Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 7 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 07 (431)
Tháng 4/2021
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 07 (431)
Tháng 4/2021
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ
Mục lục Số 07/2021
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
Ở
VIỆT NAM
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam trong điều kiện cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
3
ThS. Lê Thꢀ Khánh Huyꢁn
Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ
9
TS. Nguyễn Văn Quân
Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
15
PGS. TS. Vꢂ Công Giao - Vꢂ Thành Cꢃ -
ThS. Phꢄm Thꢀ Yꢅn
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Các quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ đại diện sở
hữu công nghiệp và giải pháp hoàn thiện
26
Nguyễn Thꢀ Tuyꢆn
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính của chức danh đồn trưởng đồn
biên phòng và các chức danh có thẩm quyền tương đương
34
43
TS. Phꢄm Thꢀ Thanh Huꢅ
Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy
định của pháp luật
ThS. Đꢇng Lê Phương Uyên
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những
gợi mở cho Việt Nam
54
ThS. Đào Thu Hà
Ảnh bìa:
Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu
cử quốc gia Vương Đình Huệ tuyên thệ
trước Quốc hội.
Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 07 (431)
Tháng 4/2021
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ
Legis No 7/2021
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
Ở
VIỆT NAM
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
STATE AND LAW
Reform of Legislative Process in Vietnam in Context of the
Fourth Industrial Revolution
3
9
LLM. Le Thi Khanh Huyen
Conflicts of Interests in Public Service Activities
Dr. Nguyen Van Quan
Recovery of Corrupted Assets in Vietnam
15
Prof. Dr. Vu Cong Giao
Vu Thanh Cu
LLM. Pham Thi Yen
DISCUSSION OF BILLS
The Legal Regulations of Vietnam on Services
of Representatives for Industrial Property and
26
Recommendations for Improvements
Nguyen Thi Tuyen
LEGAL PRACTICE
Improvements of Legal Regulations on Competence of
Commander of Checkpoint of Border Guard Force and of
the Equivalent Position to Fining Administrative Violations
34
43
Dr. Pham Thi Thanh Hue
Conditions and Consequences of Establishment of Right to
the Passageway under the Legal Regulations
LLM. Dang Le Phuong Uyen
FOREIGN EXPERIENCE
The Law of the United States on Protection of the Vacation
Apartment Buyers and Recommendations for Vietnam
54
LLM. Dao Thu Ha
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Lê Thị Khánh Huyền
ThS. Công ty Ứng dụng kỹ thuật và sản xuất, Bộ Quốc phòng
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tạo ra những biến chuyển
mạnh mẽ, chưa có tiền lệ trong đời sống kinh tế - xã hội, làm nảy sinh những vấn
đề mới về pháp lý, tác động trực tiếp tới hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp
luật của mỗi quốc gia. Trong quá trình này, hoạt động lập pháp ở Việt Nam cần
thiết phải tiếp tục được đổi mới toàn diện, trong đó phải được chú trọng hơn đối
với quy trình lập pháp.
Từ khóa: Cuộc Cách mạng lần
thứ tư, quy trình lập pháp.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 20/02/2021
: 14/3/2021
: 17/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
The fourth industrial revolution has provided strong and unprecedented changes
in the socio-economic life, giving new legal issues that directly impact on
development and improvements of the laws of each country. Under this process,
the legislative performance in Vietnam needs to continue to be comprehensively
reformed, in which it is required to pay more attention to the legislative process.
Keywords: The fourth revolution,
the legislative process.
Article History:
Received
Edited
: 20 Feb. 2021
: 14 Mar. 2021
: 17 Mar. 2021
Approved
1. Tính tất yếu đổi mới quy trình lập
pháp ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
năm qua đã có nhiều tiến bộ vượt bậc,
góp phần quan trọng vào hoàn thiện hệ
thống pháp luật, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng
trước sự tác động mạnh mẽ của CMCN
4.0, để đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước trong thời kỳ mới, quy trình
lập pháp ở nước ta cần được tiếp tục đổi
mới, cụ thể là:
Việt Nam là quốc gia đang trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế; cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) mở ra
nhiều cơ hội và thách thức cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó bao
gồm cả hoạt động lập pháp. Mặc dù, quy
trình lập pháp ở Việt Nam trong nhiều
Thứ nhất, vận dụng các thành tựu khoa
học, công nghệ của CMCN 4.0 vào hoàn
thiện quy trình lập pháp là tất yếu khách
Số 07(431) - T4/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội trong bối cảnh CMCN 4.0.
đối với phát triển kinh tế, phát triển các tiện
ích cho đời sống mà còn hữu ích trong hoạt
động lập pháp, thúc đẩy quá trình chuyển
đổi từ quy trình lập pháp truyền thống sáng
quy trình lập pháp hiện đại với sự trợ giúp
của công nghệ phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ
nhân tạo, công nghệ số, v.v.. vào quá trình
phân tích chính sách luật, tổng kết đánh
giá tác động các quy phạm pháp luật (RIA)
trong quá trình soạn thảo các dự luật, phân
tích thực tiễn và xây dựng mô hình dự báo
để từ đó đưa ra các phương án lựa chọn
cho nhà lập pháp.
Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 14/5/2017
của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu
hướng phát triển dựa trên nền tảng tích
hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa -
vật lý - sinh học với sự đột phá của
Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang
làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế
giới. (...) đang tạo ra tác động mạnh mẽ,
ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay
đổi phương thức và lực lượng sản xuất
của xã hội”. Thực tiễn cho thấy, CMCN
4.0 với những công nghệ nổi trội, chưa
từng có trong tiền lệ như in 3D, robot,
trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật
(IoT), mạng xã hội, điện toán đám mây,
di động, phân tích dữ liệu lớn (S.M.A.C),
công nghệ nano (CNNN), sinh học, vật
liệu mới, v.v.. đã và đang làm thay đổi
nhiều lĩnh vực của cuộc sống theo “cấp
số nhân”; trong đó, đặc biệt thúc đẩy đến
việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng
cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong
chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn
về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí
giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư
hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực
công nghệ số.
Thứ hai, đổi mới quy trình lập pháp Việt
Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 nhằm đáp
ứng yêu cầu phát sinh các quan hệ pháp lý
mới trong gian đoạn hiện nay.
Trước sự tác động mạnh mẽ, vượt trội
của CMCN 4.0, chất lượng hệ thống pháp
luật ở Việt Nam đã và đang bộ lộ những hạn
chế nhất định, đó là:
Một là, thay đổi về không gian của các
quan hệ pháp luật: Xuất hiện và ngày càng
phổ biến các giao dịch “phi biên giới”,
thậm chí “phi chủ thể”; chủ thể thực hiện
các hoạt động truyền thông, quảng cáo;
các hành vi, hoạt động thương mại, các
giao dịch dân sự, v.v.. không bó hẹp trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia và một chủ thể
pháp lý thông thường1.
Hai là, thay đổi về thời gian của các
quan hệ pháp luật: Cách tính thời gian làm
việc, nghỉ ngơi không còn phù hợp; cách
xác định thời điểm có hiệu lực của các giao
Những tính năng vượt trội của công
nghệ trong CMCN 4.0 không chỉ hữu dụng
1 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018,
tr. 67-68.
