. Do chịu ảnh
1. Dẫn nhập
hưởng từ Luật La Mã, nhiều quốc gia châu
Âu cũng sớm ghi nhận quyền bề mặt trong
pháp luật dân sự của họ2. Trải qua các giai
đoạn lịch sử, pháp luật châu Âu lại tiếp tục
ảnh hưởng đến pháp luật các quốc gia khác.
Theo cách hiểu của Luật La Mã, quyền bề
mặt gắn với chế độ tư hữu về đất đai, và
mang nội dung là quyền sử dụng bề mặt đất
Quyền bề mặt là một quyền mới được
quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) năm
2015. BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005
đều không quy định về loại quyền này. Tuy
nhiên, trong hệ thống pháp luật ở nhiều
quốc gia trên thế giới, quyền bề mặt không
phải là một quyền mới. Thuật ngữ “Quyền
bề mặt” (Superficies) bắt nguồn từ Luật La
1 Nguyễn Thị Nhung, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Nghệ An, Tìm hiểu về quyền bề mặt theo
quy định của Bộ luật Dân sự 2015, http://vienkiemsat.haiduong.gov.vn/ArticleDetail/1/0/4144/1056/Tin-bai-
Tim-hieu-ve-Quyen-be-mat-theo-quy.aspx, truy cập ngày 08/02/2021.
2 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy
định của Bộ luật Dân sự, https://iluatsu.com/dan-su/mot-so-khia-canh-phap-ly-ve-quyen-be-mat-trong-quy-
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.
Số 09(433) - T5/2021
17
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
để tạo lập các tài sản gắn liền với đất. Căn
cứ để xác lập quyền bề mặt là từ thỏa thuận
và trả chi phí “thuê đất” với chủ sở hữu thửa
đất đó3.
thể khác. Đặc điểm đặc trưng của quyền
bề mặt là quyền này được xác lập trên tài
sản thuộc sở hữu của chủ thể khác (quyền
sử dụng đất của người có quyền sử dụng
đất). Đặc điểm này giúp phân biệt quyền
bề mặt nói riêng, các quyền khác đối với
tài sản nói chung với quyền sở hữu - vật
quyền chính đối với tài sản4. Đây cũng
là đặc điểm cho thấy tính phụ thuộc của
quyền bề mặt. Mặt khác, chủ thể mang
quyền bề mặt được trực tiếp chiếm hữu,
sử dụng - khai thác quyền sử dụng đất.
So với chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất,
chủ thể có quyền bề mặt không có quyền
định đoạt đối với quyền sử dụng đất như
chủ thể sở hữu. Tuy nhiên, việc sử dụng,
khai thác đất đai của chủ thể mang quyền
bề mặt cũng có tính độc lập, không phụ
thuộc ý chí của chủ sở hữu trong suốt thời
hạn có hiệu lực của quyền.
Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai; Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu, trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể
khác nhau trong xã hội. Do đó, khi áp dụng
quyền bề mặt vào pháp luật dân sự, Việt
Nam cần có sự linh hoạt trong nhận thức
và ứng dụng để tránh nhầm lẫn với quyền
sử dụng đất được quy định trong Luật Đất
đai năm 2013. Ví dụ: A ký hợp đồng thuê
đất của B. Thực tế A là người đang sử dụng
đất một cách hợp pháp nhưng A lại không
được thừa nhận với tư cách là “người sử
dụng đất” mà phải là B, người đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó,
A chỉ có thể thuê để sử dụng đất, xây dựng,
khai thác, thế chấp các tài sản trên đất chứ
không thể giao kết các hợp đồng khác như
chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế
quyền sử dụng đất được bởi những quyền
năng này thuộc về B.
Bên cạnh đó, quyền bề mặt còn có một
số đặc điểm khác khi so sánh với quyền
hưởng dụng, quyền đối với bất động sản
liền kề, cụ thể:
Ví dụ trên cho thấy sự cần thiết phải phân
biệt để làm rõ hai khái niệm quyền bề mặt
trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất
trong pháp luật đất đai trong thực tiễn thực
thi pháp luật ở Việt Nam.
- Về phạm vi tác động của quyền bề mặt
Quyền bề mặt chỉ xác lập phạm vi trên
quyền sử dụng đất của người được Nhà
nước trao quyền sử dụng đất (chủ sở hữu).
Trong khi đó, phạm vi của các quyền tài sản
khác được quy định rộng hơn, như: phạm vi
quyền hưởng dụng có thể xác lập trên mọi
tài sản, phạm vi quyền đối với bất động sản
liền kề có thể xác lập trên quyền sử dụng
đất của người khác.
