Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật trong hoạt động thanh tra

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
HOꢀN THIꢁN CꢂC QUY ĐỊNH CꢃA PHꢂP LUẬT VỀ  
TꢄM GIỮ TIỀN, ĐỒ VẬT, GIẤY PHÉP SỬ DỤNG TRꢂI PHꢂP LUẬT  
TRONG HOꢄT ĐꢅNG THANH TRA  
Bùi Thị Hồng Phấn*  
* Đai học Trà Vinh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Thanh tra hành chính là một phương thức hữu hiệu để cơ quan quản lý  
nhà nước cấp trên có thể kiểm soát việc thực hiện chính sách, pháp luật,  
nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc.  
Thực tiễn hoạt động thanh tra hành chính đã chứng minh sự cần thiết của  
quy định tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật. Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số bất cập, hạn chế trong các  
quy định của pháp luật về tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái  
pháp luật và đề xuất phương hướng hoàn thiện.  
Từ khóa: Luật Thanh tra năm  
2010; tạm giữ tiền, đồ vật, giấy  
phép sử dụng trái pháp luật.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/5/2021  
: 13/6/2021  
: 15/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Administrative inspection is an effective method for superior state  
management agencies to control the implementation of policies, laws,  
assigned tasks and powers of agencies, organizations and individuals  
under their control. The practice of administrative inspection has proved  
the necessity of regulations on temporary seizure of money, objects and  
licenses for illegal use. This article provides analysis of a number of the  
shortcomings and limitations of the provisions on temporary seizure of  
money, objects, and licenses for illegal use, and recommendations for  
improvements.  
Keywords: Law on Inspection  
of 2010; temporary seizure of  
money, objects and licenses for  
illegal use.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 May 2021  
: 13 Jun 2021  
: 15 Jun 2021  
Approved  
1. Các quy định của pháp luật về tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật trong hoạt động thanh tra  
và Thanh tra nhân dân. Thanh tra nhân  
dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn,  
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công  
lập, doanh nghiệp nhà nước. Về bản chất,  
“Thanh tra nhân dân” là hoạt động giám  
sát và thuộc loại hình “giám sát, kiểm tra  
xã hội”. Điều này thể hiện rất rõ thông qua  
các quy định của Luật Thanh tra năm 2010  
về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra nhân  
dân. Nếu như Thanh tra nhà nước mang  
quyền lực nhà nước thì Thanh tra nhân dân -  
một hình thức giám sát của Nhân dân lại  
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “thanh  
tra” được hiểu là hoạt động “điều tra, xem  
xét để làm rõ sự việc”1. Nói cách khác,  
thanh tra là trực tiếp xem xét làm rõ các  
tình tiết của vụ việc để đi đến kết luận  
đúng hay sai, đồng thời làm rõ tính chất,  
mức độ, nguyên nhân và hậu quả của vụ  
việc. Luật Thanh tra năm 2010 quy định  
hai tổ chức thanh tra là Thanh tra nhà nước  
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, năm 1998, tr. 1529.  
20  
Số 12(436) - T6/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
không mang quyền lực nhà nước. Khi thực  
hiện hoạt động giám sát, Thanh tra nhân  
dân chỉ có quyền kiến nghị chứ không có  
quyền xử lý vụ việc. Vì lẽ đó, có ý kiến cho  
rằng, thuật ngữ “thanh tra” và “thanh tra  
nhà nước” là đồng nhất bởi Thanh tra nhân  
dân không thực hiện hoạt động thanh tra  
mà thực hiện hoạt động giám sát2.  
hoạt động thanh tra hành chính. Việc ghi  
nhận nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể tiến  
hành hoạt động thanh tra hành chính tạo cơ  
sở pháp lý để chủ thể này triển khai các hoạt  
động cần thiết, quyết định nhanh chóng, kịp  
thời các vấn đề phát sinh qua thanh tra, từ  
đó thúc đẩy tính chủ động, tích cực và trách  
nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền  
hạn được giao.  
Trong quản lý nhà nước, hoạt động  
thanh tra được hiểu là thanh tra nhà nước3.  
