Vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện hợp đồng theo quy định của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và gợi mở hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam

VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN  
HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980  
VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ GỢI MỞ  
HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
NGUYỄN VƯƠNG THÙY DƯƠNG* - VŨ THỊ HOA**  
Bài viết phân tích vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện hợp đồng theo quy định của  
Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Dưới góc nhìn so sánh với pháp  
luật Việt Nam, bài viết đưa ra một số bất cập khi pháp luật Việt Nam chưa quy định thực sự rõ ràng  
về vấn đề này và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.  
Từ khóa: Hủy hợp đồng trước thời hạn, hủy hợp đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng.  
Ngày nhận bài: 30/3/2021; Biên tập xong: 05/4/2021; Duyệt đăng: 10/4/2021  
The article analyzes the issue of avoidance of contract prior to the performance date under  
the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Vienna, 1980  
- CISG). In comparison with Vietnamese law, some shortcomings in this issue and solutions to  
improve the law have been pointed out.  
Keywords: Avoidance of contract prior to the performance date, avoidance of contract, time  
of the performance of contract.  
rên thực tế, khi nhắc đến việc hủy hợp đồng nghĩa vụ sẽ không thể được thực hiện, hoặc có căn  
trước thời hạn, người ta thường sẽ nghĩ cứ để nghi ngờ rằng nghĩa vụ sẽ không thể được  
T
đến trường hợp bên hủy đã vi phạm điều  
thực hiện thì có thể áp dụng ngay các quyền hoặc  
kiện hủy hợp đồng. Điều đó có nghĩa việc tuyên một số quyền mà thông thường chỉ được dành  
bố hủy hợp đồng là không hợp lệ. Tuy nhiên, khi cho các trường hợp nghĩa vụ đã không được thực  
Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về Hợp hiện trên thực tế.  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước này  
cho phép một bên có quyền hủy hợp đồng ngay  
cả khi chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng với  
những điều kiện nhất định. Điều này đặt ra câu  
hỏi cho các nhà nghiên cứu pháp luật Việt Nam là:  
Liệu pháp luật có nên cho phép một bên có quyền  
hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện hợp đồng  
hay không?  
Theo khoản 1 Điều 72 CISG, các chủ thể có  
quyền hủy hợp đồng mà trong thực tế chưa xảy  
ra vi phạm nhưng phải trên cơ sở hiển nhiên rằng  
một bên sẽ gây ra một vi phạm cơ bản đến hợp  
đồng.1 Theo đó, quy định của CISG không đòi hỏi  
một sự chắc chắn tuyệt đối là một hành vi vi phạm  
sẽ xảy ra2. Lúc này, bên hủy hợp đồng phải chứng  
minh được căn cứ “hiển nhiên, rõ ràng” rằng bên  
1. Hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện  
hợp đồng theo CISG 1980  
Hủy hợp đồng là quyền của bên bị vi phạm  
thực hiện khi bên kia gây ra vi phạm cơ bản hoặc  
vi phạm điều kiện hủy do các bên đã thỏa thuận  
* Thạc sĩ,Giảng viên khoa Pháp luật quốc tế, Trường  
Đại học Kiểm sát Hà Nội  
**Cử nhân Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
1ꢀ Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), “Anticipatory  
khi đến hạn thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, CISG Breach under the United Nations Convention on Contracts  
cho phép bên bị vi phạm có quyền hủy hợp đồng  
trước khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Điều  
này có nghĩa là CISG cho phép một bên hủy hợp  
đồng ngay cả khi bên kia chưa gây ra vi phạm hợp  
đồng.  
for the International Sale of Goods”, Nordic Journal  
of Commercial Law, No. 2. Nguồn truy cập: hꢁp://  
trích dẫn ngày 29/1/2019  
2ꢀ Eiselen (2004), “Remarks on the Manner in which  
the UNIDROIT Principles of International Commercial  
Contracts May be Used to Interpret or SupplementArticles  
71 and 72 of the CISG”. Nguồn truy cập: hꢁps://www.  
cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/koch1.html, trích dẫn  
Trước hết, có thể hiểu vi phạm hợp đồng khi  
chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ hay vi phạm  
hợp đồng trước thời hạn là: Trước khi đến thời  
hạn thực hiện nghĩa vụ được các bên thoả thuận  
trong hợp đồng, nếu bên có quyền biết được rằng ngày 29/1/2019  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 137  
VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN...  