4
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dịch dân sự…2. Thực tế hiện nay, các giao
dịch dân sự có thể thực hiện 24/7 thông
qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và
truyền thông như dịch vụ E-Banking của
các ngân hàng, v.v...
sự biến đổi nhanh chóng của các quan hệ
xã hội và sự kết hợp giữa yếu tố kinh tế, xã
hội và công nghệ trong các quan hệ xã hội,
các hiện tượng xã hội, như Uber, Grap,
các giao dịch thương mại, dân sự trên môi
trường điện tử, v.v.. Những yêu cầu này
không dễ giải quyết nếu quy trình lập pháp
ở nước ta vẫn theo mô hình và công nghệ
lập pháp truyền thống; cho nên, việc đổi
mới quy trình lập pháp phù hợp với bối
cảnh CMCN 4.0 ở nước ta nhằm đáp ứng
yêu cầu giải quyết tốt những tồn tại, hạn
chế trên.
Ba là, thay đổi về chủ thể của các quan
hệ pháp luật: Nếu như trong pháp luật
truyền thống, chủ thể tham gia các quan
hệ pháp luật là cá nhân hoặc pháp nhân
(nghĩa là các chủ thể này thuộc về xã hội
con người tự nhiên), nhưng trong bối cảnh
CMCN 4.0, robot ngày một phổ biến và
dần trở thành một chủ thể chính tham gia
các quan hệ xã hội.
Thứ ba, quy trình lập pháp của Việt Nam
hiện nay đã và đang đối mặt với những
thách thức mới trong bối cảnh CMCN 4.0.
Bốn là, thay đổi về nội dung quan hệ
pháp luật: Với sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ IoT (Internet of Things), trong
xã hội xuất hiện nhiều hành vi pháp lý mới
như giao dich tiền ảo, đánh bạc trực tuyến,
khủng bố, lừa đảo, bắt nạt trên mạng…
Nội dung điều chỉnh của pháp luật không
chỉ giới hạn trong các đối tượng truyền
thống mà được mở rộng hơn, bởi nhiều
đối tượng mới và quan hệ xã hội mới xuất
hiện, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
CMCN 4.0, như: tiền ảo; các ứng dụng từ
blockchain; tài sản ảo; không gian giao
dịch trên môi trường ảo; mối quan hệ giữa
cá nhân, pháp nhân với người nhân tạo -
robot sinh học.
Trong bối cảnh CMCN 4.0, các quan
hệ xã hội diễn ra rất nhanh chóng, nhiều
quan hệ xã hội mới phát sinh đòi hỏi phải
có các quy phạm pháp luật mới điều chỉnh.
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp Việt Nam
còn khá lạc hậu, thời gian thông qua một
dự luật diễn ra rất lâu: “Thông thường, để
trải qua các quy trình kể trên, một dự án
luật thường mất ít nhất 18 tháng nhưng
thực tế, một dự án luật từ lúc xây dựng
đến lúc thông qua có thể mất khoảng 2-3
năm. Một số trường hợp, từ khi khởi thảo
tới lúc thông qua còn mất nhiều thời gian
hơn nữa”3. Trong khi đó, thực tiễn cuộc
sống sẽ diễn biến nhanh hơn rất nhiều
khả năng đáp ứng của quy trình xây dựng
luật hiện tại. Điều đó cho thấy, việc tiếp
tục tìm các giải pháp để đẩy nhanh hơn
nữa hoạt động lập pháp là rất cần thiết.
Những yêu cầu mới này đòi hỏi hệ
thống pháp luật Việt Nam phải tiếp tục
hoàn thiện theo hướng đầy đủ, kịp thời,
đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với
2 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr. 69-70.
3 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr.55.
Số 07(431) - T4/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Những yêu cầu đặt ra đối với quy
trình lập pháp ở nước ta trong điều kiện
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Bên cạnh đó, các quan hệ xã hội trong
bối cảnh này, “các văn bản luật điều chỉnh
các vấn đề mới phát sinh từ việc ứng dụng
công nghệ mới của CMCN 4.0 thường giải
quyết những vấn đề mang bản chất pha trộn
giữa khía cạnh kinh tế, công nghiệp và pháp
lý”4. Chính vì thế, cơ quan lập pháp có thể
còn e ngại khi biểu quyết thông qua một dự
luật trong khi chưa thực sự hiểu bản chất
pháp lý của các hiện tượng kinh tế - xã hội -
công nghệ mới đó.
Theo quy định của Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020,
quy trình lập pháp bao gồm các giai đoạn
sau: (1) Lập chương trình xây dựng luật;
(2) Soạn thảo; lấy ý kiến; chỉnh lý tiếp thu,
giải trình, đăng tải, thẩm định, xem xét;
(3) Thẩm tra; (4) Xem xét, cho ý kiến; (5)
Thảo luận; chỉnh lý; lấy ý kiến; chỉnh lý;
(6) Xem xét, thông qua; hoàn thiện về kỹ
thuật văn bản; công bố. Các giai đoạn này
có thể được gộp lại thành 4 bước chính
sau đây: (1) Sáng kiến lập pháp; (2) Soạn
thảo dự án; (3) Thảo luận và thông qua;
(4) Công bố, ban hành.
Tuy nhiên, nếu không bắt kịp nhịp
độ phát triển của thế giới và khu vực, đi
chung trên “chuyến tàu CMCN 4.0”, Việt
Nam sẽ phải đối mặt những thách thức,
như tụt hậu về khoa học và công nghệ,
suy giảm năng lực cạnh tranh trong sản
xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có
kỹ năng và trình độ thấp, gây phá vỡ thị
trường lao động truyền thống, ảnh hưởng
tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước;
mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm
bản quyền, v.v.. Cuộc cách mạng công
nghiệp này cũng đặt ra những thách thức
đối với một số ngành, lĩnh vực cụ thể, đặc
biệt yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn,
an ninh thông tin mạng; yêu cầu bảo vệ
quyền con người trong hoạt động thương
mại điện tử và số hóa các hoạt động của
đời sống xã hội; v.v..
Trong bối cảnh CMCN 4.0, nhu cầu đẩy
nhanh tiến độ lập pháp đã tạo áp lực lên yêu
cầu bảo đảm chất lượng của sản phẩm lập
pháp. Để bảo đảm sự hài hòa giữa tiến độ và
chất lượng của các văn bản quy phạm pháp
luật, tác giả cho rằng, quy trình lập pháp ở
nước ta cần phải chú trọng đến các yêu cầu
sau đây:
Thứ nhất, tách bạch quy trình xây dựng
chính sách và quy trình soạn thảo văn bản
luật; tăng cường tính công khai, minh bạch
trong xây dựng, ban hành văn bản.
Thực tiễn này đặt ra cho quy trình lập
pháp ở Việt Nam cần phải được đổi mới
toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội nước ta, cũng như yêu cầu đẩy mạnh
chuyển đổi số nhằm theo đáp ứng kịp yêu
cầu của CMCN 4.0.
Theo yêu cầu này, cần phải xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan
trong quá trình lập pháp, phát huy vai trò
đề xuất, xây dựng chính sách luật và bảo
vệ chính sách luật của Chính phủ; Chính
phủ phải có quyền và phải được tạo điều
4 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr. 55.
6
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
kiện để bảo vệ chính sách của mình trong
suốt quy trình lập pháp5; phát huy vai trò
thẩm tra, cho ý kiến và thông qua luật của
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.
