Thương mại và chuỗi cung ứng những vấn đề đặt ra và các giải pháp để phát triển

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
THƯƠNG MẠI VÀ CHUỖI CUNG ỨNG  
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN  
TRADE AND SUPPLY CHAIN  
THE ISSUING PROBLEMS AND SOLUTIONS FOR DEVELOPMENT  
NCS. Thái Doãn Hồng1  
Tóm tắt – Bước vào giai đoạn đổi mới, hội nhập và phát triển, thương mại  
đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế của các địa  
phương. Việc phát triển thương mại không chỉ để phục vụ đời sống của người dân  
địa phương được tốt hơn, người tiêu dùng được tiếp cận với các sản phẩm đạt  
chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng mà nó còn thúc đẩy giao thương hàng hóa giữa  
các địa phương; cùng phối hợp xây dựng các chuỗi cung ứng các sản phẩm,  
ngành hàng một cách hiệu quả trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, đặc trưng vùng  
miền của các địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và tiến đến  
xuất khẩu.  
Từ khóa: chuỗi cung ứng, phát triển thương mại, thương mại điện tử.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử, đang bùng nổ và sẽ là xu hướng  
phát triển tất yếu trong tương lai. Tuy nhiên, thương mại bằng hình thức nào cũng  
phải đảm bảo yếu tố của hoạt động mua – bán, nguyên tắc giao dịch và thông  
thương. Việc phát triển thương mại trong bối cảnh hiện nay – hội nhập kinh tế  
quốc tế sâu rộng đã mở ra những cơ hội và cả những thách thức cho các địa  
phương. Làm thế nào để tận dụng được tối đa các cơ hội và hạn chế các thách  
thức; đặc biệt là tập trung phát triển thương mại, thương mại điện tử và chuỗi  
cung ứng trong bối cảnh thế giới đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-  
19 cũng là một trong những vấn đề đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo của các cơ quan  
quản lí nhà nước.  
2. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG  
BỐI CẢNH HIỆN NAY  
1 Công ty TNHH MTV Du lịch Thanh Thanh; Email: hongdulichvn@gmail.com  
236  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
2.1. Những vấn đề cơ bản về thương mại và chuỗi cung ứng  
- Thương mại: Thương mại được hiểu chung là khâu nối liền giữa sản xuất  
với tiêu dùng thông qua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và  
người mua. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa,  
dịch vụ cho người mua. Đổi lại, người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị  
tương đương nào đó.  
Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, ‘thương mại là hoạt động  
nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,  
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác’ [1]; theo  
thông lệ quốc tế, dựa vào đặc tính hữu hình hay vô hình của sản phẩm giao dịch,  
thương mại được chia thành: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.  
- Chuỗi cung ứng: Được hiểu là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ  
nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng  
cuối cùng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các  
phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua  
khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người  
tiêu dùng.  
Chuỗi cung ứng tối ưu là chuỗi cung ứng vận hành nhịp nhàng, có khả năng  
đáp ứng nhu cầu khách hàng ở mức cao nhất với chi phí vận hành thấp nhất. Đồng  
thời, nó phải có hệ thống thông tin được tổ chức khoa học và cập nhật thường  
xuyên nhằm giúp các bộ phận phối hợp ăn ý với nhau, phản ứng nhanh nhạy với  
những biến động thường xuyên và liên tục của môi trường kinh doanh.  
2.2. Thương mại và chuỗi cung ứng trong bối cảnh hiện nay  
Kinh tế thế giới bảy tháng năm 2020 tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng của  
dịch Covid-19 và cạnh tranh giữa các nước lớn. Nguy cơ suy thoái sâu tại các nền  
kinh tế lớn (Mĩ, Nhật Bản…) ngày càng rõ nét. Với thực trạng kinh tế thế giới và diễn  
biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay, phần lớn các chuyên gia và tổ chức  
quốc tế cảnh báo, suy thoái kinh tế toàn cầu có nguy cơ xảy ra trong khoảng 12 tháng  
tới và ở cấp độ nguy hiểm hơn so với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Hoạt  
động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất kinh doanh (cả phía cung và cầu) bị đình  
trệ do tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-19, nguy cơ bùng phát làn sóng Covid-19  
trở lại khi các nước khôi phục hoạt động kinh tế – xã hội.  
