Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 15 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG  
Số 15 (439)  
Tháng 8/2021  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG  
Số 15 (439)  
Tháng 8/2021  
Mục lục Số 15/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Lập pháp thời chuyển đổi số  
3
8
PGS. TS. Phꢀm Duy Nghꢁa  
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trường tư thục  
PGS. TS. Bꢂi Xuân Hꢃi  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo  
hiểm tài sản  
14  
21  
PGS. TS. Nguyꢄn Thꢅ Thꢆy - ThS. Đꢇ Lꢈnh Quân  
CHÍNH SÁCH  
Phát triển bền vững làng nghề: Dưới góc nhìn thi hành pháp luật  
PGS. TS. Lê Thꢅ Châu  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Quy định về ứng dụng công nghệ tại Luật Doanh nghiệp năm  
2020 và một số vấn đề đặt ra trong thi hành  
28  
34  
39  
TS. Trꢉn Huꢊnh Thanh Nghꢅ  
Vướng mꢀc trong xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với thư  
tꢁn dụng (L/C)  
Hꢋ Thanh Bꢌnh  
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về công chứng  
Đꢍng Thu In  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường - từ góc nhìn  
lý thuyết đến luật thực định của Việt Nam  
43  
52  
TS. Nguyꢄn Thꢅ Phương Châm - Nguyꢄn Minh Châu  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Nâng cao năng lực quản trị của chꢁnh quyền địa phương ở  
nước ta hiện nay  
Ảnh bꢌa: Phong cảnh Hà Giang  
Ảnh: ST  
ThS. Nguyꢄn Đꢍng Phương Truyꢎn  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ: DƯỚI GÓC NHÌN THI HÀNH PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG  
Số 15 (439)  
Tháng 8/2021  
Legis No 15/2021  
STATE AND LAW  
Legislative with Digital Transformation  
3
8
Prof. Dr. Pham Duy Nghia  
Improvements of Legal Regulations on Private Schools  
Prof. Dr. Bui Xuan Hai  
DISCUSSION OF BILLS  
Regulations for Transfer of Compesation Claims in Property  
Insurance  
14  
21  
28  
Prof. Dr. Nguyen Thi Thuy - LLM. Do Lenh Quan  
POLICY  
Sustainable Development of Craft Villages: Perspective from  
Law Enforcement  
Prof. Dr. Le Thi Chau  
LEGAL PRACTICE  
Regulations on Technology Application in the Law on Enterprises  
of 2020 and Matters Raised from the Law Enforcement  
Dr. Tran Huynh Thanh Nghi  
Problems in Calculation of Value-Added Tax on Letters of Credit (L/C)  
Ho Thanh Binh  
34  
39  
Improvements of Provisions under the Law on Notarization  
Đang Thu In  
FOREIGN EXPERIENCE  
Compensation for Damages by Environmental Pollution -  
from the Theoretical Perspective to Practical Enforcement  
Law of Vietnam  
43  
52  
Dr. Nguyen Thi Phuong Cham - Nguyen Minh Chau  
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION  
Improvement of the Governance Capacity of the Local  
Government Administrations in Our Country  
LLM. Nguyen Đang Phuong Truyen  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
LẬP PHÁP THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ  
Phạm Duy Nghĩa*  
*PGS. TS. Giám đốc Chương trình Chính sách công, Đại học Fulbright Việt Nam  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Sau đại dịch COVID-19, thế giới đang biến đꢄi thꢀt nhanh. Trong sꢂ đó, đꢁng kể  
nhất là tꢂc đꢃ và quy mô của chuyển đꢄi sꢂ. Vào năm 2025, rất có thể Việt Nam  
sẽ có mặt trong nhóm 50 quꢂc gia dẫn đầu thế giới trong chuyển đꢄi sang nền  
kinh tế sꢂ, xã hꢃi sꢂ, và quản trị quꢂc gia sang thời đại sꢂ. Trong phạm vi bài viết  
này, tꢁc giả phân tích tꢁc đꢃng của chuyển đꢄi sꢂ đꢂi với hoạt đꢃng lꢀp phꢁp ở  
nước ta và đề xuất mꢃt sꢂ gợi ý nhằm biến chuyển đꢄi sꢂ thành lợi thế, tiện ích  
cho công tꢁc lꢀp phꢁp của người đại biểu.  
Từ khóa: Lꢀp phꢁp, Quꢂc hꢃi,  
đại biểu Quꢂc hꢃi, chuyển đꢄi sꢂ.  
Lịch sử bài viết:  
Nhꢀn bài  
Biên tꢀp  
Duyệt bài  
: 10/7/2021  
: 22/7/2021  
: 26/7/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The world has been changing rapidly since the COVID-19 pandemic. Among  
the changes, the most significant one is the speed and large-scale of digital  
transformation. By 2025, it is likely that Vietnam will be in the group of 50  
leading countries in the world in the transformation to a digital economy, digital  
society, and national governance to the digital era. Within the scope of this  
article, the author provides an analysis of the impacts of digital transformation on  
legislative activities in our country and proposes a number of recommendations  
to the digital transformation into advasntages and utilities for the legislative  
activities of the National Assembly deputies.  
Keywords: Legislation; National  
Assembly, National Assembly  
deputies; digital transformation.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 July 2021  
: 22 July 2021  
: 26 July 2021  
Approved  
1. Thấu hiểu cử tri trong thời đại xã  
hội số  
Hàng năm đại biểu Quꢂc hꢃi cần tham  
dự đầy đủ bꢂn phiên tiếp xúc cử tri (trước  
và sau mỗi kỳ họp Quꢂc hꢃi), truyền thꢂng  
ấy nhắc từng đại biểu phải nhớ về đơn vị  
bầu cử đã trao tín nhiệm cho mình. Đại biểu  
trước hết phải thấu hiểu người dân nơi đã  
trực tiếp bầu ra mình. Từ nơi làm việc, đơn  
vị bầu cử, suy rꢃng ra cho cử tri cả tỉnh và  
toàn quꢂc, người đại biểu có thể duy trì mꢂi  
liên hệ với cử tri qua muôn vàn hình thức  
khꢁc nhau. Phải bắt đầu bằng lắng nghe,  
thấu hiểu cử tri thì người đại biểu mới có  
được dần năng lực đại diện.  
Muꢂn làm tꢂt công tꢁc đại diện, người  
đại biểu nói chung, đại biểu Quꢂc hꢃi nói  
riêng phải thấu hiểu ai đã cử, đã bầu cho  
mình. Cử tri và cꢁc tꢁc nhân liên quan đến  
cử tri, họ là những ai trong thời đại ngày  
nay? Tꢄ chức Đảng, chính quyền, doanh  
nghiệp, người dân, đoàn thể, hết thảy đã và  
đang chuyển đꢄi rất nhanh. Cꢁc tꢁc nhân đó  
ảnh hưởng tới quy trình lꢀp phꢁp, tức là đến  
cꢁc công đoạn làm ra luꢀt. Muꢂn đóng góp  
tích cực vào hoạt đꢃng lꢀp phꢁp, người đại  
biểu phải xꢁc định vị trí của mình trong mꢂi  
tương quan với cꢁc tꢁc nhân nêu trên, trong  
đó có mꢂi quan hệ với cử tri.  
Việt Nam đang chuyển rất nhanh sang  
xã hꢃi sꢂ. Hiện nay, 70% người dân nước  
ta đã có thể truy cꢀp Internet qua mꢁy  
Số 15(439) - T8/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tính hoặc điện thoại thông minh, với chi  
phí thuꢀn tiện và chất lượng cao, ꢄn định  
so với tiêu chuẩn quꢂc tế. Chỉ với mꢃt  
vài nút bấm, việc tạo ra mꢃt văn phòng  
trực tuyến đã trở nên quꢁ dễ dàng, người  
đại biểu có thể gặp gỡ cử tri online, ngay  
tức thì, với chi phí hầu như không đꢁng  
kể. Duy trì liên hệ với cử tri trở nên rất  
dễ dàng, thuꢀn tiện, nếu đại biểu muꢂn.  
