Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 7 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 07 (431)  
Tháng 4/2021  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ  
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM  
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 07 (431)  
Tháng 4/2021  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ  
Mục lục Số 07/2021  
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG  
VIỆT NAM  
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam trong điều kiện cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
3
ThS. Lê Thꢀ Khánh Huyꢁn  
Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ  
9
TS. Nguyễn Văn Quân  
Thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam  
15  
PGS. TS. Vꢂ Công Giao - Vꢂ Thành Cꢃ -  
ThS. Phꢄm Thꢀ Yꢅn  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Các quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ đại diện sở  
hữu công nghiệp và giải pháp hoàn thiện  
26  
Nguyễn Thꢀ Tuyꢆn  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử  
phạt vi phạm hành chính của chức danh đồn trưởng đồn  
biên phòng và các chức danh có thẩm quyền tương đương  
34  
43  
TS. Phꢄm Thꢀ Thanh Huꢅ  
Điều kiện và hệ quả xác lập quyền về lối đi qua theo quy  
định của pháp luật  
ThS. Đꢇng Lê Phương Uyên  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những  
gợi mở cho Việt Nam  
54  
ThS. Đào Thu Hà  
Ảnh bìa:  
Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu  
cử quốc gia Vương Đình Huệ tuyên thệ  
trước Quốc hội.  
Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Số 07 (431)  
Tháng 4/2021  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ  
Legis No 7/2021  
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG  
VIỆT NAM  
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
STATE AND LAW  
Reform of Legislative Process in Vietnam in Context of the  
Fourth Industrial Revolution  
3
9
LLM. Le Thi Khanh Huyen  
Conflicts of Interests in Public Service Activities  
Dr. Nguyen Van Quan  
Recovery of Corrupted Assets in Vietnam  
15  
Prof. Dr. Vu Cong Giao  
Vu Thanh Cu  
LLM. Pham Thi Yen  
DISCUSSION OF BILLS  
The Legal Regulations of Vietnam on Services  
of Representatives for Industrial Property and  
26  
Recommendations for Improvements  
Nguyen Thi Tuyen  
LEGAL PRACTICE  
Improvements of Legal Regulations on Competence of  
Commander of Checkpoint of Border Guard Force and of  
the Equivalent Position to Fining Administrative Violations  
34  
43  
Dr. Pham Thi Thanh Hue  
Conditions and Consequences of Establishment of Right to  
the Passageway under the Legal Regulations  
LLM. Dang Le Phuong Uyen  
FOREIGN EXPERIENCE  
The Law of the United States on Protection of the Vacation  
Apartment Buyers and Recommendations for Vietnam  
54  
LLM. Dao Thu Ha  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN  
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ  
Lê Thị Khánh Huyền  
ThS. Công ty Ứng dụng kỹ thuật và sản xuất, Bộ Quốc phòng  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tạo ra những biến chuyển  
mạnh mẽ, chưa có tiền lệ trong đời sống kinh tế - xã hội, làm nảy sinh những vấn  
đề mới về pháp lý, tác động trực tiếp tới hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp  
luật của mỗi quốc gia. Trong quá trình này, hoạt động lập pháp ở Việt Nam cần  
thiết phải tiếp tục được đổi mới toàn diện, trong đó phải được chú trọng hơn đối  
với quy trình lập pháp.  
Từ khóa: Cuộc Cách mạng lần  
thứ tư, quy trình lập pháp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/02/2021  
: 14/3/2021  
: 17/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The fourth industrial revolution has provided strong and unprecedented changes  
in the socio-economic life, giving new legal issues that directly impact on  
development and improvements of the laws of each country. Under this process,  
the legislative performance in Vietnam needs to continue to be comprehensively  
reformed, in which it is required to pay more attention to the legislative process.  
Keywords: The fourth revolution,  
the legislative process.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Feb. 2021  
: 14 Mar. 2021  
: 17 Mar. 2021  
Approved  
1. Tính tất yếu đổi mới quy trình lập  
pháp ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
năm qua đã có nhiều tiến bộ vượt bậc,  
góp phần quan trọng vào hoàn thiện hệ  
thống pháp luật, xây dựng Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng  
trước sự tác động mạnh mẽ của CMCN  
4.0, để đáp ứng nhu cầu phát triển của  
đất nước trong thời kỳ mới, quy trình  
lập pháp ở nước ta cần được tiếp tục đổi  
mới, cụ thể là:  
Việt Nam là quốc gia đang trong quá  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và  
hội nhập quốc tế; cuộc Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) mở ra  
nhiều cơ hội và thách thức cho quá trình  
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó bao  
gồm cả hoạt động lập pháp. Mặc dù, quy  
trình lập pháp ở Việt Nam trong nhiều  
Thứ nhất, vận dụng các thành tựu khoa  
học, công nghệ của CMCN 4.0 vào hoàn  
thiện quy trình lập pháp là tất yếu khách  
Số 07(431) - T4/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã  
hội trong bối cảnh CMCN 4.0.  
đối với phát triển kinh tế, phát triển các tiện  
ích cho đời sống mà còn hữu ích trong hoạt  
động lập pháp, thúc đẩy quá trình chuyển  
đổi từ quy trình lập pháp truyền thống sáng  
quy trình lập pháp hiện đại với sự trợ giúp  
của công nghệ phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ  
nhân tạo, công nghệ số, v.v.. vào quá trình  
phân tích chính sách luật, tổng kết đánh  
giá tác động các quy phạm pháp luật (RIA)  
trong quá trình soạn thảo các dự luật, phân  
tích thực tiễn và xây dựng mô hình dự báo  
để từ đó đưa ra các phương án lựa chọn  
cho nhà lập pháp.  
Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 14/5/2017  
của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu  
hướng phát triển dựa trên nền tảng tích  
hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa -  
vật lý - sinh học với sự đột phá của  
Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang  
làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế  
giới. (...) đang tạo ra tác động mạnh mẽ,  
ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời  
sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay  
đổi phương thức và lực lượng sản xuất  
của xã hội”. Thực tiễn cho thấy, CMCN  
4.0 với những công nghệ nổi trội, chưa  
từng có trong tiền lệ như in 3D, robot,  
trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật  
(IoT), mạng xã hội, điện toán đám mây,  
di động, phân tích dữ liệu lớn (S.M.A.C),  
công nghệ nano (CNNN), sinh học, vật  
liệu mới, v.v.. đã và đang làm thay đổi  
nhiều lĩnh vực của cuộc sống theo “cấp  
số nhân”; trong đó, đặc biệt thúc đẩy đến  
việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng  
cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong  
chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn  
về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra  
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi  
nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí  
giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư  
hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực  
công nghệ số.  
Thứ hai, đổi mới quy trình lập pháp Việt  
Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 nhằm đáp  
ứng yêu cầu phát sinh các quan hệ pháp lý  
mới trong gian đoạn hiện nay.  
Trước sự tác động mạnh mẽ, vượt trội  
của CMCN 4.0, chất lượng hệ thống pháp  
luật ở Việt Nam đã và đang bộ lộ những hạn  
chế nhất định, đó là:  
Một là, thay đổi về không gian của các  
quan hệ pháp luật: Xuất hiện và ngày càng  
phổ biến các giao dịch “phi biên giới”,  
thậm chí “phi chủ thể”; chủ thể thực hiện  
các hoạt động truyền thông, quảng cáo;  
các hành vi, hoạt động thương mại, các  
giao dịch dân sự, v.v.. không bó hẹp trong  
phạm vi lãnh thổ quốc gia và một chủ thể  
pháp lý thông thường1.  
Hai là, thay đổi về thời gian của các  
quan hệ pháp luật: Cách tính thời gian làm  
việc, nghỉ ngơi không còn phù hợp; cách  
xác định thời điểm có hiệu lực của các giao  
Những tính năng vượt trội của công  
nghệ trong CMCN 4.0 không chỉ hữu dụng  
1 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018,  
tr. 67-68.  