Bên cạnh đó, trong quá trình lập pháp,
cần phải tiếp tục thực hiện công khai,
minh bạch, huy động và sử dụng tốt trí
tuệ của cộng đồng trong quá trình hoàn
thiện các dự thảo luật trước khi Quốc hội
thông qua.
các vấn đề công nghệ trong quá trình
xây dựng luật, cần đưa vào quá trình
lập pháp cách thức tham vấn chuyên gia
công nghệ và doanh nghiệp. Mặc dù, cả
công nghệ và pháp luật đều điều chỉnh
đến các quan hệ xã hội, đều tác động đến
quyền và lợi ích của các chủ thể trong
xã hội, nhưng sự tác động đó khác nhau
cả về mục đích, quy mô. Nếu như công
nghệ tác động đến các khía cạnh của đời
sống xã hội với tốc độ rất nhanh chóng,
không theo tuần tự; không bảo đảm sự
bình đẳng giữa các chủ thể (chủ thể nào
chủ động, tích cực, có sự am hiểu sâu
sắc sẽ thụ hưởng được những lợi ích từ
quá trình này; những chủ thể thiếu chủ
động, thiếu tri thức và kỹ năng về công
nghệ có thể bị tác động tiêu cực của quá
trình); xuất phát từ lợi ích tư hoặc của
một nhóm xã hội (nhóm xã hội có lợi
ích từ việc triển khai và ứng dụng công
nghệ). Trong khi đó, pháp luật tác động
đến các khía cạnh của đời sống xã hội
chậm hơn, sự ra đời của các quy phạm
pháp luật thường có “độ trễ nhất định”
so với thực tiễn; đảm bảo sự công bằng,
khách quan của các chủ thể trước pháp
luật; xuất phát từ lợi ích công.
Ở bước sáng kiến lập pháp, chủ thể
chịu trách nhiệm sáng kiến lập pháp phải
trả lời chính xác câu hỏi: tại sao phải xây
dựng luật này hoặc tại sao phải sửa luật
này? luật này cần phải ban hành (hay
sửa) ngay để đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước hay “đón đầu” trong thời gian
tới?, v.v.. Để xử lý thỏa đáng những câu
hỏi nêu ra, cần phải có được câu trả lời
chính xác trong thời gian sớm nhất. Vì
vậy, trong điều kiện của CMCN 4.0,
cần phải sử dụng trí tuệ nhân tạo, điện
toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn
(S.M.A.C), v.v.. vào tổng kết, đánh giá
thực tiễn triển khai, thực hiện các quy
phạm pháp luật trong cuộc sống, từ đó
phân tích, đánh giá mức độ cần thiết và
cấp thiết của dự án luật.
Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật đã quy định các bước lấy
ý kiến doanh nghiệp và lấy ý kiến nhân
dân cũng như cho phép huy động chuyên
gia. Tuy nhiên, trên thực tế cần đảm bảo
quá trình tham vấn đó được thực hiện
một cách linh hoạt hơn và đảm bảo sự
công khai, minh bạch và chịu sự giám
sát của công chúng. Quá trình tham vấn
cũng cần phải đảm bảo sự khách quan,
Thứ hai, kết hợp giữa huy động trí tuệ,
sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa
học và nhân dân với sự trợ giúp của công
nghệ 4.0 vào quá trình soạn thảo, đánh giá
tác động và thảo luận các dự án luật.
Như đã đề cập ở trên, trong thời kỳ
CMCN 4.0, công nghệ cũng là một yếu
tố điều chỉnh quan hệ xã hội. Vì vậy, để
khắc phục sự bất đối xứng thông tin về
5 TS. Nguyễn Sỹ Dũng, Ðộng lực của quy trình lập pháp, https://nhandan.com.vn/chinh-tri-hangthang/ong-
luc-cua-quy-trinh-lap-phap-579267/, ngày 03/01/2020.
Số 07(431) - T4/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
độc lập giữa chuyên gia và doanh nghiệp,
đảm bảo các cơ quan xây dựng pháp luật
không lệ thuộc vào ý kiến của bên nào6.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc sử dụng
ứng dụng trợ lý ảo (chatbot) để gia tăng
tính tương tác giữa cơ quan chủ trì soạn
thảo với các đối tượng liên quan hoặc
với người dân 24/7.
thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu
cầu phát triển nhanh, bền vững”7.
Thứ ba, xây dựng quy trình lập pháp
chuyên biệt nhằm áp dụng đối với văn bản
pháp luật chuyên biệt, phù hợp với tính đặc
thù của một số văn bản phục vụ cho yêu
cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh cuộc
CMCN 4.0.
Bên cạnh việc phát huy vai trò của
chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân vào
quá trình xây dựng, thảo luận và đánh giá
các dự luật thì việc ứng dụng các công
nghệ 4.0 để phân tích, đánh giá tác động
(RIA) thông qua các mô hình giả lập để
dự báo những tác động của các quy phạm
pháp luật của dự luật này đối với các quan
hệ xã hội nếu dự luật đó được thông qua
và triển khai vào cuộc sống, từ đó đưa
ra các phương án để nhà lập pháp lựa
chọn phương án tối ưu. Với sự trợ giúp
của trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn
(S.M.A.C), v.v.. sẽ giúp các nhà lập pháp
mường tượng được viễn cảnh các quy
phạm pháp luật này tác động đến các chủ
thể trong xã hội như thế nào, từ đó điều
chỉnh các quy phạm theo hướng đảm bảo
tối đa quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của các chủ thể pháp luật trong xã
hội, theo đúng tinh thần của Đại hội XIII
của Đảng: “Xây dựng hệ thống pháp luật
đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả
thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người dân, doanh nghiệp làm trung tâm
6
Để đáp ứng yêu cầu phản ứng nhanh
và linh hoạt với các vấn đề mới phát sinh,
Việt Nam cần xây dựng và áp dụng cơ
chế thử nghiệm trong phạm vi ngành, lĩnh
vực và thời gian nhất định (Sandbox).
Theo đó, trong quy trình lập pháp cần
phải gắn với trách nhiệm đề xuất dự án
luật (nếu có thể) sau quá trình thử nghiệm
để nếu việc thử nghiệm thành công thì
thiết lập cơ chế pháp lý chung điều chỉnh
các vấn đề mới này; cần nghiên cứu giản
lược một số khâu trong quá trình lập pháp
để việc ban hành luật điều chỉnh các vấn
đề nêu trên được kịp thời hơn. Bên cạnh
đó, cần nghiên cứu các ứng dụng công
nghệ để xây dựng những nền tảng hoạch
định chính sách cho phép đông đảo công
chúng tham gia (Crowdlaw)8, cho phép
công chúng, chuyên gia, doanh nghiệp
tham gia một cách rộng rãi và tích cực
hơn vào quá trình xây dựng luật. Ngoài
ra, để đảm bảo khắc phục những điểm
trống về mặt pháp luật, cần phát huy vai
trò của tòa án trong việc tạo ra các án lệ
và có quy trình phù hợp để xây dựng các
quy tắc pháp luật từ các án lệ
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 63
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr. 175
8
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 62
8
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ
Nguyễn Văn Quân
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Xung đột lợi ích; công
vụ; tham nhũng.
Xung đột lợi ích tồn tại phổ biến trong đời sống xã hội, chịu sự điều chỉnh
của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, cả luật công và luật tư. Trong
hoạt động công vụ, xung đột lợi ích có thể làm tổn hại đến sự vô tư, công
bằng và liêm chính của người thực thi công vụ. Điều này có thể dẫn đến
tham nhũng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 12/10/2020
: 22/11/2020
: 29/11/2020
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Conflicts of interest;
public service; corruption.