Kể cả nếu thụ đꢃng, người đại biểu cũng  
khó có thể né trꢁnh được sức ép của cꢁc  
luồng dư luꢀn xã hꢃi. Cꢁc mạng xã hꢃi  
kết nꢂi người dân trong và ngoài nước,  
li ti như vô vàn cảm biến, hàng triệu con  
người tạo ra dòng thông tin bất tꢀn, liên  
tục truyền tín hiệu đi khắp nơi, kể cả tới  
người đại diện của mình. Như vꢀy, thông  
tin không còn khan hiếm nữa. Ngược lại,  
người đại biểu ngày nay phải trang bị  
cꢁc kỹ năng để bình tĩnh, sꢁng suꢂt xꢁc  
định trúng cꢁc ưu tiên chính sꢁch và kiên  
định để không bị nhấn chìm bởi cꢁc đợt  
sóng dư luꢀn. Cꢁc thuꢀt toꢁn chìm sau  
cꢁc mạng xã hꢃi lặng lẽ thu thꢀp, phân  
tích dữ liệu, kết nꢂi những người có cùng  
quan tâm, sở thích, góc nhìn, quan điểm.  
Loan tin nhanh, tìm tin cũng rất nhanh,  
nếu lấy tin từ cꢁc mạng xã hꢃi, cꢁc đại  
biểu phải rèn kỹ năng xét đoꢁn đa chiều,  
cẩn trọng thảo luꢀn dựa trên chứng cứ,  
bao dung chấp nhꢀn ý kiến trꢁi chiều. Ít  
ai có thể mãi quay lưng lại với xã hꢃi sꢂ,  
người đại biểu phải học kỹ năng khꢁng  
cự chꢂng lại cꢁc dư luꢀn ồn ào, khꢁng cự  
sự cꢁm dỗ của chủ nghĩa dân túy.  
trì quyền lãnh đạo, sẽ đề ra đường lꢂi và  
nguyên tắc xꢁc lꢀp cꢁc chính sꢁch. Dựa  
vào đường lꢂi ấy, Nhà nước đề ra cꢁc chính  
sꢁch, và thể hiện cꢁc chính sꢁch đó dưới  
hình thức cꢁc văn bản phꢁp luꢀt. Soi xét kỹ  
hơn, từng cơ quan của nhà nước lại có thể  
theo đuꢄi những lợi ích ngành khꢁc nhau,  
đôi khi công khai, song cũng không hiếm  
khi được khéo léo thiết kế. Vì lợi ích của cử  
tri, Quꢂc hꢃi phải xem xét cꢁc khía cạnh đa  
dạng của từng chính sꢁch. Mỗi chính sꢁch  
được đưa ra sẽ luôn có những mặt hạn chế  
nhất định, song nếu chính sꢁch chỉ tiện cho  
cơ quan quản lý mà gây khó cho người dân  
và doanh nghiệp thì Quꢂc hꢃi cần yêu cầu  
điều chỉnh. Để có lꢀp luꢀn cho quꢁ trình  
phản biện ấy, người đại biểu phải lắng  
nghe và thấu hiểu cử tri của mình. Quꢂc  
hꢃi chỉ có thể tham gia lꢀp phꢁp mꢃt cꢁch  
chất lượng, có hiệu quả, nếu Quꢂc hꢃi có  
khả năng thấu hiểu, xꢁc định đúng lợi ích  
của cử tri.  
Trong mỗi dự luꢀt, lợi ích và quyền lực  
thương lượng của cꢁc bên liên quan thường  
rất khꢁc nhau. Nhà nước, vì ưu tiên của  
mình, có thể thúc đẩy cꢁc chính sꢁch phꢁt  
triển kinh tế, tự do hóa thị trường, thꢀm  
chí mạnh dạn xã hꢃi hóa cꢁc lĩnh vực dịch  
vụ công mà lẽ ra Nhà nước phải cung cấp  
(ví dụ y tế công cꢃng, giꢁo dục). Về phía  
doanh nghiệp, tꢂi đa hóa lợi nhuꢀn, giảm  
chi phí tuân thủ luôn là cꢁc ưu tiên. Doanh  
nghiệp có nguồn lực, thế lực, và cũng có  
kỹ năng vꢀn đꢃng chính sꢁch, thꢀm chí là  
vꢀn đꢃng hành lang, thúc đẩy cꢁc chính  
sꢁch có lợi cho mình. Ngược lại, người  
dân và cꢁc tꢄ chức xã hꢃi thường manh  
mún, phân tꢁn, kém năng lực tꢄ chức hơn  
nhiều. Họ không có quyền lực nhà nước,  
cũng không có quyền lực thị trường. Việc  
tạo ra dư luꢀn và duy trì sức ép xã hꢃi  
là rất khó. Nhìn lại hơn 30 năm cải cꢁch  
lꢀp phꢁp, cꢁc văn bản luꢀt liên quan trực  
Ngày nay, làm luꢀt nghĩa là xꢁc lꢀp luꢀt  
chơi cho rất nhiều tꢁc nhân trong mꢂi quan  
hệ giữa ba bên: Nhà nước, Thị trường, và  
Xã hꢃi. Trong tương quan uyển chuyển và  
biến đꢄi không ngừng ấy, từng tꢁc nhân  
có những vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, phản  
biện, canh chừng qua lại rất khꢁc nhau.  
Đảng cầm quyền, vì sự chính danh để duy  
4
Số 15(439) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tiếp đến thúc đẩy phꢁt triển kinh tế như  
Luꢀt Doanh nghiệp, Luꢀt Đầu tư, Luꢀt  
Cạnh tranh, Luꢀt Chứng khoꢁn, Luꢀt Đất  
đai dễ đạt được đồng thuꢀn xã hꢃi để  
thông qua. Ngược lại, cꢁc dự luꢀt thúc  
đẩy liên kết công dân như dự thảo Luꢀt  
về Hꢃi, Luꢀt Biểu tình đều bị trì hoãn qua  
nhiều năm.  
nghiệp, tài chính, dân cư đang hình thành.  
Thương mại điện tử, ngân hàng sꢂ, tín  
dụng sꢂ, cꢁc hình thức kinh tế chia sẻ lan  
truyền nhanh chóng. Quan niệm về tài  
nguyên đang được xem xét lại, không chỉ  
bao gồm đất đai, nguồn lực con người, mà  
hết thảy dữ liệu, thông tin, tương tꢁc có  
thể thu thꢀp, phân tích được. Nền kinh tế  
ấy cần tới những quan niệm mới, thꢁch  
thức cꢁch hiểu truyền thꢂng. Với tầm nhìn  
trở thành mꢃt quꢂc gia có nền kinh tế sꢂ  
dẫn đầu ASEAN vào năm 2030, trong giai  
đoạn 2021-2025 cꢁc nền tảng cho nền kinh  
tế sꢂ sẽ được ưu tiên.  
Thực tiễn hoạt đꢃng lꢀp phꢁp ở nước ta  
cho thấy, tuyệt đại đa sꢂ sꢁng kiến lꢀp phꢁp  
đều do Chính phủ khởi xướng. Chính phủ  
hiển nhiên là người dẫn dắt quꢁ trình soạn  
thảo luꢀt, chí ít cho đến khi dự ꢁn luꢀt được  
trình cho cꢁc Ủy ban của Quꢂc hꢃi. Người  
đại biểu có thể tham gia vào quy trình làm  
luꢀt thông qua hoạt đꢃng tại cꢁc Ủy ban  
và cꢁc phiên họp toàn thể của Quꢂc hꢃi.  
