Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 15 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
Số 15 (439)
Tháng 8/2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
Số 15 (439)
Tháng 8/2021
Mục lục Số 15/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Lập pháp thời chuyển đổi số
3
8
PGS. TS. Phꢀm Duy Nghꢁa
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trường tư thục
PGS. TS. Bꢂi Xuân Hꢃi
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo
hiểm tài sản
14
21
PGS. TS. Nguyꢄn Thꢅ Thꢆy - ThS. Đꢇ Lꢈnh Quân
CHÍNH SÁCH
Phát triển bền vững làng nghề: Dưới góc nhìn thi hành pháp luật
PGS. TS. Lê Thꢅ Châu
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Quy định về ứng dụng công nghệ tại Luật Doanh nghiệp năm
2020 và một số vấn đề đặt ra trong thi hành
28
34
39
TS. Trꢉn Huꢊnh Thanh Nghꢅ
Vướng mꢀc trong xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với thư
tꢁn dụng (L/C)
Hꢋ Thanh Bꢌnh
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về công chứng
Đꢍng Thu In
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường - từ góc nhìn
lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam
43
52
TS. Nguyꢄn Thꢅ Phương Châm - Nguyꢄn Minh Châu
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Nâng cao năng lực quản trị của chꢁnh quyền địa phương ở
nước ta hiện nay
Ảnh bꢌa: Phong cảnh Hà Giang
Ảnh: ST
ThS. Nguyꢄn Đꢍng Phương Truyꢎn
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
Số 15 (439)
Tháng 8/2021
Legis No 15/2021
STATE AND LAW
Legislative with Digital Transformation
3
8
Prof. Dr. Pham Duy Nghia
Improvements of Legal Regulations on Private Schools
Prof. Dr. Bui Xuan Hai
DISCUSSION OF BILLS
Regulations for Transfer of Compesation Claims in Property
Insurance
14
21
28
Prof. Dr. Nguyen Thi Thuy - LLM. Do Lenh Quan
POLICY
Sustainable Development of Craft Villages: Perspective from
Law Enforcement
Prof. Dr. Le Thi Chau
LEGAL PRACTICE
Regulations on Technology Application in the Law on Enterprises
of 2020 and Matters Raised from the Law Enforcement
Dr. Tran Huynh Thanh Nghi
Problems in Calculation of Value-Added Tax on Letters of Credit (L/C)
Ho Thanh Binh
34
39
Improvements of Provisions under the Law on Notarization
Đang Thu In
FOREIGN EXPERIENCE
Compensation for Damages by Environmental Pollution -
from the Theoretical Perspective to Practical Enforcement
Law of Vietnam
43
52
Dr. Nguyen Thi Phuong Cham - Nguyen Minh Chau
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION
Improvement of the Governance Capacity of the Local
Government Administrations in Our Country
LLM. Nguyen Đang Phuong Truyen
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ
Phạm Duy Nghĩa*
*PGS. TS. Giám đốc Chương trình Chính sách công, Đại học Fulbright Việt Nam
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Sau đại dịch COVID-19, thế giới đang biến đꢄi thꢀt nhanh. Trong sꢂ đó, đꢁng kể
nhất là tꢂc đꢃ và quy mô của chuyển đꢄi sꢂ. Vào năm 2025, rất có thể Việt Nam
sẽ có mặt trong nhóm 50 quꢂc gia dẫn đầu thế giới trong chuyển đꢄi sang nền
kinh tế sꢂ, xã hꢃi sꢂ, và quản trị quꢂc gia sang thời đại sꢂ. Trong phạm vi bài viết
này, tꢁc giả phân tích tꢁc đꢃng của chuyển đꢄi sꢂ đꢂi với hoạt đꢃng lꢀp phꢁp ở
nước ta và đề xuất mꢃt sꢂ gợi ý nhằm biến chuyển đꢄi sꢂ thành lợi thế, tiện ích
cho công tꢁc lꢀp phꢁp của người đại biểu.
Từ khóa: Lꢀp phꢁp, Quꢂc hꢃi,
đại biểu Quꢂc hꢃi, chuyển đꢄi sꢂ.
Lịch sử bài viết:
Nhꢀn bài
Biên tꢀp
Duyệt bài
: 10/7/2021
: 22/7/2021
: 26/7/2021
Article Infomation:
Abstract:
The world has been changing rapidly since the COVID-19 pandemic. Among
the changes, the most significant one is the speed and large-scale of digital
transformation. By 2025, it is likely that Vietnam will be in the group of 50
leading countries in the world in the transformation to a digital economy, digital
society, and national governance to the digital era. Within the scope of this
article, the author provides an analysis of the impacts of digital transformation on
legislative activities in our country and proposes a number of recommendations
to the digital transformation into advasntages and utilities for the legislative
activities of the National Assembly deputies.
Keywords: Legislation; National
Assembly, National Assembly
deputies; digital transformation.
Article History:
Received
Edited
: 10 July 2021
: 22 July 2021
: 26 July 2021
Approved
1. Thấu hiểu cử tri trong thời đại xã
hội số
Hàng năm đại biểu Quꢂc hꢃi cần tham
dự đầy đủ bꢂn phiên tiếp xúc cử tri (trước
và sau mỗi kỳ họp Quꢂc hꢃi), truyền thꢂng
ấy nhắc từng đại biểu phải nhớ về đơn vị
bầu cử đã trao tín nhiệm cho mình. Đại biểu
trước hết phải thấu hiểu người dân nơi đã
trực tiếp bầu ra mình. Từ nơi làm việc, đơn
vị bầu cử, suy rꢃng ra cho cử tri cả tỉnh và
toàn quꢂc, người đại biểu có thể duy trì mꢂi
liên hệ với cử tri qua muôn vàn hình thức
khꢁc nhau. Phải bắt đầu bằng lắng nghe,
thấu hiểu cử tri thì người đại biểu mới có
được dần năng lực đại diện.
Muꢂn làm tꢂt công tꢁc đại diện, người
đại biểu nói chung, đại biểu Quꢂc hꢃi nói
riêng phải thấu hiểu ai đã cử, đã bầu cho
mình. Cử tri và cꢁc tꢁc nhân liên quan đến
cử tri, họ là những ai trong thời đại ngày
nay? Tꢄ chức Đảng, chính quyền, doanh
nghiệp, người dân, đoàn thể, hết thảy đã và
đang chuyển đꢄi rất nhanh. Cꢁc tꢁc nhân đó
ảnh hưởng tới quy trình lꢀp phꢁp, tức là đến
cꢁc công đoạn làm ra luꢀt. Muꢂn đóng góp
tích cực vào hoạt đꢃng lꢀp phꢁp, người đại
biểu phải xꢁc định vị trí của mình trong mꢂi
tương quan với cꢁc tꢁc nhân nêu trên, trong
đó có mꢂi quan hệ với cử tri.
Việt Nam đang chuyển rất nhanh sang
xã hꢃi sꢂ. Hiện nay, 70% người dân nước
ta đã có thể truy cꢀp Internet qua mꢁy
Số 15(439) - T8/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tính hoặc điện thoại thông minh, với chi
phí thuꢀn tiện và chất lượng cao, ꢄn định
so với tiêu chuẩn quꢂc tế. Chỉ với mꢃt
vài nút bấm, việc tạo ra mꢃt văn phòng
trực tuyến đã trở nên quꢁ dễ dàng, người
đại biểu có thể gặp gỡ cử tri online, ngay
tức thì, với chi phí hầu như không đꢁng
kể. Duy trì liên hệ với cử tri trở nên rất
dễ dàng, thuꢀn tiện, nếu đại biểu muꢂn.
Kể cả nếu thụ đꢃng, người đại biểu cũng
khó có thể né trꢁnh được sức ép của cꢁc
luồng dư luꢀn xã hꢃi. Cꢁc mạng xã hꢃi
kết nꢂi người dân trong và ngoài nước,
li ti như vô vàn cảm biến, hàng triệu con
người tạo ra dòng thông tin bất tꢀn, liên
tục truyền tín hiệu đi khắp nơi, kể cả tới
người đại diện của mình. Như vꢀy, thông
tin không còn khan hiếm nữa. Ngược lại,
người đại biểu ngày nay phải trang bị
cꢁc kỹ năng để bình tĩnh, sꢁng suꢂt xꢁc
định trúng cꢁc ưu tiên chính sꢁch và kiên
định để không bị nhấn chìm bởi cꢁc đợt
sóng dư luꢀn. Cꢁc thuꢀt toꢁn chìm sau
cꢁc mạng xã hꢃi lặng lẽ thu thꢀp, phân
tích dữ liệu, kết nꢂi những người có cùng
quan tâm, sở thích, góc nhìn, quan điểm.
Loan tin nhanh, tìm tin cũng rất nhanh,
nếu lấy tin từ cꢁc mạng xã hꢃi, cꢁc đại
biểu phải rèn kỹ năng xét đoꢁn đa chiều,
cẩn trọng thảo luꢀn dựa trên chứng cứ,
bao dung chấp nhꢀn ý kiến trꢁi chiều. Ít
ai có thể mãi quay lưng lại với xã hꢃi sꢂ,
người đại biểu phải học kỹ năng khꢁng
cự chꢂng lại cꢁc dư luꢀn ồn ào, khꢁng cự
sự cꢁm dỗ của chủ nghĩa dân túy.
trì quyền lãnh đạo, sẽ đề ra đường lꢂi và
nguyên tắc xꢁc lꢀp cꢁc chính sꢁch. Dựa
vào đường lꢂi ấy, Nhà nước đề ra cꢁc chính
sꢁch, và thể hiện cꢁc chính sꢁch đó dưới
hình thức cꢁc văn bản phꢁp luꢀt. Soi xét kỹ
hơn, từng cơ quan của nhà nước lại có thể
theo đuꢄi những lợi ích ngành khꢁc nhau,
đôi khi công khai, song cũng không hiếm
khi được khéo léo thiết kế. Vì lợi ích của cử
tri, Quꢂc hꢃi phải xem xét cꢁc khía cạnh đa
dạng của từng chính sꢁch. Mỗi chính sꢁch
được đưa ra sẽ luôn có những mặt hạn chế
nhất định, song nếu chính sꢁch chỉ tiện cho
cơ quan quản lý mà gây khó cho người dân
và doanh nghiệp thì Quꢂc hꢃi cần yêu cầu
điều chỉnh. Để có lꢀp luꢀn cho quꢁ trình
phản biện ấy, người đại biểu phải lắng
nghe và thấu hiểu cử tri của mình. Quꢂc
hꢃi chỉ có thể tham gia lꢀp phꢁp mꢃt cꢁch
chất lượng, có hiệu quả, nếu Quꢂc hꢃi có
khả năng thấu hiểu, xꢁc định đúng lợi ích
của cử tri.