4
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dịch dân sự…2. Thực tế hiện nay, các giao  
dịch dân sự có thể thực hiện 24/7 thông  
qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và  
truyền thông như dịch vụ E-Banking của  
các ngân hàng, v.v...  
sự biến đổi nhanh chóng của các quan hệ  
xã hội và sự kết hợp giữa yếu tố kinh tế, xã  
hội và công nghệ trong các quan hệ xã hội,  
các hiện tượng xã hội, như Uber, Grap,  
các giao dịch thương mại, dân sự trên môi  
trường điện tử, v.v.. Những yêu cầu này  
không dễ giải quyết nếu quy trình lập pháp  
ở nước ta vẫn theo mô hình và công nghệ  
lập pháp truyền thống; cho nên, việc đổi  
mới quy trình lập pháp phù hợp với bối  
cảnh CMCN 4.0 ở nước ta nhằm đáp ứng  
yêu cầu giải quyết tốt những tồn tại, hạn  
chế trên.  
Ba là, thay đổi về chủ thể của các quan  
hệ pháp luật: Nếu như trong pháp luật  
truyền thống, chủ thể tham gia các quan  
hệ pháp luật là cá nhân hoặc pháp nhân  
(nghĩa là các chủ thể này thuộc về xã hội  
con người tự nhiên), nhưng trong bối cảnh  
CMCN 4.0, robot ngày một phổ biến và  
dần trở thành một chủ thể chính tham gia  
các quan hệ xã hội.  
Thứ ba, quy trình lập pháp của Việt Nam  
hiện nay đã và đang đối mặt với những  
thách thức mới trong bối cảnh CMCN 4.0.  
Bốn là, thay đổi về nội dung quan hệ  
pháp luật: Với sự phát triển mạnh mẽ của  
công nghệ IoT (Internet of Things), trong  
xã hội xuất hiện nhiều hành vi pháp lý mới  
như giao dich tiền ảo, đánh bạc trực tuyến,  
khủng bố, lừa đảo, bắt nạt trên mạng…  
Nội dung điều chỉnh của pháp luật không  
chỉ giới hạn trong các đối tượng truyền  
thống mà được mở rộng hơn, bởi nhiều  
đối tượng mới và quan hệ xã hội mới xuất  
hiện, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và  
CMCN 4.0, như: tiền ảo; các ứng dụng từ  
blockchain; tài sản ảo; không gian giao  
dịch trên môi trường ảo; mối quan hệ giữa  
cá nhân, pháp nhân với người nhân tạo -  
robot sinh học.  
Trong bối cảnh CMCN 4.0, các quan  
hệ xã hội diễn ra rất nhanh chóng, nhiều  
quan hệ xã hội mới phát sinh đòi hỏi phải  
có các quy phạm pháp luật mới điều chỉnh.  
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp Việt Nam  
còn khá lạc hậu, thời gian thông qua một  
dự luật diễn ra rất lâu: “Thông thường, để  
trải qua các quy trình kể trên, một dự án  
luật thường mất ít nhất 18 tháng nhưng  
thực tế, một dự án luật từ lúc xây dựng  
đến lúc thông qua có thể mất khoảng 2-3  
năm. Một số trường hợp, từ khi khởi thảo  
tới lúc thông qua còn mất nhiều thời gian  
hơn nữa”3. Trong khi đó, thực tiễn cuộc  
sống sẽ diễn biến nhanh hơn rất nhiều  
khả năng đáp ứng của quy trình xây dựng  
luật hiện tại. Điều đó cho thấy, việc tiếp  
tục tìm các giải pháp để đẩy nhanh hơn  
nữa hoạt động lập pháp là rất cần thiết.  
Những yêu cầu mới này đòi hỏi hệ  
thống pháp luật Việt Nam phải tiếp tục  
hoàn thiện theo hướng đầy đủ, kịp thời,  
đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với  
2 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần thứ  
tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr. 69-70.  
3 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr.55.  
Số 07(431) - T4/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Những yêu cầu đặt ra đối với quy  
trình lập pháp ở nước ta trong điều kiện  
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
Bên cạnh đó, các quan hệ xã hội trong  
bối cảnh này, “các văn bản luật điều chỉnh  
các vấn đề mới phát sinh từ việc ứng dụng  
công nghệ mới của CMCN 4.0 thường giải  
quyết những vấn đề mang bản chất pha trộn  
giữa khía cạnh kinh tế, công nghiệp và pháp  
lý”4. Chính vì thế, cơ quan lập pháp có thể  
còn e ngại khi biểu quyết thông qua một dự  
luật trong khi chưa thực sự hiểu bản chất  
pháp lý của các hiện tượng kinh tế - xã hội -  
công nghệ mới đó.  
Theo quy định của Luật Ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được  
sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020,  
quy trình lập pháp bao gồm các giai đoạn  
sau: (1) Lập chương trình xây dựng luật;  
(2) Soạn thảo; lấy ý kiến; chỉnh lý tiếp thu,  
giải trình, đăng tải, thẩm định, xem xét;  
(3) Thẩm tra; (4) Xem xét, cho ý kiến; (5)  
Thảo luận; chỉnh lý; lấy ý kiến; chỉnh lý;  
(6) Xem xét, thông qua; hoàn thiện về kỹ  
thuật văn bản; công bố. Các giai đoạn này  
có thể được gộp lại thành 4 bước chính  
sau đây: (1) Sáng kiến lập pháp; (2) Soạn  
thảo dự án; (3) Thảo luận và thông qua;  
(4) Công bố, ban hành.  
Tuy nhiên, nếu không bắt kịp nhịp  
độ phát triển của thế giới và khu vực, đi  
chung trên “chuyến tàu CMCN 4.0”, Việt  
Nam sẽ phải đối mặt những thách thức,  
như tụt hậu về khoa học và công nghệ,  
suy giảm năng lực cạnh tranh trong sản  
xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có  
kỹ năng và trình độ thấp, gây phá vỡ thị  
trường lao động truyền thống, ảnh hưởng  
tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước;  
mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm  
bản quyền, v.v.. Cuộc cách mạng công  
nghiệp này cũng đặt ra những thách thức  
đối với một số ngành, lĩnh vực cụ thể, đặc  
biệt yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn,  
an ninh thông tin mạng; yêu cầu bảo vệ  
quyền con người trong hoạt động thương  
mại điện tử và số hóa các hoạt động của  
đời sống xã hội; v.v..  
Trong bối cảnh CMCN 4.0, nhu cầu đẩy  
nhanh tiến độ lập pháp đã tạo áp lực lên yêu  
cầu bảo đảm chất lượng của sản phẩm lập  
pháp. Để bảo đảm sự hài hòa giữa tiến độ và  
chất lượng của các văn bản quy phạm pháp  
luật, tác giả cho rằng, quy trình lập pháp ở  
nước ta cần phải chú trọng đến các yêu cầu  
sau đây:  
Thứ nhất, tách bạch quy trình xây dựng  
chính sách và quy trình soạn thảo văn bản  
luật; tăng cường tính công khai, minh bạch  
trong xây dựng, ban hành văn bản.  
Thực tiễn này đặt ra cho quy trình lập  
pháp ở Việt Nam cần phải được đổi mới  
toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế -  
xã hội nước ta, cũng như yêu cầu đẩy mạnh  
chuyển đổi số nhằm theo đáp ứng kịp yêu  
cầu của CMCN 4.0.  
Theo yêu cầu này, cần phải xác định  
rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan  
trong quá trình lập pháp, phát huy vai trò  
đề xuất, xây dựng chính sách luật và bảo  
vệ chính sách luật của Chính phủ; Chính  
phủ phải có quyền và phải được tạo điều  
4 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr. 55.  
6
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
kiện để bảo vệ chính sách của mình trong  
suốt quy trình lập pháp5; phát huy vai trò  
thẩm tra, cho ý kiến và thông qua luật của  
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.  