The existence of conflicts of interest widely spreads in social life and
it is subject to be regulated by different legal fields, both public laws,
and private ones. In public service activities, conflicts of interest may
cause harm to the impartiality, fairness, and integrity of public service
executors, which may lead to corruption in public service delivery.
History:
Received
Edited
: 12 Oct. 2020
: 22 Nov. 2020
: 29 Nov. 2020
Approved
Trong cuộc sống, chúng ta chứng kiến
nhiều tình huống có sự đối lập hoặc bất
đồng giữa các lợi ích khác nhau. Trong
những tình huống này, chủ thể liên quan
không thể đồng thời thỏa mãn cả hai lợi
ích. Điều này làm phát sinh lo ngại rằng,
lợi ích này tổn hại lợi ích kia, dù có thể
thiệt hại không diễn ra trên thực tế. Ví dụ
như luật sư bảo vệ cho các khách hàng
có lợi ích đối lập nhau; thẩm phán có lợi
ích liên quan đến vụ việc mà người này
xét xử; một bác sĩ kê đơn thuốc không
phải vì lợi ích của người bệnh (dựa vào
hiệu quả điều trị và chi phí) mà dựa vào
lợi ích (phần trăm) do nhà sản xuất cung
cấp thuốc mang lại; một quan chức chịu
1
trách nhiệm kiểm tra, giám sát một doanh
nghiệp mà mình góp vốn; hoặc một đại
biểu dân cử có lợi ích riêng liên quan tới
quyết định mà người này đưa ra; người
quản lý một công ty có lợi ích cá nhân
trong hợp đồng do chính công ty đó ký
kết. Xung đột lợi ích phổ biến trong cuộc
sống, vì mỗi cá nhân đều có những lợi ích
hợp pháp và đan xen trong các mối quan
hệ xã hội ngày càng đa dạng.
1. Quan niệm về xung đột lợi ích
Hiểu một cách chung nhất thì xung đột
lợi ích là “tình huống mà một người thấy
lợi ích cá nhân của mình xung đột với lợi
ích khác mà mình phải chịu trách nhiệm”1.
Pierre-Françis Cuif, “Le conflit d’intéets: essai sú la detémination d’un ṕincipe júidique en d́oit ṕive”,
RTD çmmercial, n° 1, janvier-mars 2005, tr.1.
Số 07(431) - T4/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Nói cách khác, xung đột lợi ích nảy sinh
“khi lợi ích cá nhân của một người đối lập
với một lợi ích khác mà người này có trách
nhiệm bảo vệ”2. Lợi ích có thể được hiểu
một cách khái quát nhất là những tiện ích về
mặt vật chất hoặc tinh thần, có được ở thời
điểm hiện tại hoặc tương lại mà một người
có thể có được từ một tình huống. Cũng theo
hướng này, tác giả Dominique Schmidt cho
rằng, xung đột lợi ích là “tình huống trong
đó có một lợi ích cần được bảo vệ căn cứ
vào một thẩm quyền hay quyền hạn được
giao, nhưng lợi ích này bị hy sinh vì một lợi
ích khác đối lập”3. Giáo sư người Pháp Joël
Moret-Bailly đưa ra định nghĩa tổng quát về
xung đột lợi ích như sau: “Xung đột lợi ích
là tình huống mà một người đảm trách một
lợi ích khác với lợi ích riêng của người này
nhưng không hành động hoặc bị nghi ngờ
không hành động, với sự trung thành và vô
tư để bảo vệ lợi ích mà mình được giao phó,
với mục đích ưu ái cho lợi ích cá nhân của
mình hoặc bên thứ ba”4.
đột lợi ích cũng diễn ra trong mối quan hệ
theo chiều ngang, tức trong quan hệ mang
tính chất hợp tác giữa những người có địa vị
xã hội và quyền lực mang tính tương đương,
ví dụ như chuyên gia y tế, bác sĩ với bệnh
nhân, giữa luật sư và khách hàng…
Theo học giả Mustapha Mekki, xung đột
lợi ích có thể được phân thành 3 điển hình
loại sau5:
Thứ nhất, xung đột liên quan đến người
được giao quyền lực: quyền lực được định
nghĩa là ưu quyền được trao cho một người
và người này phải thực hiện vì lợi ích của
chủ thể khác (điển hình của loại xung đột
này liên quan đến lĩnh vực công vụ).
Thứ hai, xung đột liên quan đến những
chủ thể được giao nhiệm vụ “trọng tài”:
thẩm phán, trọng tài viên, hòa giải viên.
Thứ ba, xung đột liên quan đến những
người được trao nhiệm vụ đánh giá với tư
cách là chuyên gia pháp lý, tài chính, kế
toán hay khoa học.
Một cách khái quát nhất, xung đột lợi
ích là một tình huống mà trong đó, lợi ích
cá nhân của một người đối lập với những
nghĩa vụ mà người này gánh vác và phải có
trách nhiệm bảo vệ.
Trên thực tế, bên cạnh xung đột lợi ích
trong lĩnh vực công, còn tồn tại xung đột
lợi ích trong lĩnh vực tư. Ví dụ như những
trường hợp xung đột lợi ích trong quan hệ
công ty như: giao dịch có nguy cơ tư lợi
giữa người quản lý công ty với công ty, sử
dụng tài sản, thông tin mật và cơ hội của
công ty cho mục đích cá nhân, cạnh tranh
với công ty…6.
Xung đột lợi ích tồn tại trong các mối
quan hệ theo chiều dọc (quan hệ có tính thứ
bậc). Ví dụ như xung đột lợi ích trong hoạt
động của công chức, viên chức chịu trách
nhiệm bảo vệ lợi ích công. Đồng thời, xung
2
e
Ḑminique Schmidt, Les conflits d’intéets dans la societe anonyme, 2 ed., Paris, Editi̧ns J̧ly, 2004.
3 Claire Ogier, Le Conflit d’intéets, these de ḑcţrat, Universite Jean-M̧nnet, Saint- Etienne, 2008, tr. 278.
4 Xem: J̧ël M̧ret-Bailly, Definir les çnflits d’interêts, Recueil Dalļz, 2011, chŗnique, tr.1100-1106.
5 Mustapha Mekki, La lutte contre les conflits d’intérêt: essor de la transparence ou règne de la méfiance?,
Pouvoirs, nº 47/2013, tr. 23.
6 Đỗ Minh Tuấn, Nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty cổ phần, Sđd, tr. 52-53.
10
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Xung đột lợi ích trong hoạt động
công vụ
vụ như trong định nghĩa của OECD và
các thiết chế quốc tế. Bởi vì, xung đột
lợi ích trong lĩnh vực công vụ là tình
huống có sự xung đột giữa lợi ích riêng
của một cá nhân với lợi ích công của một
tổ chức, thiết chế mà cá nhân này làm
việc. Và vấn đề xung đột lợi ích chỉ đặt
ra khi lợi ích tư đe dọa lợi ích công, chứ
không phải trong trường hợp ngược lại9.
Nói cách khác, xung đột lợi ích liên quan
đến sự ảnh hưởng, tác động không thích
hợp, không thỏa đáng của lợi ích tư (cá
nhân) tới việc thực thi quyền lực công.