Về thương mại, Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO (tháng 6/2020) dự báo  
thương mại toàn cầu năm 2020 sẽ giảm khoảng 13% đến 32% so với năm 2019 (tùy  
diễn biến dịch bệnh); trong khi Ngân hàng Thế giới – WB và Quỹ Tiền tệ Thế giới –  
IMF (tháng 6/2020) dự báo mức giảm từ 11,9% đến 13,4% trong năm 2020 [2].Riêng  
đối với Việt Nam, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu làm chuỗi cung  
ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn và thị trường tiêu thụ trong nước bị thu hẹp  
237  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
đáng kể. Đồng thời, dịch bùng phát trở lại ở một số địa phương trên cả nước từ cuối  
tháng 7/2020 đã ảnh hưởng đến sự phục hồi của sản xuất công nghiệp. Mặc dù Chính  
phủ, Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo thực hiện các biện pháp giãn cách xã  
hội hợp lí tại một số địa bàn, khu vực có ổ dịch hoặc có khả năng lây nhiễm cao trong  
khi vẫn duy trì hoạt động kinh tế ở các địa phương khác, không áp dụng giãn cách xã  
hội trên quy mô lớn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng các doanh  
nghiệp sản xuất vẫn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn là khó khăn do thị trường  
tiêu thụ giảm.  
3. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ CHUỖI CUNG ỨNG TỪ THỰC  
TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước, đóng góp 23%  
tổng sản phẩm nội địa (GDP) cả nước, 27% ngân sách quốc gia, thu nhập bình  
quân đầu người cao gấp 2,4 lần trung bình cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng  
là trung tâm dịch vụ lớn nhất, chiếm tỉ trọng 33% dịch vụ của cả nước, là trung  
tâm trung chuyên, phân phối hàng hóa của các tỉnh thành [3]. Thành phố Hồ Chí  
Minh có nhiều lợi thế trong việc xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng các mặt  
hàng thực phẩm chế biến. Qua thực tế triển khai, việc phát triển chuỗi cung ứng  
đã đạt được nhiều kết quả thiết thực trên nhiều lĩnh vực. Cụ thể, từ năm 2016,  
Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Theo  
đó, Thành phố Hồ Chí Minh tập trung đẩy mạnh các hình thức quản lí sản xuất,  
tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi, có truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lí để đảm bảo vệ  
sinh an toàn thực phẩm. Thông qua việc xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn,  
Thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập hệ thống quản lí giám sát sản phẩm xuyên  
suốt từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng. Từ khi bắt đầu xây dựng các chuỗi  
thực phẩm an toàn đến nay, có 230 trang trại, cơ sở sản xuất, sơ chế, kinh doanh  
vào chuỗi thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình  
Phước, Tiền Giang, Long An, Lâm Đồng, Hậu Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp,  
Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bình Thuận với tổng lượng thực phẩm các loại như rau củ  
quả, thủy sản, thịt, trứng gia cầm, trà.  
Để đẩy mạnh công tác quản lí, đối với các đơn vị tham gia vào chuỗi thực  
phẩm an toàn, Thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức thường xuyên việc tập huấn,  
thanh, kiểm tra, đảm bảo các trang trại luôn tuân thủ các quy định về việc đảm  
bảo an toàn thực phẩm. Đồng thời, phối hợp với các tỉnh, thành phố hỗ trợ đưa  
các sản phẩm này về Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ, đảm bảo đầu ra cho thực  
phẩm. Với việc từng bước mở rộng phát triển, gia tăng chủng loại của các chuỗi  
thực phẩm an toàn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, Thành phố Hồ Chí Minh  
sẽ tiếp tục tạo nên mạng lưới chuỗi thực phẩm an toàn rộng khắp cả nước, đảm  
bảo thực phẩm đưa về Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ luôn được giám sát một  
cách chặt chẽ.  