Bên cạnh đó, trong quá trình lập pháp,  
cần phải tiếp tục thực hiện công khai,  
minh bạch, huy động và sử dụng tốt trí  
tuệ của cộng đồng trong quá trình hoàn  
thiện các dự thảo luật trước khi Quốc hội  
thông qua.  
các vấn đề công nghệ trong quá trình  
xây dựng luật, cần đưa vào quá trình  
lập pháp cách thức tham vấn chuyên gia  
công nghệ và doanh nghiệp. Mặc dù, cả  
công nghệ và pháp luật đều điều chỉnh  
đến các quan hệ xã hội, đều tác động đến  
quyền và lợi ích của các chủ thể trong  
xã hội, nhưng sự tác động đó khác nhau  
cả về mục đích, quy mô. Nếu như công  
nghệ tác động đến các khía cạnh của đời  
sống xã hội với tốc độ rất nhanh chóng,  
không theo tuần tự; không bảo đảm sự  
bình đẳng giữa các chủ thể (chủ thể nào  
chủ động, tích cực, có sự am hiểu sâu  
sắc sẽ thụ hưởng được những lợi ích từ  
quá trình này; những chủ thể thiếu chủ  
động, thiếu tri thức và kỹ năng về công  
nghệ có thể bị tác động tiêu cực của quá  
trình); xuất phát từ lợi ích tư hoặc của  
một nhóm xã hội (nhóm xã hội có lợi  
ích từ việc triển khai và ứng dụng công  
nghệ). Trong khi đó, pháp luật tác động  
đến các khía cạnh của đời sống xã hội  
chậm hơn, sự ra đời của các quy phạm  
pháp luật thường có “độ trễ nhất định”  
so với thực tiễn; đảm bảo sự công bằng,  
khách quan của các chủ thể trước pháp  
luật; xuất phát từ lợi ích công.  
Ở bước sáng kiến lập pháp, chủ thể  
chịu trách nhiệm sáng kiến lập pháp phải  
trả lời chính xác câu hỏi: tại sao phải xây  
dựng luật này hoặc tại sao phải sửa luật  
này? luật này cần phải ban hành (hay  
sửa) ngay để đáp ứng yêu cầu quản lý  
nhà nước hay “đón đầu” trong thời gian  
tới?, v.v.. Để xử lý thỏa đáng những câu  
hỏi nêu ra, cần phải có được câu trả lời  
chính xác trong thời gian sớm nhất. Vì  
vậy, trong điều kiện của CMCN 4.0,  
cần phải sử dụng trí tuệ nhân tạo, điện  
toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn  
(S.M.A.C), v.v.. vào tổng kết, đánh giá  
thực tiễn triển khai, thực hiện các quy  
phạm pháp luật trong cuộc sống, từ đó  
phân tích, đánh giá mức độ cần thiết và  
cấp thiết của dự án luật.  
Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy  
phạm pháp luật đã quy định các bước lấy  
ý kiến doanh nghiệp và lấy ý kiến nhân  
dân cũng như cho phép huy động chuyên  
gia. Tuy nhiên, trên thực tế cần đảm bảo  
quá trình tham vấn đó được thực hiện  
một cách linh hoạt hơn và đảm bảo sự  
công khai, minh bạch và chịu sự giám  
sát của công chúng. Quá trình tham vấn  
cũng cần phải đảm bảo sự khách quan,  
Thứ hai, kết hợp giữa huy động trí tuệ,  
sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa  
học và nhân dân với sự trợ giúp của công  
nghệ 4.0 vào quá trình soạn thảo, đánh giá  
tác động và thảo luận các dự án luật.  
Như đã đề cập ở trên, trong thời kỳ  
CMCN 4.0, công nghệ cũng là một yếu  
tố điều chỉnh quan hệ xã hội. Vì vậy, để  
khắc phục sự bất đối xứng thông tin về  
5 TS. Nguyễn Sỹ Dũng, Ðộng lực của quy trình lập pháp, https://nhandan.com.vn/chinh-tri-hangthang/ong-  
luc-cua-quy-trinh-lap-phap-579267/, ngày 03/01/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
độc lập giữa chuyên gia và doanh nghiệp,  
đảm bảo các cơ quan xây dựng pháp luật  
không lệ thuộc vào ý kiến của bên nào6.  
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc sử dụng  
ứng dụng trợ lý ảo (chatbot) để gia tăng  
tính tương tác giữa cơ quan chủ trì soạn  
thảo với các đối tượng liên quan hoặc  
với người dân 24/7.  
thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu  
cầu phát triển nhanh, bền vững”7.  
Thứ ba, xây dựng quy trình lập pháp  
chuyên biệt nhằm áp dụng đối với văn bản  
pháp luật chuyên biệt, phù hợp với tính đặc  
thù của một số văn bản phục vụ cho yêu  
cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh cuộc  
CMCN 4.0.  
Bên cạnh việc phát huy vai trò của  
chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân vào  
quá trình xây dựng, thảo luận và đánh giá  
các dự luật thì việc ứng dụng các công  
nghệ 4.0 để phân tích, đánh giá tác động  
(RIA) thông qua các mô hình giả lập để  
dự báo những tác động của các quy phạm  
pháp luật của dự luật này đối với các quan  
hệ xã hội nếu dự luật đó được thông qua  
và triển khai vào cuộc sống, từ đó đưa  
ra các phương án để nhà lập pháp lựa  
chọn phương án tối ưu. Với sự trợ giúp  
của trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn  
(S.M.A.C), v.v.. sẽ giúp các nhà lập pháp  
mường tượng được viễn cảnh các quy  
phạm pháp luật này tác động đến các chủ  
thể trong xã hội như thế nào, từ đó điều  
chỉnh các quy phạm theo hướng đảm bảo  
tối đa quyền và lợi ích hợp pháp, chính  
đáng của các chủ thể pháp luật trong xã  
hội, theo đúng tinh thần của Đại hội XIII  
của Đảng: “Xây dựng hệ thống pháp luật  
đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả  
thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy  
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của  
người dân, doanh nghiệp làm trung tâm  
6
Để đáp ứng yêu cầu phản ứng nhanh  
và linh hoạt với các vấn đề mới phát sinh,  
Việt Nam cần xây dựng và áp dụng cơ  
chế thử nghiệm trong phạm vi ngành, lĩnh  
vực và thời gian nhất định (Sandbox).  
Theo đó, trong quy trình lập pháp cần  
phải gắn với trách nhiệm đề xuất dự án  
luật (nếu có thể) sau quá trình thử nghiệm  
để nếu việc thử nghiệm thành công thì  
thiết lập cơ chế pháp lý chung điều chỉnh  
các vấn đề mới này; cần nghiên cứu giản  
lược một số khâu trong quá trình lập pháp  
để việc ban hành luật điều chỉnh các vấn  
đề nêu trên được kịp thời hơn. Bên cạnh  
đó, cần nghiên cứu các ứng dụng công  
nghệ để xây dựng những nền tảng hoạch  
định chính sách cho phép đông đảo công  
chúng tham gia (Crowdlaw)8, cho phép  
công chúng, chuyên gia, doanh nghiệp  
tham gia một cách rộng rãi và tích cực  
hơn vào quá trình xây dựng luật. Ngoài  
ra, để đảm bảo khắc phục những điểm  
trống về mặt pháp luật, cần phát huy vai  
trò của tòa án trong việc tạo ra các án lệ  
và có quy trình phù hợp để xây dựng các  
quy tắc pháp luật từ các án lệ  
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở  
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 63  
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, tr. 175  
8
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở  
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 62  
8
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ  
Nguyễn Văn Quân  
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Xung đột lợi ích; công  
vụ; tham nhũng.  
Xung đột lợi ích tồn tại phổ biến trong đời sống xã hội, chịu sự điều chỉnh  
của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, cả luật công và luật tư. Trong  
hoạt động công vụ, xung đột lợi ích có thể làm tổn hại đến sự vô tư, công  
bằng và liêm chính của người thực thi công vụ. Điều này có thể dẫn đến  
tham nhũng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 12/10/2020  
: 22/11/2020  
: 29/11/2020  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Conflicts of interest;  
public service; corruption.  
The existence of conflicts of interest widely spreads in social life and  
it is subject to be regulated by different legal fields, both public laws,  
and private ones. In public service activities, conflicts of interest may  
cause harm to the impartiality, fairness, and integrity of public service  
executors, which may lead to corruption in public service delivery.  