Hiện có nhiều quan niệm, định nghĩa
khác nhau về xung đột lợi ích trong hoạt
động công vụ7. Trong đó, định nghĩa do
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) đưa ra được sử dụng phổ biến
hơn cả. Theo đó, “xung đột lợi ích là
xung đột giữa nhiệm vụ công và lợi ích
cá nhân của viên chức nhà nước mà lợi
ích cá nhân của viên chức đó có thể ảnh
hưởng không thích hợp đến cách người
này thực hiện các nghĩa vụ và trách
nhiệm của họ”8. Định nghĩa này chỉ ra
bản chất của xung đột lợi ích là lợi ích cá
nhân công chức với trách nhiệm và nghĩa
vụ công của họ. Theo chúng tôi, đây là
định nghĩa toàn diện và dễ hiểu về xung
đột lợi ích trong hoạt động công vụ. Tuy
nhiên, không phải mọi tình huống căng
thẳng hoặc xung đột giữa các lợi ích đều
cấu thành “xung đột lợi ích”. Ví dụ, một
chính phủ phải lựa chọn giữa phát triển
công nghiệp và bảo vệ môi trường, giữa
khôi phục tăng trưởng kinh tế và bảo
đảm sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn
dịch bệnh. Đây cũng là những “xung đột
lợi ích” mà quyền lực chính trị phải tìm
cách dung hòa và đưa ra lựa chọn, nhưng
không phải là xung đột lợi ích trong công
Ảnh hưởng không thích hợp, không
thỏa đáng (influence improperly) được giải
thích trong “Khuyến nghị về Hướng dẫn
để quản lý xung đột lợi ích trong lĩnh vực
công”10 của OECD. Theo đó, đây là những
ảnh hưởng tiêu cực đến tính hợp pháp
(legitimacy), vô tư (impartiality) và công
bằng (fairness) của người công chức trong
việc ra quyết định công, làm sai lệch chế
độ pháp quyền, xây dựng, áp dụng chính
sách, hoạt động của thị trường và phân bổ
nguồn lực công.
Tại Việt Nam, định nghĩa về xung đột
lợi ích được thể hiện trong khoản 8 Điều 3
Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2018: “Xung đột lợi ích là tình huống mà
7 Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2020, tr.17-25.
8
OECD, Managing conflict of intéest in the Public Sévice. Oecd Guidelines and Count́y Expéiences, Paris,
OCDE publishing, 2004, tr.15; OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member
of-interest-policies-and-practices-in-nine-eu-member-states_5kml60r7g5zq-en, truy cập ngày 25/9/2020,
Recommendation of the Council on Guidelines for Managing Conflict of Interest in the Public Service. Xem:
9
Bernarḑ Gi̧rgi̧ Mattarella, Le ́egime júidique du conflit d’intéets. Élements compáes, RFAP, 2010, n°
135, tr. 644.
10
OECD, Recommendation of the Council on Guidelines fó Managing Conflict of Intéest in the Public Sévice,
Số 07(431) - T4/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trong đó lợi ích của người có chức vụ,
quyền hạn hoặc của người thân thích của
họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng
đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ”.
Tuy nhiên, định nghĩa này chưa làm toát
ra được lý do (cơ sở) cần phải kiểm soát
xung đột là xung đột này sẽ “tác động tiêu
cực” đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của người thực hiện công vụ. “Tác
động tiêu cực” tới tính vô tư, khách quan
của hoạt động công cụ cũng là điểm được
chỉ ra trong “Khuyến nghị của Hội đồng
bộ trưởng Liên minh châu Âu về quy tắc
ứng xử của nhân viên công vụ”11. Theo
đó, xung đột lợi ích là “tình huống mà
một viên chức nhà nước có lợi ích cá nhân
ảnh hưởng hoặc sẽ ảnh hưởng đến việc
thực hiện công bằng, vô tư và khách quan
các nhiệm vụ của họ”12. Xung đột lợi
ích là tình huống mà không phải là hành
vi13, cho nên không phải mọi tình huống
xung đột lợi ích đều vi phạm pháp luật và
đều có thể truy cứu trách nhiệm14. Trong
mối tương quan với hành vi tham nhũng,
không phải mọi tình huống xung đột lợi
ích đều gắn liền với tham nhũng, mà tùy
thuộc vào cách thức, thái độ hành xử của
người thực thi công vụ liên quan, đặc biệt
11
là căn cứ về tính vô tư, khách quan của
người công chức khi thực thi công vụ.
Cán bộ, công chức, viên chức khi thực
hiện công vụ luôn nhân danh Nhà nước,
bảo vệ lợi ích chung. Vì thế, bảo đảm sự
vô tư, khách quan, không thiên vị là nghĩa
vụ căn bản nhất của người thực thi công
vụ. Chỉ có sự khách quan, vô tư, không
thiên vị trong hoạt động công vụ thì mới
bảo đảm sự bình đẳng của người dân khi
tiếp cận các dịch vụ công15. Đây cũng là
căn cứ đánh giá trách nhiệm công chức
trong các vụ việc có xung đột lợi ích.
3. Bản chất của xung đột lợi ích: Xâm hại
tới tính liêm chính, vô tư của hoạt động
công vụ
Nếu như xung đột lợi ích trong lĩnh vực
luật tư làm tổn hại tới nguyên tắc trung
thành (loyalty) trong quan hệ giữa một pháp
nhân và người được giao quyền, thì trong
lĩnh vực cộng vụ, xung đột lợi ích có thể
làm tổn hại đến nguyên tắc đảm bảo tính vô
tư trong hoạt động công16.
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đảm
bảo sự vô tư là nguyên tắc cơ bản áp dụng
cho mọi hoạt động công vụ, cho mọi nhân
viên công quyền17. Bởi vì, hoạt động công
Çnseil ̧f Euŗpe, Recommendation No. R (2000) 10of the Committee of Ministés to Membé states on codes
of conduct fó public officials. Xem: hꢀps://rm.coe.int/16805e2e52, truy cập ngày 25/9/2020.
12
Điều 13 Recommendation No. R (2000) 10 of the Committee of Ministers to Member states on codes of
conduct for public officials.
13 Bernardo Giorgio Mattarella, Le régime juridique du conflit d’intérêts. Éléments comparés, RFAP, 2010, n°
135, tr. 649.
14 Xung đột phải ở một mức độ đủ lớn, có thể ảnh hưởng đến tính đúng đắn, liêm chính, vô tư, công bằng của
hoạt động công vụ.
15
03 nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động dịch vụ công là đảm bảo tính liên tục, bình đẳng, tính có thể
thay đổi. Xem Martine Lombard, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, Nxb. Tư pháp, 2007, tr. 454-457.
16 Xem: Joël Moret-Bailly, Définir les conflits d’intérêts, Recueil Dalloz, 2011, chronique, tr.1100-1106.
17 Xem: Eric Mitard, L’impartialité administrative, AJDA, 1999, tr. 478-495.
12
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
vụ là hoạt động nhân danh quyền lực nhà
nước, thực hiện chức năng quản lý nhà
nước trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Hoạt động đó tác động đến mọi chủ
thể trong xã hội và hoạt động đó sử dụng
nguồn lực của toàn xã hội (thông qua
nguồn thu từ thuế) nhằm mục đích mang
lại lợi ích chung của xã hội. Do vậy, tiêu
chí đặt lên hàng đầu là sự công bằng, vô
tư trong hoạt động này để bảo vệ và tôn
trọng quyền của các chủ thể khác nhau
trong xã hội. Cho nên, để đảm bảo tính
đúng đắn, công bằng, liêm chính trong
hoạt động công vụ, mọi nguyên tắc hoạt
động, trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến
hành hoạt động này đều được pháp luật
định trước một cách chặt chẽ. Tình huống
xung đột lợi ích xuất hiện sẽ khiến chủ thể
thực thi công vụ có thể vì lợi ích của riêng
mình mà bỏ qua những nguyên tắc chung.