Truyền thꢂng làm luꢀt này đã hình thành  
và trở thành thói quen khó thay đꢄi. Nói  
rꢃng ra, đó chính là những đặc thù trong  
quy trình hoạt đꢃng của Quꢂc hꢃi nước ta,  
không chỉ đúng cho hoạt đꢃng lꢀp phꢁp,  
mà cũng đúng cho quy trình ngân sꢁch và  
xem xét thông qua cꢁc quyết định quan  
trọng của đất nước. Không thể lý tưởng  
hóa vai trò dân cử, phải nhꢀn diện chỗ  
đứng và giới hạn của mình, khéo léo tham  
gia, người đại biểu mới có thể bảo vệ được  
lợi ích của cử tri.  
Điều thú vị là, xóa bỏ bao cấp, trong  
30 năm qua, Nhà nước đã rút lui dần,  
nhường lại quyền lực cho thị trường.  
Song, muꢂn thúc đẩy chuyển đꢄi sꢂ phải  
định nghĩa lại vai trò của Nhà nước. Thay  
vì rút lui, Nhà nước phải can thiệp hiệu  
quả hơn, phải điều tiết, nâng đỡ, bảo vệ,  
ban thưởng cho cꢁc ý tưởng sꢁng tạo.  
Mꢃt Nhà nước dấn thân, khởi tạo mang  
tinh thần doanh nhân công.  
Bꢂn trụ cꢃt thể chế của mꢃt nền kinh  
tế thị trường, khꢁi quꢁt nhất có thể tóm tắt  
gồm: (i) Chế đꢃ sở hữu rõ ràng, (ii) Tự do  
kinh doanh, (iii) Tự do cạnh tranh, (iv) Có  
sự điều tiết, dẫn dắt có hiệu lực của Nhà  
nước. Kinh tế sꢂ vẫn dựa trên bꢂn trụ cꢃt  
căn bản ấy, song tất cả cꢁc quan niệm liên  
quan cần được làm mới, uyển chuyển thay  
đꢄi cùng thời đại ngày nay.  
Tóm lại, xã hꢃi sꢂ đã giúp cử tri nhanh  
chóng trưởng thành và học cꢁch liên kết  
thꢀt nhanh. Họ quan sꢁt và đꢁnh giꢁ cꢁc đại  
biểu dân cử. Nếu không thấu hiểu và đeo  
bꢁm quyết liệt vì lợi ích của cử tri, người  
đại biểu tự đꢁnh mất sự ủy nhiệm, sớm hay  
muꢃn sẽ rơi dần trong quên lãng, nhạt mờ  
dần trong trí nhớ của cử tri.  
Sở hữu đất đai là mꢃt ví dụ kinh điển.  
Tự cꢄ chí kim, mọi giàu có của loài người  
đều dựa trên đất, phꢁi sinh từ đất. Ở nước  
ta, sở hữu toàn dân đã được trừu tượng hóa,  
thiêng liêng như mꢃt khꢁi niệm chính trị.  
Song, trên thực tế, mỗi ô thửa đất ngoài  
đời đều đã có chủ rõ ràng; hoặc là đất tư  
của người dân và doanh nghiệp, hoặc là  
đất công thuꢃc quản lý của chính quyền.  
2. Phản biện và định hình quan điểm  
chính sách hướng tới nền kinh tế số  
Cùng với xã hꢃi sꢂ, Việt Nam đang  
chuyển nhanh sang nền kinh tế sꢂ. Cꢁc  
cơ sở dữ liệu quꢂc gia về đất đai, doanh  
Số 15(439) - T8/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Quyền sử dụng đất mặc nhiên đã trở  
thành mꢃt quyền tài sản quý giꢁ, hoặc là  
của tư, hoặc là của công. Trên mỗi ô thửa  
đất ấy lại phꢁi sinh ra vô sꢂ cꢁc quyền tài  
sản khꢁc, như dự ꢁn, căn nhà, căn hꢃ, cꢁc  
quyền thế chấp, cho thuê, sở hữu từng  
phần theo thời gian, theo mục đích. Cꢁc  
quyền tài sản vô tꢀn ấy càng minh bạch,  
càng được bảo vệ rõ ràng, được sꢂ hóa,  
thì chúng càng thuꢀn tiện cho giao dịch.  
Cơ sở dữ liệu quꢂc gia về đất đai là mꢃt  
sự chuẩn bị hướng tới mꢃt nền kinh tế  
chia sẻ, khi mỗi thông tin, mỗi quyền  
tài sản đều dễ dàng trở thành nguồn vꢂn  
thuꢀn tiện cho lưu thông. Thời đại sꢂ  
làm cho cuꢃc tranh luꢀn về sở hữu toàn  
dân hay tư nhân hóa đất đai trở nên thừa  
thãi. Đời sꢂng kinh tế sôi đꢃng đã tự nó  
nảy mầm vô tꢀn quyền tài sản um tùm  
xóa nhòa dần ranh giới giữa sở hữu công  
và tư.  
Hiển nhiên, nhiều người, kể cả người  
có chức quyền quyết liệt phản đꢂi những  
gợi ý như thế. Quꢂc hꢃi chính là nơi  
trình bày, tranh luꢀn cꢁc ý tưởng mới đó  
nhằm đạt tới thuyết phục dựa trên giꢁ  
trị và chứng cứ. Rõ ràng, ai cũng muꢂn  
nước ta chấm dứt nền kinh tế thâm dụng  
lao đꢃng, thoꢁt bẫy làm thuê cho người  
nước ngoài và bóc lꢃt tài nguyên, vung  
phí tiêu xài nguồn lực. Ai cũng mong  
Nhà nước nâng đỡ, khuyến khích đꢄi  
mới, sꢁng tạo, bảo hꢃ mọi sꢁng kiến  
kinh doanh thân thiện với môi trường.  
Chuyển đꢄi sꢂ là mꢃt cơ hꢃi để Nhà  
nước bẻ ghi cꢁc chính sꢁch kinh tế theo  
lꢂi mới ấy.  
Mꢃt Nhà nước dấn thân - khởi tạo còn  
thể hiện ở chỗ: Hạ tầng của nền kinh tế  
sꢂ phải được tạo ra và bảo vệ mꢃt cꢁch  
hiệu quả bởi Nhà nước. Ngoài cơ sở dữ  
liệu quꢂc gia về đất đai, doanh nghiệp,  
bảo hiểm, tài chính, hꢃ gia đình, dân cư,  
cꢁc nguồn cơ sở dữ liệu vô tꢀn khꢁc liên  
quan đến đời sꢂng và sinh hoạt của hàng  
triệu người dân sẽ hình thành (y tế, giꢁo  
dục, thói quen chi tiêu, đi lại, sở thích,  
quan điểm chính trị, tôn giꢁo…). Không  
gian riêng tư, sự an toàn của cơ sở dữ liệu,  
sự bảo hꢃ hiệu quả của Nhà nước đꢂi với  
dữ liệu tích hợp được, cꢁc sꢁng chế, phꢁt  
minh và vô sꢂ đꢂi tượng khꢁc của sở hữu  
trí tuệ là những tiền đề cho kinh tế sꢂ phꢁt  
triển bền vững.  