History:  
Received  
Edited  
: 12 Oct. 2020  
: 22 Nov. 2020  
: 29 Nov. 2020  
Approved  
Trong cuộc sống, chúng ta chứng kiến  
nhiều tình huống có sự đối lập hoặc bất  
đồng giữa các lợi ích khác nhau. Trong  
những tình huống này, chủ thể liên quan  
không thể đồng thời thỏa mãn cả hai lợi  
ích. Điều này làm phát sinh lo ngại rằng,  
lợi ích này tổn hại lợi ích kia, dù có thể  
thiệt hại không diễn ra trên thực tế. Ví dụ  
như luật sư bảo vệ cho các khách hàng  
có lợi ích đối lập nhau; thẩm phán có lợi  
ích liên quan đến vụ việc mà người này  
xét xử; một bác sĩ kê đơn thuốc không  
phải vì lợi ích của người bệnh (dựa vào  
hiệu quả điều trị và chi phí) mà dựa vào  
lợi ích (phần trăm) do nhà sản xuất cung  
cấp thuốc mang lại; một quan chức chịu  
1
trách nhiệm kiểm tra, giám sát một doanh  
nghiệp mà mình góp vốn; hoặc một đại  
biểu dân cử có lợi ích riêng liên quan tới  
quyết định mà người này đưa ra; người  
quản lý một công ty có lợi ích cá nhân  
trong hợp đồng do chính công ty đó ký  
kết. Xung đột lợi ích phổ biến trong cuộc  
sống, vì mỗi cá nhân đều có những lợi ích  
hợp pháp và đan xen trong các mối quan  
hệ xã hội ngày càng đa dạng.  
1. Quan niệm về xung đột lợi ích  
Hiểu một cách chung nhất thì xung đột  
lợi ích là “tình huống mà một người thấy  
lợi ích cá nhân của mình xung đột với lợi  
ích khác mà mình phải chịu trách nhiệm”1.  
Pierre-Françis Cuif, “Le conflit d’intéets: essai sú la detémination d’un ṕincipe júidique en d́oit ṕive”,  
RTD çmmercial, n° 1, janvier-mars 2005, tr.1.  
Số 07(431) - T4/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Nói cách khác, xung đột lợi ích nảy sinh  
“khi lợi ích cá nhân của một người đối lập  
với một lợi ích khác mà người này có trách  
nhiệm bảo vệ”2. Lợi ích có thể được hiểu  
một cách khái quát nhất là những tiện ích về  
mặt vật chất hoặc tinh thần, có được ở thời  
điểm hiện tại hoặc tương lại mà một người  
có thể có được từ một tình huống. Cũng theo  
hướng này, tác giả Dominique Schmidt cho  
rằng, xung đột lợi ích là “tình huống trong  
đó có một lợi ích cần được bảo vệ căn cứ  
vào một thẩm quyền hay quyền hạn được  
giao, nhưng lợi ích này bị hy sinh vì một lợi  
ích khác đối lập”3. Giáo sư người Pháp Joël  
Moret-Bailly đưa ra định nghĩa tổng quát về  
xung đột lợi ích như sau: “Xung đột lợi ích  
là tình huống mà một người đảm trách một  
lợi ích khác với lợi ích riêng của người này  
nhưng không hành động hoặc bị nghi ngờ  
không hành động, với sự trung thành và vô  
tư để bảo vệ lợi ích mà mình được giao phó,  
với mục đích ưu ái cho lợi ích cá nhân của  
mình hoặc bên thứ ba”4.  
đột lợi ích cũng diễn ra trong mối quan hệ  
theo chiều ngang, tức trong quan hệ mang  
tính chất hợp tác giữa những người có địa vị  
xã hội và quyền lực mang tính tương đương,  
ví dụ như chuyên gia y tế, bác sĩ với bệnh  
nhân, giữa luật sư và khách hàng…  
Theo học giả Mustapha Mekki, xung đột  
lợi ích có thể được phân thành 3 điển hình  
loại sau5:  
Thứ nhất, xung đột liên quan đến người  
được giao quyền lực: quyền lực được định  
nghĩa là ưu quyền được trao cho một người  
và người này phải thực hiện vì lợi ích của  
chủ thể khác (điển hình của loại xung đột  
này liên quan đến lĩnh vực công vụ).  
Thứ hai, xung đột liên quan đến những  
chủ thể được giao nhiệm vụ “trọng tài”:  
thẩm phán, trọng tài viên, hòa giải viên.  
Thứ ba, xung đột liên quan đến những  
người được trao nhiệm vụ đánh giá với tư  
cách là chuyên gia pháp lý, tài chính, kế  
toán hay khoa học.  
Một cách khái quát nhất, xung đột lợi  
ích là một tình huống mà trong đó, lợi ích  
cá nhân của một người đối lập với những  
nghĩa vụ mà người này gánh vác và phải có  
trách nhiệm bảo vệ.  
Trên thực tế, bên cạnh xung đột lợi ích  
trong lĩnh vực công, còn tồn tại xung đột  
lợi ích trong lĩnh vực tư. Ví dụ như những  
trường hợp xung đột lợi ích trong quan hệ  
công ty như: giao dịch có nguy cơ tư lợi  
giữa người quản lý công ty với công ty, sử  
dụng tài sản, thông tin mật và cơ hội của  
công ty cho mục đích cá nhân, cạnh tranh  
với công ty…6.  
Xung đột lợi ích tồn tại trong các mối  
quan hệ theo chiều dọc (quan hệ có tính thứ  
bậc). Ví dụ như xung đột lợi ích trong hoạt  
động của công chức, viên chức chịu trách  
nhiệm bảo vệ lợi ích công. Đồng thời, xung  
2
e
Ḑminique Schmidt, Les conflits d’intéets dans la societe anonyme, 2 ed., Paris, Editi̧ns J̧ly, 2004.  
3 Claire Ogier, Le Conflit d’intéets, these de ḑcţrat, Universite Jean-M̧nnet, Saint- Etienne, 2008, tr. 278.  
4 Xem: J̧ël M̧ret-Bailly, Definir les çnflits d’interêts, Recueil Dalļz, 2011, chŗnique, tr.1100-1106.  
5 Mustapha Mekki, La lutte contre les conflits d’intérêt: essor de la transparence ou règne de la méfiance?,  
Pouvoirs, nº 47/2013, tr. 23.  
6 Đỗ Minh Tuấn, Nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty cổ phần, Sđd, tr. 52-53.  
10  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Xung đột lợi ích trong hoạt động  
công vụ  
vụ như trong định nghĩa của OECD và  
các thiết chế quốc tế. Bởi vì, xung đột  
lợi ích trong lĩnh vực công vụ là tình  
huống có sự xung đột giữa lợi ích riêng  
của một cá nhân với lợi ích công của một  
tổ chức, thiết chế mà cá nhân này làm  
việc. Và vấn đề xung đột lợi ích chỉ đặt  
ra khi lợi ích tư đe dọa lợi ích công, chứ  
không phải trong trường hợp ngược lại9.  
Nói cách khác, xung đột lợi ích liên quan  
đến sự ảnh hưởng, tác động không thích  
hợp, không thỏa đáng của lợi ích tư (cá  
nhân) tới việc thực thi quyền lực công.  