Trong mỗi dự luꢀt, lợi ích và quyền lực
thương lượng của cꢁc bên liên quan thường
rất khꢁc nhau. Nhà nước, vì ưu tiên của
mình, có thể thúc đẩy cꢁc chính sꢁch phꢁt
triển kinh tế, tự do hóa thị trường, thꢀm
chí mạnh dạn xã hꢃi hóa cꢁc lĩnh vực dịch
vụ công mà lẽ ra Nhà nước phải cung cấp
(ví dụ y tế công cꢃng, giꢁo dục). Về phía
doanh nghiệp, tꢂi đa hóa lợi nhuꢀn, giảm
chi phí tuân thủ luôn là cꢁc ưu tiên. Doanh
nghiệp có nguồn lực, thế lực, và cũng có
kỹ năng vꢀn đꢃng chính sꢁch, thꢀm chí là
vꢀn đꢃng hành lang, thúc đẩy cꢁc chính
sꢁch có lợi cho mình. Ngược lại, người
dân và cꢁc tꢄ chức xã hꢃi thường manh
mún, phân tꢁn, kém năng lực tꢄ chức hơn
nhiều. Họ không có quyền lực nhà nước,
cũng không có quyền lực thị trường. Việc
tạo ra dư luꢀn và duy trì sức ép xã hꢃi
là rất khó. Nhìn lại hơn 30 năm cải cꢁch
lꢀp phꢁp, cꢁc văn bản luꢀt liên quan trực
Ngày nay, làm luꢀt nghĩa là xꢁc lꢀp luꢀt
chơi cho rất nhiều tꢁc nhân trong mꢂi quan
hệ giữa ba bên: Nhà nước, Thị trường, và
Xã hꢃi. Trong tương quan uyển chuyển và
biến đꢄi không ngừng ấy, từng tꢁc nhân
có những vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, phản
biện, canh chừng qua lại rất khꢁc nhau.
Đảng cầm quyền, vì sự chính danh để duy
4
Số 15(439) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tiếp đến thúc đẩy phꢁt triển kinh tế như
Luꢀt Doanh nghiệp, Luꢀt Đầu tư, Luꢀt
Cạnh tranh, Luꢀt Chứng khoꢁn, Luꢀt Đất
đai dễ đạt được đồng thuꢀn xã hꢃi để
thông qua. Ngược lại, cꢁc dự luꢀt thúc
đẩy liên kết công dân như dự thảo Luꢀt
về Hꢃi, Luꢀt Biểu tình đều bị trì hoãn qua
nhiều năm.
nghiệp, tài chính, dân cư đang hình thành.
Thương mại điện tử, ngân hàng sꢂ, tín
dụng sꢂ, cꢁc hình thức kinh tế chia sẻ lan
truyền nhanh chóng. Quan niệm về tài
nguyên đang được xem xét lại, không chỉ
bao gồm đất đai, nguồn lực con người, mà
hết thảy dữ liệu, thông tin, tương tꢁc có
thể thu thꢀp, phân tích được. Nền kinh tế
ấy cần tới những quan niệm mới, thꢁch
thức cꢁch hiểu truyền thꢂng. Với tầm nhìn
trở thành mꢃt quꢂc gia có nền kinh tế sꢂ
dẫn đầu ASEAN vào năm 2030, trong giai
đoạn 2021-2025 cꢁc nền tảng cho nền kinh
tế sꢂ sẽ được ưu tiên.
Thực tiễn hoạt đꢃng lꢀp phꢁp ở nước ta
cho thấy, tuyệt đại đa sꢂ sꢁng kiến lꢀp phꢁp
đều do Chính phủ khởi xướng. Chính phủ
hiển nhiên là người dẫn dắt quꢁ trình soạn
thảo luꢀt, chí ít cho đến khi dự ꢁn luꢀt được
trình cho cꢁc Ủy ban của Quꢂc hꢃi. Người
đại biểu có thể tham gia vào quy trình làm
luꢀt thông qua hoạt đꢃng tại cꢁc Ủy ban
và cꢁc phiên họp toàn thể của Quꢂc hꢃi.
Truyền thꢂng làm luꢀt này đã hình thành
và trở thành thói quen khó thay đꢄi. Nói
rꢃng ra, đó chính là những đặc thù trong
quy trình hoạt đꢃng của Quꢂc hꢃi nước ta,
không chỉ đúng cho hoạt đꢃng lꢀp phꢁp,
mà cũng đúng cho quy trình ngân sꢁch và
xem xét thông qua cꢁc quyết định quan
trọng của đất nước. Không thể lý tưởng
hóa vai trò dân cử, phải nhꢀn diện chỗ
đứng và giới hạn của mình, khéo léo tham
gia, người đại biểu mới có thể bảo vệ được
lợi ích của cử tri.
Điều thú vị là, xóa bỏ bao cấp, trong
30 năm qua, Nhà nước đã rút lui dần,
nhường lại quyền lực cho thị trường.
Song, muꢂn thúc đẩy chuyển đꢄi sꢂ phải
định nghĩa lại vai trò của Nhà nước. Thay
vì rút lui, Nhà nước phải can thiệp hiệu
quả hơn, phải điều tiết, nâng đỡ, bảo vệ,
ban thưởng cho cꢁc ý tưởng sꢁng tạo.
Mꢃt Nhà nước dấn thân, khởi tạo mang
tinh thần doanh nhân công.
Bꢂn trụ cꢃt thể chế của mꢃt nền kinh
tế thị trường, khꢁi quꢁt nhất có thể tóm tắt
gồm: (i) Chế đꢃ sở hữu rõ ràng, (ii) Tự do
kinh doanh, (iii) Tự do cạnh tranh, (iv) Có
sự điều tiết, dẫn dắt có hiệu lực của Nhà
nước. Kinh tế sꢂ vẫn dựa trên bꢂn trụ cꢃt
căn bản ấy, song tất cả cꢁc quan niệm liên
quan cần được làm mới, uyển chuyển thay
đꢄi cùng thời đại ngày nay.
Tóm lại, xã hꢃi sꢂ đã giúp cử tri nhanh
chóng trưởng thành và học cꢁch liên kết
thꢀt nhanh. Họ quan sꢁt và đꢁnh giꢁ cꢁc đại
biểu dân cử. Nếu không thấu hiểu và đeo
bꢁm quyết liệt vì lợi ích của cử tri, người
đại biểu tự đꢁnh mất sự ủy nhiệm, sớm hay
muꢃn sẽ rơi dần trong quên lãng, nhạt mờ
dần trong trí nhớ của cử tri.
Sở hữu đất đai là mꢃt ví dụ kinh điển.
Tự cꢄ chí kim, mọi giàu có của loài người
đều dựa trên đất, phꢁi sinh từ đất. Ở nước
ta, sở hữu toàn dân đã được trừu tượng hóa,
thiêng liêng như mꢃt khꢁi niệm chính trị.
Song, trên thực tế, mỗi ô thửa đất ngoài
đời đều đã có chủ rõ ràng; hoặc là đất tư
của người dân và doanh nghiệp, hoặc là
đất công thuꢃc quản lý của chính quyền.
2. Phản biện và định hình quan điểm
chính sách hướng tới nền kinh tế số
Cùng với xã hꢃi sꢂ, Việt Nam đang
chuyển nhanh sang nền kinh tế sꢂ. Cꢁc
cơ sở dữ liệu quꢂc gia về đất đai, doanh
Số 15(439) - T8/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Quyền sử dụng đất mặc nhiên đã trở
thành mꢃt quyền tài sản quý giꢁ, hoặc là
của tư, hoặc là của công. Trên mỗi ô thửa
đất ấy lại phꢁi sinh ra vô sꢂ cꢁc quyền tài
sản khꢁc, như dự ꢁn, căn nhà, căn hꢃ, cꢁc
quyền thế chấp, cho thuê, sở hữu từng
phần theo thời gian, theo mục đích. Cꢁc
quyền tài sản vô tꢀn ấy càng minh bạch,
càng được bảo vệ rõ ràng, được sꢂ hóa,
thì chúng càng thuꢀn tiện cho giao dịch.
Cơ sở dữ liệu quꢂc gia về đất đai là mꢃt
sự chuẩn bị hướng tới mꢃt nền kinh tế
chia sẻ, khi mỗi thông tin, mỗi quyền
tài sản đều dễ dàng trở thành nguồn vꢂn
thuꢀn tiện cho lưu thông. Thời đại sꢂ
làm cho cuꢃc tranh luꢀn về sở hữu toàn
dân hay tư nhân hóa đất đai trở nên thừa
thãi. Đời sꢂng kinh tế sôi đꢃng đã tự nó
nảy mầm vô tꢀn quyền tài sản um tùm
xóa nhòa dần ranh giới giữa sở hữu công
và tư.
Hiển nhiên, nhiều người, kể cả người
có chức quyền quyết liệt phản đꢂi những
gợi ý như thế. Quꢂc hꢃi chính là nơi
trình bày, tranh luꢀn cꢁc ý tưởng mới đó
nhằm đạt tới thuyết phục dựa trên giꢁ
trị và chứng cứ. Rõ ràng, ai cũng muꢂn
nước ta chấm dứt nền kinh tế thâm dụng
lao đꢃng, thoꢁt bẫy làm thuê cho người
nước ngoài và bóc lꢃt tài nguyên, vung
phí tiêu xài nguồn lực. Ai cũng mong
Nhà nước nâng đỡ, khuyến khích đꢄi
mới, sꢁng tạo, bảo hꢃ mọi sꢁng kiến
kinh doanh thân thiện với môi trường.
Chuyển đꢄi sꢂ là mꢃt cơ hꢃi để Nhà
nước bẻ ghi cꢁc chính sꢁch kinh tế theo
lꢂi mới ấy.
Mꢃt Nhà nước dấn thân - khởi tạo còn
thể hiện ở chỗ: Hạ tầng của nền kinh tế
sꢂ phải được tạo ra và bảo vệ mꢃt cꢁch
hiệu quả bởi Nhà nước. Ngoài cơ sở dữ
liệu quꢂc gia về đất đai, doanh nghiệp,
bảo hiểm, tài chính, hꢃ gia đình, dân cư,
cꢁc nguồn cơ sở dữ liệu vô tꢀn khꢁc liên
quan đến đời sꢂng và sinh hoạt của hàng
triệu người dân sẽ hình thành (y tế, giꢁo
dục, thói quen chi tiêu, đi lại, sở thích,
quan điểm chính trị, tôn giꢁo…). Không
gian riêng tư, sự an toàn của cơ sở dữ liệu,
sự bảo hꢃ hiệu quả của Nhà nước đꢂi với
dữ liệu tích hợp được, cꢁc sꢁng chế, phꢁt
minh và vô sꢂ đꢂi tượng khꢁc của sở hữu
trí tuệ là những tiền đề cho kinh tế sꢂ phꢁt
triển bền vững.
Mặt khꢁc, bất luꢀn đất công hay tư,
quyền của chủ đất luôn bị hạn chế bởi Nhà
nước. Phꢂ phường chꢀt chꢃi, không gian
ngầm và quyền sử dụng bề mặt của cꢁc lô
đất tư nhân đꢁng lẽ nên được giới hạn để
khai thꢁc vì lợi ích công cꢃng (ở những nơi
và vào những lúc nếu Nhà nước xét thấy
cần thiết). Tương tự, vì mỹ quan đô thị, việc
thiết kế và khai thꢁc mặt tiền của cꢁc tòa
nhà tư nhân đều nên được kiểm soꢁt, hạn
chế khắt khe hơn. Người tích trữ, đầu cơ
đất đai, người sở hữu nhiều nhà đất hiển
nhiên phải gꢁnh chịu những nghĩa vụ thuế
tài sản và phí nhà đất đꢁng kể hơn so với
những người chỉ có mꢃt căn nhà để ở. Tất
cả những gợi ý này minh họa cho nhu cầu
can thiệp đꢁng ra phải mạnh mẽ hơn của
Nhà nước đꢂi với tài nguyên đất đai khan
hiếm. Tăng can thiệp của Nhà nước ngay
lꢀp tức sẽ thay đꢄi hành vi của người dân và
doanh nghiệp trên thị trường.
