Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng ở một số nước trên thế giới
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TIỀN HỢP ĐỒNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Nguyễn Văn Nghꢀa*
Phạm Thị Nga**
* TS. Tổn Cụ Thi hà̉h á̉ dẩ sự, Bộ Tư pháp
** ThS. Cổn Ty Cô Phầ̉ Tư Vấ̉ và Củn ứ̉n ̉nuồ̉ ̉hẩ lự̣ Tâm Quê
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Hợp đồng, trách nhiệm
pháp lý tiền hợp đồng, nguyên
tắc thiện chí.
Việc ký kết và thực hiện hợp đồng thành công hay thất bại phụ thuộc rất
lớn vào kết quả quá trình đàm phán, thương lượng ban đầu giữa các bên.
Tuy nhiên, các vấn đề pháp lý chi tiết liên quan đến trách nhiệm pháp
lý tiền hợp đồng ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, trong khi nó lại khá
hoàn thiện ở các nước phát triển. Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm
pháp luật ở một số nước về trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng không
những nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam, mà còn thúc đẩy hoạt động
kinh doanh đúng pháp luật, phù hợp với thông lệ pháp lý quốc tế. Trong
phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích một số nội dung cơ bản về
trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng theo pháp luật của Đức, Pháp và Anh.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 27/01/2021
: 25/02/2021
: 27/02/2021
Article Infomation:
Keywords: Contract;
Abstract:
The successful or unsuccessful signing and implementation of the
contract depend greatly on the results of the initial negotiation process
between the parties. However, the detailed legal issue related to the
pre-contractual legal liability in Vietnam is still quite new, while it has
been perfected in the developed countries. Therefore, the study of legal
experience of some countries on pre-contractual liability is not only to
improve Vietnamese law, but also to promote business in accordance
with the law and international legal practice. Within the scope of this
article, the authors provide an analysis of some basic contents of pre-
contractual liability under the laws of Germany, France and England.
pre-
contractual legal liability; good
faith principle.
Article History:
Received
Edited
: 27 Jan. 2021
: 25 Feb. 2021
: 27 Feb. 2021
Approved
Quy định trách nhiệm của các bên trong
quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng, hay
còn được gọi là trách nhiệm pháp lý (TNPL)
tiền hợp đồng, nhằm bảo đảm quyền và lợi
ích của các bên tham gia đàm phán, ký kết
hợp đồng là vấn đề không mới ở các nước
có nền kinh tế phát triển và hệ thống pháp
luật khá hoàn thiện, ổn định như Anh, Pháp,
Mỹ, Đức và một số quốc gia phát triển khác.
Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển
như Việt Nam thì đây là một chủ đề khá
mới mẻ và chưa được đề cập đến nhiều trên
các lĩnh vực học thuật cũng như trong thực
tiễn hoạt động ký kết hợp đồng của doanh
nghiệp1. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh
nghiệm pháp luật nước ngoài về các vấn đề
1 Võ Minh Trí & Trần Phú Quý, Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ quyền của các bên trong tham gia
đàm phán, ký kết hợp đồng, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/TRACH-NHIEM-TIEN-HOP-DONG-
VA-VIEC-BAO-VE-QUYEN-CUA-CAC-BEN-TRONG-THAM-GIA-DAM-PHAN-KY-KET-HOP-
DONG-11331/.
Số 11(435) - T6/2021
39
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
pháp lý liên quan đến chế định TNPL tiền
hợp đồng nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng, nâng cao chất lượng, hiệu quả quá
trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp
đồng, tạo cơ chế bảo vệ hữu hiệu quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên là yêu cầu, đòi
hỏi cấp bách đặt ra trong giai đoạn hiện nay,
giai đoạn Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ
và sâu rộng vào sân chơi quốc tế chung gần
đây như CPTPP2, EVFTA, IPA3.
còn tranh luận hoặc bất đồng tiềm ẩn5. Tranh
luận về khái niệm trách nhiệm dân sự tiền
hợp đồng “pre-contractual civil liability” đã
xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khi một luật sư
người Đức có tên là R. Ihering tin tưởng và
sử dụng nguyên tắc “culpa in contrahendo”
trong giải quyết TNPL tiền hợp đồng. Tranh
luận này cũng chưa có lời kết, bởi rất khó
để định hình một quan điểm nhất quán về
bản chất của TNPL tiền hợp đồng. Thậm chí
không chỉ đến giai đoạn của Jhering, người
đã phát triển khái niệm pháp lý “culpa in
contrahendo” trong luận án của mình6, thuật
ngữ TNPL tiền hợp đồng đã được khái niệm
hóa trước đó; theo tác giả, các tình huống
mà hợp đồng vô hiệu, không phát sinh trách
nhiệm pháp lý nhưng thiệt hại phát sinh từ
giai đoạn tiền hợp đồng phải được bồi thường
liên quan đến quan hệ hợp đồng, điều này là
do thực tế các bên phải có nghĩa vụ cầu thị,
mẫn cán trong giai đoạn này7.