238  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Tuy nhiên, việc phát triển chuỗi cung ứng này cũng còn một số hạn chế. Đó  
là việc kết nối đồng bộ và xây dựng chuỗi cung ứng khép kín về thực phẩm vẫn  
chưa được các địa phương thực hiện có hiệu quả. Thực tế cho thấy, hiện nay, sự  
liên kết trong cung ứng thực phẩm giữa các địa phương đối với Thành phố Hồ Chí  
Minh vẫn còn rời rạc, chưa hiệu quả. Các chuỗi kết nối không có cơ chế pháp lí cụ  
thể, thậm chí yếu tố “địa lí hành chính” vẫn là rào cản lớn. Bên cạnh đó, mặc dù  
có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng,  
nhu cầu về thực phẩm an toàn của hàng triệu người dân thành phố vẫn chưa được  
các địa phương trong vùng đáp ứng. Từ đây đặt vấn đề về tính liên kết vùng trong  
việc xây dựng, phát triển các chuỗi cung ứng, các mô hình liên kết sản xuất, tiêu  
thụ hàng hóa bảo đảm an toàn thực phẩm giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các  
tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là hết sức cần thiết.  
Ngoài việc triển khai chuỗi cung ứng về thực phẩm an toàn, Thành phố Hồ  
Chí Minh còn tổ chức các chương trình kết nối cung cầu hàng hóa với các tỉnh,  
thành phố nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, phát triển  
thị trường tiêu thụ góp phần nâng cao hiệu quả mở rộng mạng lưới phân phối gắn  
với thu mua, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động cũng  
như thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường ngay tại các địa phương; qua đó, góp  
phần hình thành các chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu thụ, nhiều sản phẩm đặc  
sản của các tỉnh, các vùng miền đã được đưa vào các trung tâm thương mại, siêu  
thị, chợ đầu mối, chợ truyền thống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Các tỉnh,  
thành và nhiều doanh nghiệp không ngừng tăng sản lượng cung ứng và trở thành  
nhà cung cấp chiến lược, thực hiện nhãn hàng riêng cho nhiều hệ thống phân phối  
Thành phố Hồ Chí Minh như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Agifish  
(tỉnh An Giang), Công ty Cổ phần thực phẩm Bích Chi (tỉnh Đồng Tháp), bánh  
Pía Tân Huê Viên (tỉnh Sóc Trăng), kẹo dừa của Công ty TNHH Đông Á (tỉnh  
Bến Tre), Hợp tác xã rau Anh Đào (tỉnh Lâm Đồng). Tuy nhiên, việc hình thành  
chuỗi liên kết sản xuất – phân phối đến nay vẫn còn khó khăn thách thức khi  
nhiều sản phẩm có thế mạnh và tiềm năng của các địa phương do doanh nghiệp  
vừa và nhỏ, hộ gia đình sản xuất thủ công chưa đảm bảo tiêu chí, quy chuẩn mẫu  
mã, bao bì sản phẩm và chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm để đáp ứng đủ  
yêu cầu, điều kiện để tham gia cung ứng vào hệ thống phân phối hiện đại; đồng  
thời, các đơn vị sản xuất này cũng chưa có điều kiện tiếp cận được quy trình, quy  
chuẩn, tiêu chuẩn tiếp nhận hàng hóa tại các hệ thống phân phối trên địa bàn  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Bên cạnh đó, một yếu tố cũng góp phần không nhỏ đối với việc nâng cao  
hiệu quả của chuỗi cung ứng là vấn đề về logistics. Đây là một phần của chuỗi  
cung ứng và đảm bảo cho hàng hóa được chuyển giao từ bên sản xuất đến người  
tiêu dùng cuối cùng. Hoạt động logistics tạo ra một mạng lưới dịch vụ hỗ trợ cho  
việc lưu chuyển hàng hóa trong phạm vi nội địa và ngoài biên giới các quốc gia và  
239  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
vùng lãnh thổ. Ngành dịch vụ vận tải kho bãi cũng là một trong chín ngành dịch  
vụ trọng yếu đóng góp cho GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng giá trị  
thực hiện năm 2019 là 134.762 tỉ đồng (chiếm 10% GRDP Thành phố) [4]. Với  
vai trò quan trọng này, làm sao để phát huy hiệu quả của logistics, không để yếu  