Và chính vì thế, quyền, lợi ích chính đáng
của các chủ thể khác sẽ không được bảo
vệ18. Nói cách khác, xung đột lợi ích có
thể xâm hại đến tính vì lợi ích chung của
hoạt động công vụ, vì nó phá vỡ sự liêm
chính, công bằng, vô tư của người thực
thi công vụ. Đây chính là tiền để nảy sinh
tham nhũng19.
Về cơ bản, tính vô tư, công bằng trong
công vụ đòi hỏi chủ thể thực thi công vụ
không được để yếu tố cá nhân tác động tới
công việc do mình xử lý, và hoạt động thực
thi công vụ của những người này không
được tạo ra ghi ngờ có thành kiến hoặc định
kiến khi thực hiện nhiệm vụ20.
Xuất phát từ tầm quan trọng của sự
liêm chính, công bằng, vô tư trong hoạt
động công vụ, một số quốc gia đã hiến
định nguyên tắc vô tư, công bằng của
hoạt động công vụ. Theo Điều 33 Luật
liên bang của Cộng hòa liên bang Đức về
quy chế của công chức ngày 17/6/200821,
công chức có nghĩa vụ thực thi nhiệm vụ
của mình một cách không đảng phái và vô
tư, công bằng (unparteiisch und gerecht).
Tại Hoa Kỳ, Các tiêu chuẩn đạo đức ứng
xử áp dụng cho nhân viên hành pháp22 do
Cơ quan Đạo đức Chính phủ Hoa Kỳ (US
Office Of Government Ethics, OGE23) ban
hành năm 2002 quy định: Nhân viên
phải hành động không thiên vị và không
dành sự ưu đãi cho bất kỳ tổ chức hoặc
cá nhân tư nhân nào. Khoản 3 Điều 103
Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy
định: Luật sẽ điều chỉnh quy chế của công
chức […] và các bảo đảm liên quan đến
18
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 39.
19
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 39.
20 Christian Vigouroux, Déontologie des fonctions publiques, 2ème édition, 2012, tr.153.
22
Standards of Ethical Conduct for Employees of the Executive Branch, October 2002, part 2635. Xem:
23 OGE là một cơ quan độc lập trong bộ máy Chính phủ Mỹ được thành lập năm 1989, phụ trách soạn thảo quy
phạm hành vi đạo đức của nhân viên làm trong các cơ quan hành chính, xét duyệt các quy tắc phụ về hành vi
đạo đức do các ban, ngành hành chính đặt ra, giám sát tình hình thi hành khai báo tài sản công khai và bí mật
của các quan chức chính quyền, và thẩm tra lý lịch những quan chức được Tổng thống bổ nhiệm xem họ có
xung đột lợi ích kinh tế (với chính quyền) hay không.
Số 07(431) - T4/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tính vô tư, không thiên vị trong thực thi
công vụ”24. Điều 97 Hiến pháp Italia đặt
ra nguyên tắc vô tư của hệ thống cơ quan
hành chính25. Theo đó, các cơ quan công
sở được tổ chức theo quy định của pháp
luật, bảo đảm hiệu quả, công bằng, không
thiên vị trong hoạt động. Điều 8 Bộ luật
về đạo đức nghề nghiệp của công chức
ngày 28/11/2000 của nước này26 đưa ra
định nghĩa về tính vô tư trong hoạt động
công vụ.
tình huống xung đột lợi ích có thể dẫn đến
hành vi tham nhũng hay không còn tùy
thuộc vào cách hành xử của người thực
thi công vụ. Nếu cán bộ, công chức, viên
chức ở tình huống xung đột lợi ích trong
hoạt động công vụ lựa chọn hành động vì
lợi ích cá nhân của mình và làm tổn hại
tới lợi ích chung thì xung đột lợi ích sẽ
chuyển từ tình huống (nguy cơ nảy sinh
hành vi tham nhũng) sang hành vi tham
nhũng. Ngược lại, trong trường hợp cán
bộ, công chức, viên chức lựa chọn hành
động vì lợi ích chung thì xung đột lợi ích
không dẫn tới hành vi tham nhũng28. Tuy
nhiên, trong đa số các trường hợp, tham
nhũng sẽ xuất hiện khi lợi ích cá nhân của
người thực thi công vụ ảnh hưởng tiêu
cực đến tính liêm chính, hiệu quả hoạt
động công vụ. Đặc biệt, những người
này được giao quyền lực công nên dễ có
xu hướng lạm quyền, đánh mất sự liêm
chính, công tâm nếu không được kiểm tra,
giám sát chặt chẽ. Chính vì thế, OECD
cho rằng, phòng ngừa xung đột lợi ích là
một phần của chính sách phòng, chống
tham nhũng29; bởi vì, kiểm soát xung đột
lợi ích là một công cụ để tạo dựng khu
vực công liêm chính - nền tảng để phòng
Xung đột lợi ích và tham nhũng là hai
khái niệm khác nhau, nhưng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Đôi khi có xung
đột lợi ích ở nơi không có tham nhũng
và ngược lại27. Ví dụ, một viên chức nhà
nước tham gia vào việc ra quyết định
trong một vụ việc mà người này có lợi ích
cá nhân nhưng vẫn có thể hành động một
cách đúng đắn, liêm chính và tuân thủ
pháp luật thì sẽ không có tham nhũng, hay
một quan chức nhận hối lộ (tham nhũng)
để đưa ra quyết định dù không có bất kỳ
xung đột lợi ích nào liên quan đến vụ việc.
Tham nhũng là “hành vi của người có
chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 2 Điều 1
Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2018)”; trong khi đó, xung đột lợi ích chỉ
dừng lại ở các tình huống. Nghĩa là, các
ngừa tham nhũng hiệu quả
24
Congreso/Congreso/Hist_Normas/Norm/const_espa_texto_ingles_0.pdf, truy cập ngày 25/9/2020.
25 Hiến pháp Italia (bản tiếngAnh). Xem: https://www.senato.it/documenti/repository/istituzione/costituzione_
inglese.pdf, truy cập ngày 25/9/2020.
26 Bộ luật về đạo đức nghề nghiệp của công chức (Codice di comportamento dei dipendenti delle pubbliche
27 OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member States: A Comparative Review, Sđd,
tr.6.
28
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 41.
29 OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member States: A Comparative Review, Sđd,
tr. 6.
14
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 1
Vũ Công Giao*
Vũ Thành Cự**
Phạm Thị Yến***
* PGS.TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
** Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
*** ThS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Tham nhũng là “giặc nội xâm”2, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế
độ, là tác nhân chính dẫn đến làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máy nhà
nước3. Chính vì vậy, kể từ khi bắt đầu Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
(1986), vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà
nước quan tâm. Trong mấy năm gần đây, cuộc chiến chống tham nhũng
ở nước ta đã giành được những thành tựu, thể hiện qua việc đưa ra xét xử
nhiều vụ án tham nhũng lớn mà trong đó nhiều quan chức cấp cao đã bị kết
án4 - điều chưa từng có trước đây. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng ở nước
ta hiện vẫn còn khá phổ biến và gây nhiều bức xúc trong xã hội5. Trong
phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, những
thách thức đặt ra đối với việc thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả của việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Tham nhũng, tài sản
tham nhũng, thu hồi tài sản tham
nhũng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/3/2021
: 27/3/2021
: 29/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Corruption is the "internal invaders", the threat to the survival of the regime,
the main factor leading to the reduction of the management efficiency of the
state apparatus. Therefore, since the beginning of the comprehensive national
reform (1986), fights against corruption have always got concerns by both the
Party and the State. In recent years, the fights against corruption in our country
have gained significant achievements, as evidenced by the trial of many major
corruption cases in which several high-position officials have been sentenced,
which is an unprecedented phenomenon. However, corruption in our country
is still quite common and causes great frustrations in society. Within the scope
Keywords: Corruption, corrupted
assets, recovery of corrupted
assets.