kia sẽ gây ra một vi phạm cơ bản hợp đồng. Tuy cũng là một dấu hiệu cho thấy nghĩa vụ không thể  
nhiên, căn cứ “hiển nhiên, rõ ràng” không được thực hiện. Ví dụ, người bán không thuê con tàu  
CISG quy định cụ thể. Theo quan điểm của nhóm đã được quy định để chuyên chở hàng hóa khiến  
tác giả, căn cứ được xác định có thể dựa trên các người mua nghi ngờ về khả năng giao hàng đúng  
cơ sở như sau:  
hạn hay việc hàng hóa sẽ được đảm bảo.  
Thứ nhất, khi một bên tuyên bố rõ ràng rằng  
Như vậy, một bên có quyền tuyên bố hủy bỏ  
họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình.3 Tuyên hợp đồng mặc dù chưa đến hạn thực hiện hợp  
bố của một bên cho thấy ý chí của họ đối với việc đồng nếu có căn cứ “hiển nhiên, rõ ràng” rằng  
thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng rằng họ không một bên sẽ gây ra một vi phạm cơ bản hợp đồng  
mà vi phạm đó không thể khắc phục kịp thời. Bên  
cạnh đó, việc cho phép hủy hợp đồng trước thời  
hạn cũng là một điều kiện thuận lợi để khắc phục  
kịp thời nguy cơ gây ra một thiệt hại lớn hơn cho  
các bên trên thực tế. Đồng thời, bên bị vi phạm có  
điều kiện để xác lập một hợp đồng mới mà bên  
đối tác có thiện chí hơn, đảm bảo lợi ích hơn.  
2. Hủy hợp đồng trước hạn theo pháp luật  
Việt Nam  
Theo CISG, bên bị vi phạm có quyền hủy hợp  
đồng ngay cả khi chưa đến thời hạn thực hiện hợp  
đồng. Câu hỏi đặt ra là: Liệu pháp luật Việt Nam  
có cho phép các bên hủy hợp đồng trước hạn?  
Xét thấy, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 đã  
có quy định bổ sung so với BLDS năm 2005 về hủy  
bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện tại  
Điều 425, tuy nhiên, Điều luật này không nói rõ  
thời điểm hủy là khi nào. Theo PGS.TS. Vũ Thị  
Hồng Vân: “Việc bổ sung căn cứ hủy hợp đồng theo  
Điều 425 là thuyết phục và lưu ý rằng quy định này  
mở rộng để cho phép hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn”.5  
Cùng quan điểm đó, theo PGS.TS. Đỗ Văn Đại:  
“Việc có thêm quy định này là thuyết phục để cho phép  
hủy bỏ hợp đồng và lưu ý rằng quy định này đủ rộng  
để cho phép hủy bỏ hợp đồng trước hạn.”6 Từ những  
quan điểm trên, nhóm tác giả cũng cho rằng Điều  
425 BLDS năm 2015 có thể hiểu như vậy. Tuy  
nhiên, Điều 425 được áp dụng khi một bên “không  
thể thực hiện nghĩa vụ” đang hướng tới một sự vi  
phạm mà bên có nghĩa vụ đã cố gắng thực hiện  
hợp đồng nhưng vẫn không thể thực hiện. Mặt  
khác, Điều 72 CISG đề cập đến sự vi phạm có thể  
xuất phát từ ý chí chủ quan của bên kia khi họ  
không thiện chí thực hiện hợp đồng (khi họ tuyên  
bố rõ ràng hoặc được xác định là không thực hiện  
hợp đồng).  
thực hiện hợp đồng nữa. Khi đó, bên có ý định  
tuyên bố hủy hợp đồng không cần gửi thông báo  
cho bên kia để xác định việc nghi ngờ của mình  
mà được đưa ra tuyên bố hủy hợp đồng ngay.  