Theo đó, Thanh tra nhà nước là hoạt động  
xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ  
tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện  
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn  
của cơ quan, tổ chức, cá nhân4. Thanh tra  
nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và  
thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành  
chính là hoạt động thanh tra của cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan,  
tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực  
hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền  
hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là  
hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với  
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp  
hành pháp luật chuyên ngành, quy định  
về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý  
thuộc ngành, lĩnh vực đó.  
Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số  
86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính  
phủ (Nghị định số 86) quy định chi tiết và  
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật  
Thanh tra quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền  
hạn của những chủ thể tiến hành hoạt động  
thanh tra hành chính như người ra quyết định  
thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thanh tra  
viên, thành viên Đoàn thanh tra. Các quy định  
này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể  
trong quá trình áp dụng pháp luật, loại trừ hiện  
tượng lạm quyền, tùy tiện. Ngoài ra, việc quy  
định nhiệm vụ, quyền hạn của những chủ thể  
tiến hành hoạt động thanh tra hành chính còn  
giúp đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá  
nhân có liên quan giám sát hoạt động thanh  
tra được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật.  
Theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật  
Thanh tra năm 2010, người ra quyết định  
thanh tra hành chính có nhiệm vụ, quyền  
hạn: “yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi  
phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết  
làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý”.  
Người ra quyết định thanh tra hành chính  
được yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật khi có các căn cứ:  
Thanh tra hành chính là một phương  
thức hữu hiệu để cơ quan quản lý nhà nước  
cấp trên có thể kiểm soát việc thực hiện  
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn  
được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân  
trực thuộc. Để thực hiện hoạt động thanh  
tra hành chính, pháp luật quy định nhiệm  
vụ, quyền hạn của những chủ thể tiến hành  
2
Cao Vũ Minh, “Những hạn chế của Luật Thanh tra năm 2010 và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí  
Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2018.  
3 Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2013, tr. 625.  
4
Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia  
Việt Nam, năm 2017, tr. 707.  
Số 12(436) - T6/2021  
21  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
i) Cần phải ngăn chặn ngay hành vi vi  
phạm pháp luật; bởi lẽ, các khoản tiền, đồ  
vật, giấy phép được xem là tang vật, phương  
tiện, công cụ vi phạm pháp luật. Do đó, phải  
tiến hành việc tạm giữ vì nếu không tạm giữ  
thì người vi phạm sẽ tiếp tục thực hiện hành  
vi vi phạm;  
hoặc sử dụng trái pháp luật phải ra quyết  
định hủy bỏ ngay biện pháp đó.  
Mẫu văn bản liên quan đến “tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật” được thực hiện theo Thông tư số  
05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của  
Tổng Thanh tra Chính phủ (Thông tư số 05).  
Theo đó, Điều 25 Thông tư số 05 quy định  
trường hợp cần tạm giữ tiền, đồ vật, giấy  
phép sử dụng trái pháp luật thì Trưởng đoàn  
thanh tra đề nghị người ra quyết định thanh  
tra ra quyết định tạm giữ tiền, đồ vật, giấy  
phép được cấp. Quyết định tạm giữ tiền, đồ  
vật, giấy phép được cấp được thực hiện theo  
Mẫu số 23-TTr ban hành kèm theo Thông  
tư số 05. Trong trường hợp cần thiết, người  
ra quyết định thanh tra có văn bản yêu cầu  
người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật,  
giấy phép được cấp do hành vi trái pháp  
luật gây ra. Văn bản yêu cầu được thực hiện  
theo Mẫu số 24-TTr ban hành kèm theo  
Thông tư số 05.  
Việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử  
dụng trái pháp luật có vai trò quan trọng và  
thể hiện rõ nét tính quyền lực nhà nước của  
thanh tra hành chính. Do đó, tuy có quan  
điểm cho rằng nên hủy bỏ quyền yêu cầu  
người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật,  
giấy phép sử dụng trái pháp luật của người  
ra quyết định thanh tra nói chung và người ra  
quyết định thanh tra hành chính nói riêng vì  
không mang tính khả thi6. Tuy nhiên, theo tác  
giả thì quy định về quyền yêu cầu người có  
thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép  
sử dụng trái pháp luật là rất cần thiết. Thực  
tiễn hoạt động thanh tra hành chính đã chứng  
minh sự cần thiết của quy định tạm giữ tiền,  
đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật. Việc  
tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái  
pháp luật nếu được sử dụng chính xác sẽ có  
ii) Để xác minh làm rõ cho việc kết luận  
thanh tra vì để có thể kết luận chính xác có  
hay không có hành vi vi phạm pháp luật của  
một đối tượng, người ra quyết định thanh tra  
hành chính phải có đủ chứng cứ chứng minh  
hành vi vi phạm thông qua các khoản tiền, đồ  
vật, giấy phép được sử dụng trái phép;  
iii) Nhằm phục vụ cho việc xử lý sau  
thanh tra; bởi lẽ, một khi kết luận thanh tra  
đã xác định là có hành vi vi phạm pháp luật  
thì những tang vật, công cụ, phương tiện vi  
phạm này phải được xử lý theo quy định  
như thu hồi, tịch thu nộp ngân sách nhà  
nước, chuyển giao cho cơ quan quản lý nhà  
nước chuyên ngành để quản lý, xử lý hoặc  
tiêu hủy theo quy định của pháp luật.  
Điều 40 Nghị định số 86 quy định chi  
tiết về trình tự và cách thức thực hiện việc  
tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái  
pháp luật. Cụ thể: quyết định tạm giữ tiền,  
đồ vật, giấy phép phải bằng văn bản, trong  
đó ghi rõ tiền, đồ vật, giấy phép bị tạm giữ,  
thời gian tạm giữ, trách nhiệm của người ra  
quyết định tạm giữ, nghĩa vụ của đối tượng  
có tiền, đồ vật, giấy phép tạm giữ; việc tạm  
giữ phải được lập thành biên bản; đối với đồ  
vật, giấy phép xét thấy cần giao cho cơ quan  
chức năng giữ thì yêu cầu cơ quan đó thực  
hiện5; khi xét thấy không cần thiết áp dụng  
biện pháp tạm giữ thì người ra quyết định  
tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp  
5 Điều 40 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP.  
6 Trương Văn Trường, “Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của thanh tra hành chính”, Tạp chí Thanh tra,  
số 9, năm 2015.  
22  
Số 12(436) - T6/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
ý nghĩa lớn, nhằm tạo cơ sở xác minh chứng  
cứ phục vụ cho việc ra kết luận thanh tra.  
Tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng  
trái pháp luật trong hoạt động thanh tra là  
một biện pháp mang tính chất tạm thời. Tính  
chất tạm thời thể hiện ở thuật ngữ “cần ngăn  
chặn ngay” hoặc “làm chứng cứ cho việc  
kết luận, xử lý”. Do đó, về nguyên tắc, tạm  
giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật trong hoạt động thanh tra phải có thời  
hạn cụ thể. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành  
chưa quy định thời hạn tạm giữ tiền, đồ vật,  
giấy phép sử dụng trái pháp luật trong hoạt  
động thanh tra. Trên thực tế, thời hạn này  
hiện nay do người ra quyết định tạm giữ  
tùy nghi quyết định. Bên cạnh đó, pháp luật  
hiện hành cũng không quy định thời gian  
tạm giữ tối đa. Đây là một bất cập rất lớn;  
bởi lẽ, việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép  
sử dụng trái pháp luật trong hoạt động thanh  
tra quá lâu có thể ảnh hưởng đến quyền và  
lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu trong một  
số trường hợp nhất định.  
2. Bất cập trong quy định của pháp luật  
về tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng  
trái pháp luật trong hoạt động thanh tra  
Một là, quy định về quyền hạn liên quan  
đến việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép  
chưa dự liệu được trường hợp người ra  
quyết định thanh tra hành chính là người  
có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.  