2. Nhận diện quyền bề mặt trong pháp
luật dân sự và quyền sử dụng đất trong
pháp luật đất đai tại Việt Nam
2.1. Nhận diện quyền bề mặt trong Bộ
luật Dân sự năm 2015
- Về căn cứ xác lập quyền bề mặt
Theo quy định của BLDS năm 2015,
quyền bề mặt là quyền của một chủ thể
đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không
gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất
mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ
Theo quy định của Điều 268 BLDS năm
2015, quyền bề mặt được xác lập theo quy
định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di
chúc. Đây cũng là căn cứ xác lập của quyền
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật La Mã, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
4 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy
định của Bộ luật Dân sự, https://iluatsu.com/dan-su/mot-so-khia-canh-phap-ly-ve-quyen-be-mat-trong-quy-
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.
18
Số 09(433) - T5/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
hưởng dụng. Tuy nhiên, quyền đối với bất
động sản liền kề có thể xác lập theo ba căn
cứ này và theo địa thế tự nhiên (Điều 246
BLDS năm 2015).
một cách hiệu quả, góp phần xử lý tài sản
nhanh chóng hơn tại các tổ chức tín dụng.
Bởi lẽ, trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp
thuê đất theo các quy định của pháp luật
dân sự và pháp luật đất đai của nước ta
trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu
lực thi hành; bên thuê quyền sử dụng đất
chỉ có nhu cầu khai thác mặt đất mà không
có nhu cầu khai thác lòng đất cũng như
không gian bên trên. Trong khi đó, phần
không gian bên trên và lòng đất bên dưới
hoàn toàn có thể sử dụng độc lập với quá
trình sử dụng mặt đất và việc sử dụng này
không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
của bên thuê đất. Tính hiệu quả kinh tế của
quyền bề mặt được thể hiện thông qua ví
dụ sau: A là chủ sở hữu quyền sử dụng đất,
A cấp cho B quyền bề mặt nuôi cá và trồng
hoa sen trong ao nằm trên mảnh đất của
A, cho C quyền bề mặt xây nhà sàn, kinh
doanh ăn uống trên mặt ao, cho D quyền
xây cầu vượt phía trên mảnh đất. Như vậy,
từ bề mặt, không gian bên trên, lòng đất
đều được sử dụng và khai thác tối đa. Đây
cũng là một trong những ưu điểm của chế
định quyền bề mặt mà những quy định về
quyền sử dụng đất hiện hành theo pháp
luật đất đai không có được.
- Về thời hạn của quyền bề mặt
BLDS năm 2015 quy định thời hạn của
quyền bề mặt được xác định theo quy định
của pháp luật, theo thỏa thuận hoặc theo di
chúc nhưng không vượt quá thời hạn của
quyền sử dụng đất. Có thể thấy rằng, nhằm
tạo sự đảm bảo cho người có quyền bề mặt
có thời gian dài ổn định tạo lập tài sản gắn
liền với đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
kinh doanh, sản xuất trên đất mà pháp luật
dân sự không chỉ Việt Nam mà cả các quốc
gia khác trên thế giới đều quy định quyền bề
mặt có tính dài hạn. Ví dụ, Bộ luật Dân sự
Nhật Bản quy định thời hạn này tối đa là 50
năm, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái
Lan quy định thời hạn này là cả đời chủ sở
hữu hoặc của người có quyền bề mặt,5 …
- Xử lý tài sản sau khi quyền bề mặt
chấm dứt
Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không
xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm
dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ
thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm
quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ
thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản
đó (khoản 2 Điều 273 BLDS năm 2015).
Đây là một trong những vấn đề phức tạp
nhất khi áp dụng trong thực tiễn của quyền
bề mặt.
Bên cạnh đó, quy định của Điều 273
BLDS năm 2015 về xử lý tài sản khi quyền
bề mặt chấm dứt sẽ góp phần giải quyết
những vấn đề phát sinh trong thực tiễn như:
xử lý tài sản trên đất trong trường hợp thu
hồi đất khi hết thời hạn thuê đất; xử lý tài
sản bảo đảm khi thu hồi nợ xấu do Ngân
hàng thực hiện theo Nghị quyết số 42/2017/
QH14 ngày 21/6/2017 quy định về thí điểm
xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do
Quốc hội ban hành; tranh chấp trong quản
lý, sử dụng nhà chung cư;…
Việc ghi nhận quyền bề mặt có ý nghĩa
nhất định đối với pháp luật Việt Nam và
được đánh giá sẽ có tác động tích cực đến
nền kinh tế nói chung và ngành bất động
sản nói riêng. Quy định này giúp giá trị
kinh tế của đất đai luôn được khai thác
5 ThS. Lê Đăng Khoa - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Quyền bề mặt theo quy định của BLDS năm 2015
và dự báo một số vướng mắc, bất cập, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/giai-dap-phap-luat/vi-vay-viec-tiep-can-
o-cac-goc-do-khac-nhau-ca-ve-mat-ly-luan-quy-dinh-cua-phap-luat-cac-quy-dinh-quoc-te-co-lien-quan-nhu-
cong-uoc-newyork-luat-mau-uncitral-binh-luan-an-la-rat-can-thie, truy cập ngày 08/02/2021;
Số 09(433) - T5/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 9 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_9_nam_2021.pdf