Article History:
Received
Edited
: 15 Mar. 2021
: 27 Mar. 2021
: 29 Mar. 2021
Approved
of this article, the authors provide an analysis of the political ground and legal
123
45
basis, the challenges posed to the recovery of corrupted assets, and also solu-
tions to improve the efficiency of the recovery of corrupted assets in Vietnam.
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện
pháp luật giải quyết xung đột lợi ích và thu hồi tài sản tham nhũng trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay” do GS.TS. Phan Trung Lý làm Chủ nhiệm.
2 LêHiệp.Tổngbíthư, Chủtịchnước:“Lợiíchnhóm, thamnhũnglàgiặcnộixâmvôcùngnguyhiểm”,https://thanhnien.
vn/thoi-su/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-loi-ich-nhom-tham-nhung-la-giac-noi-xam-vo-cung-nguy-hiem-1225373.html.
3 Quốc Anh, “Tham nhũng trở thành nguy cơ chính đe dọa sự tồn vong chế độ”, https://dantri.com.vn/xa-hoi/
tham-nhung-tro-thanh-nguy-co-chinh-de-doa-su-ton-vong-che-do-20151224222419406.htm.
4
10 vụ án lớn về kinh tế, tham nhũng và các vụ án điển hình được đưa ra xét xử trong năm 2018, Tạp
nhung-va-cac-vu-an-dien-hinh-duoc-dua-ra-xet-xu-trong-nam-2018.
5 An Nguyễn, Bộ Công an: Tội phạm về kinh tế, tham nhũng vẫn nghiêm trọng, https://baodautu.vn/bo-cong-
an-toi-pham-ve-kinh-te-tham-nhung-van-nghiem-trong-d121993.html.
Số 07(431) - T4/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1. Quan niệm về tài sản, tài sản tham nhũng
và thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong thực tế, xung quanh khái
niệm “tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng”,
ở Việt Nam hiện vẫn còn những quan điểm
khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài
sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng là tài
sản không trực tiếp có được do thực hiện các
hành vi bị xem là tội phạm tham nhũng, mà
có được do lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay
lạm quyền trong khi thi hành công vụ để gây
ảnh hưởng đối với người khác; do giả mạo
trong công tác; do đưa hối lộ, môi giới hối
lộ của người có chức vụ, quyền hạn để giải
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị
hoặc địa phương; do lợi dụng chức vụ, quyền
hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước..9.
Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản có nguồn
gốc từ hành vi tham nhũng gồm các loại tài
sản có được từ hành vi tham nhũng nhưng
đã được người thực hiện hành vi tham nhũng
và người khác hợp pháp hóa để đầu tư trực
tiếp vào sản xuất kinh doanh, biến tiền “bẩn”
thành tiền “sạch” (gọi là rửa tiền), hay để trả
các khoản nợ, vay cũ tại các ngân hàng, các cơ
quan, tổ chức, cá nhân; kể cả để dùng vào mục
đích từ thiện như xây bệnh viện, trường học,
đình, chùa, miếu mạo10.
1.1.Quan niệm về tài sản, tài sản tham
nhũng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, có nhiều cách định nghĩa ít
nhiều khác nhau về “tài sản”. Theo Đại từ
điển tiếng Việt: “Tài sản là của cải vật chất
dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng”6; còn theo
Từ điển Luật học: “Tài sản là các vật có
giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền
tài sản và các lợi ích vật chất khác”7. Cuốn
Thuật ngữ pháp lý giải thích cụ thể hơn: “Tài
sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá
được bằng tiền và các quyền về tài sản. Tài
sản có hai loại: bất động sản và động sản”8.
Về mặt pháp lý, Điều 105 Bộ luật Dân
sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Tài sản là
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài
sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất
động sản và động sản có thể là tài sản hiện
có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Cũng từ góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 3
Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN)
năm 2018 quy định: “Tham nhũng là hành
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi
dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Kết
hợp giữa các khái niệm tài sản và tham
nhũng, khoản 3 Điều 3 Luật PCTN năm
2018 nêu ra định nghĩa về tài sản tham
nhũng: “Tài sản tham nhũng là tài sản có
được từ tham nhũng, tài sản có nguồn gốc
từ tham nhũng”.
Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam,
quan điểm về tài sản tham nhũng vẫn chưa cụ
thể và có xu hướng hẹp hơn so với nhận thức
chung của cộng đồng quốc tế. Cụ thể, theo
khoản d Điều 2 Công ước của Liên hợp quốc
về chống tham nhũng (UNCAC)11, tài sản [tài
sản tham nhũng] “… có nghĩa là mọi loại
tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản
6 Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.1417.
7 Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.685.
8 Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.384.
9 Đinh Văn Quế, “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài
sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.
10
Bùi Minh Thanh, “Thu hồi tài sản tham nhũng trong hoạt động điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra,
Bộ Công an”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội
chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.
11https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Cong-uoc-chong-tham-nhung-cua-Lien-Hop-quoc-
09-12-2003-94971.aspx.
16
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hay bất động sản, hữu hình hay trừu tượng,
và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng
minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản
đó”. Ngoài ra, theo Điều 31 UNCAC, tài sản
tham nhũng là những “tài sản có nguồn gốc
từ tội phạm được quy định theo Công ước này
hoặc tài sản có giá trị tương đương với giá trị
của tài sản do phạm tội mà có” (khoản 1(a))
và “tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác
được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực
hiện hành vi phạm tội quy định theo Công
ước này” (khoản 1(b)), và “thu nhập hoặc các
lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội
mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyển
đổi từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài
sản mà trong đó lẫn lộn một phần là tài sản
do phạm tội mà có …” (khoản 6). Như vậy,
theo các quy định này của UNCAC, tài sản
tham nhũng có thể là hữu hình hoặc vô hình,
có được một cách trực tiếp từ hành vi tham
nhũng, hoặc gián tiếp thông qua hành vi rửa
tiền tham nhũng. Tương tự, Tổ chức Hợp tác
kinh tế và Phát triển (OECD) định nghĩa tài
sản bị đánh cắp (stolen asset) là tiền bạc, của
cải, hoặc các tài sản khác tích lũy được thông
qua hành vi tham nhũng, trong đó bao gồm
hối lộ, tham ô, biển thủ tài sản hoặc ngân quỹ,
kinh doanh nhờ ảnh hưởng và lạm dụng chức
năng trong khu vực công12.
trường hợp tài sản có nguồn gốc từ hành vi
phạm tội mà không còn tồn tại, không thể
xác định hoặc giá trị đã giảm đáng kể so với
ban đầu, khoản 5 Điều 31 UNCAC khuyến
nghị hình thức “tịch thu phần giá trị được
xác định là có từ tài sản do phạm tội mà
có”. Theo đó, hình phạt tiền được cho là
tương đương với giá trị của tài sản do phạm
tội mà có sẽ được Tòa án cân nhắc sau khi
đánh giá khả năng thanh toán của bị cáo.