Thứ hai, khi một bên không có khả năng thực  
hiện nghĩa vụ. Khả năng đó được xem xét qua các  
trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, trường hợp người  
bán không thể giao hàng phù hợp đúng thời hạn  
thông qua việc người bán giao hàng mẫu không  
đáp ứng được yêu cầu của người mua, dẫn đến  
việc người bán sẽ giao hàng chậm đối với hàng  
hóa theo mùa vụ hoặc trường hợp trong dây  
chuyền sản xuất hàng hóa của người bán xảy ra  
những thiếu sót, hỏng hóc khiến họ không thể  
cung cấp được đầy đủ hoặc đảm bảo có thể sửa  
chữa chúng để giao hàng đúng thời hạn. Trường  
hợp khác, khi người bán bán lại các máy móc  
được dùng để sản xuất hàng hóa hoặc người bán  
bán lại cho bên thứ ba hàng hóa mà họ đã ký hợp  
đồng để cung cấp cho người mua. Bên cạnh đó,  
việc người mua không đảm bảo được khả năng  
thanh toán cũng cho thấy khả năng không thực  
hiện được nghĩa vụ của người mua. Chẳng hạn,  
việc người mua không thể thanh toán cho hợp  
đồng đầu tiên là một dấu hiệu rõ ràng để nhận  
thấy hợp đồng thứ hai nếu tiếp tục được thực  
hiện cũng sẽ xảy ra việc vi phạm nghĩa vụ thanh  
toán. Khi đó, người bán có thể tuyên bố hủy bỏ  
hợp đồng cho hợp đồng thứ hai, mặc dù trên thực  
tế hợp đồng thứ hai chưa đến hạn thực hiện hợp  
đồng4. Hay trong trường hợp người mua không  
chứng minh được khả năng thanh toán tín dụng  
chứng từ (Letter of Credit - L/C) đúng thời hạn  
hoặc khi người mua bắt đầu các thủ tục phá sản.  
Ngoài ra, khi gặp vấn đề trong khâu chuyên chở  
3ꢀ Martin Karollus (1995), “Judicial Interpretation  
and Application of the CISG in Germany 1988-1994,  
Cornell Review of the Convention on Contracts for the  
International Sale of Goods”. Nguồn truy cập. hꢁp://  
trích dẫn ngày 29/1/2019  
Bên cạnh đó, Luật thương mại năm 2005 cho  
phép hủy bỏ hợp đồng đối với các lần giao hàng  
trong tương lai (chưa đến thời hạn giao hàng) liệu  
có phải là một trường hợp hủy hợp đồng trước  
hạn tương tự như Điều 72 CISG? Xét về thời điểm  
4ꢀ Nhóm CISGVN (2016), “101 câu hỏi đáp về 5ꢀ Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2017), Giáo trình Luật  
Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa Dân sự 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 266-267.  
quốc tế (CISG)”, tr.165. Nguồn truy cập: hꢁp:// 6ꢀ PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những  
viac_101cauhoidapCISG_2016_15-12-2016-1046pdf. điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, Nxb Hồng Đức – Hội  
pdf, ngày trích dẫn 12/11/2018  
luật gia Việt Nam, tr. 382.  
138 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN VƯƠNG THÙY DƯƠNG - VŨ THỊ HOA  
hủy hợp đồng, cả hai trường hợp đều hủy trước Mặt khác, việc này sẽ có lợi về kinh tế. Ngược lại,  
thời gian phải thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, về việc không cho phép hủy hay chấm dứt hợp đồng  
trong trường hợp có căn cứ chắn chắn rằng sẽ xảy  
ra hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp  
đồng vô hình chung một cách gián tiếp đã ngăn  
cản người bị vi phạm áp dụng một trong các biện  
pháp hợp lý để ngăn chặn tổn thất. Trong khi đó,  
Điều 305 Luật thương mại năm 2005 có quy định  
nghĩa vụ hạn chế tổn thất, cụ thể: “Bên yêu cầu bồi  
thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lí để  
hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp  
đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây  
ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng  
các biện pháp đó thì, bên vi phạm hợp đồng có quyền  
yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức  
tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”. Trong trường  
hợp một bên đã biết chắc chắn rằng bên kia không  
thể thực hiện hợp đồng khi đến thời hạn, nếu  
pháp luật cho phép họ được hủy hợp đồng và  
ký kết hợp đồng với một đối tác khác là một biện  
pháp hiệu quả để họ ngăn chặn thiệt hại cho chính  
mình cũng như giảm mức bồi thường thiệt hại cho  
bên kia. Nếu là người mua, họ sẽ nhanh chóng tìm  
được người bán mới để có số lượng hàng cần mua  
đáp ứng cho nhu cầu của mình. Nếu là người bán  
thì họ cũng sẽ tìm được người mua khác để bán  
hàng, tránh tình trạng tồn kho và tiếp tục sản xuất.  