Mặt khꢁc, bất luꢀn đất công hay tư,  
quyền của chủ đất luôn bị hạn chế bởi Nhà  
nước. Phꢂ phường chꢀt chꢃi, không gian  
ngầm và quyền sử dụng bề mặt của cꢁc lô  
đất tư nhân đꢁng lẽ nên được giới hạn để  
khai thꢁc vì lợi ích công cꢃng (ở những nơi  
và vào những lúc nếu Nhà nước xét thấy  
cần thiết). Tương tự, vì mỹ quan đô thị, việc  
thiết kế và khai thꢁc mặt tiền của cꢁc tòa  
nhà tư nhân đều nên được kiểm soꢁt, hạn  
chế khắt khe hơn. Người tích trữ, đầu cơ  
đất đai, người sở hữu nhiều nhà đất hiển  
nhiên phải gꢁnh chịu những nghĩa vụ thuế  
tài sản và phí nhà đất đꢁng kể hơn so với  
những người chỉ có mꢃt căn nhà để ở. Tất  
cả những gợi ý này minh họa cho nhu cầu  
can thiệp đꢁng ra phải mạnh mẽ hơn của  
Nhà nước đꢂi với tài nguyên đất đai khan  
hiếm. Tăng can thiệp của Nhà nước ngay  
lꢀp tức sẽ thay đꢄi hành vi của người dân và  
doanh nghiệp trên thị trường.  
Kinh tế biến thiên mau lẹ đòi hỏi hoạt  
đꢃng lꢀp phꢁp cũng phải uyển chuyển  
thay đꢄi theo. Những phiên thảo luꢀn  
toàn thể với 500 đại biểu chắc rằng chỉ  
phù hợp với cꢁc nghi lễ như bầu cử, chất  
vấn, thảo luꢀn định hướng chính sꢁch,  
hơn là luꢀn bàn về kỹ thuꢀt chi tiết của  
từng văn bản luꢀt. Công xưởng để làm ra  
luꢀt hiển nhiên phải là cꢁc Ủy ban có tính  
6
Số 15(439) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chuyên sâu của Quꢂc hꢃi. Ngoài ra, cần  
phải có mꢃt đầu mꢂi tꢀp trung, tꢀp hợp  
được cꢁc chuyên gia, chuyên nghiệp giỏi  
nghề dịch chính sꢁch thành những điều  
luꢀt. Đầu mꢂi này giúp canh chừng, bảo  
đảm rằng cꢁc dự thảo luꢀt phải đạt chuẩn  
chất lượng trước khi được trình cho cꢁc  
đại biểu thảo luꢀn. Nói cꢁch khꢁc, sản  
phẩm của lꢀp phꢁp chính là cꢁc văn bản  
luꢀt. Để bớt lạc hꢀu so với mꢃt nền kinh  
tế sôi đꢃng đầy sꢁng tạo, Quꢂc hꢃi phải  
nghiên cứu cải tiến quy trình làm luꢀt  
sao cho sản phẩm của lꢀp phꢁp ngày  
càng được hoàn hảo hơn.  
cơ sở dữ liệu sꢂ hóa phục vụ cho cꢁc hoạt  
đꢃng lꢀp phꢁp, xꢁc lꢀp cơ sở dữ liệu chung  
giữa cꢁc Ủy ban, giữa cꢁc đại biểu, và trao  
tiếp cꢀn cꢁc cơ sở dữ liệu quꢂc gia chung,  
xây dựng quy trình thủ tục để tiến hành thảo  
luꢀn và bỏ phiếu trực tuyến rồi sẽ trở thành  
hiện thực. Quꢂc hꢃi không thể lạc hꢀu trước  
Xã hꢃi sꢂ, Kinh tế sꢂ, và mꢃt Chính phủ  
đang tiến nhanh tới sꢂ hóa. Nếu không cải  
cꢁch phù hợp với thời đại sꢂ, Quꢂc hꢃi khó  
thực hiện được mꢃt cꢁch suôn sẻ cꢁc quyền  
hiến định.  
Với cꢁ nhân mỗi đại biểu Quꢂc hꢃi, có  
vô sꢂ thꢁch thức cũ và mới trong hoạt đꢃng  
lꢀp phꢁp. Mꢃt mặt, Quꢂc hꢃi là mꢃt thiết  
chế truyền thꢂng với những nề nếp rất khó  
thay đꢄi. Trong môi trường đó, không gian  
sꢁng tạo của từng vị đại biểu rất có hạn. Mặt  
khꢁc, trong quꢁ trình thảo luꢀn và đề xuất  
chính sꢁch, Chính phủ hiển nhiên có lợi  
thế hơn hẳn về thông tin. Cꢁ nhân từng đại  
biểu phải chịu sức ép bất cân xứng thông tin  
từ phía cꢁc tꢄ chức trình dự ꢁn luꢀt, từ cꢁc  
nhóm vꢀn đꢃng chính sꢁch, và từ dư luꢀn  
xã hꢃi. Đại biểu vừa thiếu thông tin, vừa  
thừa tín hiệu từ cꢁc nhóm vꢀn đꢃng chính  
sꢁch, dư luꢀn và mạng xã hꢃi, lại bị hạn chế  
về thời gian và nguồn lực hỗ trợ. Thời đại  
sꢂ chỉ làm trầm trọng thêm cꢁc thꢁch thức  
nêu trên.  
3. Tương tác với đồng nghiệp và nền  
hành chính trong thời đại Chính phủ số  
Chính phủ đã ban hành mꢃt Chương  
trình đầy tham vọng, phấn đấu sẽ hoàn  
tất cꢁc cấp đꢃ của Chính phủ điện tử vào  
năm 2025, từ đó tiến dần tới Chính phủ  
sꢂ vào năm 2030. Chương trình này ưu  
tiên cꢁc mục tiêu cải cꢁch nền hành chính  
công, tạo cơ sở dữ liệu, mở rꢃng kết nꢂi,  
từ đó đơn giản và sꢂ hóa cꢁc dịch vụ công.  
Bên cạnh Cꢄng dịch vụ công quꢂc gia,  
nền hành chính cꢁc địa phương hiện đang  
nỗ lực cạnh tranh để tạo môi trường ngày  
càng thân thiện hơn, phục vụ người dân và  
doanh nghiệp được tꢂt hơn. Vô sꢂ cꢁc sꢁng  
kiến chuyển đꢄi sꢂ nhằm cải thiện dịch vụ  
công đã xuất hiện từ cuꢃc cạnh tranh giữa  
cꢁc địa phương. Hành phꢁp đang thay đꢄi  
tiến tới Chính phủ sꢂ.  
Thế giới quả là rꢃng lớn, mꢃt nhiệm kỳ  
5 năm lại ngắn ngủi vô cùng. Không thể ảo  
vọng, cũng không nên lý tưởng hóa, với mꢃt  
cꢁch tiếp cꢀn sꢁt thực tiễn, nếu thấu hiểu ước  
vọng của cử tri, nếu luôn đề cao lợi ích quꢂc  
gia, dân tꢃc, nếu bắt nhịp được cùng thời  
đại, người đại biểu sẽ xꢁc lꢀp được những  
thứ tự ưu tiên để từ đó làm được nhiều nhất  
Trong bꢂi cảnh đó, cꢁch vꢀn hành cꢁc  
quyền lꢀp phꢁp và tư phꢁp tất yếu sẽ phải  
thay đꢄi theo. Tòa ꢁn thông minh, Tòa ꢁn  
sꢂ, Quꢂc hꢃi điện tử, Quꢂc hꢃi sꢂ… chắc  
chắn là những khꢁi niệm sẽ sớm định hình  
rõ dần trong mꢃt tương lai rất gần. Trong đại  
dịch COVID-19, đại biểu nước ta đã quen  
nhanh với cꢁc phiên họp trực tuyến. Tiếp  
nhꢀn hồ sơ lꢀp phꢁp trực tuyến, xây dựng  
những điều có thể trong giới hạn của mình  
Số 15(439) - T8/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRƯỜNG TƯ THỤC  
Bùi Xuân Hải*  
*PGS. TS. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trường tư thục, phꢁp  
luꢀt về trường tư thục.  
