Một số vấn đề trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam – Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI  
VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – KINH  
NGHIỆM CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)  
Đỗ Thị Diện*  
Nguyễn Sơn Hải**  
Người phản biện: PGS.TS. Đoàn Đức Lương  
Tóm tắt  
Nhƣợng quyền thƣơng mại và chuyển giao công nghệ đối với công nghệ đã đƣợc  
cấp bằng độc quyền thông qua cho phép sử dụng công nghệ, bí quyết đƣợc gọi là “bên  
chuyển giao” – và cá nhân hoặc pháp nhận nhận các quyền đó hoặc sự cho phép sử  
dụng gọi là “bên nhận chuyển giao”. Những mối liên hệ pháp lý về bản chất là các  
quan hệ hợp đồng, có nghĩa là bên chuyển giao đồng ý chuyển giao và bên nhận  
chuyển giao đồng ý tiếp nhận quyền. Các độc quyền về sử dụng công nghệ, bí quyết,  
kiến thức phải đƣợc sự đồng ý của chủ sở hữu. Vì vậy, bắt buộc phải mua các quyền  
và sự cho phép sử dụng thông qua hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại và chuyển giao  
công nghệ, để thực hiện một cách hiệu quả nhất các công nghệ. Trong phạm vi bài  
nghiên cứu, tác giả tập trung tìm hiểu về một số vấn đềtrong hợp đồng nhƣợng quyền  
thƣơng mại và chuyển giao công nghệ theo pháp luật việt Nam và Liên minh Châu Âu  
(EU), từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam.  
Từ khoá: Nhượng quyền; chuyển giao; công nghệ, Việt Nam; Liên minh Châu  
Âu.  
Résumé  
Franchise et transfert de technologie pour la technologie brevetée en permettant  
l'utilisation de la technologie, le savoir-faire est appelé "le cédant" - et la personne  
physique ou morale qui reçoit les droits ou la permission d'utiliser est appelé "le  
cessionnaire". Les relations juridiques sont essentiellement des relations  
contractuelles, qui signifient que le cédant accepte de céder et le cessionnaire reçoit  
les droits. Les monopoles sur l'utilisation de la technologie, du savoir-faire et des  
connaissances doivent être approuvés par le propriétaire. Par conséquent, il est  
* ThS., Giảng viên khoa Luật Dân sự - Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế  
** ThS., Giảng viên khoa Luật Dân sự - Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế  
230  
impératif d‟acheter les droits et d‟obtenir une autorisation par un contrat de franchise  
et de transfert de technologie pour mettre en œuvre les technologies les plus efficaces.  
Dans le cadre de cet article, l‟auteur se concentre sur la compréhension de certaines  
questions relatives aux contrats de franchise et de transfert de technologie en droit du  
Vietnam et de l‟Union européenne (L‟UE). À partir de laquelle, l‟auteur tire des  
expériences pour le Vietnam.  
Mots-clés: franchisage; transfert; technologie, Vietnam; Union Européenne.  
1. Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại và chuyển  
giao công nghệ  
Nhƣợng quyền thƣơng mại và chuyển giao công nghệ đã đƣợc cấp bằng độc  
quyền sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hoặc cho phép sử dụng công nghệ,  
bí quyết kỹ thuật. Đƣợc thực hiện thông qua các quan hệ pháp lý giữa chủ sở hữu các  
độc quyền hoặc nhà cung cấp bí quyết, kỹ thuật về bản chất là các quan hệ hợp đồng.  
Có năm biện pháp pháp lý cơ bản được sử dụng để thực hiện việc chuyển  
nhượng và thu nhận công nghệ thông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại và  
chuyển giao công nghệ.  
Thứ nhất, Bán – Chuyển nhượng  
Đây là biện pháp pháp lý thứ nhất, tức chủ sở hữu bán tất cả các độc quyền đối  
với một công nghệ, bí quyết đã được cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và cá  
nhân hoặc pháp nhân khác mua các công nghệ, bí quyết này. Khi tất cả các độc quyền  
đối với các công nghệ, bí quyết đã được cấp bằng độc quyền được chủ sở hữu chuyển  
giao cho một cá nhân hoặc pháp nhân khác mà không có bất kỳ hạn chế nào về thời  
gian hoặc điều kiện, khi đó việc chuyển nhượng các quyền được thực hiện.  
Hành vi pháp lý, chủ sở hữu công nghệ, bí quyết đã được cấp bằng độc quyền sở  
hữu trí tuệ chuyển giao những quyền cho người khác được làm chứng bằng một văn  
bản dưới dạng “văn bản chuyển nhượng các quyền sở hữu trí tuệ”247, hay “chuyển  
nhượng quyền sáng chế/ kiểu dáng công nghiệp/ nhãn hiệu”. Bên chuyển giao được  
gọi là bên chuyển nhượng, các cá nhân hay tổ chức khác. Bên nhận chuyển giao được  
gọi là bên nhận chuyển nhượng. Khi việc chuyển nhượng được tiến hành, bên chuyển  
nhượng sẽ không còn bất kỳ quyền nào nữa đối với đối với công nghệ (sáng chế, giải  
247Ví dụ: Văn bản chuyển nhƣợng các quyền sáng chế/ giải pháp hữu ích/ kiểu dáng công nghiệp/ nhãn hiệu  
231  
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu) đã được cấp bằng. Bên nhận chuyển  
nhượng trở thành chủ sở hữu mới và được thực thi tất cả các độc quyền.  