1. Những vấn đề pháp lý đặt ra trong giai
đoạn đàm phán tiền hợp đồng
Trước khi phân tích khái niệm TNPL tiền
hợp đồng theo pháp luật ở một số nước trên
thế giới, cần có cách hiểu chung về văn hóa
pháp lý tiền hợp đồng ở một số nước thông
qua một số thuật ngữ pháp lý có liên quan.
Ví dụ, khái niệm “hợp đồng” được dịch từ
thuật ngữ “contract”, “đàm phán” được dịch
từ thuật ngữ “negotiation” và làm thế nào để
một hợp đồng có hiệu lực pháp lý được hình
thành. Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa
thuận giữa hai hoặc nhiều người, trong đó
xác định nghĩa vụ phải thực hiện hoặc được
công nhận theo pháp luật4. Đàm phán là quá
trình thương lượng mà các bên nỗ lực để đạt
được sự thỏa thuận, nhất trí từ những vấn đề
Giai đoạn tiền hợp đồng rất khó để phân
tích các đặc điểm, kể cả góc độ lý luận lẫn
thực tiễn. Các bên gặp gỡ, trao đổi, tạo dựng
mối quan hệ lẫn nhau đơn giản bởi vì họ cần
phải đàm phán. Họ bắt đầu cuộc hành trình
cùng nhau, nhưng mối quan hệ giữa họ chưa
2
Comprehensive and progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership: Hiệp định Đối tác toàn diện và
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); xem thêm: PGS. TS. Phạm Thị Thanh Bình, Việt Nam với CPTPP:
Cơ hội và Thách thức, https://www.tapchicongsan.org.vn/quoc-phong2/-/2018/54880/viet-nam-voi-cptpp--
co-hoi-va-thach-thuc.aspx.
3 EU-Vietnam Free Trade Agreement: Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam và EU (EVFTA), Investment
Protection Agreement: Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA), xem thêm: Vụ thị trường Châu Âu - Châu Mỹ, Bộ Công
4
A contract can be defined as “An agreement between two or more parties creating obligations that are
enforceable or otherwise recognizable at law”,Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, Thomson West8th
ed. 2004, p. 341.
5 Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, ibid., p.1064.
6
Rudolf v. Jhering, Culpa in contrahendo: oder Schadensersatz bei nichtigen oder nicht zur Perfection
gelangten Vertrꢀgen (1861), Jahrbꢁcher fꢁr die Dogmatik des heutigen rꢂmischen und deutschen Privatrechts
IV, Volume 4, Issue 1.
7 Dr. Catarina Granadeiro, Precontractual Liability under the Portuguese, German and French Legal Systems,
German_and_French_Legal_Systems.
40
Số 11(435) - T6/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
phải là cái đích họ hướng tới, mà mục đích
của họ là hợp đồng được ký kết, nhưng có
thể họ sẽ không bao giờ đạt được điều đó.
Các cuộc đàm phán có thể thất bại, sự thất
bại có thể đến sớm hơn hoặc muộn hơn8.
Hơn nữa, TNPL tiền hợp đồng cũng không
tồn tại ở các quốc gia theo hệ thống thông
luật “common law”. Điều này liên quan đến
khía cạnh giải thích tự do hợp đồng, theo đó,
nội hàm khái niệm TNPL tiền hợp đồng mở
rộng hơn ở các nước theo hệ thống pháp luật
châu Âu lục địa, nơi một người có thể chấm
dứt việc đàm phán hợp đồng ở bất kỳ giai
đoạn nào mà không phát sinh trách nhiệm
pháp lý. Mặt khác, việc ký kết hợp đồng đòi
hỏi nhiều thời gian và công sức tiền bạc từ
các bên tham gia đàm phán. Do đó, để bảo
vệ các bên tham gia đàm phán trung thực,
thiện chí, điều quan trọng quyết định điều
kiện TNPL tiền hợp đồng, bao gồm mở rộng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ tiền hợp đồng9.
chính các điều khoản, thư tuyên bố ý định,
v.v..). Tuy nhiên, những thỏa thuận ban đầu
này sẽ thiết lập các điều khoản chính mà các
bên đã nhất trí về nguyên tắc như thời gian
dự định ký kết hợp đồng, nghĩa vụ của các
bên trong suốt quá trình đàm phán và quy
trình, thủ tục đàm phán. Một bản thỏa thuận
ban đầu hoặc một tài liệu tương tự có thể có
được sự ràng buộc về mặt pháp lý và phải
bảo đảm rằng một cam kết ràng buộc pháp
lý không được tạo ra một cách vô ý, hoặc
rằng các bên không tham gia vào một cam
kết không ràng buộc về mặt pháp lý, tin
tưởng rằng nó có tính ràng buộc lẫn nhau.