Hiện nay ở nước ta, cꢁc cơ sở giꢁo dục tư thục đang có vị trí, vai trò rất  
khiêm tꢂn trong hệ thꢂng giꢁo dục quꢂc dân. Mꢃt trong sꢂ cꢁc nguyên  
nhân của thực trạng này là do những hạn chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định  
của phꢁp luꢀt về trường tư thục. Trong phạm vi bài viết này, tꢁc giả phân  
tích cꢁc hạn chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định của phꢁp luꢀt về trường tư thục  
và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhꢀn bài  
Biên tꢀp  
Duyệt bài  
: 18/6/2021  
: 08/7/2021  
: 11/7/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Private schools; legal  
regulations on private school.  
Private schools have a very modest role in the national education system.  
One of the reasons is due to the limitations and disadvantages of legal  
regulation on private schools. Within the scope of this article, the author  
provides an analysis of the shortcomings and inadequacies in the legal  
regulations on private schools and proposes recommendations for  
improvements.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 18 Jun. 2021  
: 08 July 2021  
: 11 July 2021  
Approved  
Cꢁc trường tư thục đã được thừa nhꢀn rꢃng  
rãi từ lâu trên thế giới và có vai trò ngày càng  
quan trọng trong nền giꢁo dục, góp phần đꢁp  
ứng cꢁc nhu cầu đa dạng của xã hꢃi và chia  
sẻ gꢁnh nặng đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên,  
hiện nay ở Việt Nam, vị trí vai trò của cơ sở  
giꢁo dục (CSGD) tư thục còn rất khiêm tꢂn,  
chưa tương xứng với tiềm năng.  
Ở Miền Nam nước ta, cꢁch đây mꢃt nửa  
thế kỷ, trong năm học 1960 -1961 học sinh cꢁc  
trường tư thục đã chiếm tỷ lệ tới 51,14%; đến  
năm 1975 thì có trên 1.000 trường tư thục và  
1,2 triệu học sinh phꢄ thông1. Tuy nhiên, hiện  
nay ở nước ta, sꢂ lượng cꢁc trường tư thục ở  
cꢁc cấp học còn khꢁ thấp, chủ yếu tꢀp trung ở  
cꢁc thành phꢂ lớn như Hà Nꢃi, thành phꢂ Hồ  
Chí Minh. Sꢂ lượng học sinh, sinh viên cꢁc  
trường tư thục chiếm tỷ lệ khꢁ nhỏ so với cꢁc  
trường công lꢀp. Năm 2018, tỷ trọng sinh viên  
cꢁc trường đại học tư thục ở nước ta chỉ chiếm  
16% so với 84% của cꢁc CSGD đại học công  
lꢀp (không tính sinh viên cꢁc trường quân đꢃi  
và công an)2, mꢃt tỷ trọng khꢁ thấp so với mức  
trung bình của Đông Nam Á là 41,8%, Châu Á  
là 42,1% và thế giới là 32,9%3. Ở mꢃt sꢂ nước  
như Indonesia hay Hàn Quꢂc, CSGD tư thục  
đang chiếm tỷ trọng cao hơn công lꢀp trong  
đào tạo trình đꢃ đại học và cao đẳng4.  
1 Ngô Minh Oanh (Chủ biên), Giáo dục phổ thông miền Nam (1954-1975), Nxb. Tꢄng hợp TP. Hồ Chí Minh,  
2018, tr.33-34  
2 Trần Văn Hùng, Xu thế phát triển của hệ thống đại học tư thục Việt Nam, Tạp chí Giꢁo dục, sꢂ 475 (kỳ 1-4/2020), tr.12.  
3 Bꢃ Giꢁo dục và Đào tạo, Tài liệu hội nghị Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục đại học  
và trường sư phạm năm 2018; Trần Văn Hùng, Xu thế phát triển của hệ thống đại học tư thục Việt Nam, Tạp  
chí Giꢁo dục, sꢂ 475 (kỳ 1-4/2020), tr. 12.  
4
International Finance Corporation (IFC - World Bank Group), Education Investment Guide: Guide for  
Investors in Private Education in Emerging Markets, 2010, p.4.  
8
Số 15(439) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Từ khi Việt Nam thực hiện công cuꢃc đꢄi  
mới, nền kinh tế nước ta đã tăng trưởng liên  
tục với tꢂc đꢃ khꢁ cao, đời sꢂng và thu nhꢀp  
của người dân tăng cao nhiều lần so với trước,  
nhu cầu của phụ huynh cho con học những  
trường tꢂt về cơ sở vꢀt chất và chất lượng cao  
cũng tăng lên hàng năm. Vꢀy tại sao tỷ trọng  
sꢂ lượng trường tư thục và người học tại cꢁc  
trường tư thục hiện nay so với trường công lꢀp  
ở Việt Nam vẫn còn rất thấp so với khu vực và  
thế giới?  
nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo  
đảm điều kiện hoạt đꢃng”.  
Khꢁc với Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH,  
Luꢀt GDNN năm 2014 quy định ba loại hình  
CSGD nghề nghiệp là công lập, tư thục và  
có vốn đầu tư nước ngoài. Như vꢀy, CSGD  
nghề nghiệp có vꢂn đầu tư nước ngoài không  
được coi là CSGD nghề nghiệp tư thục. Hơn  
nữa, cũng giꢂng như Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt  
GDĐH, Luꢀt GDNN còn quy định thêm loại  
hình CSGD nghề nghiệp tư thục không vì lợi  
nhuꢀn và CSGD nghề nghiệp có vꢂn đầu tư  
nước ngoài không vì lợi nhuꢀn.  
Như vꢀy, ba văn bản luꢀt về giꢁo dục là Luꢀt  
Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH quy định  
không giꢂng nhau về loại hình trường tư thục.  
Nếu Luꢀt GDNN có sự phân biệt giữa CSGD  
nghề nghiệp tư thục và CSGD nghề nghiệp có  
vꢂn đầu tư nước ngoài; sau đó, CSGD nghề  
nghiệp có vꢂn đầu tư nước ngoài lại được chia  
thành hai loại là CSGD nghề nghiệp 100%  
vꢂn của nhà đầu tư nước ngoài và CSGD nghề  
nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước  
và nhà đầu tư nước ngoài5, thì Luꢀt Giꢁo dục và  
Luꢀt GDĐH không quy định như vꢀy. Để đảm  
bảo sự thꢂng nhất trong việc phân loại, định  
danh cꢁc loại hình trường tư thục, tꢁc giả cho  
rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN  
và Luꢀt GDĐH theo hướng bảo đảm sự thꢂng  
nhất rõ ràng về cꢁc loại hình, mô hình trường  
tư thục ở Việt Nam.  