Thứ hai, Li-xăng  
Biện pháp pháp lý thứ hai là thông qua một hợp đồng li-xăng. Chủ sở hữu các  
công nghệ đã được cấp bằng độc quyền cho phép một cá nhân hay một pháp nhân  
khác thực hiện trong nước và trong thời hạn của công nghệ được cấp bằng độc  
quyền248. Một hoặc nhiều hành vi thuộc phạm vi các độc quyền công nghệ đã được cấp  
độc quyền tại quốc gia đó249.  
Văn bản pháp lý chứng minh việc cho phép được gọi là hợp đồng li-xăng, hoặc  
đơn giản là li-xăng. Dạng hợp đồng này thường được cấp kèm theo một số điều kiện  
nhất định được xác định trong văn bản250, theo đó li-xăng được cấp cho bên nhận li-  
xăng. Trong văn bản chuyển nhượng các quyền sáng chế, hay hợp đồng li-xăng phải  
được nộp cho cơ quan sáng chế để đăng ký251. Bằng việc đăng ký, bên nhận chuyển  
nhượng hoặc bên nhận li-xăng được chính phủ công nhận là bên được chuyển giao  
hoặc người nắm giữ quyền được chuyển giao do chuyển nhượng hay các quyền có  
được theo hợp đồng li-xăng.  
Thứ ba, chuyển giao bí quyết  
Biện pháp thứ ba trong số biện pháp pháp lý cơ bản về nhượng quyền thương  
mại và chuyển giao công nghệ liên quan đến bí quyết.  
Có thể đưa các quy định về bí quyết vào một văn bản tài liệu riêng tách biệt với  
hợp đồng li-xăng, hoặc trong hợp đồng li-xăng. Trong trường hợp bí quyết liên quan  
đến sáng chế đã được cấp bằng độc quyền, một nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công  
nghiệp đã được đăng ký, vì nhiều lý do khác nhau, những quy định về bí quyết có thể  
đưa vào một văn bản hay tài liệu riêng hoặc tách biệt. Bất cứ khi nào các điều khoản  
248Xem thêm Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 về Hiệu lực của văn bằng bảo  
hộ, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2009.  
249Có thể hiểu rằng các hành động đó là sản xuất, sử dụng một sản phẩm, quy trình đã đƣợc bảo hộ  
250Ví dụ nhƣ: Chỉ bên nhận li-xăng đƣợc quyền sử dụng công nghệ; hoặc chỉ đƣợc bán các sản phẩm hàm chứa  
công nghệ đƣợc li-xăng tại những vùng lãnh thổ nhất định; hoặc bên li-xăng phải bảo vệ bên nhận li-xăng trƣớc  
toàn án trong các tranh chấp do một bên thứ ba khởi kiện bên nhận li-xăng.  
251Tại Việt Nam, Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Luật chuyển giao công nghệ 2017, những hợp đồng  
chuyển giao công nghệ về quyền sở hữu trí tuệ bắt buộc pahir đăng ký với cơ quan quản lý nhà nƣớc về khoa  
học và công nghệ tại khoản 1 Điều 31 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản chính trị, 2017  
232  
liên quan tới bí quyết xuất hiện trong một văn bản hoặc tài liệu riêng hay tách biệt,  
băn bản hoặc tài liệu đó thường được gọi là “hợp đồng bí quyết”.  
Thông qua quy định này, một bên - bên cung cấp bí quyết, thực hiện hoặc cam  
kết truyền đạt bí quyết cho một bên khác – bên tiếp nhận bí quyết, để sử dụng. Các bí  
quyết có thể truyền đạt dưới dạng hữu hình như tài liệu, bản vẽ thiết kế, ảnh chụp,  
cạnh vi tính và vi phim là một số mình hoạ về dạng hữu hình. Ví như: bản vẽ thiết kế  
kiến trúc các nhà máy, sơ đồ thiết kế của thiết bị tại nhà máy, bản vẽ hoặc bản thiết kế  
máy, danh mục phụ tùng, sách hướng dẫn hoặc các chỉ dẫn vận hành máy hoặc lắp  
ráp các bộ phận máy.Bí quyết dưới dạng này đôi khi được gọi là “thông tin hoặc dữ  
liệu kỹ thuật”252.  
Thứ tư, Bán và nhập khẩu tư liệu sản xuất  
Chuyển nhượng và thu nhận công nghệ thông qua việc mua, bán có thể thực hiện  
đồng thời với việc mua, bán và nhập khẩu thiết bị, các tư liệu sản xuất khác. Ví dụ, về  
các thiết bị sản xuất là máy móc, công cụ cần thiết để sản xuất các sản phẩm hoặc áp  
dụng một quy trình. Các hàng hoá bán thành phẩm như bông, sợi tổng hợp, vải dệt và  
da, những thứ được cắt và may thành quần áo, các phụ tùng hay những bộ phận khác  
cũng có thể được coi là tư liệu sản xuất khi chúng cần thiết cho việc sản xuất các sản  
phẩm khác. Việc mua bán tư liệu sản xuất và nhập khẩu những tư liệu đó vào một  
nước có thể được coi là chuyển giao công nghệ253.  