Ở hầu hết các quốc gia châu Âu (ngoại
trừ Vương quốc Anh) đều đặt ra nghĩa vụ
đàm phán với thiện chí (duty of good faith)
và điều này có thể bao gồm nghĩa vụ không
được hủy bỏ các cuộc đàm phán mà không
có lý do hợp lý.
TNPL tiền hợp đồng có vai trò, ý nghĩa
quan trọng như vậy nên việc nghiên cứu
kinh nghiệm pháp luật nước ngoài, trong
đó có các án lệ, hoặc các quy tắc pháp luật
về TNPL tiền hợp đồng sẽ đóng góp tích
cực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam nói chung, pháp luật về hợp đồng
nói riêng, đúng với tinh thần chủ trương của
Đảng về cải cách hệ thống pháp luật10.
Trong giai đoạn đầu của các giao dịch
sẽ được ký kết và thực hiện trong tương lai,
các bên thường phải tham gia vào những
thỏa thuận tiền hợp đồng. Ví dụ, thỏa thuận
ban đầu về bảo mật thông tin và thỏa thuận
độc quyền đàm phán. Những yêu cầu này
có thể được đặt ra trong những thỏa thuận
riêng biệt, hoặc có thể kết hợp với nhau
tạo thành một thỏa thuận chung. Mặc dù
không có một hình thức được miêu tả cho
những thỏa thuận ban đầu hoặc những tài
liệu tương tự (ví dụ, bản ghi nhớ, nội dung
2. Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng
theo pháp luật ở một số nước
2.1. Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng
theo pháp luật của Đức11
8
Martijin W. Hesselink, Precontractual Liability in European Private Law: Conclusions, http://ssrn.com/
abstract=1309150.
9
Natalja Leonova, Qualification of pre-contractual liability and the value of lost opportunity as a forrm of
losses, Jurisprudencija/Jurisprudence, 2009, p. 222.
10 Nghị Quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, tiếp tục được thực hiện bởi Kết luận số 01-KL/TW ngày
04/4/2016 của Bộ Chính trị khẳng định: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán,
thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”.
11 Stephan Ulrich, An outline of pre contractual obligations in relation to Germany., ttps://www.simmons-simmons.
com/en/features/pre-contractual-obligations/ck10mcm8le0fn0b49pw4tw2sm/pre-contractual-obligations-germany.
Số 11(435) - T6/2021
41
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Theo pháp luật của Đức, nguyên tắc
“culpa in contrahendo” được xem như
là yếu tố cơ bản của trách nhiệm tiền
hợp đồng độc lập, phạm vi khái niệm
này được phát triển rộng hơn và sâu hơn
so với khái niệm gốc của nó trong suốt
150 năm qua. Vào năm 2002, như là kết
quả đổi mới luật về nghĩa vụ, khái niệm
“culpa in contrahendo” đã được quy định
tại Bộ luật dân sự Đức (Điều 311 khoản 2)
như sau: “Nghĩa vụ tôn trọng quyền, lợi
ích hợp pháp và các lợi ích khác của bên
đối tác theo quy định tại khoản 2 Điều
24112 cũng phát sinh: (1) từ khi bắt đầu
đàm phán hợp đồng; (2) hoặc bắt đầu thực
hiện hợp đồng; hoặc (3) đối với các quan
hệ thương mại tương tự”13. Khái niệm
này được xem như là một trong những
phát minh lớn trong pháp luật dân sự
Đức. Về mặt văn hóa pháp lý, “culpa in
contrahendo” có nghĩa là “lỗi trong hợp
đồng” và khi áp dụng trong pháp luật của
Đức, nó ngụ ý là có bổn phận hành động
thiện chí hoặc bổn phận quan tâm hợp lý
đến lợi ích của bên khác trong đàm phán
tiền hợp đồng, điều này có nghĩa là lỗi
trong ngữ cảnh này là rộng hơn lỗi trong
ngữ cảnh thông thường trong luật về trách
nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng14. Các
nội dung cơ bản của trách nhiệm tiền hợp
đồng theo pháp luật của Đức có thể tiếp
cận dưới các góc độ sau đây:
a) Đàm phán tiền hợp đồng
Theo pháp luật của Đức, khi tham gia
vào các cuộc đàm phán tức là sẽ tạo ra mối
quan hệ tin tưởng (Treuepflicht) lẫn nhau
giữa các bên, mối quan hệ này trở nên vững
chắc với cường độ ngày càng tăng sau mỗi
lần đàm phán. Nghĩa vụ tin tưởng này dẫn
đến nghĩa vụ tôn trọng các quyền và lợi
ích của bên đối tác, chẳng hạn như nghĩa
vụ ngăn bên đối tác phải chịu thiệt hại phát
sinh và thông báo cho bên đối tác về các
trường hợp có thể phát sinh thiệt hại trong
quá trình đàm phán, thiệt hại có thể là thiệt
hại về sức khỏe hoặc thiệt hại về tài sản15. Ví
vụ, trong giai đoạn tiền hợp đồng, một hành
vi vi phạm có lỗi theo khoản 1 Điều 280 Bộ
luật dân sự (BLDS) Đức16 (lỗi cố ý hoặc vô
ý là dấu hiệu bắt buộc theo Điều 276 BLDS
Đức), có thể là do sơ suất trong việc tuân
thủ Điều 278 BLDS Đức. Tuy nhiên, nếu
xảy ra thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, bên bị
thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường theo
khoản 2 Điều 241, điểm 1 khoản 1 Điều 280
BLDS Đức17.