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng  
nêu trên, trong đó có nguyên nhân do cꢁc hạn  
chế, bất cꢀp trong cꢁc quy định của phꢁp luꢀt  
về CSGD tư thục, cụ thể như sau:  
Thứ nhất, cần quy định thống nhất về các loại  
hình trường tư thục trong 3 đạo luật về giáo dục  
Hiện nay, việc thành lꢀp và hoạt đꢃng của  
cꢁc CSGD tư thục được điều chỉnh bởi Luꢀt  
Giꢁo dục năm 2019 (Luꢀt Giꢁo dục), Luꢀt Giꢁo  
dục nghề nghiệp năm 2014 (Luꢀt GDNN),  
Luꢀt Giꢁo dục đại học năm 2012 đã được sửa  
đꢄi, bꢄ sung năm 2018 (Luꢀt GDĐH). Xét về  
mꢂi quan hệ giữa cꢁc đạo luꢀt này thì Luꢀt  
Giꢁo dục cần phải đóng vai trò là luꢀt chung  
về giꢁo dục. Bởi lẽ, Luꢀt Giꢁo dục quy định  
đầy đủ, toàn diện về nền giꢁo dục như: nguyên  
lý, triết lý giꢁo dục, loại hình cơ sở giꢁo dục,  
đầu tư vào giꢁo dục, quyền và nghĩa vụ của nhà  
giꢁo và người học; đặc biệt là về hệ thꢂng giꢁo  
dục quꢂc dân với cꢁc cấp học và trình đꢃ đào  
tạo. Trong khi đó, Luꢀt GDNN điều chỉnh về  
giꢁo dục nghề nghiệp, Luꢀt GDĐH điều chỉnh  
về giꢁo dục đại học, hai trình đꢃ đào tạo, hai bꢃ  
phꢀn cấu thành của hệ thꢂng giꢁo dục quꢂc dân  
được điều chỉnh bởi Luꢀt Giꢁo dục.  
Thứ hai, cần có thêm các mô hình (loại  
hình) trường tư thục  
Ở nước ngoài, có nhiều mô hình trường  
tư thục khꢁc nhau như: trường tư thục có tài  
trợ của nhà nước, trường tư thục không vì lợi  
nhuꢀn, trường tư thục mꢃt phần vì lợi nhuꢀn,  
trường tư thục vì lợi nhuꢀn6; ngoài ra, còn có  
CSGD liên kết giữa nhà nước và tư nhân kiểu  
đꢂi tꢁc công tư (Public Private Partnership -  
PPP)7. Phꢁp luꢀt cần công nhꢀn nhiều mô hình  
Luꢀt Giꢁo dục quy định ba loại hình nhà  
trường là công lập, dân lập và tư thục. Luꢀt  
GDĐH quy định có hai loại CSGD đại học là  
công lập và tư thục. Cả hai Luꢀt này đều quy  
định trường tư thục là “do cꢁc nhà đầu tư trong  
5 Khoản 2 Điều 5 Luꢀt GDNN.  
6 Xem Phạm Phụ, Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam, Nxb. Đại học Quꢂc gia TP. Hồ Chí Minh,  
2011, tr. 165, 169.  
7 Phạm Phụ, tlđd, 2011, tr.53.  
Số 15(439) - T8/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trường tư thục vì hai lý do cơ bản: (i) Tạo điều  
kiện cho sự hợp tꢁc giữa cꢁc loại chủ thể khꢁc  
nhau và (ii) Nhằm đa dạng hóa sự lựa chọn cho  
cꢁc nhà đầu tư vào lĩnh vực giꢁo dục để đꢁp ứng  
nhu cầu đa dạng của xã hꢃi8. Việc xây dựng cꢁc  
mô hình trường tư thục chủ yếu dựa vào hai  
yếu tꢂ cơ bản là mục đích hoạt đꢃng và sở hữu  
tài sản. Xét về mục đích hoạt đꢃng của CSGD  
tư thục, mà thực chất là mục đích của nhà đầu  
tư, thì có ba loại: (i) Hoạt đꢃng vì lợi nhuꢀn,  
(ii) Hoạt đꢃng mꢃt phần vì lợi nhuꢀn, (iii) Hoạt  
đꢃng không vì lợi nhuꢀn. Nếu hiểu lợi nhuꢀn  
là chênh lệch giữa tꢄng doanh thu và tꢄng chi  
phí thì tất cả cꢁc cơ sở giꢁo dục, kể cả trường  
công lꢀp, đều phải có mục đích hoạt đꢃng  
hướng tới lợi nhuꢀn nhưng khꢁc nhau về việc  
phân chia và sử dụng lợi nhuꢀn (khoản chênh  
lệch) đó như thế nào. Nhà đầu tư vào trường tư  
thục có thể vì mục đích được hưởng lợi nhuꢀn  
(hay lợi tức) hoặc vì mục đích đóng góp cho xã  
hꢃi (không rút vꢂn, không hưởng lợi tức). Luꢀt  
Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH hiện hành  
chỉ quy định về “trường tư thục” và “trường tư  
thục hoạt đꢃng không vì lợi nhuꢀn”. Theo đó,  
nhà đầu tư của trường tư thục hoạt đꢃng không  
vì lợi nhuꢀn phải cam kết hoạt đꢃng không vì  
lợi nhuꢀn, không rút vꢂn, không hưởng lợi tức9.  
Tuy nhiên, quy định hiện hành không xꢁc định  
rõ “trường tư thục” có phải là CSGD hoạt đꢃng  
vì mục đích lợi nhuꢀn hay không, từ đó dẫn đến  
cꢁc cꢁch hiểu khꢁc nhau về mục đích hoạt đꢃng  
của loại CSGD này.  
học và phụ huynh cũng đã quen với hoạt đꢃng  
“kinh doanh dịch vụ giꢁo dục” và vấn đề “giꢁo  
dục vì lợi nhuꢀn”10. Nghị quyết sꢂ 29-NQ/TW  
của Đảng đã đề ra chủ trương khuyến khích  
phꢁt triển cꢁc loại hình trường ngoài công lꢀp  
đꢁp ứng nhu cầu xã hꢃi về giꢁo dục chất lượng  
cao ở khu vực đô thị. Chiến lược phꢁt triển  
kinh tế xã hꢃi 10 năm 2021-2030 được Đại hꢃi  
lần thứ XIII của Đảng thông qua khẳng định  
phải: “phꢁt triển hài hòa giữa giꢁo dục công lꢀp  
và ngoài công lꢀp”, “đa dạng hóa cꢁc loại hình  
đào tạo, hoàn thiện chính sꢁch phꢁt triển cꢁc  
cơ sở đào tạo ngoài công lꢀp, thực hiện cơ chế  
tự chủ đꢂi với đào tạo bꢀc đại học phù hợp với  
xu thế chung của thế giới, chuyển đꢄi trường  
đại học công lꢀp kém hiệu quả sang mô hình  
hợp tꢁc công - tư”11. Thực hiện chủ trương của  
Đảng, trong thời gian tới, chúng ta cần phꢁt  
triển thêm cꢁc loại hình trường tư thục để phù  
hợp với thông lệ quꢂc tế, đꢁp ứng yêu cầu đa  
dạng của cꢁc nhà đầu tư vào giꢁo dục (với cꢁc  
khả năng và có mục đích khꢁc nhau) và nhu  
cầu đa dạng của người học. Do đó, cần sửa  
đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH  
theo hướng quy định cꢁc loại trường tư thục là:  
CSGD tư thục vì lợi nhuꢀn (cho phép nhà đầu  
tư phân chia lợi nhuꢀn theo thỏa thuꢀn), CSGD  
tư thục mꢃt phần vì lợi nhuꢀn (cho phép nhà  
đầu tư được phân chia mꢃt phần lợi nhuꢀn theo  
thỏa thuꢀn, phần lợi nhuꢀn còn lại không phân  
chia và tích lũy làm tài sản chung), CSGD tư  
thục không vì lợi nhuꢀn (không cho phép nhà  
đầu tư rút vꢂn và phân chia lợi nhuꢀn).  