Thứ năm, Franchising và quan hệ phân phối  
Franchising hay một quan hệ phân phối là một thoả thuận kinh doanh, qua đó  
danh tiếng, thông tin kỹ thuật và kỹ năng của một bên được kết hợp với sự đầu tư của  
một bên khác cho mục tiêu bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ trực tiếp tới người tiêu  
dùng.  
Hàng hoá được đề cập ở đây có thể không tiêu hao như trường hợp ô tô hay các  
thiết bị gia đình. Hay hàng hoá bị tiêu hao như thức ăn hoặc đồ uống đã được chế  
biến. Các cửa hàng để tiếp thị các sản phẩm hoặc dịch vụ thường thiết lập trên cơ sở  
sử dụng một nhãn hiệu hàng hoá, một nhãn hiệu dịch vụ, hoặc tên thương mại và cách  
252 Xem thêm tại Cẩm nang sở hữu trí tuệ thế giới, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO: Chính sách, Pháp luật  
và Áp dụng, năm 2001, trang 174  
253 Xem thêm tại Cẩm nang sở hữu trí tuệ thế giới, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO: Chính sách, Pháp luật  
và Áp dụng, năm 2001, trang 174  
233  
trang trí “phong cách – lock‟ hoặc thiết kế đặc thù cho cơ sở kinh doanh. Chủ sở hữu  
nhãn hiệu hoặc tên thương mại thường cấp li-xăng kèm với việc cung cấp bí quyết như  
thông tin kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật (bên cấp franchising).  
Trong trường hợp nhượng quyền thương mại, hợp đồng li-xăng, hợp đồng về bí  
quyết.Pháp luật yêu cầu các hợp đồng Franchising hay hợp đồng phân phối như vậy  
phải được một hoặc nhiều cơ quan nhà nước có chức năng đăng ký, xem xét hoặc kiểm  
tra và phê duyệt254.  
2. Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại và chuyển giao công nghệ theo pháp  
luật Việt Nam  
2.1. Khái niệm cơ bản  
Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, vì vậy nó đƣợc mua – bán trên  
thị trƣờng nhƣ một hàng hoá. Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình  
hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp hoàn  
chỉnh.  
Theo khoản 3 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ 2017:“Công nghệ là giải  
pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện, dùng để biến  
đổi nguồn lực thành sản phẩm255”. Theo khoản 7 Điều 3 quy định “Chuyển giao công  
nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng  
công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”256. Nhƣ  
vậy, có thể hiểu ngắn gọn, chuyển giao công nghệ là việc chuyển công nghệ từ bên có  
công nghệ sang bên nhận công nghệ.  
Thông qua những phƣơng thức257 khác nhau để các chủ thể thực hiện chuyển  
giao, chuyển nhƣợng sáng tạo và đạt hiệu quả cao.  
Chuyển giao công nghệ là quan hệ mua bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng  
chuyển giao công nghệ. Theo đó, bên có công nghệ có nghĩa vụ chuyển giao cho bên  
nhận công nghệ các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện  
254Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Luật chuyển giao công nghệ 2017, những hợp đồng chuyển giao công  
nghệ về quyền sở hữu trí tuệ bắt buộc phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ tại  
khoản 1 Điều 31 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà  
xuất bản chính trị, 2017  
255 Xêm thêm điều 3 khoản 3 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam, nhà xuất bản chính trị, 2017  
256 Xem thêm Điều 3 khoản 7 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam, nhà xuất bản chính trị, 2017  
257 Tác giả nghiên cứu tại mục 2.3. trong bài viết  
234  
dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm và bên nhận công nghệ có nghĩa vụ trả  
tiền cho bên có công nghệ.  
Hợp đồng chuyển giao công nghệ là nội dung cơ bản của pháp luật về chuyển  
giao công nghệ của mỗi quốc gia. Về phía nhà nước, thông qua các hợp đồng chuyển  
giao công nghệ thể hiện ý chí của mình trong việc điều chỉnh hoạt động chuyển giao  
công nghệ. Về phía chủ thể tham gia quan hệ chuyển giao công nghệ giúp họ xác lập  
và ràng buộc quyền và nghĩa vụ của nhau, là cơ sở đảm bảo và phát triển quyền và lợi  
ích.  
Theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ 2017, đối tượng công nghệ được  
chuyển giao bao gồm: Bí quyết kỹ thuật; bí quyết công nghệ, phương án, quy trình  
công nghệ; giải pháp, thông số, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, công thức, phần mềm máy tính,  
thông tin dữ liệu; giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ258. Ngoài ra, Luật  
Chuyển giao công nghệ 2017 quy định công nghệ được khuyến khích chuyển giao259;  
công nghệ hạn chế chuyển giao260 và công nghệ cấm chuyển giao261.  