Kinh tế biến thiên mau lẹ đòi hỏi hoạt
đꢃng lꢀp phꢁp cũng phải uyển chuyển
thay đꢄi theo. Những phiên thảo luꢀn
toàn thể với 500 đại biểu chắc rằng chỉ
phù hợp với cꢁc nghi lễ như bầu cử, chất
vấn, thảo luꢀn định hướng chính sꢁch,
hơn là luꢀn bàn về kỹ thuꢀt chi tiết của
từng văn bản luꢀt. Công xưởng để làm ra
luꢀt hiển nhiên phải là cꢁc Ủy ban có tính
6
Số 15(439) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chuyên sâu của Quꢂc hꢃi. Ngoài ra, cần
phải có mꢃt đầu mꢂi tꢀp trung, tꢀp hợp
được cꢁc chuyên gia, chuyên nghiệp giỏi
nghề dịch chính sꢁch thành những điều
luꢀt. Đầu mꢂi này giúp canh chừng, bảo
đảm rằng cꢁc dự thảo luꢀt phải đạt chuẩn
chất lượng trước khi được trình cho cꢁc
đại biểu thảo luꢀn. Nói cꢁch khꢁc, sản
phẩm của lꢀp phꢁp chính là cꢁc văn bản
luꢀt. Để bớt lạc hꢀu so với mꢃt nền kinh
tế sôi đꢃng đầy sꢁng tạo, Quꢂc hꢃi phải
nghiên cứu cải tiến quy trình làm luꢀt
sao cho sản phẩm của lꢀp phꢁp ngày
càng được hoàn hảo hơn.
cơ sở dữ liệu sꢂ hóa phục vụ cho cꢁc hoạt
đꢃng lꢀp phꢁp, xꢁc lꢀp cơ sở dữ liệu chung
giữa cꢁc Ủy ban, giữa cꢁc đại biểu, và trao
tiếp cꢀn cꢁc cơ sở dữ liệu quꢂc gia chung,
xây dựng quy trình thủ tục để tiến hành thảo
luꢀn và bỏ phiếu trực tuyến rồi sẽ trở thành
hiện thực. Quꢂc hꢃi không thể lạc hꢀu trước
Xã hꢃi sꢂ, Kinh tế sꢂ, và mꢃt Chính phủ
đang tiến nhanh tới sꢂ hóa. Nếu không cải
cꢁch phù hợp với thời đại sꢂ, Quꢂc hꢃi khó
thực hiện được mꢃt cꢁch suôn sẻ cꢁc quyền
hiến định.
Với cꢁ nhân mỗi đại biểu Quꢂc hꢃi, có
vô sꢂ thꢁch thức cũ và mới trong hoạt đꢃng
lꢀp phꢁp. Mꢃt mặt, Quꢂc hꢃi là mꢃt thiết
chế truyền thꢂng với những nề nếp rất khó
thay đꢄi. Trong môi trường đó, không gian
sꢁng tạo của từng vị đại biểu rất có hạn. Mặt
khꢁc, trong quꢁ trình thảo luꢀn và đề xuất
chính sꢁch, Chính phủ hiển nhiên có lợi
thế hơn hẳn về thông tin. Cꢁ nhân từng đại
biểu phải chịu sức ép bất cân xứng thông tin
từ phía cꢁc tꢄ chức trình dự ꢁn luꢀt, từ cꢁc
nhóm vꢀn đꢃng chính sꢁch, và từ dư luꢀn
xã hꢃi. Đại biểu vừa thiếu thông tin, vừa
thừa tín hiệu từ cꢁc nhóm vꢀn đꢃng chính
sꢁch, dư luꢀn và mạng xã hꢃi, lại bị hạn chế
về thời gian và nguồn lực hỗ trợ. Thời đại
sꢂ chỉ làm trầm trọng thêm cꢁc thꢁch thức
nêu trên.
3. Tương tác với đồng nghiệp và nền
hành chính trong thời đại Chính phủ số
Chính phủ đã ban hành mꢃt Chương
trình đầy tham vọng, phấn đấu sẽ hoàn
tất cꢁc cấp đꢃ của Chính phủ điện tử vào
năm 2025, từ đó tiến dần tới Chính phủ
sꢂ vào năm 2030. Chương trình này ưu
tiên cꢁc mục tiêu cải cꢁch nền hành chính
công, tạo cơ sở dữ liệu, mở rꢃng kết nꢂi,
từ đó đơn giản và sꢂ hóa cꢁc dịch vụ công.
Bên cạnh Cꢄng dịch vụ công quꢂc gia,
nền hành chính cꢁc địa phương hiện đang
nỗ lực cạnh tranh để tạo môi trường ngày
càng thân thiện hơn, phục vụ người dân và
doanh nghiệp được tꢂt hơn. Vô sꢂ cꢁc sꢁng
kiến chuyển đꢄi sꢂ nhằm cải thiện dịch vụ
công đã xuất hiện từ cuꢃc cạnh tranh giữa
cꢁc địa phương. Hành phꢁp đang thay đꢄi
tiến tới Chính phủ sꢂ.
Thế giới quả là rꢃng lớn, mꢃt nhiệm kỳ
5 năm lại ngắn ngủi vô cùng. Không thể ảo
vọng, cũng không nên lý tưởng hóa, với mꢃt
cꢁch tiếp cꢀn sꢁt thực tiễn, nếu thấu hiểu ước
vọng của cử tri, nếu luôn đề cao lợi ích quꢂc
gia, dân tꢃc, nếu bắt nhịp được cùng thời
đại, người đại biểu sẽ xꢁc lꢀp được những
thứ tự ưu tiên để từ đó làm được nhiều nhất
Trong bꢂi cảnh đó, cꢁch vꢀn hành cꢁc
quyền lꢀp phꢁp và tư phꢁp tất yếu sẽ phải
thay đꢄi theo. Tòa ꢁn thông minh, Tòa ꢁn
sꢂ, Quꢂc hꢃi điện tử, Quꢂc hꢃi sꢂ… chắc
chắn là những khꢁi niệm sẽ sớm định hình
rõ dần trong mꢃt tương lai rất gần. Trong đại
dịch COVID-19, đại biểu nước ta đã quen
nhanh với cꢁc phiên họp trực tuyến. Tiếp
nhꢀn hồ sơ lꢀp phꢁp trực tuyến, xây dựng
những điều có thể trong giới hạn của mình
Số 15(439) - T8/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRƯỜNG TƯ THỤC
Bùi Xuân Hải*
*PGS. TS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Trường tư thục, phꢁp
luꢀt về trường tư thục.
Hiện nay ở nước ta, cꢁc cơ sở giꢁo dục tư thục đang có vị trí, vai trò rất
khiêm tꢂn trong hệ thꢂng giꢁo dục quꢂc dân. Mꢃt trong sꢂ cꢁc nguyên
nhân của thực trạng này là do những hạn chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định
của phꢁp luꢀt về trường tư thục. Trong phạm vi bài viết này, tꢁc giả phân
tích cꢁc hạn chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định của phꢁp luꢀt về trường tư thục
và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhꢀn bài
Biên tꢀp
Duyệt bài
: 18/6/2021
: 08/7/2021
: 11/7/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Private schools; legal
regulations on private school.
Private schools have a very modest role in the national education system.
One of the reasons is due to the limitations and disadvantages of legal
regulation on private schools. Within the scope of this article, the author
provides an analysis of the shortcomings and inadequacies in the legal
regulations on private schools and proposes recommendations for
improvements.
Article History:
Received
Edited
: 18 Jun. 2021
: 08 July 2021
: 11 July 2021
Approved
Cꢁc trường tư thục đã được thừa nhꢀn rꢃng
rãi từ lâu trên thế giới và có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền giꢁo dục, góp phần đꢁp
ứng cꢁc nhu cầu đa dạng của xã hꢃi và chia
sẻ gꢁnh nặng đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên,
hiện nay ở Việt Nam, vị trí vai trò của cơ sở
giꢁo dục (CSGD) tư thục còn rất khiêm tꢂn,
chưa tương xứng với tiềm năng.
Ở Miền Nam nước ta, cꢁch đây mꢃt nửa
thế kỷ, trong năm học 1960 -1961 học sinh cꢁc
trường tư thục đã chiếm tỷ lệ tới 51,14%; đến
năm 1975 thì có trên 1.000 trường tư thục và
1,2 triệu học sinh phꢄ thông1. Tuy nhiên, hiện
nay ở nước ta, sꢂ lượng cꢁc trường tư thục ở
cꢁc cấp học còn khꢁ thấp, chủ yếu tꢀp trung ở
cꢁc thành phꢂ lớn như Hà Nꢃi, thành phꢂ Hồ
Chí Minh. Sꢂ lượng học sinh, sinh viên cꢁc
trường tư thục chiếm tỷ lệ khꢁ nhỏ so với cꢁc
trường công lꢀp. Năm 2018, tỷ trọng sinh viên
cꢁc trường đại học tư thục ở nước ta chỉ chiếm
16% so với 84% của cꢁc CSGD đại học công
lꢀp (không tính sinh viên cꢁc trường quân đꢃi
và công an)2, mꢃt tỷ trọng khꢁ thấp so với mức
trung bình của Đông Nam Á là 41,8%, Châu Á
là 42,1% và thế giới là 32,9%3. Ở mꢃt sꢂ nước
như Indonesia hay Hàn Quꢂc, CSGD tư thục
đang chiếm tỷ trọng cao hơn công lꢀp trong
đào tạo trình đꢃ đại học và cao đẳng4.
1 Ngô Minh Oanh (Chủ biên), Giáo dục phổ thông miền Nam (1954-1975), Nxb. Tꢄng hợp TP. Hồ Chí Minh,
2018, tr.33-34
2 Trần Văn Hùng, Xu thế phát triển của hệ thống đại học tư thục Việt Nam, Tạp chí Giꢁo dục, sꢂ 475 (kỳ 1-4/2020), tr.12.
3 Bꢃ Giꢁo dục và Đào tạo, Tài liệu hội nghị Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục đại học
và trường sư phạm năm 2018; Trần Văn Hùng, Xu thế phát triển của hệ thống đại học tư thục Việt Nam, Tạp
chí Giꢁo dục, sꢂ 475 (kỳ 1-4/2020), tr. 12.
4
International Finance Corporation (IFC - World Bank Group), Education Investment Guide: Guide for
Investors in Private Education in Emerging Markets, 2010, p.4.