Theo Mẫu số 23-TTr, thẩm quyền ra quyết  
định tạm giữ thuộc về người ra quyết định  
thanh tra hành chính hoặc người có thẩm  
quyền ra quyết định tạm giữ khác. Tuy nhiên,  
theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010,  
người ra quyết định thanh tra hành chính chỉ  
có quyền yêu cầu người có thẩm quyền ra  
quyết định tạm giữ mà không được quyền  
tự ra quyết định tạm giữ. Điều này dẫn đến  
thực tế là người ra quyết định thanh tra hành  
chính cho dù được pháp luật quy định có thẩm  
quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép nhưng  
lại không được quyền tự mình ban hành quyết  
định, mà chỉ được yêu cầu chủ thể khác thực  
hiện. Đơn cử, các chức danh thủ trưởng cơ  
quan quản lý nhà nước như Chủ tịch Ủy  
ban nhân dân (UBND) cấp huyện, Chủ tịch  
UBND cấp tỉnh, Giám đốc Sở, Bộ trưởng,  
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ... được pháp  
luật quy định cho thẩm quyền tạm giữ tiền,  
đồ vật, giấy phép. Tuy nhiên, khi ban hành  
quyết định thanh tra hành chính và trở thành  
người ra quyết định thanh tra hành chính thì  
lại không được tự ra quyết định tạm giữ. Nếu  
họ tự ra quyết định tạm giữ thì tuy hợp lý  
nhưng lại không phù hợp với quy định của  
Luật Thanh tra năm 2010. Ngược lại, việc yêu  
cầu chủ thể khác thực hiện tuy đúng quy định  
của pháp luật nhưng lại bất hợp lý.  
Ba là, pháp luật hiện hành không quy  
định về việc xử lý đồ vật bị tạm giữ từ hành  
vi vi phạm bị xử lý kỷ luật.  
Theo quy định của pháp luật thanh tra,  
đối tượng bị tạm giữ có thể là tiền, đồ vật,  
giấy phép được sử dụng trái pháp luật. Việc  
sử dụng trái pháp luật tiền, đồ vật, giấy phép  
có thể cấu thành một vi phạm hành chính  
hoặc một vi phạm kỷ luật. Theo quy định của  
Điều 125, Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành  
chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung  
một số điều năm 2020 (Luật Xử lý VPHC  
năm 2012), người ra quyết định tạm giữ có  
trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện vi  
phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành  
nghề. Trong trường hợp tang vật, phương  
tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng  
chỉ hành nghề bị mất, bán trái quy định, đánh  
tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì  
người ra quyết định tạm giữ phải chịu trách  
nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định  
của pháp luật. Khi thực hiện việc tạm giữ,  
Hai là, thời hạn tạm giữ tiền, đồ vật,  
giấy phép sử dụng trái pháp luật trong hoạt  
động thanh tra chưa được quy định cụ thể.  
Số 12(436) - T6/2021  
23  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
người có thẩm quyền tạm giữ phải niêm  
phong tang vật, phương tiện vi phạm hành  
chính bị tạm giữ, trừ trường hợp tang vật,  
phương tiện là động vật, thực vật sống,  
hàng hóa, vật phẩm dễ hư hỏng, khó bảo  
quản theo quy định của pháp luật. Đối với  
tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa,  
vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết  
định tạm giữ phải tổ chức bán ngay theo giá  
thị trường và việc bán phải được lập thành  
biên bản. Tiền thu được phải gửi vào tài  
khoản tạm gửi mở tại Kho bạc Nhà nước.  
Nếu sau đó, theo quyết định của người có  
thẩm quyền, tang vật đó bị tịch thu thì tiền  
thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước.  
Trường hợp tang vật đó không bị tịch thu thì  
tiền thu được phải trả cho chủ sở hữu, người  
quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp.  