Thiết nghĩ, đó cũng là một biện pháp hợp lý và  
hiệu quả mà bên bị vi phạm có thể lựa chọn nhằm  
hạn chế tổn thất như quy định của pháp luật khi  
mà biết chắc rằng bên kia không thể thực hiện hợp  
đồng đã ký kết với mình khi đến thời hạn thực  
hiện. Quy định hủy hợp đồng trước hạn sẽ hợp  
lý và công bằng hơn đối với bên bị vi phạm, đồng  
thời cũng bảo vệ tốt hơn lợi ích của họ. Bên cạnh  
đó, những vướng mắc trên có thể được khắc phục  
bởi việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp  
luật trên cơ sở học hỏi của CISG và có những quy  
định bắt buộc về thủ tục trước khi hủy hợp đồng  
trong trường hợp này.  
bản chất, hủy bỏ hợp đồng đối với các lần giao  
hàng trong tương lai chỉ được áp dụng đối với  
giao hàng từng phần, tức là các bên đã thực hiện  
một phần hợp đồng. Bên cạnh đó, điều kiện tiên  
quyết để áp dụng quyền hủy trong trường hợp  
này là buộc phải xảy ra vi phạm cơ bản trên thực  
tế đối với các đợt giao hàng trước. Trong khi đó,  
hủy hợp đồng trước hạn theo quy định của CISG  
thì hợp đồng chưa đến ngày phải thực hiện. Trong  
đó, một bên chỉ cần thấy hiển nhiên sẽ gây ra một  
vi phạm cơ bản đến hợp đồng, mặc dù bên kia  
chưa có bất kỳ vi phạm nào xảy ra trên thực tế mà  
chỉ đang là một khả năng xảy ra trong tương lai.  
Lý giải vấn đề Luật thương mại năm 2005  
chưa quy định cụ thể hủy hợp đồng trước hạn  
giống Điều 72 CISG, trước hết, cần xem xét quy  
định pháp luật về điều kiện hủy hợp đồng là vi  
phạm đã xảy ra trên thực tế. Thời điểm xác định  
vi phạm kể từ sau khi hết thời hạn thực hiện  
hợp đồng thì hành vi không thực hiện, thực hiện  
không đúng, không đầy đủ của một bên mới được  
coi là vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, đánh giá vi  
phạm cơ bản phải xét đến mục đích của việc giao  
kết hợp đồng. Mục đích giao kết hợp đồng chỉ  
được xác định có đạt được hay không sau khi hết  
thời hạn thực hiện hợp đồng. Do vậy, trước khi  
đến hạn thực hiện hợp đồng thì các bên không có  
căn cứ để hủy hợp đồng. Theo đó, việc quy định  
hủy hợp đồng trước hạn, theo nhóm tác giả trên  
trên thực tế vẫn còn vướng phải một số lo ngại  
như sau:  
Thứ nhất, việc hủy hợp đồng trước hạn đi  
ngược lại với thỏa thuận ban đầu của các bên. Khi  
xác lập hợp đồng, các bên đã ấn định cụ thể về  
thời hạn thực hiện hợp đồng. Vì vậy, trước thời  
hạn đó, bên kia không được hủy hợp đồng. Thậm  
chí, hủy hợp đồng trước khi đến hạn thực hiện  
hợp đồng bị coi là vi phạm hợp đồng.  
Thứ hai, quy định hủy hợp đồng trước hạn  
không thống nhất với quy định về điều kiện hủy  
hợp đồng khi luật xác định phải có vi phạm xảy ra  
trên thực tế.  
Thứ ba, vấn đề lạm dụng quyền hủy trước hạn  
để thay thế bằng một giao dịch được lợi hơn bởi  
căn cứ áp dụng hủy trước hạn chỉ là khả năng xảy  
ra vi phạm và không có một tiêu chí cụ thể để xác  
định căn cứ “hiển nhiên, rõ ràng” của khả năng  
đó. Vì vậy, điều này khi triển khai trên thực tế có  
thể vấp phải sự đánh giá chủ quan, ảnh hưởng  
đến quyền lợi của bên bị hủy hợp đồng.  