Hợp đồng chuyển giao công nghệ là một hợp đồng phức tạp, nó chứa nội dung  
của nhiều loại quan hệ hợp đồng khác nhau262. Hợp đồng chuyển giao công nghệ có  
thể là một hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập, cũng có thể là chuyển giao công  
nghệ trong dự án đầu tư, hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao  
công nghệ. Vì vậy, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập thành văn bản và  
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi có hiệu lực263. Riêng hợp đồng  
có sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước góp vốn chiếm đa số phải được Bộ khoa  
học và Công nghệ phê duyệt. Mọi hợp đồng không được đăng ký, phê duyệt theo quy  
định của pháp luật đều vô hiệu.  
258 Xem thêm Điều 7 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,  
nhà xuất bản chính trị, 2017  
259 Điều 9 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản  
chính trị, 2017  
260 Điều 10Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất  
bản chính trị, 2017  
261 Điều 11Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất  
bản chính trị, 2017  
262  
Dự án đầu tƣ, góp vốn bằng công nghệ, nhƣợng quyền thƣơng mại, mua, bán máy móc thiết bị, tại khoản 2  
Điều 5 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản  
chính trị, 2017.  
263Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Luật chuyển giao công nghệ 2017, những hợp đồng chuyển giao công  
nghệ về quyền sở hữu trí tuệ bắt buộc phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ tại  
khoản 1 Điều 31 Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà  
xuất bản chính trị, 2017  
235  
2.2. Sự khác nhau giữa nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ  
Thứ nhất, về mặt tính chất  
Nếu nhƣ nhƣợng quyền thƣơng mại là phƣơng thức mở rộng quy mô sản xuất  
kinh doanh thông qua việc cho phép một doanh nghiệp khác đƣợc sản xuất kinh  
doanh kiểu dáng công nghiệp trên cơ sở uy tín, tên thƣơng mại, công nghệcủa Bên  
nhƣợng quyền, thì chuyển giao công nghệ lại chỉ đơn thuần là việc chuyển giao các  
công nghệ để ứng dụng nó vào quá trình sản xuất.  
Thứ hai, về quyền năng của bên nhận quyền đối với đối tƣợng chuyển giao  
Khi một doanh nghiệp nhận công nghệ, họ có quyền ứng dụng công nghệ đó để  
sản xuất ra sản phẩm dƣới bất kỳ sáng chế, kiểu dáng, tên thƣơng mại nào mà họ mong  
muốn. Trong khi đó, đối với hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại, Bên nhận quyền  
chỉ đƣợc sử dụng các công nghệ mà mình nhận đƣợc để sản xuất, cung ứng các loại  
dịch vụ có cùng chất lƣợng, hình thức và dƣới nhãn hiệu hàng hoá, tên thƣơng mại của  
Bên nhƣợng quyền.  
Bên cạnh đó, Bên nhận quyền còn phải tuân theo sự bày trí cửa hàng, cung cách  
phục vụ khách hàng, phƣơng pháp xúc tiến thƣơng mại của Bên nhƣợng quyền. Đặc  
biệt, các doanh nghiệp cùng nhận quyền thƣơng mại từ một doanh nghiệp nhất định sẽ  
có mối quan hệ với tƣ cách là các thành viên trong cùng một mạng lƣới kinh doanh,  
mối quan hệ này không bao giờ hình thành giữa các doanh nghiệp cùng nhận quyền  
chuyển giao công nghệ.  
Thứ ba, sự khác nhau về phạm vi đối tƣợng của hoạt động  
Nếu nhƣ trong hoạt động chuyển giao công nghệ, đối tƣợng của nó là “các kiến  
thức tổng hợp của công nghệ hoặc máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo kèm theo các  
kiến thức công nghệ”, tức là chủ yếu tập trung vào công nghệ sản xuất ra sản phẩm,  
quy trình sản xuất ra sản phẩm.  
Trong khi đó, nhƣợng quyền thƣơng mại nhƣ đã đề cập ở trên có phạm vi đối  
tƣợng không chỉ bao gồm quy trình sản xuất mà còn cả các quy trình sau sản xuất  
nhằm đƣa sản phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng, quy trình quản lý – không chỉ giới hạn ở  
cơ cấu tổ chức, chính sách kinh doanh, kiểm toán, nhân sự, thậm chí cả tiêu chuẩn cho  
việc thiết kế, trang trí cửa hàng, nhà xƣởng.  
Thứ tư,hỗ trợ, kiểm soát của bên nhƣợng quyền đối với bên nhận quyền  
236  
Trong nhƣợng quyền thƣơng mại thì đây là một nội dung cốt lõi và không thể  
thiếu đƣợc nhằm đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhƣợng quyền, tuy  
nhiên, trong hoạt động chuyển giao công nghệ thì về nguyên tắc, sau khi chuyển giao  
công nghệ xong bên chuyển quyền sẽ không hỗ trợ gì thêm đối với bên nhận quyền và  
bên chuyển quyền cũng không có quyền kiểm soát hoạt động sản xuất – kinh doanh  
của bên nhận quyền.  