tố “địa lí hành chính” là rào cản. Điều này đã đặt ra vấn đề không chỉ cho Thành  
phố Hồ Chí Minh mà còn cho các địa phương khác để phát triển hiệu quả các  
chuỗi cung ứng. Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng các trung tâm logistics để  
đáp ứng yêu cầu trung chuyển, lưu trữ, cung cấp hàng hóa cho các chuỗi phân  
phối trong nội thành (siêu thị, cửa hàng bán lꢀ...) và trung chuyển, phân phối hàng  
hóa giữa Thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh, thành, hàng hóa xuất nhập khẩu  
thông qua cửa ngꢁ thành phố. Hiện nay, các trung tâm phân phối lớn trên địa bàn  
thành phố đã được đầu tư từ lâu, phân tán, xuống cấp về cơ sở hạ tầng và trang  
thiết bị. Do đó, việc tối ưu về hiệu quả vận hành chưa đạt như mong muốn. Trong  
khi đó, nhiều đơn vị phân phối lớn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm quỹ đất tại  
Thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng và vận hành hiệu quả trung tâm phân phối  
mới, hiện đại. Bên cạnh đó, cung – cầu hàng hóa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí  
Minh, tuy được bảo đảm, nhưng còn thiếu bền vững do thiếu liên kết giữa các bên  
trong chuỗi cung ứng (từ nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà vận chuyển đến người  
tiêu dùng), đặc biệt là hàng nông sản. Do quan hệ giữa sản xuất với cung – cầu  
trong nông sản thiếu sự gắn kết theo chuỗi giá trị nên nó làm gia tăng các khâu  
trung gian, khiến giá sản phẩm lên cao. Việc truy xuất nguồn gốc hàng hóa bước  
đầu được triển khai và mới chỉ đạt được một số kết quả nhất định.  
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam là một trong những thị trường hàng đầu  
được các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia khác quan tâm, đầu  
tư. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những điểm lựa chọn đầu tiên.  
Lĩnh vực bán buôn và bán lꢀ hiện chiếm tỉ lệ bình quân 24% giá trị tăng thêm của  
khu vực thương mại – dịch vụ và đóng góp khoảng 16% quy mô GRDP Thành  
phố Hồ Chí Minh [5]. Do đó, tuy dịch bệnh Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát tại  
nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới nhưng đây vẫn là lĩnh vực đứng đầu về  
thu hút dự án đầu tư có vốn nước ngoài (về cả tổng vốn đầu tư và số dự án đăng kí  
cấp phép mới). Thành phố cần chú trọng ưu tiên thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa  
đầu tư; từng bước hình thành được hệ thống các doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ  
mạnh, tham gia cung ứng sản phẩm; thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua  
hợp tác sản xuất giữa các công ti FDI với doanh nghiệp nhỏ và vừa để nhanh  
chóng làm chủ công nghệ; phát triển được đội ngũ nhân lực quản lí, kĩ thuật, đáp  
ứng nhu cầu phát triển thương mại của Thành phố Hồ Chí Minh.  
Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng phát triển thương mại và chuỗi cung ứng,  
Thành phố Hồ Chí Minh cần quan tâm giải quyết các vấn đề sau:  
240  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
(1) Vấn đề liên kết vùng  
Để hình thành một chuỗi cung ứng hiệu quả từ sản xuất đến phân phối, tiêu  
thụ không chỉ tại thị trường trong nước mà còn hướng đến xuất khẩu thì cần đặc  
biệt quan tâm đến vấn đề liên kết vùng. Là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm  
phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cần phải tăng cường liên kết với các tỉnh,  
thành trong vùng (gồm các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu,  
Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang) để liên kết, hình thành các chuỗi  
cung ứng sản phẩm đặc trưng, khai thác lợi thế vùng miền; các sản phẩm rau củ  
quả, đảm bảo các tiêu chuẩn về quy trình, chất lượng đến tay người tiêu dùng  
trong nước và xuất khẩu.  