3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề  
hủy hợp đồng trước hạn  
Mặc dù Điều 425 BLDS năm 2015 đã cho phép  
một bên có quyền hủy hợp đồng trước hạn trong  
trường hợp bên kia không thể thực hiện một phần  
hay toàn bộ nghĩa vụ của mình, nhưng thực tế vẫn  
đặt ra câu hỏi khi một bên có thể thực hiện nghĩa  
vụ nhưng không thực hiện thì bên kia có được  
hủy hợp đồng trước hạn hay không? Câu hỏi đó  
đã cho thấy Điều 425 về bản chất có sự khác biệt  
với CISG và sự khác biệt đó đã không cho phép  
một bên được hủy hợp đồng khi thấy rõ ràng bên  
kia sẽ gây ra vi phạm cơ bản hợp đồng.  
Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng, pháp luật  
Việt Nam vẫn nên cho phép hủy hợp đồng trước  
hạn bởi thực tế cho thấy sẽ là bất hợp lý nếu không  
Theo đó, sẽ là bất hợp lý nếu không cho phép  
một bên huỷ bỏ hợp đồng trong khi biết chắc bên  
kia sẽ không thực hiện được hợp đồng. Trong  
cho phép một bên huỷ bỏ hợp đồng trong khi biết trường hợp đó, nếu pháp luật cho phép họ được  
chắc bên kia sẽ không thực hiện được hợp đồng. hủy hợp đồng và ký kết hợp đồng với một đối tác  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 139  
VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN...  
khác là một biện pháp hiệu quả để họ ngăn chặn dựng pháp luật Việt Nam, quy định này cần có  
thiệt hại cho chính mình cũng như giảm mức bồi  
thường thiệt hại cho bên kia.  
một số điều chỉnh như sau:  
Thứ nhất, CISG quy định chỉ trong trường hợp  
có đủ thời giờ thì việc gửi thông báo là bắt buộc.  
Tuy nhiên, việc gửi thông báo cần bắt buộc trong  
mọi trường hợp bởi đây là quy định mới đối với  
pháp luật Việt Nam. Vì vậy, để tránh lạm dụng  
quyền hủy trước hạn thì bên muốn hủy cần phải  
đưa ra lý do hủy và bên bị hủy cần phải biết lý do  
hủy hợp đồng để đưa ra lời đáp trả hợp lý. Bên  
cạnh đó, việc gửi một thông báo đối với đối tác  
trong cùng lãnh thổ Việt Nam không khó khăn  
như đối với các đối tác nước ngoài. Do đó, pháp  
luật Việt Nam nên quy định việc thông báo trong  
trường hợp này là bắt buộc.  
Thứ hai, CISG không quy định hậu quả khi  
bên kia không trả lời. Nhóm tác giả cho rằng việc  
không trả lời một mặt cho thấy bên kia không có  
thiện chí trong thực hiện hợp đồng, mặt khác càng  
khẳng định việc nghi ngờ của bên muốn hủy hợp  
đồng là có cơ sở rõ ràng. Vì vậy, trong trường hợp  
này, bên muốn hủy hợp đồng có quyền tuyên bố  
hủy hợp đồng mà không cần phải chờ đợi bên kia  
trả lời.  
Thứ ba, việc xác định thời gian hợp lý sẽ tùy  
thuộc vào từng trường hợp cụ thể, trong đó cần  
cân nhắc đến bản chất hàng hóa, thời gian còn  
lại để thực hiện hợp đồng, yếu tố thị trường,…  
Bên cạnh đó, khoảng thời gian nên quy định theo  
hướng tùy nghi để các bên chủ động thỏa thuận  
một khoảng thời gian mà các bên có thể thống nhất  
và phù hợp với điều kiện thực hiện hợp đồng.  