2.3. Phương thức cơ bản hợp đồng nhượng quyền thương mại và chuyển giao  
công nghệ  
Công nghệ có thể đƣợc chuyển giao thông qua các phƣớc thức của hợp đồng  
nhƣ: Góp vốn liên doanh bằng công nghệ; Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ;  
Chuyển giao quyền sử dụng đối tƣợng công nghệ (hợp đồng li-xăng)  
Thứ nhất, Góp vốn liên doanh bằng công nghệ  
Phƣơng thức chuyển giao công nghệ bằng hình thức góp vốn liên doanh bằng  
công nghệ đƣợc hiểu là giá trị của công nghệ đƣợc tính thành một số tiền nhất định và  
coi nhƣ số vốn đầu tƣ của bên chuyển giao công nghệ. Đây là phƣơng thức chuyển  
giao rất phổ biến ở nƣớc ta, đặc biệt trong các dự án có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào  
Việt Nam, trong đó, bên nƣớc ngoài thƣờng góp vốn bằng công nghệ.  
Thứ hai, Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ  
Quyền năng cơ bản nhất của chủ sở hữu các đối tƣợng sở hữu công nghệ là độc  
quyền sử dụng đối tƣợng đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ. Chủ sở hữu  
các đối tƣợng sở hữu công nghiệp có quyền trực tiếp thực hiện các hành vi chiếm hữu,  
sử dụng, định đoạt đối tƣợng sở hữu công nghiệp hoặc chuyển giao những quyền năng  
này cho ngƣời khác.  
Chuyển giao quyền sở hữu đối tƣợng công nghệ là việc chủ sở hữu công nghệ  
chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt công nghệ (mua – bán) cho  
tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Nếu trƣờng hợp công nghệ là đối  
tƣợng đƣợc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì việc chuyển giao công nghệ phải tuân thủ  
điều kiện:  
- Đối với quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả: Chỉ đƣợc chuyển  
giao quyền tại khoản 3Điều 19; Điều 20; khoản 3Điều 29; Điều 30; Điều 31 Luật Sở  
hữu trí tuệ hiện hành.  
237  
- Đối với quyền sở hữu công nghiệp: nhãn hiệu, tên thƣơng mại (chỉ đƣợc khai  
thác quyền sở hữu tên thƣơng mại đó cùng với cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh  
doanh dƣới tên thƣơng mại đó), sáng chế, bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp,  
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn. Phải tuân theo điều kiện hạn chế quy định tại  
Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Sử dụng đối tƣợng sở hữu công nghiệp thuộc  
phạm vi quyền sử dụng của mình khoản 1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.  
Thứ ba, Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng công nghệ (li-xăng)  
Là việc chủ sở hữu đối tƣợng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khai  
thác, sử dụng đối tƣợng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình khoản  
1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Trong khi chủ sở hữu vẫn tiếp tục nắm giữ  
quyền sở hữu các quyền đó. Đối với dạng hợp đồng này, chủ sở hữu thu đƣợc một khoản  
lợi ích vật chất nhất định, nhƣng vẫn bảo lƣu đƣợc quyền sở hữu của mình đối với đối  
tƣợng sở hữu công nghiệp.  
+ Li-xăng độc quyền: Bên chuyển giao quyền (Bên chuyển giao) chuyển giao quyền  
chobên nhận chuyển giao quyền (Bên nhận chuyển giao). Quy định: Bên nhận chuyển giao  
đƣợc độc quyền sử dụng đối tƣợng sở hữu công nghiệp. Bên chuyển giao không đƣợc ký  
hợp đồng với bất kỳ bên thứ ba nào.Chỉ đƣợc sử dụng đối tƣợng sở hữu công nghiệp nếu  
bên nhận chuyển quyền cho phép.  
+ Li-xăng không độc quyền: Bên chuyển giao quyền vẫn có quyền sử dụng, vẫn có  
quyền ký hợp đồng với ngƣời khác.  
+ Hợp đồng thứ cấp: bên chuyển quyền đƣợc chuyển giao quyền sử dụng theo một  
hợp đồng khác.  
Nhƣ vậy, qua các phƣơng thức trên, mục đích chính là bên nhận chuyển giao công  
nghệ cần đƣợc đảm bảo rằng, công nghệ chuyển giao hay đổi tƣợng sở hữu công nghiệp sẽ  
mang lại kết quả nhƣ mong muốn. Vì vậy, kết quả chuyển giao công nghệ hay mục đích sử  
dụng đối tƣợng sở hữu công nghiệp cần đƣợc ghi rõ trong hợp đồng. Hợp đồng cũng nên  
xác định rõ trách nhiệm của bên chuyển giao công nghệ trong trƣờng hợp kết quả hay mục  
đích của hợp đồng không đạt đƣợc nhƣ thoả thuận giữa các bên.  