Nói chung, không có nghĩa vụ phải bắt
buộc để tiếp tục các cuộc đàm phán, nhưng
nếu một bên thông tin cho bên kia lý do để
tin rằng hợp đồng sẽ sớm có hiệu lực và vẫn
ngừng đàm phán mà không có lý do chính
đáng thì bên đó có thể phải chịu trách nhiệm
cho bất kỳ chi phí không hiệu quả nào gây
ra cho bên kia. Trong trường hợp một thỏa
12 Khoản 2 Điều 241 Bộ luật dân sự Đức: “An obligation may also, depending on its contents, oblige each party
to take account of the rights, legal interests and other interests of the other party”.
13 https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p1013.
14
Xiao-Yang Li, The Legal Status of Pre-Contractual Liability: Contrasting Responses from German and
English Law, National Taiwan University Law Review [Vol. 12:128], p. 132.
15 Kevin Bork and Manfred Wandt, “Utmost” good faith in German contract law, published online: 14 October
Gerhard Dannermann, Reiner Schulze, German Civil Code, Volume I: Article-by-article Commentary, C. H.
Beck, 2020, p. 12.
16 MꢁKo/Emmerich, 2019, BGB, Sec. 311, Rec 203.
17 Dr. Catarina Granadeiro, ibid. 8, p. 7.
42
Số 11(435) - T6/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
thuận yêu cầu công chứng, quy tắc này
chỉ áp dụng nếu một bên cố tình vi phạm
nghĩa vụ trung thực của mình (vorsätzliche
Treuepflichtverletzung).
Thứ hai, phạm vi của các nghĩa vụ như
vậy có thể không phải lúc nào cũng rõ ràng,
điều này khiến các bên tham gia thỏa thuận
bảo mật và xác định rõ ràng loại thông tin
nào được xem là bí mật và loại tiêu chuẩn
nào nên được áp dụng để bảo vệ các thông
tin bí mật đó.
Theo pháp luật Đức, các bên có quyền tự
do chấm dứt đàm phán, như đã nêu ở trên;
tuy nhiên, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ
tiền hợp đồng phát sinh từ quan hệ tin tưởng
thông qua hành động cố ý hoặc cẩu thả, luật
pháp Đức cho phép bên kia yêu cầu bồi
thường thiệt hại. khoản 2 Điều 241 BLDS
Đức quy định: “Nếu một bên vi phạm bổn
phận phát sinh từ nghĩa vụ, bên bị vi phạm
có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại gây ra
bởi sự vi phạm của bên kia”.
Một hành vi vi phạm có thể khiến
bên vi phạm phải bồi thường hoặc cần
có biện pháp ngăn chặn, nhưng vì khó
khăn trong việc chứng minh thiệt hại nên
những biện pháp khắc phục thường được
quy định ngay chính trong thỏa thuận bảo
mật. Những thỏa thuận bảo mật có tính
bắt buộc tuân thủ giữa các bên. Không
có thủ tục hoặc hình thức chính thức nào
phải tuân theo khi ký kết thỏa thuận bảo
mật. Tuy nhiên, kinh nghiệm pháp luật
Đức cho thấy, việc thay đổi và chấm dứt
thỏa thuận bảo mật chỉ có thể được thực
hiện bằng văn bản. Các nội dung nêu trên
của pháp luật Đức cũng phù hợp với tiêu
chuẩn chung châu Âu về trách nhiệm bảo
mật tiền hợp đồng. Ví dụ, Điều 2:302 Luật
hợp đồng châu Âu năm 2002 quy định:
Biện pháp khắc phục đối với vi phạm tính
bảo mật trong quá trình đàm phán có thể
bao gồm19 “bồi thường tổn thất mà bên
kia bị thiệt hại và bồi thường lợi ích mà
bên kia lẽ ra được nhận”20 và bồi thường
lợi ích là một biện pháp khắc phục cụ thể
mà bên bị thiệt hại được hưởng ngay cả
trong trường hợp không có thiệt hại thực
tế xảy ra21.