Hiện có nhiều quan niệm, định nghĩa  
khác nhau về xung đột lợi ích trong hoạt  
động công vụ7. Trong đó, định nghĩa do  
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế  
(OECD) đưa ra được sử dụng phổ biến  
hơn cả. Theo đó, “xung đột lợi ích là  
xung đột giữa nhiệm vụ công và lợi ích  
cá nhân của viên chức nhà nước mà lợi  
ích cá nhân của viên chức đó có thể ảnh  
hưởng không thích hợp đến cách người  
này thực hiện các nghĩa vụ và trách  
nhiệm của họ”8. Định nghĩa này chỉ ra  
bản chất của xung đột lợi ích là lợi ích cá  
nhân công chức với trách nhiệm và nghĩa  
vụ công của họ. Theo chúng tôi, đây là  
định nghĩa toàn diện và dễ hiểu về xung  
đột lợi ích trong hoạt động công vụ. Tuy  
nhiên, không phải mọi tình huống căng  
thẳng hoặc xung đột giữa các lợi ích đều  
cấu thành “xung đột lợi ích”. Ví dụ, một  
chính phủ phải lựa chọn giữa phát triển  
công nghiệp và bảo vệ môi trường, giữa  
khôi phục tăng trưởng kinh tế và bảo  
đảm sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn  
dịch bệnh. Đây cũng là những “xung đột  
lợi ích” mà quyền lực chính trị phải tìm  
cách dung hòa và đưa ra lựa chọn, nhưng  
không phải là xung đột lợi ích trong công  
Ảnh hưởng không thích hợp, không  
thỏa đáng (influence improperly) được giải  
thích trong “Khuyến nghị về Hướng dẫn  
để quản lý xung đột lợi ích trong lĩnh vực  
công”10 của OECD. Theo đó, đây là những  
ảnh hưởng tiêu cực đến tính hợp pháp  
(legitimacy), vô tư (impartiality) và công  
bằng (fairness) của người công chức trong  
việc ra quyết định công, làm sai lệch chế  
độ pháp quyền, xây dựng, áp dụng chính  
sách, hoạt động của thị trường và phân bổ  
nguồn lực công.  
Tại Việt Nam, định nghĩa về xung đột  
lợi ích được thể hiện trong khoản 8 Điều 3  
Luật Phòng, chống tham nhũng năm  
2018: “Xung đột lợi ích là tình huống mà  
7 Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam  
hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2020, tr.17-25.  
8
OECD, Managing conflict of intéest in the Public Sévice. Oecd Guidelines and Count́y Expéiences, Paris,  
OCDE publishing, 2004, tr.15; OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member  
of-interest-policies-and-practices-in-nine-eu-member-states_5kml60r7g5zq-en, truy cập ngày 25/9/2020,  
Recommendation of the Council on Guidelines for Managing Conflict of Interest in the Public Service. Xem:  
9
Bernarḑ Gi̧rgi̧ Mattarella, Le ́egime júidique du conflit d’intéets. Élements compáes, RFAP, 2010, n°  
135, tr. 644.  
10  
OECD, Recommendation of the Council on Guidelines fó Managing Conflict of Intéest in the Public Sévice,  
tr.4. Xem: hꢀp://www.oecd.org/governance/ethics/2957360.pdf, truy cập ngày 25/9/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong đó lợi ích của người có chức vụ,  
quyền hạn hoặc của người thân thích của  
họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng  
đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ”.  
Tuy nhiên, định nghĩa này chưa làm toát  
ra được lý do (cơ sở) cần phải kiểm soát  
xung đột là xung đột này sẽ “tác động tiêu  
cực” đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền  
hạn của người thực hiện công vụ. “Tác  
động tiêu cực” tới tính vô tư, khách quan  
của hoạt động công cụ cũng là điểm được  
chỉ ra trong “Khuyến nghị của Hội đồng  
bộ trưởng Liên minh châu Âu về quy tắc  
ứng xử của nhân viên công vụ”11. Theo  
đó, xung đột lợi ích là “tình huống mà  
một viên chức nhà nước có lợi ích cá nhân  
ảnh hưởng hoặc sẽ ảnh hưởng đến việc  
thực hiện công bằng, vô tư và khách quan  
các nhiệm vụ của họ”12. Xung đột lợi  
ích là tình huống mà không phải là hành  
vi13, cho nên không phải mọi tình huống  
xung đột lợi ích đều vi phạm pháp luật và  
đều có thể truy cứu trách nhiệm14. Trong  
mối tương quan với hành vi tham nhũng,  
không phải mọi tình huống xung đột lợi  
ích đều gắn liền với tham nhũng, mà tùy  
thuộc vào cách thức, thái độ hành xử của  
người thực thi công vụ liên quan, đặc biệt  
11  
là căn cứ về tính vô tư, khách quan của  
người công chức khi thực thi công vụ.  
Cán bộ, công chức, viên chức khi thực  
hiện công vụ luôn nhân danh Nhà nước,  
bảo vệ lợi ích chung. Vì thế, bảo đảm sự  
vô tư, khách quan, không thiên vị là nghĩa  
vụ căn bản nhất của người thực thi công  
vụ. Chỉ có sự khách quan, vô tư, không  
thiên vị trong hoạt động công vụ thì mới  
bảo đảm sự bình đẳng của người dân khi  
tiếp cận các dịch vụ công15. Đây cũng là  
căn cứ đánh giá trách nhiệm công chức  
trong các vụ việc có xung đột lợi ích.  
3. Bản chất của xung đột lợi ích: Xâm hại  
tới tính liêm chính, vô tư của hoạt động  
công vụ  
Nếu như xung đột lợi ích trong lĩnh vực  
luật tư làm tổn hại tới nguyên tắc trung  
thành (loyalty) trong quan hệ giữa một pháp  
nhân và người được giao quyền, thì trong  
lĩnh vực cộng vụ, xung đột lợi ích có thể  
làm tổn hại đến nguyên tắc đảm bảo tính vô  
tư trong hoạt động công16.  
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đảm  
bảo sự vô tư là nguyên tắc cơ bản áp dụng  
cho mọi hoạt động công vụ, cho mọi nhân  
viên công quyền17. Bởi vì, hoạt động công  
Çnseil ̧f Euŗpe, Recommendation No. R (2000) 10of the Committee of Ministés to Membé states on codes  
of conduct fó public officials. Xem: hꢀps://rm.coe.int/16805e2e52, truy cập ngày 25/9/2020.  
12  
Điều 13 Recommendation No. R (2000) 10 of the Committee of Ministers to Member states on codes of  
conduct for public officials.  
13 Bernardo Giorgio Mattarella, Le régime juridique du conflit d’intérêts. Éléments comparés, RFAP, 2010, n°  
135, tr. 649.  
14 Xung đột phải ở một mức độ đủ lớn, có thể ảnh hưởng đến tính đúng đắn, liêm chính, vô tư, công bằng của  
hoạt động công vụ.  
15  
03 nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động dịch vụ công là đảm bảo tính liên tục, bình đẳng, tính có thể  
thay đổi. Xem Martine Lombard, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, Nxb. Tư pháp, 2007, tr. 454-457.  
16 Xem: Joël Moret-Bailly, Définir les conflits d’intérêts, Recueil Dalloz, 2011, chronique, tr.1100-1106.  
17 Xem: Eric Mitard, L’impartialité administrative, AJDA, 1999, tr. 478-495.  
12  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
vụ là hoạt động nhân danh quyền lực nhà  
nước, thực hiện chức năng quản lý nhà  
nước trong các lĩnh vực của đời sống xã  
hội. Hoạt động đó tác động đến mọi chủ  
thể trong xã hội và hoạt động đó sử dụng  
nguồn lực của toàn xã hội (thông qua  
nguồn thu từ thuế) nhằm mục đích mang  
lại lợi ích chung của xã hội. Do vậy, tiêu  
chí đặt lên hàng đầu là sự công bằng, vô  
tư trong hoạt động này để bảo vệ và tôn  
trọng quyền của các chủ thể khác nhau  
trong xã hội. Cho nên, để đảm bảo tính  
đúng đắn, công bằng, liêm chính trong  
hoạt động công vụ, mọi nguyên tắc hoạt  
động, trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến  
hành hoạt động này đều được pháp luật  
định trước một cách chặt chẽ. Tình huống  
xung đột lợi ích xuất hiện sẽ khiến chủ thể  
thực thi công vụ có thể vì lợi ích của riêng  
mình mà bỏ qua những nguyên tắc chung.  
Và chính vì thế, quyền, lợi ích chính đáng  
của các chủ thể khác sẽ không được bảo  
vệ18. Nói cách khác, xung đột lợi ích có  
thể xâm hại đến tính vì lợi ích chung của  
hoạt động công vụ, vì nó phá vỡ sự liêm  
chính, công bằng, vô tư của người thực  
thi công vụ. Đây chính là tiền để nảy sinh  
tham nhũng19.  