8
Số 15(439) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Từ khi Việt Nam thực hiện công cuꢃc đꢄi
mới, nền kinh tế nước ta đã tăng trưởng liên
tục với tꢂc đꢃ khꢁ cao, đời sꢂng và thu nhꢀp
của người dân tăng cao nhiều lần so với trước,
nhu cầu của phụ huynh cho con học những
trường tꢂt về cơ sở vꢀt chất và chất lượng cao
cũng tăng lên hàng năm. Vꢀy tại sao tỷ trọng
sꢂ lượng trường tư thục và người học tại cꢁc
trường tư thục hiện nay so với trường công lꢀp
ở Việt Nam vẫn còn rất thấp so với khu vực và
thế giới?
nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo
đảm điều kiện hoạt đꢃng”.
Khꢁc với Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH,
Luꢀt GDNN năm 2014 quy định ba loại hình
CSGD nghề nghiệp là công lập, tư thục và
có vốn đầu tư nước ngoài. Như vꢀy, CSGD
nghề nghiệp có vꢂn đầu tư nước ngoài không
được coi là CSGD nghề nghiệp tư thục. Hơn
nữa, cũng giꢂng như Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt
GDĐH, Luꢀt GDNN còn quy định thêm loại
hình CSGD nghề nghiệp tư thục không vì lợi
nhuꢀn và CSGD nghề nghiệp có vꢂn đầu tư
nước ngoài không vì lợi nhuꢀn.
Như vꢀy, ba văn bản luꢀt về giꢁo dục là Luꢀt
Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH quy định
không giꢂng nhau về loại hình trường tư thục.
Nếu Luꢀt GDNN có sự phân biệt giữa CSGD
nghề nghiệp tư thục và CSGD nghề nghiệp có
vꢂn đầu tư nước ngoài; sau đó, CSGD nghề
nghiệp có vꢂn đầu tư nước ngoài lại được chia
thành hai loại là CSGD nghề nghiệp 100%
vꢂn của nhà đầu tư nước ngoài và CSGD nghề
nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài5, thì Luꢀt Giꢁo dục và
Luꢀt GDĐH không quy định như vꢀy. Để đảm
bảo sự thꢂng nhất trong việc phân loại, định
danh cꢁc loại hình trường tư thục, tꢁc giả cho
rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN
và Luꢀt GDĐH theo hướng bảo đảm sự thꢂng
nhất rõ ràng về cꢁc loại hình, mô hình trường
tư thục ở Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng
nêu trên, trong đó có nguyên nhân do cꢁc hạn
chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định của phꢁp luꢀt
về CSGD tư thục, cụ thể như sau:
Thứ nhất, cần quy định thống nhất về các loại
hình trường tư thục trong 3 đạo luật về giáo dục
Hiện nay, việc thành lꢀp và hoạt đꢃng của
cꢁc CSGD tư thục được điều chỉnh bởi Luꢀt
Giꢁo dục năm 2019 (Luꢀt Giꢁo dục), Luꢀt Giꢁo
dục nghề nghiệp năm 2014 (Luꢀt GDNN),
Luꢀt Giꢁo dục đại học năm 2012 đã được sửa
đꢄi, bꢄ sung năm 2018 (Luꢀt GDĐH). Xét về
mꢂi quan hệ giữa cꢁc đạo luꢀt này thì Luꢀt
Giꢁo dục cần phải đóng vai trò là luꢀt chung
về giꢁo dục. Bởi lẽ, Luꢀt Giꢁo dục quy định
đầy đủ, toàn diện về nền giꢁo dục như: nguyên
lý, triết lý giꢁo dục, loại hình cơ sở giꢁo dục,
đầu tư vào giꢁo dục, quyền và nghĩa vụ của nhà
giꢁo và người học; đặc biệt là về hệ thꢂng giꢁo
dục quꢂc dân với cꢁc cấp học và trình đꢃ đào
tạo. Trong khi đó, Luꢀt GDNN điều chỉnh về
giꢁo dục nghề nghiệp, Luꢀt GDĐH điều chỉnh
về giꢁo dục đại học, hai trình đꢃ đào tạo, hai bꢃ
phꢀn cấu thành của hệ thꢂng giꢁo dục quꢂc dân
được điều chỉnh bởi Luꢀt Giꢁo dục.
Thứ hai, cần có thêm các mô hình (loại
hình) trường tư thục
Ở nước ngoài, có nhiều mô hình trường
tư thục khꢁc nhau như: trường tư thục có tài
trợ của nhà nước, trường tư thục không vì lợi
nhuꢀn, trường tư thục mꢃt phần vì lợi nhuꢀn,
trường tư thục vì lợi nhuꢀn6; ngoài ra, còn có
CSGD liên kết giữa nhà nước và tư nhân kiểu
đꢂi tꢁc công tư (Public Private Partnership -
PPP)7. Phꢁp luꢀt cần công nhꢀn nhiều mô hình
Luꢀt Giꢁo dục quy định ba loại hình nhà
trường là công lập, dân lập và tư thục. Luꢀt
GDĐH quy định có hai loại CSGD đại học là
công lập và tư thục. Cả hai Luꢀt này đều quy
định trường tư thục là “do cꢁc nhà đầu tư trong
5 Khoản 2 Điều 5 Luꢀt GDNN.
6 Xem Phạm Phụ, Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam, Nxb. Đại học Quꢂc gia TP. Hồ Chí Minh,
2011, tr. 165, 169.
7 Phạm Phụ, tlđd, 2011, tr.53.
Số 15(439) - T8/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trường tư thục vì hai lý do cơ bản: (i) Tạo điều
kiện cho sự hợp tꢁc giữa cꢁc loại chủ thể khꢁc
nhau và (ii) Nhằm đa dạng hóa sự lựa chọn cho
cꢁc nhà đầu tư vào lĩnh vực giꢁo dục để đꢁp ứng
nhu cầu đa dạng của xã hꢃi8. Việc xây dựng cꢁc
mô hình trường tư thục chủ yếu dựa vào hai
yếu tꢂ cơ bản là mục đích hoạt đꢃng và sở hữu
tài sản. Xét về mục đích hoạt đꢃng của CSGD
tư thục, mà thực chất là mục đích của nhà đầu
tư, thì có ba loại: (i) Hoạt đꢃng vì lợi nhuꢀn,
(ii) Hoạt đꢃng mꢃt phần vì lợi nhuꢀn, (iii) Hoạt
đꢃng không vì lợi nhuꢀn. Nếu hiểu lợi nhuꢀn
là chênh lệch giữa tꢄng doanh thu và tꢄng chi
phí thì tất cả cꢁc cơ sở giꢁo dục, kể cả trường
công lꢀp, đều phải có mục đích hoạt đꢃng
hướng tới lợi nhuꢀn nhưng khꢁc nhau về việc
phân chia và sử dụng lợi nhuꢀn (khoản chênh
lệch) đó như thế nào. Nhà đầu tư vào trường tư
thục có thể vì mục đích được hưởng lợi nhuꢀn
(hay lợi tức) hoặc vì mục đích đóng góp cho xã
hꢃi (không rút vꢂn, không hưởng lợi tức). Luꢀt
Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH hiện hành
chỉ quy định về “trường tư thục” và “trường tư
thục hoạt đꢃng không vì lợi nhuꢀn”. Theo đó,
nhà đầu tư của trường tư thục hoạt đꢃng không
vì lợi nhuꢀn phải cam kết hoạt đꢃng không vì
lợi nhuꢀn, không rút vꢂn, không hưởng lợi tức9.
Tuy nhiên, quy định hiện hành không xꢁc định
rõ “trường tư thục” có phải là CSGD hoạt đꢃng
vì mục đích lợi nhuꢀn hay không, từ đó dẫn đến
cꢁc cꢁch hiểu khꢁc nhau về mục đích hoạt đꢃng
của loại CSGD này.
học và phụ huynh cũng đã quen với hoạt đꢃng
“kinh doanh dịch vụ giꢁo dục” và vấn đề “giꢁo
dục vì lợi nhuꢀn”10. Nghị quyết sꢂ 29-NQ/TW
của Đảng đã đề ra chủ trương khuyến khích
phꢁt triển cꢁc loại hình trường ngoài công lꢀp
đꢁp ứng nhu cầu xã hꢃi về giꢁo dục chất lượng
cao ở khu vực đô thị. Chiến lược phꢁt triển
kinh tế xã hꢃi 10 năm 2021-2030 được Đại hꢃi
lần thứ XIII của Đảng thông qua khẳng định
phải: “phꢁt triển hài hòa giữa giꢁo dục công lꢀp
và ngoài công lꢀp”, “đa dạng hóa cꢁc loại hình
đào tạo, hoàn thiện chính sꢁch phꢁt triển cꢁc
cơ sở đào tạo ngoài công lꢀp, thực hiện cơ chế
tự chủ đꢂi với đào tạo bꢀc đại học phù hợp với
xu thế chung của thế giới, chuyển đꢄi trường
đại học công lꢀp kém hiệu quả sang mô hình
hợp tꢁc công - tư”11. Thực hiện chủ trương của
Đảng, trong thời gian tới, chúng ta cần phꢁt
triển thêm cꢁc loại hình trường tư thục để phù
hợp với thông lệ quꢂc tế, đꢁp ứng yêu cầu đa
dạng của cꢁc nhà đầu tư vào giꢁo dục (với cꢁc
khả năng và có mục đích khꢁc nhau) và nhu
cầu đa dạng của người học. Do đó, cần sửa
đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH
theo hướng quy định cꢁc loại trường tư thục là:
CSGD tư thục vì lợi nhuꢀn (cho phép nhà đầu
tư phân chia lợi nhuꢀn theo thỏa thuꢀn), CSGD
tư thục mꢃt phần vì lợi nhuꢀn (cho phép nhà
đầu tư được phân chia mꢃt phần lợi nhuꢀn theo
thỏa thuꢀn, phần lợi nhuꢀn còn lại không phân
chia và tích lũy làm tài sản chung), CSGD tư
thục không vì lợi nhuꢀn (không cho phép nhà
đầu tư rút vꢂn và phân chia lợi nhuꢀn).
Trong nhiều thꢀp kỷ qua, người Việt Nam
đã quen với sự đꢃc tôn của hệ thꢂng trường
công lꢀp và chính sꢁch bao cấp của Nhà nước
cho giꢁo dục. Hiện nay, trong điều kiện nền
kinh tế thị trường với sự phꢁt triển của hoạt
đꢃng đầu tư kinh doanh và hꢃi nhꢀp quꢂc tế
về giꢁo dục thì cꢁc nhà quản lý giꢁo dục, người
Thứ ba, cần quy định quyền đầu tư của các
doanh nghiệp nhà nước vào cơ sở giáo dục
Trong thực tiễn, đã có rất nhiều tꢀp đoàn,
tꢄng công ty nhà nước thành lꢀp đơn vị sự
nghiệp trực thuꢃc mình, như cꢁc trường cao
đẳng, trường đại học, bệnh viện, viện nghiên
8 Xem thêm: International Finance Corporation (IFC), tlđd, tr. 6-7.
9 Điểm c khoản 1 Điều 47 Luꢀt Giꢁo dục năm 2019.
10 Theo Luꢀt Đầu tư năm 2020 thì hoạt đꢃng của cơ sở giꢁo dục cꢁc cấp học và trình đꢃ đào tạo cũng là những
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (xem Phụ lục IV của Luꢀt).