b) Thỏa thận về bảo mật18
Nghĩa vụ xem xét bất kỳ thông tin nào
được tiết lộ trong các cuộc đàm phán được
xem là bí mật và không để bên thứ ba tiếp cận
thông tin này phát sinh từ nghĩa vụ tiền hợp
đồng và nguyên tắc thiện chí giữa hai bên,
đặc biệt khi nghĩa vụ bảo mật xuất hiện rõ
ràng từ bản chất hợp đồng đang được thương
lượng. Do đó, không có yêu cầu chung nào
đối với các bên tham gia vào một thỏa thuận
có tính chất bảo mật. Tuy nhiên, thực tiễn
cho thấy cần phải ký một thỏa thuận bảo mật
trước khi bước vào các giai đoạn đàm phán
tiền hợp đồng vì lý do sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ bảo mật bắt buộc chỉ
được áp dụng trong một số lĩnh vực pháp lý
nhất định và tùy thuộc vào các điều kiện cụ
thể của từng trường hợp cụ thể.
18 Simmons and Simmons, ibid..
19 Mihaela Braut Filipović and Dr. Marjeta Tomulić Vehovec, Precontractual Liability in Europe and Croatian
Croatian%20Law.pdf, p.19.
20
Article 2:302 of the Principles of European contract law: Article 2:302: Breach of Confidentiality “If
confidential information is given by one party in the course of negotiations, the other party is under a duty not
to disclose that information or use it for its own purposes whether or not a contract is subsequently concluded.
The remedy for breach of this duty may include compensation for loss suffered and restitution of the benefit
received by the other party”.
21 The Commission on European Contract law, O. Lando, H. Beale, op. cit. fn 25, 194.
Số 11(435) - T6/2021
43
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
c) Thỏa thuận về độc quyền22
2.2. Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng
theo pháp luật của Pháp
Như một nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự Đức, các bên được hưởng quyền
tự do hợp đồng và do đó có thể tự do đưa
ra quyết định của mình về việc đàm phán
với ai cho đến khi một thỏa thuận được ký
kết. Điều 242 Bộ luật dân sự Đức quy định
về nguyên tắc thiện chí (principle of good
faith) như sau: “Bên có nghĩa vụ phải thực
hiện nghĩa vụ của mình theo yêu cầu của
nguyên tắc thiện chí, đồng thời có tính đến
cả tập quán pháp”. Nguyên tắc này được
áp dụng ngay từ giai đoạn đàm phán tiền
hợp đồng. Tuy nhiên, nghĩa vụ đàm phán
độc quyền có thể phát sinh từ nghĩa vụ thiện
chí trong trường hợp một bên cho bên kia
biết rằng không có cuộc đàm phán nào khác
đang diễn ra hoặc đang được bắt đầu đồng
thời với cuộc đàm phán đang diễn ra.
a) Đàm phán tiền hợp đồng23
Theo pháp luật của Pháp, trong quá
trình thương lượng, mỗi bên được quyền
quyết định sau khi đàm phán có tiến tới
việc giao kết hợp đồng hay không. Tuy
nhiên, họ có nghĩa vụ phải hành động
một cách thiện chí trong suốt quá trình
đàm phán để ký kết hợp đồng. Điều 1112
BLDS Pháp năm 2016 quy định: “Việc
bắt đầu, tiếp tục và kết thúc các cuộc đàm
phán tiền hợp đồng là do các bên tự do
thỏa thuận. Tuy nhiên, các bên bắt buộc
phải đáp ứng các yêu cầu của nguyên tắc
thiện chí.Trường hợp do lỗi trong quá
trình đàm phán thì việc bù đắp tổn thất
không được tính như là bù đắp tổn thất
lợi ích mà các bên mong đợi trong trường
hợp hợp đồng chưa được giao kết”24.
Đối với bất kỳ hợp đồng nào khác, các
thỏa thuận độc quyền là ràng buộc cho
cả hai bên. Không có thủ tục chính thức
nào phải tuân theo trừ khi các bên đồng ý
về điều đó. Các thỏa thuận độc quyền
thường quy định các mức phạt cụ thể nếu
một bên vi phạm tính độc quyền để khiến
bên kia không tiếp tục thương lượng với
bên thứ ba. Tuy nhiên, khi mức phạt cao
do vi phạm nguyên tắc độc quyền đến mức
mà trên thực tế, nghĩa vụ ký kết một thỏa
thuận cần phải được công chứng (ví dụ:
hợp đồng mua bán và chuyển nhượng cổ
phần trong một công ty trách nhiệm hữu
hạn của Đức), thì thỏa thuận độc quyền
cũng cần phải được công chứng.