Trong nhiều thꢀp kỷ qua, người Việt Nam  
đã quen với sự đꢃc tôn của hệ thꢂng trường  
công lꢀp và chính sꢁch bao cấp của Nhà nước  
cho giꢁo dục. Hiện nay, trong điều kiện nền  
kinh tế thị trường với sự phꢁt triển của hoạt  
đꢃng đầu tư kinh doanh và hꢃi nhꢀp quꢂc tế  
về giꢁo dục thì cꢁc nhà quản lý giꢁo dục, người  
Thứ ba, cần quy định quyền đầu tư của các  
doanh nghiệp nhà nước vào cơ sở giáo dục  
Trong thực tiễn, đã có rất nhiều tꢀp đoàn,  
tꢄng công ty nhà nước thành lꢀp đơn vị sự  
nghiệp trực thuꢃc mình, như cꢁc trường cao  
đẳng, trường đại học, bệnh viện, viện nghiên  
8 Xem thêm: International Finance Corporation (IFC), tlđd, tr. 6-7.  
9 Điểm c khoản 1 Điều 47 Luꢀt Giꢁo dục năm 2019.  
10 Theo Luꢀt Đầu tư năm 2020 thì hoạt đꢃng của cơ sở giꢁo dục cꢁc cấp học và trình đꢃ đào tạo cũng là những  
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (xem Phụ lục IV của Luꢀt).  
11 Xem Mục 3 Phần V - Chiến lược phꢁt triển kinh tế - xã hꢃi 10 năm 2021-2030 đã được Đại hꢃi Đại biểu toàn  
quꢂc lần thứ XIII của Đảng thông qua.  
10  
Số 15(439) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cứu12… Nghị quyết sꢂ 12-NQ/TW ngày  
03/6/2017 của Đảng và Luꢀt Doanh nghiệp  
năm 2020 đã quy định doanh nghiệp nhà nước  
gồm có hai loại: (i) Doanh nghiệp có 100%  
vꢂn nhà nước (tꢄ chức và hoạt đꢃng dưới hình  
thức công ty trꢁch nhiệm hữu hạn mꢃt thành  
viên) và (ii) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm  
giữ trên 50% vꢂn điều lệ, tꢄng sꢂ cꢄ phần có  
quyền biểu quyết (tꢄ chức và hoạt đꢃng dưới  
hình thức công ty trꢁch nhiệm hữu hạn hai  
thành viên trở lên hoặc công ty cꢄ phần)13.  
Theo định nghĩa về “nhà đầu tư” trong Luꢀt  
Đầu tư năm 2020 và Luꢀt Giꢁo dục14 thì doanh  
nghiệp nhà nước là “nhà đầu tư trong nước”;  
vꢀy cꢁc doanh nghiệp nhà nước có quyền  
thành lꢀp CSGD hay không và CSGD được  
thành lꢀp bởi cꢁc doanh nghiệp nhà nước được  
coi là CSGD tư thục hay công lꢀp?  
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN, Luꢀt GDĐH  
không quy định cụ thể cꢁc tꢄ chức, cꢁ nhân bị  
cấm thành lꢀp CSGD. Tuy nhiên, cꢁc luꢀt này  
có quy định về cꢁc loại hình nhà trường và chủ  
thể đầu tư, sở hữu của từng loại hình nhà trường.  
Cụ thể, Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH quy định  
CSGD công lꢀp “do Nhà nước đầu tư, bảo đảm  
điều kiện hoạt đꢃng và đại diện chủ sở hữu”.  
Theo quy định của Luꢀt GDNN, CSGD nghề  
nghiệp công lꢀp là “cơ sở giꢁo dục nghề nghiệp  
thuꢃc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư,  
xây dựng cơ sở vꢀt chất” (khoản 2 Điều 5). Vì  
vꢀy, nếu CSGD do doanh nghiệp nhà nước đầu  
tư thành lꢀp và sở hữu thì sẽ không được coi là  
CSGD công lꢀp vì không phải do Nhà nước đầu  
tư, Nhà nước sở hữu… như cꢁc định nghĩa nêu  
trên. Hơn nữa, vꢂn đầu tư của doanh nghiệp nhà  
nước vào CSGD không phải là vꢂn ngân sꢁch  
nhà nước mà là vꢂn của doanh nghiệp (công ty  
trꢁch nhiệm hữu hạn hoặc công ty cꢄ phần); vì  
thế, doanh nghiệp nhà nước không thể là chủ thể  
đầu tư thành lꢀp CSGD công lꢀp.  
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Luꢀt GDNN  
quy định CSGD nghề nghiệp tư thục là CSGD  
nghề nghiệp thuꢃc sở hữu của cꢁc tꢄ chức xã  
hꢃi, tꢄ chức xã hꢃi - nghề nghiệp, tꢄ chức kinh  
tế tư nhân hoặc cꢁ nhân, do cꢁc tꢄ chức xã hꢃi,  
tꢄ chức xã hꢃi - nghề nghiệp, tꢄ chức kinh tế tư  
nhân hoặc cꢁ nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vꢀt  
chất. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước không  
thuꢃc cꢁc thành phần được đề cꢀp đến trong  
quy định nêu trên; do đó, cꢁc doanh nghiệp nhà  
nước không thể đầu tư thành lꢀp CSGD nghề  
nghiệp tư thục.  
Hiện nay, cꢁc doanh nghiệp nhà nước  
đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong  
nền kinh tế; nếu loại doanh nghiệp này không  
có quyền đầu tư thành lꢀp CSGD thì là mꢃt  
bất cꢀp cần phải khắc phục. Cꢁc cơ quan  
đại diện chủ sở hữu nhà nước có thể định  
hướng và kiểm soꢁt việc đầu tư của doanh  
nghiệp nhà nước vào lĩnh vực giꢁo dục theo  
quy định của Luꢀt Quản lý, sử dụng vꢂn nhà  
nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại  
doanh nghiệp năm 2014. Nhà nước cần phải  
chấp nhꢀn việc cꢁc doanh nghiệp có vꢂn nhà  
nước (ở mức đꢃ khꢁc nhau) có quyền đầu tư  
vào CSGD tư thục15. Không nên quan niệm  
trường tư thục thì phải có 100% vꢂn của tư  
nhân mà không có phần vꢂn nào có nguồn  
gꢂc từ Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.  
Vì vꢀy, để khắc phục cꢁc hạn chế nêu trên,  
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDNN và Luꢀt GDĐH  
cần thꢂng nhất quan niệm doanh nghiệp nhà  
nước cũng là nhà đầu tư và doanh nghiệp nhà  
nước có thể đầu tư vꢂn vào trường tư thục  
như cꢁc nhà đầu tư khꢁc.  
12 Ví dụ: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông được thành lꢀp theo Quyết định sꢂ 516/TTg của Thủ tướng  
Chính phủ ngày 11/7/1997 trên cơ sở sắp xếp lại 4 đơn vị thành viên thuꢃc Tꢄng Công ty Bưu chính Viễn thông  
Việt Nam là Viện Khoa học Kỹ thuꢀt Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện, Trung tâm đào tạo Bưu chính Viễn thông  
1 và 2. Hiện nay, Học viện đã được chuyển về là đơn vị sự nghiệp thuꢃc Bꢃ Thông tin truyền thông.  
13 Khoản 11 Điều 4, Điều 88 Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020.  
14 Khoản 18 Điều 3 Luꢀt Đầu tư năm 2020; khoản 11 Điều 5 Luꢀt Giꢁo dục năm 2019.  
15 Lưu ý rằng: doanh nghiệp có vꢂn nhà nước gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp mà nhà nước sở  
hữu không quꢁ 50% vꢂn điều lệ hoặc tꢄng sꢂ cꢄ phần có quyền biểu quyết; không phải tất cả cꢁc doanh nghiệp  
có vꢂn nhà nước đều là doanh nghiệp nhà nước.  