3. Một số vấn đề cơ bản của pháp luật châu âu (EU) về hợp đồng nhƣợng  
quyền thƣơng mại và chuyển giao công nghệ - kinh nghiệm cho Việt Nam  
3.1. Theo pháp luật của liên minh châu âu (EU)  
238  
Ủy ban Châu Âu đã thông qua các quy tắc mới để đánh giá các thỏa thuận  
chuyển giao công nghệ theo các quy tắc chống độc quyền của EU264. Mục đích của các  
hƣớng dẫn này là cung cấp hƣớng dẫn về việc áp dụng đối với các thỏa thuận chuyển  
giao công nghệ265.  
Thứ nhất, thỏa thuận chuyển giao công nghệ  
Một là, Thỏa thuận chuyển giao công nghệ là thỏa thuận cấp phép trong đó một  
bên (bên cấp phép) ủy quyền cho một bên hoặc các bên khác (bên đƣợc cấp phép) sử  
dụng công nghệ của mình (bằng sáng chế, bí quyết, giấy phép phần mềm) để sản xuất  
hàng hóa và dịch vụ trong phạm vi thoả thuận và băn bằng hiệu lực của các công nghệ  
đƣợc cấp phép quyền sở hữu trí tuệ.  
Hai là, Thỏa thuận chuyển giao công nghệ bao gồm các thỏa thuận cấp phép giữa  
hai (song phƣơng) hoặc một số bên (ví dụ: nhóm bằng sáng chế). Bao gồm các thỏa  
thuận song phƣơng trong khi hƣớng dẫn; các thỏa thuận đa phƣơng dƣới dạng nhóm  
bằng sáng chế. Thỏa thuận chuyển giao có thể kết luận giữa đối thủ cạnh tranh (cái gọi  
là thỏa thuận ngang ; ký kết giữa công ty cạnh tranh với nhau để bán cùng một sản  
phẩm hay dịch vụ) và không có đối thủ cạnh tranh (cái gọi là thỏa thuận dọc; ký kết  
giữa các công ty hoạt động tại các cấp độ khác nhau của chuỗi sản xuất hoặc cung ứng,  
ví dụ nhƣ một công ty khai thác và nhà sản xuất thép266).  
Ba là, Hƣớng dẫn các đối tƣợng cho việc chuyển giao công nghệ. Bao gồm bí  
quyết, bằng sáng chế, mô hình tiện ích, quyền thiết kế, địa hình của các sản phẩm bán  
dẫn, chứng nhận bảo vệ bổ sung cho các sản phẩm thuốc, chứng chỉ của nhà tạo giống  
và bản quyền phần mềm hoặc sự kết hợp cũng nhƣ các ứng dụng cho các quyền này để  
đăng ký. Thoả thuận chuyển giao công nghệ chỉáp dụng ở các quốc gia thành viên nơi  
ngƣời cấp phép nắm giữ các quyền công nghệ có liên quan267.  
Thứ hai, Thoả thuận hạn chế loại trừ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ  
264Quy định của Ủy ban (EU) số 316/2014 ngày 21 tháng 3 năm 2014 về việc áp dụng Điều 101 (3) của Hiệp  
265Xem bằng cách tƣơng tự Các trƣờng hợp tham gia C-395/96 P và C-396/96 P, Compagnie Maritime Belge ,  
[2000] ECR I-1365, đoạn 130, và điểm 106 của Hƣớng dẫn của Ủy ban về việc áp dụng Điều 81 (3) của Hiệp  
266 Thông báo của Ủy ban - Hƣớng dẫn áp dụng Điều 81 của Hiệp ƣớc EC đối với các thỏa thuận chuyển giao  
công nghệ (Văn bản có liên quan đến EEA) OJ C 101, 27.4.2004, tr. 2 Chân42 (ES, DA, DE, EL, EN, FR, IT, NL,  
PT, FI, SV)  
267Xem thêm tài liệu 'Chính sách cạnh tranh ở châu Âu - Các quy tắc cạnh tranh cho các thỏa thuận cung cấp và  
phân phối', Ủy ban châu Âu, Văn phòng xuất bản của Liên minh châu Âu 2012, Luxembourg.  
239  
Một là, thỏa thuận theo đó ngƣời cấp phép cam kết không thực hiện các quyền  
công nghệ của mình đối với ngƣời đƣợc cấp phép. Bản chất của giấy phép bằng sáng  
chế thuần túy là quyền hoạt động trong phạm vi quyền độc quyền của bằng sáng  
chế. Theo đó, TTBER cũng bao gồm các thỏa thuận không khẳng định và thỏa thuận  
giải quyết, theo đó ngƣời cấp phép cho phép ngƣời đƣợc cấp phép sản xuất trong phạm  
vi của bằng sáng chế268.  
Hai là,thỏa thuận nghiên cứu và phát triển.Bao gồm các thỏa thuận, theo đó hai  
hoặc nhiều chủ trƣơng đồng ý cùng thực hiện nghiên cứu, phát triển vàkhai thác kết  
quả. Các thỏa thuận nghiên cứu và phát triển có trả tiền, theo đó hai hoặc nhiều chủ  
trƣơng đồng ý rằng nghiên cứu và phát triển đƣợc thực hiện bởi một bên và đƣợc tài  
trợ bởi một bên khác.  