Đây là cách xử lý linh hoạt và triệt để. Ưu
điểm của phương thức tịch thu này là ở chỗ,
kể cả khi kẻ phạm tội đã “nhanh tay” tẩu tán
tất cả tài sản của mình cho người khác thì
bên thứ ba có được khối tài sản trên (cố ý
hay ngay tình) vẫn có thể bị tịch thu13. Tuy
nhiên, phương thức này hiện chưa được áp
dụng ở Việt Nam, dẫn đến bế tắc trong việc
thu hồi tài sản của nhiều vụ án tham nhũng
lớn, khi mà tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán
hầu hết14.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc thu
hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
2.1. Cơ sở chính trị
Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện
nay, việc giải quyết các vấn đề xã hội lớn
đều cần phải dựa trên nền tảng quan điểm
định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng
công tác PCTN, thể hiện qua các văn kiện
của Đảng, trong đó bao gồm các Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc, các nghị quyết
của Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ
thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư…
1.2. Quan niệm về thu hồi tài sản tham
nhũng ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, do chưa có quy
định cụ thể về tài sản tham nhũng nên quan
điểm về cách thức thu hồi tài sản tham nhũng
cũng chưa được hiểu một cách thống nhất.
Các quy định trong pháp luật hiện hành của
Việt Nam về vấn đề này chưa rõ ràng và hẹp
so với các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, đối với
Xét riêng về vấn đề thu hồi tài sản tham
nhũng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng yêu cầu phải “Xử lý
12
14/11/2014.
13 Hướng dẫn lập pháp về thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
14 Ví dụ như xem Tài sản vụ ông Đinh La Thăng: Còn hơn 900 tỷ chưa thu hồi, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-
su/chong-tham-nhung/tai-san-vu-ong-dinh-la-thang-con-hon-900-ty-chua-thu-hoi-485827.html.
Số 07(431) - T4/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán
bộ tham nhũng; tịch thu sung công tài sản
tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham
nhũng”15.NghịquyếtTrungương3(khóaX)
nhấn mạnh, trong công tác PCTN, cần:
“Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp
dụng chính sách khoan hồng đối với những
người phạm tội nhưng có thái độ thành
khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc
phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ
quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp
luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối
với những người đưa hoặc người nhận hối
lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài
sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các
chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu
hồi tài sản tham nhũng”16. Để thể chế hóa
các quan điểm đó thành các quy định của
pháp luật, Kết luận Hội nghị Trung ương 5
(khóa XI) đã yêu cầu các cơ quan chức năng
“Sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng
hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình
phạt khác đối với những đối tượng có hành
vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo,
khắc phục hậu quả”17.
phải bồi thường theo quy định của pháp
luật (khoản 2).
Theo quy định của Điều 92 Luật PCTN
năm 2018, người có hành vi tham nhũng
giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều
phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định
của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi
việc, chuyển công tác (khoản 1). Hình thức
xử lý có thể là kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
tùy theo mức độ vi phạm (khoản 2). Tuy
nhiên, người có hành vi tham nhũng đã chủ
động khai báo trước khi bị phát giác, tích
cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp
phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản
tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành
vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình
thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình
sự (khoản 4).
Cũng liên quan đến vấn đề thu hồi tài
sản tham nhũng, Điều 91 Luật PCTN năm
2018 quy định, trên cơ sở điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,
tịch thu hoặc thu hồi tài sản tham nhũng
và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, người
quản lý hợp pháp. Luật cũng giao cho Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung
ương về hợp tác quốc tế thu hồi tài sản tham
nhũng trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử
2.2. Cơ sở pháp lý
Điều 93 Luật PCTN năm 2018 nêu ra hai
nguyên tắc: Tài sản tham nhũng phải được
thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của
pháp luật (khoản 1) và Thiệt hại do hành vi
tham nhũng gây ra phải được khắc phục;
người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại
15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-
quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam.
16 Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21/8/2006, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-x/nghi-quyet-so-04-nqtw-ngay-
2182006-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-ve-tang-cuong-su-lanh-dao-602.
17 Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/ket-luan-so-21-kltw-ngay-2552012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-
hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-viec-tiep-tuc-thuc-hien-554.
18
Số 07(431) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của
nước ngoài về thu hồi tài sản tham nhũng và
đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương
trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham
nhũng của Việt Nam; còn Thanh tra Chính
phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan
nhà nước khác có liên quan, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách
nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân
tối cao trong hợp tác quốc tế về thu hồi tài
sản tham nhũng.
Bộ luật này quy định về quyền của chủ sở
hữu đối với tài sản; xác định quyền của
chủ sở hữu trong việc đòi lại các tài sản bị
chiếm đoạt bất hợp pháp; đòi bồi thường
thiệt hại về tài sản do hành vi xâm phạm
gây ra; nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm
hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật. Như vậy, trong các
trường hợp tài sản bị chiếm đoạt bất hợp
pháp; bị thiệt hại do hành vi xâm phạm
trái pháp luật gây ra (trong đó có hành
vi tham nhũng); bị chiếm hữu, sử dụng,
được lợi không có căn cứ pháp luật (trong
đó có những tài sản có nguồn gốc từ tham
nhũng), thì chủ sở hữu có quyền đề nghị
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy
định của BLDS để đòi lại các tài sản đó và
đòi bồi thường thiệt hại về tài sản do hành
vi xâm phạm gây ra.
Bên cạnh Luật PCTN, vấn đề thu hồi tài
sản tham nhũng còn được quy định trong
một số văn bản pháp luật khác như:
- Bộ luât Hình sự (BLHS) năm 2015
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2017 quy định về thu hồi tài sản nói chung,
thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng, được
thể hiện trong các quy định về áp dụng hình
phạt tiền, tịch thu tài sản và các biện pháp
tư pháp đối với các tội phạm, trong đó có tội
phạm tham nhũng.
- Cũng như BLDS năm 2015, Bộ luật Tố
tụng dân sự (TTDS) năm 2015 không bao
hàm quy định riêng về thu hồi tài sản tham
nhũng, mà quy định về trình tự, thủ tục,
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan
chức năng trong việc phát hiện, xử lý các tài
sản trong các vụ án dân sự; các biện pháp
khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự…
Những quy định này có thể được áp dụng
cho việc thu hồi tài sản (trong đó có tài sản
tham nhũng) trong các vụ án dân sự.
- Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm
2015 không bao hàm quy định riêng về thu
hồi tài sản tham nhũng. Việc thu hồi tài sản
tham nhũng có thể được thực hiện như đối
với các trường hợp thu hồi tài sản khác. Đối
với bị can, bị cáo phạm các tội mà BLHS
quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt
tiền cũng như đối với người phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật thì Bộ luật TTHS quy định
cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện việc kê biên tài sản. Đây là những biện
pháp nhằm bảo đảm cho việc thi hành các
quyết định của Tòa án về phạt tiền, tịch thu
tài sản, buộc bồi thường thiệt hại trong các
vụ án hình sự nói chung (trong đó có các vụ
án tham nhũng) được thuận lợi.
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2014 cũng không có quy định riêng cho
việc thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,
việc thu hồi tài sản tham nhũng trong thi
hành án dân sự có thể được thực hiện như
các trường hợp thi hành án thu hồi tiền, tài
sản khác. Trong vấn đề này, Luật Thi hành
án dân sự có các quy định liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015
không bao hàm các quy định trực tiếp về
thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,
Số 07(431) - T4/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 7 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_7_nam_2021.pdf