(2) Vấn đề về xây dựng hệ thống kho bãi, logistics khoa học; đảm bảo lưu  
thông hàng hóa xuyên suốt. Đây cũng là vấn đề rất quan trọng, quyết định đến  
hiệu quả của việc phân phối hàng hóa. Với dân số trên 10 triệu người, Thành phố  
Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất nước và là trung tâm trung  
chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực phía Nam nói riêng và cả  
nước nói chung. Với vai trò quan trọng đó, Thành phố Hồ Chí Minh cần đầu tư  
kịp thời cho lĩnh vực logistics, đặc biệt về hạ tầng để duy trì và phát huy được thế  
mạnh là cửa ngꢁ giao thương của khu vực phía Nam; góp phần nâng cao hiệu quả  
cho công tác lưu chuyển hàng hóa của chuỗi cung ứng các mặt hàng, sản phẩm  
của Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành.  
(3) Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế  
Trong điều kiện hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào thời kì  
mới – thời kì hội nhập sâu hơn và rộng hơn về kinh tế. Việt Nam đã kí kết, tham  
gia 13 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Trong đó, Hiệp định Đối tác Toàn  
diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự  
do Việt Nam – EU (EVFTA) là những FTA thế hệ mới với nội dung toàn diện và  
sâu sắc hơn. Việc thực thi các FTA chính là quá trình gỡ bỏ dần các rào cản thuế  
quan và phi thuế quan, mang đến kì vọng mở rộng thị trường cho cả xuất khẩu –  
nhập khẩu và phân phối nội địa. Việc nắm bắt được các cơ hội và những ưu đãi từ  
các hiệp định thương mại tự do sẽ góp phần rất quan trọng trong việc đẩy mạnh  
phân phối các sản phẩm từ chuỗi cung ứng, nhanh chóng tiếp cận với các thị  
trường trọng điểm.  
(4) Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học công nghệ  
Để xây dựng chuỗi cung ứng tối ưu các sản phẩm một cách bền vững giữa  
các mắt xích, bao gồm các nhà sản xuất, nhà phân phối; đồng thời, giảm giá  
thành, bình ổn thị trường đòi hỏi phải quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ  
thông tin, khoa học công nghệ và phải xem đây là khâu then chốt để áp dụng các  
quy trình tiên tiến, công nghệ mới vào sản xuất, tạo ra sản phẩm có năng suất cao,  
hạ giá thành, đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường.  
241  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
4.  
KHUYẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP  
Trong phạm vi nghiên cứu, xin được khuyến nghị một số giải pháp sau:  
- Thứ nhất, cần thiết phải ban hành các định hướng, quy hoạch phát triển  
ngành thương mại (có tính đến các vấn đề về lưu thông hàng hóa như xuất khẩu,  
logistics) trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành thương mại  
của Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Từ đó, đưa ra các  
định hướng phát triển sát với thực tiễn, mang tính khả thi, phát huy tốt nhất các  
thế mạnh, lợi thế so sánh của các địa phương tại thị trường trong nước và xuất  
khẩu.  
- Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá để định vị các sản phẩm có lợi thế cạnh  
tranh xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó, xây dựng các chuỗi cung ứng  
sản phẩm hiệu quả, tạo ra các sản phẩm chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để  
xuất khẩu. Việc này vừa nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam  
vừa góp phần gia tăng tỉ lệ đóng góp cho ngành thương mại, thúc đẩy phát triển  
kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.  
- Thứ ba, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cần phối hợp với chính  
quyền các địa phương lân cận (trước hết là đẩy mạnh liên kết với các tỉnh trong  
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) hỗ trợ, thúc đẩy xây dựng chuỗi cung ứng đối  
với các nhóm sản phẩm có lợi thế (chẳng hạn các nhóm sản phẩm lúa gạo, thịt gia  
súc, thịt gia cầm, trứng gia cầm, rau củ quả) với các giải pháp cụ thể như:  
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng chiến lược ổn định nguyên liệu, từ thu  
mua đơn thuần sang liên kết hợp tác, ứng vốn và bao tiêu sản phẩm với các hộ  
nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác tại các địa phương lân cận để canh tác, nuôi trồng  
theo định hướng quy mô lớn, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn.  
+ Hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết các đơn vị hỗ trợ nông  
nghiệp (phân bón, thức ăn chăn nuôi, con giống, cây giống) ứng dụng khoa học  
công nghệ, nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu  
dùng.  
+ Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống kho bãi, logistics khoa học; đảm  
bảo lưu thông hàng hóa xuyên suốt.  
+ Tăng cường truyền thông, định vị để sản phẩm an toàn của các chuỗi cung  
ứng có vị trí xứng đáng trong tâm trí người tiêu dùng; qua đó, mở rộng thị trường  
cho các sản phẩm được nuôi trồng, sản xuất theo quy trình, đúng tiêu chuẩn của  
các chuỗi.  
- Thứ tư, đẩy mạnh hỗ trợ xúc tiến thương mại, phát triển thị trường đối  
với nhóm sản phẩm của chuỗi cung ứng thông qua việc tăng cường tổ chức các sự  
kiện xúc tiến thương mại để giới thiệu, quảng bá và xây dựng thương hiệu sản  
242  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
phẩm cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, ngành hàng nhằm tìm kiếm cơ  
hội hợp tác đầu tư sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ.  
- Thứ năm, cần đánh giá ảnh hưởng của các sản phẩm, ngành hàng khi  
Việt Nam tham gia sâu rộng hội nhập kinh tế quốc tế, các ngành sẽ tiếp cận nhanh  
hơn về khoa học và công nghệ mới, các sản phẩm mới, các hình thức sản xuất tiên  
tiến. Ngoài những nguồn lợi từ tham gia hội nhập, vấn đề quan trọng trong hầu hết  
các hiệp định mà Việt Nam kí kết là mở cửa thị trường hàng hóa thông qua thực  
hiện lộ trình cắt giảm thuế quan; đặc biệt tham gia các hiệp định thương mại nhất  
là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),  
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Đây là cơ hội để mở  
rộng thị trường xuất khẩu, nhất là sản phẩm nông nghiệp. Do đó, vấn đề quan  
trọng là làm thế nào để tận dụng một cách tốt nhất các ưu đãi, cơ hội mang lại từ  
việc tham gia các hiệp định, giảm thiểu các rủi ro, thách thức.  
Các cơ quan quản lí nhà nước cần đẩy mạnh tổ chức các hội thảo tuyên  
truyền, phổ biến chuyên sâu cho doanh nghiệp về các nội dung trọng tâm của các  
hiệp định, cơ hội, thách thức để doanh nghiệp chủ động có kế hoạch, định hướng  
phát triển kinh doanh.  
Doanh nghiệp cũng cần chủ động về quy mô, năng lực phát triển của mình,  
thay đổi tư duy, đổi mới phương thức sản xuất để tham gia hội nhập theo hướng  
liên kết chuỗi sản xuất để giảm chi phí đầu vào, ổn định sản xuất và gia tăng hiệu  
quả, nhất là khi được hưởng lợi từ thuế quan nhập khẩu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Thương mại. 2005.  
[2] Cấn Văn Lực và cộng sự. Ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Truy cập  
từ  
nam-2020-73673.html [Ngày truy cập 22/11/2020].  
[3] Trung Kiên. Nhiệm kỳ mới Thành phố Hồ Chí Minh đề ra 24 chỉ tiêu phát  
de-ra-24-chi-tieu-phat-trien-1491866752 [Ngày truy cập 22/11/2020].  
[4] Phát triển logistics trở thành nền kinh tế mũi nhọn của Thành phố Hồ Chí  
22/11/2020].  
[5] Hội đồng nhân dân TP.HCM. Nghị quyết về thông qua Quy hoạch phát triển  
ngành thương mại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030. Nghị quyết số 20/2017/NQ-NĐND, ngày 07 tháng 12 năm 2017.  
243  
pdf 8 trang Thùy Anh 10740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thương mại và chuỗi cung ứng những vấn đề đặt ra và các giải pháp để phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuong_mai_va_chuoi_cung_ung_nhung_van_de_dat_ra_va_cac_giai.pdf