Theo quy định pháp luật, các đồ vật có tính  
chất đặc biệt được người ra quyết định thanh  
tra hành chính tạm giữ trong quá trình thanh tra  
sẽ được giao cho cơ quan chức năng giữ trong  
một số trường hợp. Tuy nhiên, đồ vật nào phải  
giao cho cơ quan chức năng tạm giữ và cơ quan  
chức năng nào sẽ thực hiện tạm giữ lại không  
được quy định rõ. Điều này dẫn đến việc thực  
hiện trên thực tế thiếu đồng bộ, không thống  
nhất; bởi lẽ, xét về bản chất, mỗi loại đồ vật  
khác nhau sẽ có giá trị khác nhau và cần được  
tạm giữ bởi những chủ thể khác nhau như việc  
tạm giữ vàng, bạc, kim khí quý, đá quý khác  
với việc tạm giữ động vật, thực vật quý hiếm,  
tạm giữ chất độc, vũ khí quân dụng...  
Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng  
không quy định việc tổ chức quản lý nơi  
tạm giữ và chế độ quản lý, bảo quản đối với  
đồ vật bị tạm giữ là các đồ vật khác (không  
thuộc dạng hàng hóa, vật phẩm dễ hư hỏng  
như đã phân tích tại mục hạn chế thứ nhất  
hoặc đồ vật có tính chất đặc biệt buộc phải  
giao cho cơ quan chức năng quản lý, bảo  
quản như đã phân tích tại mục hạn chế thứ  
hai nêu trên). Trong khi đó, các hoạt động  
xử phạt vi phạm hành chính, điều tra, truy  
tố... đều quy định các nội dung này đối với  
việc tạm giữ các đồ vật này7. Điều này gây  
khó khăn cho người ra quyết định thanh tra  
hành chính trong quá trình thực hiện nhiệm  
vụ, quyền hạn của mình.  
Tuy nhiên, nếu đồ vật bị tạm giữ không  
liên quan đến vi phạm hành chính mà chỉ  
liên quan đến vi phạm bị xử lý kỷ luật thì  
sẽ không thể áp dụng các quy định của Luật  
Xử lý VPHC năm 2012. Trên thực tế, có  
nhiều đồ vật liên quan đến vi phạm bị xử  
lý kỷ luật là hàng hóa dễ cháy, nổ (xăng,  
dầu), hàng hóa mang tính chất thời vụ (hàng  
tiêu dùng phục vụ lễ, tết), hàng hóa khó bảo  
quản, dễ bị ôi thiu (thực phẩm tươi sống).  
Những hàng hóa này cần có cách xử lý  
tương ứng, phù hợp với tính chất lý tính của  
hàng hóa. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành  
không quy định cụ thể về cách xử lý. Điều  
này gây khó khăn vì người ra quyết định  
thanh tra hành chính không thể quyết định  
hoặc yêu cầu người có thẩm quyền quyết  
định tạm giữ nếu những đồ vật có tính chất  
như trên được sử dụng trái pháp luật từ hành  
vi vi phạm trách nhiệm kỷ luật.  
3. Kiến nghị  
Để bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi  
của các quy định của pháp luật về tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật  
trong hoạt động thanh tra, tác giả kiến nghị:  
Một là, sửa đổi điểm d khoản 1 Điều 48  
Luật Thanh tra năm 2010 theo hướng “người  
ra quyết định thanh tra ra quyết định tạm giữ  
hoặc yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ  
tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật”.  
Bốn là, pháp luật hiện hành không quy  
định cụ thể về vấn đề giao đồ vật bị tạm giữ  
cho cơ quan chức năng.  
7 Lê Văn Quang, “Vướng mắc trong việc xử lý vật chứng là pháo nổ”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, năm 2020.  
24  
Số 12(436) - T6/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Hai là, bổ sung quy định về thời hạn tạm  
giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp  
luật trong hoạt động thanh tra. Tác giả cho  
rằng, thời hạn tạm giữ các tiền, đồ vật, giấy  
phép tính từ thời điểm tạm giữ trên thực tế  
đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được  
thanh tra. Trường hợp có căn cứ để xử lý  
đối tượng tạm giữ, người ra quyết định  
thanh tra hành chính quyết định hoặc yêu  
cầu người có thẩm quyền kéo dài thời hạn  
tạm giữ nhưng không được vượt quá thời  
hạn ra kết luận thanh tra.  