Hậu quả của việc chấm dứt đàm phán
phụ thuộc vào thời điểm và ý chí của các
bên tham gia cuộc đàm phán, cụ thể:
- Nếu cuộc đàm phán chỉ mới bắt đầu,
các bên có thể tự do chấm dứt đàm phán
đơn phương theo ý muốn và không phải
chịu hậu quả.
- Nếu kết quả đàm phán có tiến triển
và các cuộc đàm phán phát triển làm cho
bên kia kỳ vọng hợp lý rằng thỏa thuận
sẽ được ký kết, thì hành vi của bên chấm
dứt không nhất thiết phải cấu thành một
vi phạm nghiêm trọng hoặc gian dối để
bên kia vi phạm nghĩa vụ nếu họ hành
22 Simmons and Simmons, ibid..
23 Simonetta Giordano, An outline of pre contractual obligations in relation to France., https://www.simmons-
simmons.com/en/features/pre-contractual-obligations/ck10mcostnqwo0b78mjyht8b4/pre-contractual-
obligations-france.
24 Art. 1112. “The commencement, continuation and breaking-off of precontractual negotiations are free from
control. They must mandatorily satisfy the requirements of good faith. In case of fault committed during the
negotiations, the reparation of the resulting loss is not calculated so as to compensate the loss of benefits which
were expected from the contract that was not concluded”.
44
Số 11(435) - T6/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
động một cách thiện chí. Một bên sẽ vi
phạm nghĩa vụ như đã đề cập nếu bên đó
đột ngột chấm dứt các cuộc đàm phán mà
không có lý do, không phụ thuộc vào bất
kỳ ý định gây hại nào. Nếu trường hợp
thứ hai xảy ra, bên không vi phạm có thể
yêu cầu bồi thường thiệt hại với lý do bên
kia quanh co trách nhiệm bồi thường chi
phí phát sinh trong quá trình đàm phán (ví
dụ, thời gian dành cho các cuộc đàm phán
và các chi phí). Theo án lệ của Pháp, các
bên không được yêu cầu bồi thường thiệt
hại trên cơ sở mất quyền ưu tiên giao kết
hợp đồng. Hiện nay, ở Pháp có một thực
tế phổ biến là các bên tham gia đàm phán
tiền hợp đồng thường xác định quyền của
họ trong việc chấm dứt các cuộc đàm
phán tiền hợp đồng.
mật nào liên quan đến các cuộc đàm phán
đều phải hợp lý về thời hạn (ví dụ: Từ 01
năm đến 05 năm).
Nếu một bên vi phạm thỏa thuận bảo
mật, bên không vi phạm sẽ có quyền yêu
cầu bồi thường thiệt hại từ bên vi phạm và
nộp đơn lên Tòa án để yêu cầu Tòa án ra
lệnh cấm sử dụng thông tin bí mật đã cung
cấp cho bên vi phạm. Bên yêu cầu có trách
nhiệm chứng minh rằng bị đơn đã tiết lộ
hoặc đã sử dụng thông tin bí mật. Pháp luật
của Pháp không quy định điều khoản/thủ
tục cụ thể để có được yêu cầu cho một thỏa
thuận bảo mật có tính ràng buộc.
c) Thỏa thuận về độc quyền27
Theo quy định của BLDS Pháp năm
2016, trong các cuộc đàm phán, nghĩa vụ
đàm phán độc quyền sẽ không được áp
dụng theo luật, dựa trên nguyên tắc tự do
hợp đồng. Các quy định chung về tiền hợp
đồng như đàm phán tiền hợp đồng (Điều
1112, 1112-1 và 1112-2 BLDS Pháp năm
2016), đề nghị và chấp nhận đề nghị (từ
Điều 1113 đến Điều 1122 BLDS Pháp năm
2016), các thỏa thuận ưu tiên trước và lời
hứa đơn phương (Điều 1123 và Điều 1124
BLDS Pháp năm 2016) đều không quy định
về thỏa thuận độc quyền. Do đó, các bên
muốn có độc quyền sẽ phải tham gia một
thỏa thuận độc quyền. Điều này có thể được
diễn đạt bằng các thuật ngữ như là “khóa
ngoài - lock out” hoặc “khóa trong - lock
in”, nhưng thời hạn của nghĩa vụ phải được
giới hạn trong một khoảng thời gian hợp lý
để tránh việc thỏa thuận độc quyền không
thể thực thi.