Về cơ bản, tính vô tư, công bằng trong  
công vụ đòi hỏi chủ thể thực thi công vụ  
không được để yếu tố cá nhân tác động tới  
công việc do mình xử lý, và hoạt động thực  
thi công vụ của những người này không  
được tạo ra ghi ngờ có thành kiến hoặc định  
kiến khi thực hiện nhiệm vụ20.  
Xuất phát từ tầm quan trọng của sự  
liêm chính, công bằng, vô tư trong hoạt  
động công vụ, một số quốc gia đã hiến  
định nguyên tắc vô tư, công bằng của  
hoạt động công vụ. Theo Điều 33 Luật  
liên bang của Cộng hòa liên bang Đức về  
quy chế của công chức ngày 17/6/200821,  
công chức có nghĩa vụ thực thi nhiệm vụ  
của mình một cách không đảng phái và vô  
tư, công bằng (unparteiisch und gerecht).  
Tại Hoa Kỳ, Các tiêu chuẩn đạo đức ứng  
xử áp dụng cho nhân viên hành pháp22 do  
Cơ quan Đạo đức Chính phủ Hoa Kỳ (US  
Office Of Government Ethics, OGE23) ban  
hành năm 2002 quy định: Nhân viên  
phải hành động không thiên vị và không  
dành sự ưu đãi cho bất kỳ tổ chức hoặc  
cá nhân tư nhân nào. Khoản 3 Điều 103  
Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy  
định: Luật sẽ điều chỉnh quy chế của công  
chức […] và các bảo đảm liên quan đến  
18  
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở  
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 39.  
19  
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở  
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 39.  
20 Christian Vigouroux, Déontologie des fonctions publiques, 2ème édition, 2012, tr.153.  
21 Xem: https://www.gesetze-im-internet.de/beamtstg/BJNR101000008.html, truy cập ngày 08/3/2021.  
22  
Standards of Ethical Conduct for Employees of the Executive Branch, October 2002, part 2635. Xem:  
23 OGE là một cơ quan độc lập trong bộ máy Chính phủ Mỹ được thành lập năm 1989, phụ trách soạn thảo quy  
phạm hành vi đạo đức của nhân viên làm trong các cơ quan hành chính, xét duyệt các quy tắc phụ về hành vi  
đạo đức do các ban, ngành hành chính đặt ra, giám sát tình hình thi hành khai báo tài sản công khai và bí mật  
của các quan chức chính quyền, và thẩm tra lý lịch những quan chức được Tổng thống bổ nhiệm xem họ có  
xung đột lợi ích kinh tế (với chính quyền) hay không.  
Số 07(431) - T4/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tính vô tư, không thiên vị trong thực thi  
công vụ”24. Điều 97 Hiến pháp Italia đặt  
ra nguyên tắc vô tư của hệ thống cơ quan  
hành chính25. Theo đó, các cơ quan công  
sở được tổ chức theo quy định của pháp  
luật, bảo đảm hiệu quả, công bằng, không  
thiên vị trong hoạt động. Điều 8 Bộ luật  
về đạo đức nghề nghiệp của công chức  
ngày 28/11/2000 của nước này26 đưa ra  
định nghĩa về tính vô tư trong hoạt động  
công vụ.  
tình huống xung đột lợi ích có thể dẫn đến  
hành vi tham nhũng hay không còn tùy  
thuộc vào cách hành xử của người thực  
thi công vụ. Nếu cán bộ, công chức, viên  
chức ở tình huống xung đột lợi ích trong  
hoạt động công vụ lựa chọn hành động vì  
lợi ích cá nhân của mình và làm tổn hại  
tới lợi ích chung thì xung đột lợi ích sẽ  
chuyển từ tình huống (nguy cơ nảy sinh  
hành vi tham nhũng) sang hành vi tham  
nhũng. Ngược lại, trong trường hợp cán  
bộ, công chức, viên chức lựa chọn hành  
động vì lợi ích chung thì xung đột lợi ích  
không dẫn tới hành vi tham nhũng28. Tuy  
nhiên, trong đa số các trường hợp, tham  
nhũng sẽ xuất hiện khi lợi ích cá nhân của  
người thực thi công vụ ảnh hưởng tiêu  
cực đến tính liêm chính, hiệu quả hoạt  
động công vụ. Đặc biệt, những người  
này được giao quyền lực công nên dễ có  
xu hướng lạm quyền, đánh mất sự liêm  
chính, công tâm nếu không được kiểm tra,  
giám sát chặt chẽ. Chính vì thế, OECD  
cho rằng, phòng ngừa xung đột lợi ích là  
một phần của chính sách phòng, chống  
tham nhũng29; bởi vì, kiểm soát xung đột  
lợi ích là một công cụ để tạo dựng khu  
vực công liêm chính - nền tảng để phòng  
Xung đột lợi ích và tham nhũng là hai  
khái niệm khác nhau, nhưng có mối quan  
hệ chặt chẽ với nhau. Đôi khi có xung  
đột lợi ích ở nơi không có tham nhũng  
và ngược lại27. Ví dụ, một viên chức nhà  
nước tham gia vào việc ra quyết định  
trong một vụ việc mà người này có lợi ích  
cá nhân nhưng vẫn có thể hành động một  
cách đúng đắn, liêm chính và tuân thủ  
pháp luật thì sẽ không có tham nhũng, hay  
một quan chức nhận hối lộ (tham nhũng)  
để đưa ra quyết định dù không có bất kỳ  
xung đột lợi ích nào liên quan đến vụ việc.  
Tham nhũng là “hành vi của người có  
chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,  
quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 2 Điều 1  
Luật Phòng, chống tham nhũng năm  
2018)”; trong khi đó, xung đột lợi ích chỉ  
dừng lại ở các tình huống. Nghĩa là, các  
ngừa tham nhũng hiệu quả  
24  
Congreso/Congreso/Hist_Normas/Norm/const_espa_texto_ingles_0.pdf, truy cập ngày 25/9/2020.  
inglese.pdf, truy cập ngày 25/9/2020.  
26 Bộ luật về đạo đức nghề nghiệp của công chức (Codice di comportamento dei dipendenti delle pubbliche  
27 OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member States: A Comparative Review, Sđd,  
tr.6.  
28  
Phạm Thị Huệ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở  
Việt Nam hiện nay, Sđd, tr. 41.  
29 OECD, Conflict of Interest Policies and Practices in Nine EU Member States: A Comparative Review, Sđd,  
tr. 6.  
14  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 1  
Vũ Công Giao*  
Vũ Thành Cự**  
Phạm Thị Yến***  
* PGS.TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
** Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.  
*** ThS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Tham nhũng là “giặc nội xâm”2, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế  
độ, là tác nhân chính dẫn đến làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máy nhà  
nước3. Chính vì vậy, kể từ khi bắt đầu Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước  
(1986), vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà  
nước quan tâm. Trong mấy năm gần đây, cuộc chiến chống tham nhũng  
ở nước ta đã giành được những thành tựu, thể hiện qua việc đưa ra xét xử  
nhiều vụ án tham nhũng lớn mà trong đó nhiều quan chức cấp cao đã bị kết  
án4 - điều chưa từng có trước đây. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng ở nước  
ta hiện vẫn còn khá phổ biến và gây nhiều bức xúc trong xã hội5. Trong  
phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, những  
thách thức đặt ra đối với việc thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất giải pháp  
nâng cao hiệu quả của việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: Tham nhũng, tài sản  
tham nhũng, thu hồi tài sản tham  
nhũng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 15/3/2021  
: 27/3/2021  
: 29/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Corruption is the "internal invaders", the threat to the survival of the regime,  
the main factor leading to the reduction of the management efficiency of the  
state apparatus. Therefore, since the beginning of the comprehensive national  
reform (1986), fights against corruption have always got concerns by both the  
Party and the State. In recent years, the fights against corruption in our country  
have gained significant achievements, as evidenced by the trial of many major  
corruption cases in which several high-position officials have been sentenced,  
which is an unprecedented phenomenon. However, corruption in our country  
is still quite common and causes great frustrations in society. Within the scope  
Keywords: Corruption, corrupted  
assets, recovery of corrupted  
assets.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 15 Mar. 2021  
: 27 Mar. 2021  
: 29 Mar. 2021  
Approved  
of this article, the authors provide an analysis of the political ground and legal  
123  
45  
basis, the challenges posed to the recovery of corrupted assets, and also solu-  
tions to improve the efficiency of the recovery of corrupted assets in Vietnam.  