Ba là, bổ sung quy định về việc xử lý các  
đồ vật là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng,  
khó bảo quản bị tạm giữ trong quá trình  
thanh tra. Tác giả cho rằng, cần vận dụng  
quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành  
chính. Theo đó, người ra quyết định thanh tra  
hành chính phải tổ chức xử lý dưới hình thức  
tiêu hủy đối với hàng hóa, vật phẩm đã bị hư  
hỏng hoặc không còn giá trị sử dụng. Đối  
với những hàng hóa không thuộc trường hợp  
nêu trên thì phải tổ chức bán ngay theo giá  
thị trường và việc bán phải được lập thành  
biên bản. Tiền thu được từ việc xử lý phải  
gửi vào tài khoản tạm gửi mở tại Kho bạc  
Nhà nước của người ra quyết định thanh tra  
hành chính. Sau đó, khoản tiền này sẽ được  
xử lý theo kết luận thanh tra (tịch thu sung  
quỹ nhà nước hoặc trả lại chủ sở hữu, người  
quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp).  
đối không được phép lưu thông; ii) Đối với  
vũ khí quân dụng, chất nổ, chất cháy được  
niêm phong và gửi tại kho vũ khí, trang bị  
kỹ thuật thuộc Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh  
nơi cơ quan thụ lý vụ án có trụ sở. Vũ khí  
không phải là vũ khí quân dụng được bảo  
quản tại các kho vật chứng; iii) Đối với chất  
độc (tùy từng loại cụ thể) được niêm phong  
và gửi tại các cơ sở quản lý về chuyên môn  
thuộc ngành Y tế, Quốc phòng, Công an,  
Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn trên địa bàn; iv) Đối với chất  
phóng xạ được niêm phong và gửi tại Viện  
năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc Bộ  
Khoa học và Công nghệ; v) Đối với động  
vật được gửi tại các Vườn thú, Trung tâm  
cứu hộ động vật hoang dã hoặc các cơ sở  
chăn nuôi thuộc ngành Nông nghiệp trên  
địa bàn; vi) Đối với thực vật được gửi tại  
các cơ quan lâm nghiệp, Công ty cây trồng  
trên địa bàn; vii) Đối với vật là vi khuẩn,  
siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại, mẫu  
máu, mô, bộ phận cơ thể người, vắc xin và  
các vật chứng khác liên quan đến lĩnh vực y  
tế cần có điều kiện bảo quản đặc biệt được  
niêm phong và gửi tại các cơ sở quản lý về  
chuyên môn thuộc ngành y tế.  
Ngoài ra, cần bổ sung quy định về nơi  
tạm giữ các đồ vật được sử dụng trái pháp  
luật trong quá trình thanh tra hành chính  
(không thuộc dạng hàng hóa, vật phẩm dễ  
hư hỏng hoặc đồ vật có tính chất đặc biệt)  
theo hướng tổ chức quản lý cùng với nơi tạm  
giữ các tang vật, phương tiện vi phạm hành  
chính theo pháp luật về xử lý vi phạm hành  
chính để tiết kiệm không gian, kinh phí và  
nhân lực phục vụ việc quản lý, bảo quản; bổ  
sung quy định trách nhiệm quản lý đối với đồ  
vật bị tạm giữ, trong trường hợp đồ vật tạm  
giữ bị mất, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện,  
thay thế thì người chịu trách nhiệm quản lý  
sẽ chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý  
Bốn là, bổ sung quy định về các trường  
hợp đồ vật phải giao cho cơ quan chức năng  
tạm giữ, quy định về cơ quan chức năng  
thực hiện việc tạm giữ. Tác giả cho rằng,  
cần vận dụng quy định của Nghị định số  
18/2002/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị  
định số 70/2013/NĐ-CP) quy định về quản  
lý kho vật chứng, cụ thể như sau: i) Đối  
với tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí  
quý, đá quý, đồ cổ phải được niêm phong  
và gửi tại hệ thống kho bạc nhà nước cùng  
cấp nơi cơ quan thụ lý vụ án có trụ sở, tuyệt  
theo quy định của pháp luật  
Số 12(436) - T6/2021  
25  
pdf 6 trang Thùy Anh 10280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật trong hoạt động thanh tra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_tam_giu_tien_do_vat.pdf