Thứ ba, Thoả thuận giấy phép độc quyền  
Giấy phép độc quyền nghĩa là bản thân ngƣời cấp phép không đƣợc phép sản  
xuất trên cơ sở quyền công nghệ đƣợc cấp phép.Không đƣợc phép cấp phép quyền  
công nghệ đƣợc cấp phép cho bên thứ ba, hoặc cho một mục đích sử dụng cụ thể trong  
một lãnh thổ cụ thể269. Ngƣời đƣợc cấp phép là ngƣời duy nhất đƣợc phép sản xuất  
trên cơ sở các quyền công nghệ đƣợc cấp phép.  
Trong trƣờng hợp ngƣời cấp phép cam kết không tự sản xuất hoặc cấp phép cho  
ngƣời khác sản xuất trong một lãnh thổ nhất định. Ngƣời cấp phép chỉ cam kết không  
cấp phép cho bên thứ ba sản xuất trong một lãnh thổ nhất định, giấy phép là giấy phép  
duy nhất. Cấp phép độc quyền hoặc duy nhất thƣờng đi kèm với các hạn chế bán hàng  
giới hạn các bên về nơi họ có thể bán sản phẩm kết hợp công nghệ đƣợc cấp phép  
chuyển giao công nghệ.  
Thứ tư, thoả thuận nhóm công nghệ  
Nhóm công nghệ đƣợc định nghĩa là sự sắp xếp, theo đó hai hoặc nhiều bên lắp  
ráp một gói công nghệ đƣợc cấp phép không chỉ cho những ngƣời đóng góp cho nhóm  
mà còn cho các bên thứ ba. Về mặt cấu trúc, nhóm công nghệ có hình thức sắp xếp  
268Các thuật ngữ 'cấp phép' và 'đƣợc cấp phép' đƣợc sử dụng trong các Nguyên tắc này cũng bao gồm các thỏa  
thuận không xác nhận và giải quyết miễn là việc chuyển giao quyền công nghệ diễn ra nhƣ đƣợc mô tả trong  
phần này. Xem thêm về điểm thỏa thuận giải quyết (234) ff.  
269Trong trƣờng hợp các chủ trƣơng đã đƣa ra một cam kết chung để cấp phép cho một số quyền sở hữu trí tuệ,  
ví dụ nhƣ Giấy phép Quyền hoặc cam kết FRAND, các bên có thể đƣợc coi là ở vị trí chặn trên cơ sở các quyền  
sở hữu trí tuệ này  
240  
đơn giản giữa một số bên.Hoặc sắp xếp tổ chức công phu, theo đó việc tổ chức cấp  
phép cho các công nghệ đƣợc giao cho một thực thể riêng biệt. Trong cả hai trƣờng  
hợp, nhóm có thể cho phép ngƣời đƣợc cấp phép hoạt động trên thị trƣờng trên cơ sở  
một giấy phép duy nhất.  
Không có liên kết cố hữu giữa các nhóm công nghệ và tiêu chuẩn.Nhƣng công  
nghệ trong nhóm thƣờng hỗ trợ, toàn bộ hoặc một phần, một tiêu chuẩn công  
nghiệp thực tế.Các nhóm công nghệ khác nhau có thể hỗ trợ các tiêu chuẩn cạnh  
tranh270. Nhóm công nghệ có thể tạo ra các hiệu ứng cạnh tranh, đặc biệt là bằng cách  
giảm chi phí giao dịch và bằng cách đặt giới hạn cho tiền bản quyền tích lũy để tránh  
bị thiệt gấp đôi. Điều này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực mà quyền sở hữu trí  
tuệ cần phải có giấy phép từ một số lƣợng lớn ngƣời cấp phép để hoạt động trên thị  
trƣờng.  
Nhóm công nghệ cũng có thể bị hạn chế cạnh tranh dẫn đến giảm sự đổi mới  
bằng cách tịch thu các công nghệ thay thế. Sự tồn tại của tiêu chuẩn và nhóm công  
nghệ liên quan có thể gây khó khăn hơn cho các công nghệ mới và cải tiến để thâm  
nhập thị trƣờng.  
Thứ năm, thoả thuận cấp giấy phép miễn trừ  
TTBER miễn trừ giấy phép thỏa thuận đƣợc ký kết giữa công ty có sức mạnh thị  
trƣờng (tức là thị phần không quá 20% đối với các thỏa thuận giữa đối thủ cạnh tranh  
và 30% đối với các thỏa thuận giữa phi đối thủ cạnh tranh), và thực hiện đầy đủ một số  
điều kiện quy định trong TTBER.  
Các thỏa thuận đáp ứng các điều kiện này sẽ tự động phù hợp với các quy tắc  
chống độc quyền của EU. Nguyên tắc cung cấptiêu chí đánh giá sự tuân thủ các quy tắc  
chống độc quyền của các thỏa thuận chuyển giao công nghệ nằm ngoài bến an toàn của  
TTBER271.  