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện  
pháp luật giải quyết xung đột lợi ích và thu hồi tài sản tham nhũng trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam  
hiện nay” do GS.TS. Phan Trung Lý làm Chủ nhiệm.  
2 LêHiệp.Tổngbíthư, Chtịchnước:Lợiíchnhóm, thamnhũnglàgiặcnixâmvôcùngnguyhiểm,https://thanhnien.  
vn/thoi-su/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-loi-ich-nhom-tham-nhung-la-giac-noi-xam-vo-cung-nguy-hiem-1225373.html.  
3 Quốc Anh, “Tham nhũng trở thành nguy cơ chính đe dọa sự tồn vong chế độ”, https://dantri.com.vn/xa-hoi/  
tham-nhung-tro-thanh-nguy-co-chinh-de-doa-su-ton-vong-che-do-20151224222419406.htm.  
4
10 vụ án lớn về kinh tế, tham nhũng và các vụ án điển hình được đưa ra xét xử trong năm 2018, Tạp  
nhung-va-cac-vu-an-dien-hinh-duoc-dua-ra-xet-xu-trong-nam-2018.  
5 An Nguyễn, Bộ Công an: Tội phạm về kinh tế, tham nhũng vẫn nghiêm trọng, https://baodautu.vn/bo-cong-  
an-toi-pham-ve-kinh-te-tham-nhung-van-nghiem-trong-d121993.html.  
Số 07(431) - T4/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
1. Quan niệm về tài sản, tài sản tham nhũng  
và thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam  
Tuy nhiên, trong thực tế, xung quanh khái  
niệm “tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng”,  
ở Việt Nam hiện vẫn còn những quan điểm  
khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài  
sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng là tài  
sản không trực tiếp có được do thực hiện các  
hành vi bị xem là tội phạm tham nhũng, mà  
có được do lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay  
lạm quyền trong khi thi hành công vụ để gây  
ảnh hưởng đối với người khác; do giả mạo  
trong công tác; do đưa hối lộ, môi giới hối  
lộ của người có chức vụ, quyền hạn để giải  
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị  
hoặc địa phương; do lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước..9.  
Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản có nguồn  
gốc từ hành vi tham nhũng gồm các loại tài  
sản có được từ hành vi tham nhũng nhưng  
đã được người thực hiện hành vi tham nhũng  
và người khác hợp pháp hóa để đầu tư trực  
tiếp vào sản xuất kinh doanh, biến tiền “bẩn”  
thành tiền “sạch” (gọi là rửa tiền), hay để trả  
các khoản nợ, vay cũ tại các ngân hàng, các cơ  
quan, tổ chức, cá nhân; kể cả để dùng vào mục  
đích từ thiện như xây bệnh viện, trường học,  
đình, chùa, miếu mạo10.  
1.1.Quan niệm về tài sản, tài sản tham  
nhũng ở Việt Nam  
Ở Việt Nam, có nhiều cách định nghĩa ít  
nhiều khác nhau về “tài sản”. Theo Đại từ  
điển tiếng Việt: “Tài sản là của cải vật chất  
dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng”6; còn theo  
Từ điển Luật học: “Tài sản là các vật có  
giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền  
tài sản và các lợi ích vật chất khác”7. Cuốn  
Thuật ngữ pháp lý giải thích cụ thể hơn: “Tài  
sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá  
được bằng tiền và các quyền về tài sản. Tài  
sản có hai loại: bất động sản và động sản”8.  
Về mặt pháp lý, Điều 105 Bộ luật Dân  
sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Tài sản là  
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài  
sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất  
động sản và động sản có thể là tài sản hiện  
có và tài sản hình thành trong tương lai”.  
Cũng từ góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 3  
Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN)  
năm 2018 quy định: “Tham nhũng là hành  
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi  
dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Kết  
hợp giữa các khái niệm tài sản và tham  
nhũng, khoản 3 Điều 3 Luật PCTN năm  
2018 nêu ra định nghĩa về tài sản tham  
nhũng: “Tài sản tham nhũng là tài sản có  
được từ tham nhũng, tài sản có nguồn gốc  
từ tham nhũng”.  
Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam,  
quan điểm về tài sản tham nhũng vẫn chưa cụ  
thể và có xu hướng hẹp hơn so với nhận thức  
chung của cộng đồng quốc tế. Cụ thể, theo  
khoản d Điều 2 Công ước của Liên hợp quốc  
về chống tham nhũng (UNCAC)11, tài sản [tài  
sản tham nhũng] có nghĩa là mọi loại  
tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản  
6 Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.1417.  
7 Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.685.  
8 Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.384.  
9 Đinh Văn Quế, “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài  
sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.  
10  
Bùi Minh Thanh, Thu hồi tài sản tham nhũng trong hoạt động điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra,  
Bộ Công an”, tham luận tại Hội thảo “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực trạng và giải pháp”, do Ban Nội  
chính Trung ương tổ chức, tháng 4/2014.  
11https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Cong-uoc-chong-tham-nhung-cua-Lien-Hop-quoc-  
09-12-2003-94971.aspx.  
16  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hay bất động sản, hữu hình hay trừu tượng,  
và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng  
minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản  
đó”. Ngoài ra, theo Điều 31 UNCAC, tài sản  
tham nhũng là những tài sản có nguồn gốc  
từ tội phạm được quy định theo Công ước này  
hoặc tài sản có giá trị tương đương với giá trị  
của tài sản do phạm tội mà có” (khoản 1(a))  
và “tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác  
được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực  
hiện hành vi phạm tội quy định theo Công  
ước này” (khoản 1(b)), và “thu nhập hoặc các  
lợi ích khác có được từ tài sản do phạm tội  
mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyển  
đổi từ tài sản do phạm tội mà có hoặc từ tài  
sản mà trong đó lẫn lộn một phần là tài sản  
do phạm tội mà có …” (khoản 6). Như vậy,  
theo các quy định này của UNCAC, tài sản  
tham nhũng có thể là hữu hình hoặc vô hình,  
có được một cách trực tiếp từ hành vi tham  
nhũng, hoặc gián tiếp thông qua hành vi rửa  
tiền tham nhũng. Tương tự, Tổ chức Hợp tác  
kinh tế và Phát triển (OECD) định nghĩa tài  
sản bị đánh cắp (stolen asset) là tiền bạc, của  
cải, hoặc các tài sản khác tích lũy được thông  
qua hành vi tham nhũng, trong đó bao gồm  
hối lộ, tham ô, biển thủ tài sản hoặc ngân quỹ,  
kinh doanh nhờ ảnh hưởng và lạm dụng chức  
năng trong khu vực công12.  
trường hợp tài sản có nguồn gốc từ hành vi  
phạm tội mà không còn tồn tại, không thể  
xác định hoặc giá trị đã giảm đáng kể so với  
ban đầu, khoản 5 Điều 31 UNCAC khuyến  
nghị hình thức tịch thu phần giá trị được  
xác định là có từ tài sản do phạm tội mà  
có”. Theo đó, hình phạt tiền được cho là  
tương đương với giá trị của tài sản do phạm  
tội mà có sẽ được Tòa án cân nhắc sau khi  
đánh giá khả năng thanh toán của bị cáo.  
Đây là cách xử lý linh hoạt và triệt để. Ưu  
điểm của phương thức tịch thu này là ở chỗ,  
kể cả khi kẻ phạm tội đã “nhanh tay” tẩu tán  
tất cả tài sản của mình cho người khác thì  
bên thứ ba có được khối tài sản trên (cố ý  
hay ngay tình) vẫn có thể bị tịch thu13. Tuy  
nhiên, phương thức này hiện chưa được áp  
dụng ở Việt Nam, dẫn đến bế tắc trong việc  
thu hồi tài sản của nhiều vụ án tham nhũng  
lớn, khi mà tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán  
hầu hết14.  
2. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc thu  
hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam  
2.1. Cơ sở chính trị  
Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện  
nay, việc giải quyết các vấn đề xã hội lớn  
đều cần phải dựa trên nền tảng quan điểm  
định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng  
công tác PCTN, thể hiện qua các văn kiện  
của Đảng, trong đó bao gồm các Văn kiện  
Đại hội đại biểu toàn quốc, các nghị quyết  
của Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ  
thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư…  
1.2. Quan niệm về thu hồi tài sản tham  
nhũng ở Việt Nam  
Hiện nay, ở Việt Nam, do chưa có quy  
định cụ thể về tài sản tham nhũng nên quan  
điểm về cách thức thu hồi tài sản tham nhũng  
cũng chưa được hiểu một cách thống nhất.  
Các quy định trong pháp luật hiện hành của  
Việt Nam về vấn đề này chưa rõ ràng và hẹp  
so với các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, đối với  
Xét riêng về vấn đề thu hồi tài sản tham  
nhũng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  
lần thứ XI của Đảng yêu cầu phải “Xử lý  
12  
14/11/2014.  
13 Hướng dẫn lập pháp về thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.  
14 Ví dụ như xem Tài sản vụ ông Đinh La Thăng: Còn hơn 900 tỷ chưa thu hồi, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-  
su/chong-tham-nhung/tai-san-vu-ong-dinh-la-thang-con-hon-900-ty-chua-thu-hoi-485827.html.  
Số 07(431) - T4/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán  
bộ tham nhũng; tịch thu sung công tài sản  
tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham  
nhũng”15.NghquyếtTrungương3(kaX)  
nhấn mạnh, trong công tác PCTN, cần:  
“Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp  
dụng chính sách khoan hồng đối với những  
người phạm tội nhưng có thái độ thành  
khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc  
phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ  
quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp  
luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối  
với những người đưa hoặc người nhận hối  
lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài  
sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các  
chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu  
hồi tài sản tham nhũng”16. Để thể chế hóa  
các quan điểm đó thành các quy định của  
pháp luật, Kết luận Hội nghị Trung ương 5  
(khóa XI) đã yêu cầu các cơ quan chức năng  
“Sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng  
hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình  
phạt khác đối với những đối tượng có hành  
vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo,  
khắc phục hậu quả”17.  
phải bồi thường theo quy định của pháp  
luật (khoản 2).  
Theo quy định của Điều 92 Luật PCTN  
năm 2018, người có hành vi tham nhũng  
giữ bất kỳ chức vụ, vị trí công tác nào đều  
phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định  
của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi  
việc, chuyển công tác (khoản 1). Hình thức  
xử lý có thể là kỷ luật, xử phạt vi phạm hành  
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự  
tùy theo mức độ vi phạm (khoản 2). Tuy  
nhiên, người có hành vi tham nhũng đã chủ  
động khai báo trước khi bị phát giác, tích  
cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp  
phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản  
tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành  
vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình  
thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,  
miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình  
sự (khoản 4).  
Cũng liên quan đến vấn đề thu hồi tài  
sản tham nhũng, Điều 91 Luật PCTN năm  
2018 quy định, trên cơ sở điều ước quốc  
tế mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan  
có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với  
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài  
trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,  
tịch thu hoặc thu hồi tài sản tham nhũng  
và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, người  
quản lý hợp pháp. Luật cũng giao cho Viện  
Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung  
ương về hợp tác quốc tế thu hồi tài sản tham  
nhũng trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử  
2.2. Cơ sở pháp lý  
Điều 93 Luật PCTN năm 2018 nêu ra hai  
nguyên tắc: Tài sản tham nhũng phải được  
thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản  
lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của  
pháp luật (khoản 1) và Thiệt hại do hành vi  
tham nhũng gây ra phải được khắc phục;  
người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại  
15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-  
quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam.  
16 Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21/8/2006, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)  
dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-x/nghi-quyet-so-04-nqtw-ngay-  
2182006-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-ve-tang-cuong-su-lanh-dao-602.  
17 Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về  
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng  
ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/ket-luan-so-21-kltw-ngay-2552012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-  
hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-viec-tiep-tuc-thuc-hien-554.  
18  
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của  
nước ngoài về thu hồi tài sản tham nhũng và  
đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương  
trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham  
nhũng của Việt Nam; còn Thanh tra Chính  
phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan  
nhà nước khác có liên quan, trong phạm vi  
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách  
nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân  
tối cao trong hợp tác quốc tế về thu hồi tài  
sản tham nhũng.  
Bộ luật này quy định về quyền của chủ sở  
hữu đối với tài sản; xác định quyền của  
chủ sở hữu trong việc đòi lại các tài sản bị  
chiếm đoạt bất hợp pháp; đòi bồi thường  
thiệt hại về tài sản do hành vi xâm phạm  
gây ra; nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm  
hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không  
có căn cứ pháp luật. Như vậy, trong các  
trường hợp tài sản bị chiếm đoạt bất hợp  
pháp; bị thiệt hại do hành vi xâm phạm  
trái pháp luật gây ra (trong đó có hành  
vi tham nhũng); bị chiếm hữu, sử dụng,  
được lợi không có căn cứ pháp luật (trong  
đó có những tài sản có nguồn gốc từ tham  
nhũng), thì chủ sở hữu có quyền đề nghị  
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy  
định của BLDS để đòi lại các tài sản đó và  
đòi bồi thường thiệt hại về tài sản do hành  
vi xâm phạm gây ra.  
Bên cạnh Luật PCTN, vấn đề thu hồi tài  
sản tham nhũng còn được quy định trong  
một số văn bản pháp luật khác như:  
- Bộ luât Hình sự (BLHS) năm 2015  
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2017 quy định về thu hồi tài sản nói chung,  
thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng, được  
thể hiện trong các quy định về áp dụng hình  
phạt tiền, tịch thu tài sản và các biện pháp  
tư pháp đối với các tội phạm, trong đó có tội  
phạm tham nhũng.  
- Cũng như BLDS năm 2015, Bộ luật Tố  
tụng dân sự (TTDS) năm 2015 không bao  
hàm quy định riêng về thu hồi tài sản tham  
nhũng, mà quy định về trình tự, thủ tục,  
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan  
chức năng trong việc phát hiện, xử lý các tài  
sản trong các vụ án dân sự; các biện pháp  
khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự…  
Những quy định này có thể được áp dụng  
cho việc thu hồi tài sản (trong đó có tài sản  
tham nhũng) trong các vụ án dân sự.  
- Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm  
2015 không bao hàm quy định riêng về thu  
hồi tài sản tham nhũng. Việc thu hồi tài sản  
tham nhũng có thể được thực hiện như đối  
với các trường hợp thu hồi tài sản khác. Đối  
với bị can, bị cáo phạm các tội mà BLHS  
quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt  
tiền cũng như đối với người phải chịu trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định  
của pháp luật thì Bộ luật TTHS quy định  
cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng thực  
hiện việc kê biên tài sản. Đây là những biện  
pháp nhằm bảo đảm cho việc thi hành các  
quyết định của Tòa án về phạt tiền, tịch thu  
tài sản, buộc bồi thường thiệt hại trong các  
vụ án hình sự nói chung (trong đó có các vụ  
án tham nhũng) được thuận lợi.  
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã  
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2014 cũng không có quy định riêng cho  
việc thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,  
việc thu hồi tài sản tham nhũng trong thi  
hành án dân sự có thể được thực hiện như  
các trường hợp thi hành án thu hồi tiền, tài  
sản khác. Trong vấn đề này, Luật Thi hành  
án dân sự có các quy định liên quan đến  
việc thi hành bản án, quyết định của Tòa  
án về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài  
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,  
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết  
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015  
không bao hàm các quy định trực tiếp về  
thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên,  
Số 07(431) - T4/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 10520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 7 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_7_nam_2021.pdf