Với những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về  
vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện  
hợp đồng, hy vọng pháp luật Việt Nam có sự hài  
hòa giữa pháp luật trong nước và quốc tế. Một  
mặt, tạo điều kiện cho thương nhân Việt Nam tiếp  
cận gần hơn với pháp luật thương mại quốc tế,  
mặt khác, giúp bảo vệ tối ưu quyền lợi của thương  
nhân khi tham gia giao dịch thương mại. Bên cạnh  
đó, các thương nhân cũng cần chủ động hơn trong  
việc tìm hiểu pháp luật và soạn thảo hợp đồng,  
đặc biệt quan tâm đến vấn đề hủy hợp đồng nói  
Trên cơ sở phân tích Điều 72 CISG, nhóm  
tác giả cho rằng pháp luật Việt Nam có thể quy  
định hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn thực hiện  
hợp đồng cụ thể như sau: “Trước khi đến thời hạn  
thực hiện nghĩa vụ được các bên thoả thuận trong hợp  
đồng, nếu bên có quyền thấy hiển nhiên rằng nghĩa vụ  
sẽ không thể được thực hiện, hoặc có căn cứ rõ ràng để  
cho rằng bên kia sẽ gây ra một vi phạm cơ bản đến hợp  
đồng thì có quyền hủy bỏ hợp đồng.”  
Tuy nhiên, cần chú ý khi áp dụng quy định  
này vào Việt Nam bởi bên có quyền hủy bỏ sẽ lạm  
dụng quyền này để gây thiệt hại cho bên kia. Để  
hạn chế vấn đề này, TS. Dương Anh Sơn cho rằng:  
“Pháp luật cần có những quy định rõ ràng rằng, vi  
phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa  
vụ không phải là căn cứ cho phép bên có quyền áp  
dụng chế tài hủy ngay hợp đồng và yêu cầu bồi thường  
thiệt hại, nó chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa là điều  
kiện đủ để cho phép bên có quyền thực hiện quyền nói  
trên.”7 Theo đó, bên có quyền chỉ có thể hủy hợp  
đồng khi có đủ các yếu tố sau: Một là, căn cứ “hiển  
nhiên, rõ ràng” của vi phạm cơ bản phải có cơ sở  
xác định xác đáng. Hai là, cần phải thông báo cho  
bên kia biết được lý do hủy hợp đồng của mình.  
Trong trường hợp bên được thông báo đưa ra cam  
kết thực hiện nghĩa vụ khi đến thời hạn thực hiện  
thì bên có quyền không thể hủy hợp đồng. Trong  
trường hợp này, nếu nghĩa vụ không được thực  
hiện thì bên vi phạm không được viện dẫn đến  
nghĩa vụ hạn chế tổn thất8.  
Quan điểm của TS. Dương Anh Sơn là rất hợp  
lý và cần thiết cho việc xây dựng quy định hủy  
hợp đồng trước hạn. Nhóm tác giả cũng nhận  
thấy cần phải có một quy định cụ thể về việc phải  
thông báo cho bên kia biết được lý do hủy hợp  
đồng trước hạn như sau: “Bên nào có ý định tuyên  
bố hủy hợp đồng trước hạn thì phải gửi một thông báo  
cho bên kia biết lý do hủy hợp đồng, bên kia phải trả lời  
những thắc mắc và đưa ra những đảm bảo đầy đủ rằng  
họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu trong thời hạn  
hợp lý mà bên kia không trả lời hoặc trả lời rằng họ sẽ  
không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên gửi thông  
báo có quyền hủy hợp đồng.”  
Quy định trên được nhóm tác giả xây dựng  
dựa trên Điều 72 CISG nhưng khi vận dụng xây chung và hủy đồng trước thời hạn thực hiện hợp  
đồng nói riêng. Theo đó, các bên tham gia hợp  
7ꢀ Dương Anh Sơn (2006), “Cơ sở lý luận và thực tiễn  
đồng cần chủ động trong việc thỏa thuận về điều  
của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp  
đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ”, Tạp chí  
Nhà nước và pháp luật số 4.  
kiện hủy hợp đồng trước hạn cũng như thời gian  
hợp lý gửi thông báo trên cơ sở bản chất hàng hóa,  
thời gian còn lại để thực hiện hợp đồng và các yếu  
tố khác của thị trường. Điều đó sẽ tạo thuận lợi  
cho việc bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết  
8ꢀ Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013),  
Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức, Tp Hồ Chí Minh, tr.55. tranh chấp hủy hợp đồng./.  
140 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 4 trang Thùy Anh 11920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện hợp đồng theo quy định của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và gợi mở hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_huy_hop_dong_truoc_thoi_han_thuc_hien_hop_dong_theo_q.pdf