11 Xem Mục 3 Phần V - Chiến lược phꢁt triển kinh tế - xã hꢃi 10 năm 2021-2030 đã được Đại hꢃi Đại biểu toàn
quꢂc lần thứ XIII của Đảng thông qua.
10
Số 15(439) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cứu12… Nghị quyết sꢂ 12-NQ/TW ngày
03/6/2017 của Đảng và Luꢀt Doanh nghiệp
năm 2020 đã quy định doanh nghiệp nhà nước
gồm có hai loại: (i) Doanh nghiệp có 100%
vꢂn nhà nước (tꢄ chức và hoạt đꢃng dưới hình
thức công ty trꢁch nhiệm hữu hạn mꢃt thành
viên) và (ii) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm
giữ trên 50% vꢂn điều lệ, tꢄng sꢂ cꢄ phần có
quyền biểu quyết (tꢄ chức và hoạt đꢃng dưới
hình thức công ty trꢁch nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên hoặc công ty cꢄ phần)13.
Theo định nghĩa về “nhà đầu tư” trong Luꢀt
Đầu tư năm 2020 và Luꢀt Giꢁo dục14 thì doanh
nghiệp nhà nước là “nhà đầu tư trong nước”;
vꢀy cꢁc doanh nghiệp nhà nước có quyền
thành lꢀp CSGD hay không và CSGD được
thành lꢀp bởi cꢁc doanh nghiệp nhà nước được
coi là CSGD tư thục hay công lꢀp?
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH
không quy định cụ thể cꢁc tꢄ chức, cꢁ nhân bị
cấm thành lꢀp CSGD. Tuy nhiên, cꢁc luꢀt này
có quy định về cꢁc loại hình nhà trường và chủ
thể đầu tư, sở hữu của từng loại hình nhà trường.
Cụ thể, Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH quy định
CSGD công lꢀp “do Nhà nước đầu tư, bảo đảm
điều kiện hoạt đꢃng và đại diện chủ sở hữu”.
Theo quy định của Luꢀt GDNN, CSGD nghề
nghiệp công lꢀp là “cơ sở giꢁo dục nghề nghiệp
thuꢃc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư,
xây dựng cơ sở vꢀt chất” (khoản 2 Điều 5). Vì
vꢀy, nếu CSGD do doanh nghiệp nhà nước đầu
tư thành lꢀp và sở hữu thì sẽ không được coi là
CSGD công lꢀp vì không phải do Nhà nước đầu
tư, Nhà nước sở hữu… như cꢁc định nghĩa nêu
trên. Hơn nữa, vꢂn đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước vào CSGD không phải là vꢂn ngân sꢁch
nhà nước mà là vꢂn của doanh nghiệp (công ty
trꢁch nhiệm hữu hạn hoặc công ty cꢄ phần); vì
thế, doanh nghiệp nhà nước không thể là chủ thể
đầu tư thành lꢀp CSGD công lꢀp.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Luꢀt GDNN
quy định CSGD nghề nghiệp tư thục là CSGD
nghề nghiệp thuꢃc sở hữu của cꢁc tꢄ chức xã
hꢃi, tꢄ chức xã hꢃi - nghề nghiệp, tꢄ chức kinh
tế tư nhân hoặc cꢁ nhân, do cꢁc tꢄ chức xã hꢃi,
tꢄ chức xã hꢃi - nghề nghiệp, tꢄ chức kinh tế tư
nhân hoặc cꢁ nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vꢀt
chất. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước không
thuꢃc cꢁc thành phần được đề cꢀp đến trong
quy định nêu trên; do đó, cꢁc doanh nghiệp nhà
nước không thể đầu tư thành lꢀp CSGD nghề
nghiệp tư thục.
Hiện nay, cꢁc doanh nghiệp nhà nước
đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong
nền kinh tế; nếu loại doanh nghiệp này không
có quyền đầu tư thành lꢀp CSGD thì là mꢃt
bất cꢀp cần phải khắc phục. Cꢁc cơ quan
đại diện chủ sở hữu nhà nước có thể định
hướng và kiểm soꢁt việc đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước vào lĩnh vực giꢁo dục theo
quy định của Luꢀt Quản lý, sử dụng vꢂn nhà
nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại
doanh nghiệp năm 2014. Nhà nước cần phải
chấp nhꢀn việc cꢁc doanh nghiệp có vꢂn nhà
nước (ở mức đꢃ khꢁc nhau) có quyền đầu tư
vào CSGD tư thục15. Không nên quan niệm
trường tư thục thì phải có 100% vꢂn của tư
nhân mà không có phần vꢂn nào có nguồn
gꢂc từ Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
Vì vꢀy, để khắc phục cꢁc hạn chế nêu trên,
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN và Luꢀt GDĐH
cần thꢂng nhất quan niệm doanh nghiệp nhà
nước cũng là nhà đầu tư và doanh nghiệp nhà
nước có thể đầu tư vꢂn vào trường tư thục
như cꢁc nhà đầu tư khꢁc.
12 Ví dụ: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông được thành lꢀp theo Quyết định sꢂ 516/TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 11/7/1997 trên cơ sở sắp xếp lại 4 đơn vị thành viên thuꢃc Tꢄng Công ty Bưu chính Viễn thông
Việt Nam là Viện Khoa học Kỹ thuꢀt Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện, Trung tâm đào tạo Bưu chính Viễn thông
1 và 2. Hiện nay, Học viện đã được chuyển về là đơn vị sự nghiệp thuꢃc Bꢃ Thông tin truyền thông.
13 Khoản 11 Điều 4, Điều 88 Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020.
14 Khoản 18 Điều 3 Luꢀt Đầu tư năm 2020; khoản 11 Điều 5 Luꢀt Giꢁo dục năm 2019.
15 Lưu ý rằng: doanh nghiệp có vꢂn nhà nước gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp mà nhà nước sở
hữu không quꢁ 50% vꢂn điều lệ hoặc tꢄng sꢂ cꢄ phần có quyền biểu quyết; không phải tất cả cꢁc doanh nghiệp
có vꢂn nhà nước đều là doanh nghiệp nhà nước.
Số 15(439) - T8/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thứ tư, cần cho phép sự hợp tác giữa các
nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước
ngoài thành lập cơ sở giáo dục tư thục
dục nêu trên cũng không quy định về những
trường hợp bị cấm tham gia quản lý, điều hành
trường tư thục như: bị cấm tham gia là thành viên
hꢃi đồng trường, cấm giữ chức vụ hiệu trưởng,
phó hiệu trưởng…
Điều 47 Luꢀt Giꢁo dục và Điều 7 Luꢀt
GDĐH quy định CSGD tư thục có thể được
thành lꢀp bởi nhà đầu tư trong nước hoặc nhà
đầu tư nước ngoài. Chữ “hoặc” trong hai điều
luꢀt này dẫn đến hệ quả là cꢁc nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài không thể cùng
nhau đầu tư thành lꢀp CSGD tư thục. Bên cạnh
đó, Điều 102 Luꢀt Giꢁo dục quy định nhà đầu
tư vào CSGD tư thục có thể chuyển nhượng vꢂn
góp của mình cho nhà đầu tư khꢁc. Vꢀy, câu hỏi
đặt ra là nhà đầu tư nước ngoài có được mua lại
vꢂn góp của nhà đầu tư trong nước trong CSGD
tư thục và ngược lại để dẫn đến việc trường tư
thục đó vừa có nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài hay không? Hơn nữa, Luꢀt
GDNN cho phép thành lꢀp cơ sở giꢁo dục nghề
nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài; tức là cho phép sự hợp
tꢁc giữa cꢁc nhà đầu tư trong nước và nhà đầu
tư nước ngoài. Vì vꢀy, Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt
GDĐH không cho phép nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài hợp tꢁc cùng nhau
thành lꢀp CSGD tư thục là bất hợp lý, không
thꢂng nhất với Luꢀt GDNN. Để khắc phục bất
cꢀp nêu trên, tꢁc giả cho rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt
Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH theo hướng cho phép
sự hợp tꢁc giữa cꢁc nhà đầu tư mang quꢂc tịch
khꢁc nhau để thành lꢀp CSGD tư thục và nhꢀn
chuyển nhượng vꢂn góp trong CSGD tư thục.
Thứ năm, cần đặt ra điều kiện đối với nhà
đầu tư thành lập và người quản lý trường tư thục
Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020 và cꢁc luꢀt
chuyên ngành về lĩnh vực tài chính, ngân hàng,
chứng khoꢁn, … đều quy định rõ về đꢂi tượng
có quyền và đꢂi tượng bị cấm thành lꢀp doanh
nghiệp hay tham gia quản lý doanh nghiệp16.
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDĐH, Luꢀt GDNN
không quy định về đꢂi tượng bị cấm thành lꢀp
CSGD tư thục; do đó, có thể suy luꢀn rằng, mọi
nhà đầu tư đều có thể xin phép thành lꢀp CSGD
tư thục. Bên cạnh đó, cꢁc văn bản luꢀt về giꢁo
Tꢁc giả cho rằng, giꢁo dục đào tạo là lĩnh vực
đặc thù, dịch vụ giꢁo dục là dịch vụ khꢁ đặc biệt
vì có liên quan đến học vấn, trình đꢃ, kỹ năng,
đạo đức, tư tưởng của con người; ảnh hưởng
lớn đến văn hóa, đến sự ꢄn định và phꢁt triển
của xã hꢃi. Vì vꢀy, nhà đầu tư thành lꢀp CSGD
tư thục và đặc biệt là người tham gia quản lý
CSGD tư thục cũng phải đꢁp ứng điều kiện nhất
định, không nên chấp nhꢀn bất cứ tꢄ chức, cꢁ
nhân nào cũng có quyền thành lꢀp CSGD tư
thục hoặc tham gia quản lý, điều hành CSGD
tư thục. Vì vꢀy, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt
GDNN, Luꢀt GDĐH theo hướng quy định cꢁc
tꢄ chức, cꢁ nhân bị cấm đầu tư, góp vꢂn thành
lꢀp CSGD tư thục, cấm tham gia quản lý, điều
hành CSGD tư thục cho phù hợp với lĩnh vực
dịch vụ đặc thù này, ví dụ, quy định cấm những
đꢂi tượng sau đây thành lꢀp, quản lý trường tư
thục: những người bị cấm theo phꢁp luꢀt về cꢁn
bꢃ, công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức
quꢂc phòng; người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự;
người có khó khăn trong nhꢀn thức, làm chủ
hành vi; người đang bị truy cứu trꢁch nhiệm hình
sự, đang chấp hành hình phạt theo bản ꢁn kết tꢃi
của tòa ꢁn, đang chấp hành biện phꢁp xử lý hành
chính tại cơ sở cai nghiện bắt buꢃc, cơ sở giꢁo
dục bắt buꢃc hoặc người đã từng bị kết ꢁn về cꢁc
tꢃi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi
đꢂi với trẻ em…
Thứ sáu, cần sửa đổi quy định về các loại tài
sản và quyền sở hữu tài sản của trường tư thục
- Ở cꢁc nước trên thế giới, tài sản của CSGD
tư thục được hình thành từ nhiều nguồn khꢁc
nhau như: đóng góp của nhà đầu tư, hỗ trợ của
nhà nước, học phí của người học, đóng góp của
cꢁc nhà hảo tâm (cꢁc quỹ, cꢁc tꢄ chức, cꢁ nhân)và
từ hoạt đꢃng đầu tư của trường17. Trường tư thục
16 Ví dụ, xem Điều 17 Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020; Điều 33, 50 Luꢀt Cꢁc tꢄ chức tín dụng; Điều 74,75 Luꢀt Chứng khoꢁn.