b) Thỏa thuận về bảo mật25
Điều 1112-2 Bộ luật dân sự Pháp năm
2016 quy định: “Người không được phép
sử dụng hoặc tiết lộ thông tin bí mật thu
được trong quá trình đàm phán sẽ phải
chịu trách nhiệm pháp lý theo các điều
kiện do luật chung quy định”26. Theo
pháp luật Pháp, không có ngụ ý chung
nào về nghĩa vụ bảo mật giữa các bên,
mặc dù có quan điểm cho rằng chúng vẫn
tồn tại ngầm theo nghĩa vụ vẫn giữ bí mật
đàm phán giữa các bên. Do đó, các bên sẽ
ký kết các thỏa thuận hoặc cam kết bảo
mật bằng văn bản để tránh tiết lộ thông
tin bí mật. Các bên tham gia thỏa thuận
bảo mật sẽ được yêu cầu giữ bí mật thông
tin trong và sau khi đàm phán chỉ trong
một khoảng thời gian nhất định, các nghĩa
vụ bảo mật thông tin lâu dài là không thể
thực hiện. Vì vậy, bất kỳ thỏa thuận bảo
Nếu một bên vi phạm một thỏa thuận
độc quyền, bên không vi phạm sẽ có quyền
25 Simonetta Giordano, ibid..
26 Article 1112-2:Aperson who without permission makes use of or discloses confidential information obtained
in the course of negotiations incurs liability under the conditions set out by the general law.
27 Simonetta Giordano, ibid..
Số 11(435) - T6/2021
45
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
yêu cầu bồi thường thiệt hại từ bên vi phạm.
Thiệt hại có thể bao gồm bất kỳ chi phí nào
mà bên không vi phạm phải chịu như chi
phí phải trả, mất thời gian và cơ hội thương
lượng với cá nhân hoặc tổ chức khác. Số
tiền được bồi thường tùy thuộc vào sự xem
xét của các Tòa án Pháp.
hệ tiền hợp đồng là ở vị trí của nguyên
tắc “good faith”. Khi đánh giá về vị trí
nguyên tắc này theo pháp luật Đức, Giáo
sư John Cartwright khẳng định: Các hệ
thống luật dân sự là không hoàn toàn
giống nhau trong cách tiếp cận chi tiết
nhưng vẫn có những nghĩa vụ được chấp
nhận chung trong đàm phán và việc thực
hiện hợp đồng sau đó, ở mức độ nào đó,
rõ ràng rằng nguyên tắc “good faith”
được vận dụng. Tuy nhiên, trong pháp
luật Anh, bất kỳ bổn phận, hoặc nghĩa vụ
chung nào xét theo nguyên tắc thiện chí
“good faith” đã bị hủy bỏ kể cả trong giai
đoạn đàm phán tiền hợp đồng, lẫn trong
quá trình thực hiện sau đó.29
Pháp luật Pháp cũng quy định bất kỳ
điều khoản/thủ tục cụ thể nào được yêu cầu
để thực thi các thỏa thuận độc quyền, nhưng
các thuật ngữ được sử dụng trong thỏa thuận
độc quyền thường được diễn đạt cẩn thận và
rõ ràng. Một danh sách các nghĩa vụ của cả
hai bên thường được lập cẩn thận. Ngoài ra,
điều khoản mức phạt trong trường hợp vi
phạm có thể được các bên thỏa thuận. Tuy
nhiên, thẩm phán có quyền giảm hoặc tăng
số tiền phạt đó.
Trong những trường hợp ngoại lệ, một
bên có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu
trong quá trình đàm phán và thương lượng
kéo dài, trong đó cả hai bên đều cho rằng
một thỏa thuận chắc chắn sẽ được thực hiện,
một bên đã bắt đầu thực hiện công việc với
các giao dịch có liên quan và các cuộc thảo
luận sau đó đã bị chấm dứt bởi bên kia. Tuy
nhiên, điều này rất hiếm khi xảy ra ở Anh
và nói chung, sẽ không có trách nhiệm phát
sinh đối với việc chấm dứt các cuộc đàm
phán tiền hợp đồng.
2.3. Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng
theo pháp luật của Anh28
a) Đàm phán tiền hợp đồng
Khác với pháp luật của Đức và Pháp,
pháp luật về hợp đồng Anh không bao hàm
nghĩa vụ thiện chí trong các cuộc đàm phán
tiền hợp đồng. Các cuộc đàm phán tiền hợp
đồng thường không ràng buộc về mặt pháp
lý đối với các bên và nói chung một trong
hai bên có thể chấm dứt đàm phán khi họ
lựa chọn. Nói chung, một trong hai bên có
thể chấm dứt đàm phán khi họ lựa chọn mà
không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Pháp
luật Anh không phát triển trách nhiệm tiền
hợp đồng, không xác định khái niệm pháp
lý thống nhất và rõ ràng nào về trách nhiệm
tiền hợp đồng.
b) Thỏa thuận về bảo mật30
Theo luật pháp Anh, có một nguyên
tắc chung rằng một người đã nhận được
thông tin bí mật thì không được lợi dụng
việc có được thông tin bí mật này một
cách không công bằng. Tuy nhiên, để
bảo vệ thông tin, một người thường phải
dựa vào tổng hợp nhiều quyền mà không
phải lúc nào cũng đưa ra các biện pháp
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hệ
thống pháp luật Anh và Đức về mối quan
28
Isabella Roberts, An outline of pre contractual obligations in relation to the United Kingdom, https://
contractual-obligations-uk.