3.2. Kinh nghiệm cho Việt Nam  
Thứ nhất, Luật sở hữu trí tuệ trao quyền độc quyền cho ngƣời sở hữu bằng sáng  
chế, bản quyền, quyền thiết kế, nhãn hiệu và các quyền đƣợc bảo vệ hợp pháp  
270Xem về mặt này thông cáo báo chí của Ủy ban IP / 02/1651 liên quan đến việc cấp phép bằng sáng chế cho  
các dịch vụ di động thế hệ thứ ba (3G). Trƣờng hợp này liên quan đến năm nhóm công nghệ tạo ra năm công  
nghệ khác nhau, mỗi công nghệ có thể đƣợc sử dụng để sản xuất thiết bị 3G.  
271http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:44kjkzabzS8J:europa.eu/rapid/press-release_MEMO-  
241  
khác. Chủ sở hữu tài sản trí tuệ có quyền theo luật sở hữu trí tuệ để ngăn chặn việc sử  
dụng trái phép tài sản trí tuệ của mình và khai thác nó, ví dụ, bằng cách cấp phép cho  
bên thứ ba. Hoặc áp dụng hành vi từ chối chuyển giao với việc không sử dụng quyền  
sở hữu trí tuệ, nhất là sáng chế tại EU.  
Thứ hai,áp dụng các thoả thuận cấp phép miễn trừ theo quy định của TTBER  
(EU). Hành vi này có thể đƣợc chứng minh thông qua giá của công nghệ hay sản phẩm  
thấp hơn nhiều ở những nƣớc có trình độ phát triển kinh tế tƣơng đƣơng Việt Nam so  
với giá đƣợc chào bán trên thị trƣờng.  
Thứ ba,Cácthỏa thuận giải quyết trong bối cảnh tranh chấp công nghệ (về việc  
bằng sáng chế có hợp lệ và bị vi phạm hay không) về nguyên tắc là một cách hợp pháp  
để tìm ra sự thỏa hiệp chấp nhận lẫn nhau đối với bất đồng pháp lý. Các bên có thể  
muốn ngừng tranh chấp hoặc kiện tụng vì chứng tỏ quá tốn kém và mất thời gian.  
Thứ tư, Bằng cách cấu trúc nhóm công nghệ của họ và các thỏa thuận cấp phép  
tiếp theo từ nhóm công nghệ. Điều này dự kiến sẽ cung cấp các ƣu đãi hơn cho việc tạo  
ra các nhóm công nghệ cạnh tranh.  
Thứ năm,Trong trƣờng hợp nhóm có vị trí thống lĩnh trên thị trƣờng. Tiền bản  
quyền và các điều khoản khác phải không quá mức, không phân biệt đối xử và không  
độc quyền. Tuy nhiên, nếu nhóm công nghệ không có sức mạnh thị trƣờng, việc cấp  
phép ra khỏi nhóm ngay cả khi những điều kiện đó không đƣợc đáp ứng.  
Kết luận  
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, chủ động hội nhập. Một mặt giúp chúng  
ta có cơ hội tiếp cận các thành tựu khoa học, công nghệ tiến bộ trên thế giới. Mặt khác,  
chúng ta phải đối mặt trƣớc sức ép to lớn của cạnh tranh quốc tế. Đẩy mạnh hoạt động  
chuyển giao công nghệ - phƣơng thức quan trọng để đổi mới và nâng cao trình độ  
công nghệ là cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Luật chuyển giao công nghệ 2017, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam, nhà xuất bản chính trị, 2017  
2. Cẩm nang sở hữu trí tuệ thế giới, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO: Chính  
sách, Pháp luật và Áp dụng, năm 2001, trang 174.  
242  
3. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 về Hiệu lực của văn  
bằng bảo hộ, Quốc hội, Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà xuất bản  
chính trị quốc gia 2009.  
4.Ủy ban IP / 02/1651 liên quan đến việc cấp phép bằng sáng chế cho các dịch vụ  
di động thế hệ thứ ba (3G).  
5. Thông báo của Ủy ban - Hƣớng dẫn áp dụng Điều 81 của Hiệp ƣớc EC đối với  
các thỏa thuận chuyển giao công nghệ (Văn bản có liên quan đến EEA) OJ C 101,  
27.4.2004, tr. 2 Chân42 (ES, DA, DE, EL, EN, FR, IT, NL, PT, FI, SV)  
6. Chính sách cạnh tranh ở châu Âu - Các quy tắc cạnh tranh cho các thỏa thuận  
cung cấp và phân phối, Ủy ban châu Âu, Văn phòng xuất bản của Liên minh châu Âu  
2012, Luxembourg  
8. Các trƣờng hợp tham gia C-395/96 P và C-396/96 P, Compagnie Maritime  
Belge , [2000] ECR I-1365, đoạn 130, và điểm 106 của Hƣớng dẫn của Ủy ban về việc  
áp dụng Điều 81 (3) của Hiệp ƣớc, OJ C 101, 27.4.2004, tr. 97  
243  
pdf 14 trang Thùy Anh 15920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam – Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_trong_hop_dong_nhuong_quyen_thuong_mai_va_chuy.pdf