17 Xem thêm cꢁc tài liệu: International Finance Corporation, tlđd, tr.20-22; Trương Thị Bích, Trần ThịYến, Một số giải pháp về cơ chế chính
sách đối với các trường phổ thông dân lập, tư thục tại Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Tạp chí Giꢁo dục, sꢂ thꢁng 6/2018, tr.62.
12
Số 15(439) - T8/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
càng uy tín, càng nꢄi tiếng, có nhiều cựu học sinh
thành đạt thì càng có khả năng thu hút tài chính
gây quỹ, được tặng cho hoặc có cꢁc hợp đồng cho
hoạt đꢃng nghiên cứu, tư vấn, làm dự ꢁn.
Khoản 2 Điều 102 Luꢀt Giꢁo dục quy
định “Tài sản của trường tư thục thuꢃc sở
hữu của nhà đầu tư, hình thành từ vꢂn góp
của nhà đầu tư”. Quy định này dẫn đến hệ
quả phꢁp lý là: Với tư cꢁch là chủ sở hữu thì
nhà đầu tư có quyền định đoạt tài sản của
trường tư thục và CSGD tư thục sẽ không có
tài sản thuꢃc sở hữu của chính mình.
nhiệm. Tuy nhiên, Luꢀt GĐDH cũng chưa có
cꢁc quy định cụ thể về chế đꢃ quản lý, sử dụng
và định đoạt tài sản của CSGD đại học tư thục
hoạt đꢃng không vì lợi nhuꢀn.
Luꢀt GDNN không có quy định cụ thể
nào về quyền sở hữu tài sản của CSGD nghề
nghiệp tư thục và CSGD nghề nghiệp có vꢂn
đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Luꢀt quy định
về tài sản và đất đai được Nhà nước giao cho
CSGD nghề nghiệp tư thục quản lý và tài sản
mà CSGD nghề nghiệp tư thục được tài trợ,
viện trợ, biếu, tặng, cho phải được sử dụng
đúng mục đích, không chuyển đꢄi mục đích
sử dụng và không được chuyển thành sở hữu
tư nhân dưới bất kỳ hình thức nào (khoản 4
Điều 31). Tuy nhiên, cũng như Luꢀt Giꢁo
dục, Luꢀt GDNN không quy định về cꢁc loại
tài sản của trường tư thục mꢃt cꢁch rõ ràng
như Luꢀt GDĐH. Hơn nữa, cả ba luꢀt về giꢁo
dục hiện hành không có quy định đặc thù về
chế đꢃ quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản của
trường tư thục không vì lợi nhuꢀn.
Để khắc phục những bất cꢀp nêu trên, tꢁc
giả cho rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt
GDNN, Luꢀt GDĐH theo hướng sau: Thứ
nhất, cần quy định cụ thể phân tꢁch tài sản của
trường tư thục thành 3 loại và có chế đꢃ quản
lý, sử dụng, định đoạt khꢁc nhau: (i) tài sản
của Nhà nước giao, hỗ trợ; quyền sử dụng đất
được Nhà nước giao; (ii) tài sản chung hợp
nhất không được phân chia là tài sản (hoặc
được mua từ nguồn tiền) được cꢁc tꢄ chức,
cꢁ nhân tặng, cho, viện trợ, tài trợ; và (iii)
cꢁc loại tài sản khꢁc không thuꢃc hai nhóm
trên; thứ hai, cần quy định chế đꢃ quản lý, sử
dụng, định đoạt tài sản khꢁc nhau cho cꢁc loại
trường tư thục khꢁc nhau; chẳng hạn chế đꢃ
tài sản của trường tư thục hoạt đꢃng không
vì lợi nhuꢀn hoặc mꢃt phần vì lợi nhuꢀn phải
khꢁc với trường tư thục vì lợi nhuꢀn
Bên cạnh đó, quy định của khoản 2 Điều
102 Luꢀt Giꢁo dục không thꢂng nhất với
quy định của Điều 103 về chính sꢁch ưu đãi
đất đai, cơ sở vꢀt chất dành cho trường chứ
không phải dành cho nhà đầu tư. Việc quy
định tài sản của trường tư thục thuꢃc sở hữu
của cꢁc nhà đầu tư cũng làm cho CSGD tư
thục bị mất đi mꢃt điều kiện theo Điều 74 Bꢃ
luꢀt Dân sự năm 2015 để được công nhꢀn là
phꢁp nhân; bởi vì, CSGD tư thục không có
tài sản đꢃc lꢀp.
Khoản 2 Điều 67 Luꢀt GDĐH quy định
CSGD đại học tư thục có thể có ba loại tài sản:
(i) Tài sản của Nhà nước; (ii) Tài sản chung
hợp nhất không phân chia (tài sản được viện
trợ, tài trợ, hiến tặng, cho, tặng và tài sản khꢁc
được quy định là tài sản chung hợp nhất không
phân chia); và (iii) Cꢁc loại tài sản khꢁc. Cụ
thể: (i) đꢂi với tài sản của Nhà nước và quyền
sử dụng đất được Nhà nước giao thì phải theo
quy định của phꢁp luꢀt về quản lý, sử dụng tài
sản công và phꢁp luꢀt về đất đai; không được
chuyển thành sở hữu tư nhân dưới bất cứ hình
thức nào; (ii) đꢂi với tài sản chung hợp nhất
không phân chia thì thuꢃc sở hữu của cꢃng
đồng nhà trường, không được chuyển thành
sở hữu tư nhân, không được tính vào giꢁ trị
tài sản được định giꢁ của cơ sở giꢁo dục đại
học khi có chuyển nhượng vꢂn; nếu giải thể
thì được coi là tài sản chung của cꢃng đồng
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý,
sử dụng cho mục đích phꢁt triển giꢁo dục đại
học; (iii) đꢂi với tài sản không thuꢃc hai nhóm
trên thì CSGD có quyền tự quyết định việc
quản lý, sử dụng, định đoạt và tự chịu trꢁch
Tóm lại, quy định của Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt
GDNN, Luꢀt GDĐH hiện hành về CSGD tư
thục đã bꢃc lꢃ cꢁc hạn chế, thiếu sót, bất cꢀp;
vì vꢀy, Nhà nước cần xem xét, sửa đꢄi ba luꢀt
này để đảm bảo sự thꢂng nhất và tạo điều
kiện phꢁp lý thuꢀn lợi cho sự phꢁt triển cꢁc
mô hình trường tư thục ở Việt Nam
Số 15(439) - T8/2021
13
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
CHẾ ĐỊNH CHUYỂN YÊU CẦU ĐÒI BỒI HOÀN
TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN
Nguyễn Thị Thủy*
Đỗ Lệnh Quân**
*PGS.TS. GV. Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
**ThS. Công ty THHH đầu tư Ngôi sao Sài Gòn
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn là mꢃt chế định khꢁ đặc thù trong bảo hiểm
tài sản. Mục đích của chế định này là nhằm giúp doanh nghiệp bảo hiểm
được quyền đòi lại khoản tiền bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo
hiểm nếu tꢄn thất xảy ra do lỗi của người thứ ba. Việc bên được bảo hiểm
phải chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn sang doanh nghiệp bảo hiểm
để doanh nghiệp bảo hiểm đòi người thứ ba bồi hoàn khoản thiệt hại do
lỗi của người thứ ba gây ra là hoàn toàn hợp lý về mặt lý luꢀn và thực tiễn.
Tuy nhiên, quy định của phꢁp luꢀt về vấn đề này vẫn còn mꢃt sꢂ bất cꢀp,
gây trở ngại cho việc ꢁp dụng chế định này trong thực tiễn.
Từ khóa: Chuyển yêu cầu đòi bồi
hoàn; phꢁp luꢀt bảo hiểm tài sản.
Lịch sử bài viết:
Nhꢀn bài
Biên tꢀp
Duyệt bài
: 10/04/2021
: 22/05/2021
: 25/05/2021
Article Infomation:
Abstract:
The legal provision on transfer of compensation claim is a rather specialised
one in property insurance. The purpose of this provision is to help the insur-
ance company have the right to recover the compensation money that has
been indemnified to the insured party if the loss is caused by the fault of a
third party. The fact that the insured party have to transfer the right of claim
to the insurance company so that it can claim the third party’s compensation
for the damage caused by the third party's fault is completely logical view-
points and practice. However, the legal provisions on this matter still have
some shortcomings, which might hinder its application in practices.
Keywords:
compensation
regulationsonpropertyinsurance.
Transfer
claim;
of
legal
Article History:
Received
Edited
: 10 Apr. 2021
: 22 May 2021
: 25 May 2021
Approved
1. Cơ sở hình thành chế định chuyển yêu
cầu đòi bồi hoàn
trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ có
thỏa thuꢀn hoặc phꢁp luꢀt có quy định về việc
không được chuyển giao quyền yêu cầu.
Khoản 1 Điều 365 Bꢃ luꢀt Dân sự năm 2015
(BLDS) quy định: “Bên có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu
cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận,
trừ các trường hợp pháp luật không cho
phép”. Quy định này cho thấy, khi có phꢁt sinh
quyền và nghĩa vụ giữa cꢁc bên liên quan trong
giao dịch dân sự, bên có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu
cầu theo thỏa thuꢀn cho bên thứ ba gọi là bên
thế quyền để thực hiện quyền yêu cầu đó, trừ
Sau khi bên có quyền yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa
thuꢀn cho bên thứ ba thì bên có quyền yêu cầu
sẽ chấm dứt mꢂi quan hệ với bên có nghĩa vụ
cũng như không phải chịu trꢁch nhiệm về khả
năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;
bên thứ ba lúc này trở thành người thế quyền
có đầy đủ tư cꢁch chủ thể của bên có quyền
yêu cầu trước đó và có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ đꢂi với bên có nghĩa vụ theo quy
14
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
định của phꢁp luꢀt. Việc chuyển giao quyền
yêu cầu không làm thay đꢄi nꢃi dung quan
hệ nghĩa vụ, không cần có sự đồng ý của bên
có nghĩa vụ; nꢃi dung này cũng phù hợp với
quy định trong BLDS: “Khi bên có quyền yêu
cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế
quyền thì người thế quyền trở thành bên có
quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu
cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa
vụ”1. Tuy nhiên, người chuyển giao quyền yêu
cầu phải thông bꢁo bằng văn bản cho bên có
nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu
cầu: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải
thông bꢁo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ
biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ
trường hợp có thỏa thuꢀn khꢁc. Trường hợp
bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông
bꢁo về việc chuyển giao quyền mà phꢁt sinh
chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao
quyền yêu cầu phải thanh toꢁn chi phí này”2.
Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu
cầu giữa bên có quyền yêu cầu và bên nhꢀn
chuyển giao quyền yêu cầu có thể thực hiện
bằng văn bản hoặc lời nói hoặc cꢁc hình thức
khꢁc theo luꢀt định3.
Quan hệ bảo hiểm tài sản thực chất là quan
hệ dân sự; do vꢀy, bản chất chuyển giao quyền
yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng gần giꢂng
với bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu
trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, với những
đặc trưng của bảo hiểm tài sản thì cꢁch thức
và nꢃi dung của chuyển giao quyền yêu cầu
cũng có những nét đặc thù riêng. Cụ thể, rủi
ro trong bảo hiểm tài sản được chia làm hai
nhóm chính: rủi ro từ thiên nhiên và rủi ro do
con người tạo ra. Những rủi ro từ thiên nhiên
là rủi ro do tự nhiên mà có, không phải xuất
phꢁt từ hành đꢃng của con người; rủi ro do con
người tạo ra là những yếu tꢂ được tạo nên từ
hành đꢃng của con người. Việc phân loại rủi
ro trên đây là cơ sở để xꢁc định cꢁc quyền lợi
và nghĩa vụ có liên quan khi sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Cụ thể, đꢂi với những rủi ro do thiên
nhiên tạo ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự
gꢁnh chịu tꢄn thất vì yếu tꢂ rủi ro ở đây không
do mꢃt chủ thể nào tạo ra, nó không phải là
hệ quả của hành vi của con người. Vì vꢀy, ở
góc đꢃ phꢁp lý, không mꢃt ai phải chịu trꢁch
nhiệm do hꢀu quả của thiên nhiên mang lại.
Tuy nhiên, nếu rủi ro này do con người tạo ra,
người ta sẽ phải xem xét đến yếu tꢂ đꢃng cơ
và mục đích của hành vi nhằm xꢁc định trꢁch
nhiệm phꢁt sinh từ hành vi đó. Sở dĩ trong bảo
hiểm tài sản, cꢁc bên phải lưu ý đến yếu tꢂ này
vì không thể mꢃt người thực hiện hành vi trꢁi
phꢁp luꢀt gây ra tꢄn thất cho người khꢁc rồi
tꢄn thất này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm
gꢁnh chịu thay. Việc gꢁnh chịu tꢄn thất trong
bảo hiểm tài sản là sự gꢁnh chịu cho người
được bảo hiểm chứ không phải cho người gây
ra tꢄn thất. Như vꢀy, nhìn từ góc đꢃ phꢁp lý,
khi mꢃt chủ thể có hành vi gây thiệt hại đꢂi
với người khꢁc họ sẽ phải có trꢁch nhiệm bồi
thường những thiệt hại do mình gây ra. Trong
khoa học phꢁp lý, trường hợp này được gọi là
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ở đây, chúng ta xem xét đến mꢂi quan hệ
giữa bảo hiểm tài sản và quan hệ bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng để xꢁc định trꢁch
nhiệm bồi thường của cꢁc bên khi có thiệt hại
xảy ra. Nếu nhìn nhꢀn về góc đꢃ thời gian,
quan hệ bảo hiểm phải được hình thành trước,
do thiệt hại trong bảo hiểm phải từ rủi ro mang
lại và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm,
rủi ro phải chưa xảy ra. Như vꢀy, quan hệ bồi
thường trong bảo hiểm là quan hệ được cꢁc
bên thỏa thuꢀn trước với những điều kiện và
điều khoản đã được xꢁc lꢀp trong hợp đồng
bảo hiểm. Trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại
của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng
bảo hiểm không phải phꢁt sinh từ hành vi gây
thiệt hại mà phꢁt sinh từ cam kết gꢁnh chịu rủi
ro. Do đó, khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp
bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường
trước, tức là phải thực hiện nghĩa vụ gꢁnh chịu
tꢄn thất như đã cam kết trong hợp đồng. Tuy
nhiên, khi rủi ro này là do con người tạo ra thì
quan hệ bảo hiểm không thể chỉ dừng lại ở việc
1 Khoản 2 Điều 365 BLDS.
2 Khoản 2 Điều 365 BLDS.
3 Điều 119 BLDS.
Số 15(439) - T8/2021
15
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
doanh nghiệp bảo hiểm hoàn tất trꢁch nhiệm
bồi thường của mình mà nó còn phꢁt sinh trꢁch
nhiệm của người gây ra thiệt hại đꢂi với bên
được bảo hiểm. Trong quan hệ bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, về nguyên tắc, người gây
ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì người
bị thiệt hại đã tham gia vào quan hệ hợp đồng
bảo hiểm tài sản và đã được doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường nên bên mua bảo hiểm không
được tiếp tục đòi người gây ra thiệt hại bồi
thường cho mình (trừ trường hợp sꢂ tiền bảo
hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho
bên mua bảo hiểm nhỏ hơn thiệt hại xảy ra).
Từ đây hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi
bồi thường từ bên mua bảo hiểm sang doanh
nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, bên mua bảo hiểm,
với tư cꢁch là người có quyền trong quan hệ
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sẽ chuyển
giao quyền yêu cầu sang cho doanh nghiệp bảo
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm đòi lại người
gây ra thiệt hại trả lại cho mình khoản tiền đã
bồi thường cho bên mua bảo hiểm.
Từ quy định về chuyển giao quyền yêu cầu
trong BLDS cho thấy, chuyển giao quyền yêu
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản được
hình thành dựa trên chế định chuyển giao quyền
yêu cầu trong BLDS, từ đó cho phép doanh
nghiệp bảo hiểm nhꢀn chuyển giao quyền yêu
cầu từ bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
và trở thành người thế quyền có quyền yêu cầu
người thứ ba gây ra thiệt hại cho tài sản được
bảo hiểm phải bồi hoàn lại cho mình sꢂ tiền
bảo hiểm đã trả cho bên được bảo hiểm.
thuꢀn bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và bên mua bảo hiểm nhằm xꢁc lꢀp
quyền và nghĩa vụ nhất định của cꢁc bên trong
quꢁ trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản có đꢂi tượng bảo
hiểm là vꢀt có thực, tiền, giấy tờ có giꢁ và quyền
về tài sản. Tuy nhiên, khi tài sản là đꢂi tượng của
bảo hiểm tài sản thì phải đảm bảo hai yếu tꢂ sau:
Thứ nhất, phải tồn tại tại thời điểm giao kết
hợp đồng bảo hiểm tài sản. Sở dĩ, có lý do này
là vì bản chất của bảo hiểm tài sản là bên mua
bảo hiểm chuyển giao những tꢄn thất do cꢁc
rủi ro được bảo hiểm gây ra đꢂi với tài sản cho
doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm gꢁnh chịu thay, vì vꢀy phải có sự tồn tại
thực tế của tài sản cần bảo hiểm.
Ví dụ: Khi muꢂn mua bảo hiểm tài sản đꢂi
với mꢃt công trình xây dựng thì công trình đó
cần phải thuꢃc dự ꢁn đã được cấp phép, chủ
đầu tư công trình phải chứng minh đủ điều kiện
tài chính để hoàn thành xây dựng công trình;
công trình đó phải bảo đảm về mặt phꢁp lý và
tài chính. Khi muꢂn mua bảo hiểm vꢀt chất xe
thì người mua bảo hiểm đã phải có xe và giấy
chứng nhꢀn quyền sở hữu đꢂi với chiếc xe.
Thứ hai, tài sản bảo hiểm phải định giꢁ
được bằng tiền vì phí bảo hiểm được tính theo
tỷ lệ phần trăm trên giꢁ trị tài sản. Hơn nữa,
giꢁ trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao
kết hợp đồng bảo hiểm là giới hạn mức trꢁch
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Chính vì vꢀy, tại thời điểm giao kết hợp đồng,
cꢁc bên phải tính được giꢁ trị của tài sản bảo
hiểm thì mới tính được phí bảo hiểm, từ đó
mới xꢁc định được mức trả tiền bảo hiểm tꢂi
đa của doanh nghiệp bảo hiểm đꢂi với người
được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở phát
sinh chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn
trong bảo hiểm tài sản vì nó là cơ sở hình thành
quan hệ bảo hiểm, mà muꢂn có quan hệ chuyển
yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo
hiểm tài sản thì phải có quan hệ bảo hiểm.
- Phải có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên
nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của
người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo
hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm
2. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu
cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo
hiểm tài sản
- Hợp đồng bảo hiểm
Điều 12 Luꢀt Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 (Luꢀt KDBH) quy định: “Hợp đồng
bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Nói cꢁch khꢁc, hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa
16
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Sự kiện bảo hiểm xảy ra và nguyên nhân
dẫn đến tꢄn thất là do hành vi có lỗi của người
thứ ba gây ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm
phải nằm trong phạm vi bảo hiểm là mꢃt trong
cꢁc cơ sở hình thành nên việc chuyển yêu cầu
đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài
sản vì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt đꢃng của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh
lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢀn
rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người
thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”4. Đã là
hoạt đꢃng nhằm mục đích sinh lợi thì doanh
nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn rủi ro để
bảo hiểm vì nếu là cꢁc rủi ro hàng loạt sẽ dễ
dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm bị phꢁ sản. Do
đó, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra là do hành
vi có lỗi của người thứ ba gây ra đꢂi với tài sản
được bảo hiểm nhưng rủi ro gây ra thiệt hại này
lại không nằm trong phạm vi bảo hiểm hoặc
nằm trong trường hợp bị loại trừ thì khi đó,
doanh nghiệp bảo hiểm không có trꢁch nhiệm
phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm và cũng
có nghĩa là sẽ không có việc chuyển yêu cầu
đòi người thứ ba bồi hoàn. Lúc này, bên mua
bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bên gây ra thiệt hại
bồi thường theo chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng được quy định trong luꢀt dân
sự mà thôi.
thế quyền hay chủ thể mới có quyền yêu cầu
bên thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt
hại cho tài sản được bảo hiểm trả lại cho mình
khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo
hiểm và khi đó việc chuyển giao quyền yêu
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản mới
được xꢁc lꢀp. Do vꢀy, thiệt hại thực tế xảy ra là
cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi
bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Có thể nói rằng, thiệt hại không chỉ là nền
tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buꢃc của
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, từ đó xꢁc lꢀp nên việc chuyển giao quyền
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Ngoài ra, khi xꢁc định trꢁch nhiệm bồi
thường thiệt hại, cꢁc bên cũng cần quan tâm
đến yếu tꢂ lỗi của bên thứ ba thực hiện hành vi
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm. Do
phꢁp luꢀt kinh doanh bảo hiểm không có quy
định cụ thể về lỗi của bên thứ ba gây ra thiệt
hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm; vì vꢀy cần
phải quay lại quy định về lỗi trong luꢀt dân sự
tức là gồm cả “lỗi cꢂ ý và lỗi vô ý”5 để giải
quyết vấn đề: thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở
cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi
hoàn trong bảo hiểm tài sản.
- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải
hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho
bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ
ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm
Yếu tꢂ này được hình thành trên cơ sở, trꢁch
nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm
trong hợp đồng bảo hiểm không phát sinh từ
hành vi gây thiệt hại đối với tài sản được bảo
hiểm mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro
thay cho người được bảo hiểm. Do vꢀy, nếu
có thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba gây
ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm thì trước tiên
doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa
vụ bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong
hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, do thiệt hại
này là do lỗi của người thứ ba gây ra, và theo
quy định của phꢁp luꢀt dân sự, khi mꢃt người
gây ra thiệt hại cho người khꢁc thì phải có
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vꢀy,
- Có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi
Bản chất của bồi thường nói chung là sự bù
đắp thiệt hại. Trong quan hệ bồi thường dân
sự nói chung và bồi thường trong bảo hiểm
tài sản nói riêng, nếu có thiệt hại thực tế xảy
ra đꢂi với tài sản thì bên bị thiệt hại mới có
quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường.
Đồng thời, vì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu
bên gây ra thiệt hại bồi thường thiệt hại nên
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện
xong trꢁch nhiệm bồi thường cho bên được
bảo hiểm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu
đòi bồi hoàn trong bảo hiểm sẽ diễn ra. Khi
đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trở thành bên
4 Khoản 1 Điều 3 Luꢀt KDBH.
5 Điều 364 BLDS.
Số 15(439) - T8/2021
17
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường
bảo hiểm, tức đã thực hiện xong trꢁch nhiệm
trả tiền bảo hiểm, họ được quyền đòi lại sꢂ tiền
họ đã trả do lỗi của người thứ ba gây ra.
Do vꢀy, có thể nói rằng, doanh nghiệp bảo
hiểm hoàn thành trꢁch nhiệm bồi thường trước
cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên
thứ ba gây ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm là
một trong các cơ sở hình thành việc chuyển
quyền yêu cầu đòi (người thứ ba) bồi thường
trong bảo hiểm tài sản.
3. Các quy định của pháp luật về chuyển
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản
và kiến nghị hoàn thiện
3.1. Xác định lỗi và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của người thứ ba
muꢂn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi
vô ý là trường hợp mꢃt người không thấy trước
hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại
sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.
Việc phân định lỗi cꢂ ý hay vô ý là cơ sở cho
việc xꢁc định mức bồi thường thiệt hại. Điều
này cũng phù hợp với khoản 2 Điều 585 BLDS
về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể
được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi
hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả
năng kinh tế của mình”. Như vꢀy, lỗi vô ý là
mꢃt trong cꢁc yếu tꢂ có thể xét giảm mức bồi
thường. Tuy nhiên, việc xꢁc định lỗi của người
thứ ba trên thực tế không hề đơn giản. Chẳng
hạn, trong cꢁc trường hợp hỏa hoạn gây thiệt
hại đꢂi với tài sản, dù cꢁc cơ quan chức năng
đã xꢁc định được nguyên nhân là do sự cꢂ về
điện gây chꢁy nhưng nguyên nhân là do khꢁch
quan hay lỗi vô ý chủ quan thì rất khó xꢁc định
vì người thứ ba luôn phủ nhꢀn yếu tꢂ lỗi với
nhiều lý do hoặc cho rằng sự việc xảy ra là
bất khả khꢁng nhằm chꢂi bỏ trꢁch nhiệm bồi
thường. Ngoài ra, việc xꢁc định lỗi của người
thứ ba không chỉ là xꢁc định có lỗi hay không
mà còn là việc xꢁc định mức đꢃ lỗi gây ra đꢂi
với tꢄng thiệt hại thực tế của tài sản được bảo
hiểm để xꢁc định cụ thể mức bồi thường, điều
này đã gây tranh cãi khꢁ nhiều trong thực tế vì
phꢁp luꢀt chưa có quy định cụ thể.
Để khắc phục hạn chế nêu trên, cꢁc tꢁc giả
cho rằng, cần đẩy mạnh việc công bꢂ cꢁc ꢁn lệ
liên quan đến chuyển quyền yêu cầu đòi bồi
hoàn trong bảo hiểm tài sản theo hướng chia
sẻ bớt nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà doanh
nghiệp bảo hiểm phải gꢁnh chịu cho cꢁc bên
liên quan nếu cꢁc bằng chứng về nguyên nhân
gây ra thiệt hại là do sự kiện bất khả khꢁng
chưa có tính thuyết phục. Điều này sẽ đảm
bảo sự công bằng cho doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng và giữa cꢁc bên tham gia quan hệ
bảo hiểm nói chung cũng như góp phần nâng
cao tính chủ đꢃng, tinh thần trꢁch nhiệm trong
phòng, chꢂng thiệt hại xảy ra đꢂi với tài sản.
- Xác định lỗi của người thứ ba đối với thiệt
hại của người được bảo hiểm
Chế định chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản chỉ có thể
được ꢁp dụng khi người thứ ba phải thực hiện
hành vi có lỗi gây thiệt hại đến tài sản được
bảo hiểm theo quy định của khoản 1 Điều 49
Luꢀt KDBH: “Trong trường hợp người thứ ba
có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường
cho người được bảo hiểm thì người được bảo
hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi
thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Nghĩa
là trꢁch nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp
bảo hiểm dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm
đã được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm
với bên được bảo hiểm, còn trꢁch nhiệm bồi
thường thiệt hại của người thứ ba phụ thuꢃc
vào yếu tꢂ lỗi gây ra thiệt hại về tài sản đꢂi với
bên được bảo hiểm và để thực hiện chuyển
quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn thì người
thứ ba phải có lỗi. Tuy nhiên, Luꢀt KDBH chỉ
nêu vấn đề có lỗi mꢃt cꢁch chung chung mà
không xꢁc định cụ thể yếu tꢂ lỗi. Do vꢀy, cần
phải căn cứ BLDS để xꢁc định yếu tꢂ lỗi. Điều
364 BLDS quy định: “Lỗi trong trꢁch nhiệm
dân sự bao gồm lỗi cꢂ ý, lỗi vô ý. Lỗi cꢂ ý là
trường hợp mꢃt người nhꢀn thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khꢁc mà vẫn
thực hiện và mong muꢂn hoặc tuy không mong
18
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Theo quy trình chuyển giao quyền yêu cầu
đòi bồi hoàn, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm
đã thực hiện xong trꢁch nhiệm bồi thường cho
bên được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ trở thành bên thế quyền hay chủ thể mới
có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đꢂi với
người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra
thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi hoàn lại
cho mình sꢂ tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm
đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm. Có thể
hình dung quy trình chuyển yêu cầu bồi hoàn
trong bảo hiểm tài sản gồm cꢁc bước sau:
Bước 1: Xꢁc định mức đꢃ và nguyên nhân
tꢄn thất, lỗi của người thứ ba.
suꢂt của người thứ ba gây ra thiệt hại đꢂi với tài
sản được bảo hiểm. Sở dĩ, phải có sự tham gia
xuyên suꢂt của người thứ ba vì điều này sẽ giúp
người thứ ba biết được mức đꢃ thiệt hại đꢂi với
tài sản do lỗi của mình gây ra. Ngoài ra, sự tham
gia của người thứ ba cũng giúp cho việc giꢁm
định, xꢁc định mức đꢃ lỗi được minh bạch và
chính xꢁc hơn. Tuy nhiên, việc đề nghị người
thứ ba tham gia trong quꢁ trình giꢁm định và ký
xꢁc nhꢀn biên bản làm việc cũng gặp nhiều khó
khăn vì quy định của phꢁp luꢀt hiện hành chưa
có sự ràng buꢃc nghĩa vụ của người thứ ba phải
tham gia trong quꢁ trình giꢁm định tꢄn thất đꢂi
với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại.
Trên thực tế, khi doanh nghiệp bảo hiểm
thực hiện quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
thì người thứ ba thường đưa ra cꢁc lý do để từ
chꢂi trꢁch nhiệm bồi hoàn như sau:
(i) Không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại.
(ii) Doanh nghiệp bảo hiểm, bên được bảo
hiểm đã không thông bꢁo cho người thứ ba
biết và cùng tham gia trong quꢁ trình giꢁm
định nhằm xꢁc định nguyên nhân và đꢁnh giꢁ
mức đꢃ thiệt hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm.
(iii) Không kiểm soꢁt được công tꢁc giꢁm
định nên không chấp nhꢀn mức trꢁch nhiệm
theo kết quả bꢁo cꢁo giꢁm định.
(iv) Không chấp nhꢀn sꢂ tiền doanh nghiệp
bảo hiểm đã bồi thường cho bên được bảo
hiểm vì cho rằng sꢂ tiền bồi thường bảo hiểm
cao hơn so với mức đꢃ thiệt hại thực tế mà
người thứ ba đã gây ra đꢂi với tài sản được
bảo hiểm v.v..
Việc đưa ra cꢁc lý do này nhằm mục đích
từ chꢂi trꢁch nhiệm hoặc đẩy mꢃt phần trꢁch
nhiệm về phía doanh nghiệp bảo hiểm, bên
được bảo hiểm nhằm giảm trừ mức bồi thường
thiệt hại tꢂi đa nếu phải bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm6. Để khắc phục tình trạng
trꢂn trꢁnh trꢁch nhiệm bồi hoàn của bên thứ
ba, cꢁc tꢁc giả cho rằng, cần phải hoàn thiện
cꢁc quy định của Luꢀt KDBH như sau:
Bước 2: Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành
bồi thường cho bên được bảo hiểm.
Bước 3: Bên được bảo hiểm chuyển quyền
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm.
Bước 4: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền
yêu cầu người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi
hoàn lại cho mình sꢂ tiền mà doanh nghiệp bảo
hiểm đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm.
Trên thực tế, để đòi lại được toàn bꢃ sꢂ tiền
mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả trước đó cho
bên được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm
phải chứng minh người thứ ba đã thực hiện
hành vi có lỗi và gây ra thiệt hại đꢂi với tài sản
được bảo hiểm.
Mꢃt trong cꢁc bước đầu tiên để chứng minh
người thứ ba đã thực hiện hành vi có lỗi và
gây ra thiệt hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm
là giꢁm định, mꢃt giai đoạn quan trọng trong
quꢁ trình xem xét giải quyết hồ sơ yêu cầu bồi
thường trong quan hệ bảo hiểm tài sản. Do
vꢀy, quꢁ trình trên cần có sự tham gia đầy đủ
và ký xꢁc nhꢀn biên bản làm việc giữa cꢁc bên
liên quan như doanh nghiệp bảo hiểm, đơn vị
giꢁm định đꢃc lꢀp, bên được bảo hiểm và đặc
biệt là người thứ ba gây ra thiệt hại đꢂi với tài
sản được bảo hiểm nhằm đảm bảo tính minh
bạch và khꢁch quan trong công tꢁc giải quyết
bồi thường. Đặc biệt, cần có sự tham gia xuyên
Thứ nhất, sửa đꢄi khoản 1 Điều 48 theo
hướng: Bꢄ sung yêu cầu bắt buꢃc cꢁc bên
6 Điều 363 BLDS về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi: “Trường hợp vi phạm nghĩa
vụ và có thiệt hại là do mꢃt phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương
ứng với mức đꢃ lỗi của mình”.
Số 15(439) - T8/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 15 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_15_nam_2021.pdf