29 Xiao-Yang Li, ibid., p. 134, 140.
30 Isabella Roberts, ibid..
46
Số 11(435) - T6/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
khắc phục rõ ràng. Để tránh sự không
chắc chắn này, thông thường các bên sẽ
ký kết các thỏa thuận hoặc cam kết bảo
mật bằng văn bản.
TNPL tiền hợp đồng theo pháp luật Đức,
Pháp và Anh32 như sau:
Một là, tuân theo nguyên tắc thiện chí
trong các cuộc đàm phán tiền hợp đồng.
Việc một bên vi phạm thỏa thuận bảo
mật có thể cho phép bên không vi phạm
yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại,
trong phạm vi mà bên không vi phạm có thể
chứng minh rằng mình đã bị thiệt hại do vi
phạm như là một hậu quả. Trong thỏa thuận
bảo mật có thể nêu rõ các thiệt hại cụ thể sẽ
được thanh toán trong trường hợp vi phạm
(ví dụ, các thiệt hại ước tính). Tuy nhiên,
bất kỳ thiệt hại ước tính nào cũng không
được vượt quá mức thông thường hoặc bất
hợp lý nếu không có thể cấu thành một mức
phạt và không thể thi hành.
Việc tuân theo nguyên tắc thiện chí trong
các cuộc đàm phán tiền hợp đồng là bắt buộc
theo quy định pháp luật của Đức và Pháp.
Tuy nhiên, theo pháp luật Anh, nguyên tắc
này không bắt buộc, trừ trường hợp ngoại lệ
nhưng phải được thỏa thuận rõ ràng về tính
hợp lý của nguyên tắc thiện chí.
Hai là, việc hủy bỏ đột ngột các cuộc
đàm phán tiền hợp đồng.
Theo quy định của pháp luật Đức thì các
bên có thể hủy bỏ đột ngột các cuộc đàm
phán tiền hợp đồng, nhưng điều này có thể
dẫn đến yêu cầu bồi thường thiệt hại trong
các trường hợp cấu thành sự vi phạm nghĩa
vụ thiện chí. Pháp luật Pháp cũng cho phép
hủy bỏ đột ngột các cuộc đàm phán tiền
hợp đồng, miễn là nó không vi phạm nghĩa
vụ thiện chí. Theo pháp luật Anh, các cuộc
đàm phán tiền hợp đồng có thể bị hủy bỏ
đột ngột mà không bị ràng buộc nhiều trách
nhiệm pháp lý khác.
c) Thỏa thuận về độc quyền31
Luật pháp Anh không ngụ ý tính độc
quyền trong các cuộc đàm phán và do đó
các bên tìm kiếm sự độc quyền thường sẽ
tham gia vào một thỏa thuận độc quyền.
Thỏa thuận như vậy không có giá trị ràng
buộc pháp lý, trừ khi nó được thực hiện như
một chứng thư hoặc được hỗ trợ bởi sự cam
kết (ví dụ: nghĩa vụ độc quyền lẫn nhau
hoặc việc cam kết thanh toán).
Ba là, nghĩa vụ bảo mật trong quá trình
đàm phán tiền hợp đồng.
Đối với các thỏa thuận độc quyền, việc
vi phạm thỏa thuận độc quyền có thể khiến
bên không vi phạm có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại, trong chừng mực mà họ
có thể chứng minh được mức tổn thất do vi
phạm gây ra. Các bên có thể chọn đưa điều
khoản bồi thường thiệt hại ước tính vào thỏa
thuận độc quyền nhưng đảm bảo rằng, điều
khoản đó không cấu thành một mức phạt để
tránh không thể thi hành.
Trong hệ thống pháp luật ở ba nước, chỉ
có pháp luật Đức có ngụ ý về nghĩa vụ bảo
mật trong quá trình đàm phán tiền hợp đồng.
Bốn là, cam kết ràng buộc pháp lý về độc
quyền đàm phán.
Pháp luật Đức, Pháp và Anh đều có cam
kết ràng buộc pháp lý về độc quyền đàm
phán; trong đó, pháp luật Pháp quy định
“lock in” và “lock out” nhưng phải có giới
hạn thời gian, pháp luật của Anh thì thời
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút
ra một số điểm tương đồng và khác biệt về
gian “khóa” phải được quy định
31 Isabella Roberts, ibid..
32
contractual-obligations/ck10lymrl0b9j0b94r51ovwc2/pre-contractual-obligations-comparative-table.
Số 11(435) - T6/2021
47
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng ở một số nước trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trach_nhiem_phap_ly_tien_hop_dong_o_mot_so_nuoc_tren_the_gio.pdf