Số 15(439) - T8/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Thứ tư, cần cho phép sự hợp tác giữa các  
nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước  
ngoài thành lập cơ sở giáo dục tư thục  
dục nêu trên cũng không quy định về những  
trường hợp bị cấm tham gia quản lý, điều hành  
trường tư thục như: bị cấm tham gia là thành viên  
hꢃi đồng trường, cấm giữ chức vụ hiệu trưởng,  
phó hiệu trưởng…  
Điều 47 Luꢀt Giꢁo dục và Điều 7 Luꢀt  
GDĐH quy định CSGD tư thục có thể được  
thành lꢀp bởi nhà đầu tư trong nước hoặc nhà  
đầu tư nước ngoài. Chữ “hoặc” trong hai điều  
luꢀt này dẫn đến hệ quả là cꢁc nhà đầu tư trong  
nước và nhà đầu tư nước ngoài không thể cùng  
nhau đầu tư thành lꢀp CSGD tư thục. Bên cạnh  
đó, Điều 102 Luꢀt Giꢁo dục quy định nhà đầu  
tư vào CSGD tư thục có thể chuyển nhượng vꢂn  
góp của mình cho nhà đầu tư khꢁc. Vꢀy, câu hỏi  
đặt ra là nhà đầu tư nước ngoài có được mua lại  
vꢂn góp của nhà đầu tư trong nước trong CSGD  
tư thục và ngược lại để dẫn đến việc trường tư  
thục đó vừa có nhà đầu tư trong nước và nhà  
đầu tư nước ngoài hay không? Hơn nữa, Luꢀt  
GDNN cho phép thành lꢀp cơ sở giꢁo dục nghề  
nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và  
nhà đầu tư nước ngoài; tức là cho phép sự hợp  
tꢁc giữa cꢁc nhà đầu tư trong nước và nhà đầu  
tư nước ngoài. Vì vꢀy, Luꢀt Giꢁo dục và Luꢀt  
GDĐH không cho phép nhà đầu tư trong nước  
và nhà đầu tư nước ngoài hợp tꢁc cùng nhau  
thành lꢀp CSGD tư thục là bất hợp lý, không  
thꢂng nhất với Luꢀt GDNN. Để khắc phục bất  
cꢀp nêu trên, tꢁc giả cho rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt  
Giꢁo dục và Luꢀt GDĐH theo hướng cho phép  
sự hợp tꢁc giữa cꢁc nhà đầu tư mang quꢂc tịch  
khꢁc nhau để thành lꢀp CSGD tư thục và nhꢀn  
chuyển nhượng vꢂn góp trong CSGD tư thục.  
Thứ năm, cần đặt ra điều kiện đối với nhà  
đầu tư thành lập và người quản lý trường tư thục  
Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020 và cꢁc luꢀt  
chuyên ngành về lĩnh vực tài chính, ngân hàng,  
chứng khoꢁn, … đều quy định rõ về đꢂi tượng  
có quyền và đꢂi tượng bị cấm thành lꢀp doanh  
nghiệp hay tham gia quản lý doanh nghiệp16.  
Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt GDĐH, Luꢀt GDNN  
không quy định về đꢂi tượng bị cấm thành lꢀp  
CSGD tư thục; do đó, có thể suy luꢀn rằng, mọi  
nhà đầu tư đều có thể xin phép thành lꢀp CSGD  
tư thục. Bên cạnh đó, cꢁc văn bản luꢀt về giꢁo  
Tꢁc giả cho rằng, giꢁo dục đào tạo là lĩnh vực  
đặc thù, dịch vụ giꢁo dục là dịch vụ khꢁ đặc biệt  
vì có liên quan đến học vấn, trình đꢃ, kỹ năng,  
đạo đức, tư tưởng của con người; ảnh hưởng  
lớn đến văn hóa, đến sự ꢄn định và phꢁt triển  
của xã hꢃi. Vì vꢀy, nhà đầu tư thành lꢀp CSGD  
tư thục và đặc biệt là người tham gia quản lý  
CSGD tư thục cũng phải đꢁp ứng điều kiện nhất  
định, không nên chấp nhꢀn bất cứ tꢄ chức, cꢁ  
nhân nào cũng có quyền thành lꢀp CSGD tư  
thục hoặc tham gia quản lý, điều hành CSGD  
tư thục. Vì vꢀy, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt  
GDNN, Luꢀt GDĐH theo hướng quy định cꢁc  
tꢄ chức, cꢁ nhân bị cấm đầu tư, góp vꢂn thành  
lꢀp CSGD tư thục, cấm tham gia quản lý, điều  
hành CSGD tư thục cho phù hợp với lĩnh vực  
dịch vụ đặc thù này, ví dụ, quy định cấm những  
đꢂi tượng sau đây thành lꢀp, quản lý trường tư  
thục: những người bị cấm theo phꢁp luꢀt về cꢁn  
bꢃ, công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan,  
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức  
quꢂc phòng; người bị hạn chế năng lực hành vi  
dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự;  
người có khó khăn trong nhꢀn thức, làm chủ  
hành vi; người đang bị truy cứu trꢁch nhiệm hình  
sự, đang chấp hành hình phạt theo bản ꢁn kết tꢃi  
của tòa ꢁn, đang chấp hành biện phꢁp xử lý hành  
chính tại cơ sở cai nghiện bắt buꢃc, cơ sở giꢁo  
dục bắt buꢃc hoặc người đã từng bị kết ꢁn về cꢁc  
tꢃi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi  
đꢂi với trẻ em…  
Thứ sáu, cần sửa đổi quy định về các loại tài  
sản và quyền sở hữu tài sản của trường tư thục  
- Ở cꢁc nước trên thế giới, tài sản của CSGD  
tư thục được hình thành từ nhiều nguồn khꢁc  
nhau như: đóng góp của nhà đầu tư, hỗ trợ của  
nhà nước, học phí của người học, đóng góp của  
cꢁc nhà hảo tâm (cꢁc quỹ, cꢁc tꢄ chức, cꢁ nhân)và  
từ hoạt đꢃng đầu tư của trường17. Trường tư thục  
16 Ví dụ, xem Điều 17 Luꢀt Doanh nghiệp năm 2020; Điều 33, 50 Luꢀt Cꢁc tꢄ chức tín dụng; Điều 74,75 Luꢀt Chứng khoꢁn.  
17 Xem thêm cꢁc tài liệu: International Finance Corporation, tlđd, tr.20-22; Trương Thị Bích, Trần ThịYến, Một số giải pháp về cơ chế chính  
sách đối với các trường phổ thông dân lập, tư thục tại Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Tạp chí Giꢁo dục, sꢂ thꢁng 6/2018, tr.62.  
12  
Số 15(439) - T8/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
càng uy tín, càng nꢄi tiếng, có nhiều cựu học sinh  
thành đạt thì càng có khả năng thu hút tài chính  
gây quỹ, được tặng cho hoặc có cꢁc hợp đồng cho  
hoạt đꢃng nghiên cứu, tư vấn, làm dự ꢁn.  
Khoản 2 Điều 102 Luꢀt Giꢁo dục quy  
định “Tài sản của trường tư thục thuꢃc sở  
hữu của nhà đầu tư, hình thành từ vꢂn góp  
của nhà đầu tư”. Quy định này dẫn đến hệ  
quả phꢁp lý là: Với tư cꢁch là chủ sở hữu thì  
nhà đầu tư có quyền định đoạt tài sản của  
trường tư thục và CSGD tư thục sẽ không có  
tài sản thuꢃc sở hữu của chính mình.  
nhiệm. Tuy nhiên, Luꢀt GĐDH cũng chưa có  
cꢁc quy định cụ thể về chế đꢃ quản lý, sử dụng  
và định đoạt tài sản của CSGD đại học tư thục  
hoạt đꢃng không vì lợi nhuꢀn.  
Luꢀt GDNN không có quy định cụ thể  
nào về quyền sở hữu tài sản của CSGD nghề  
nghiệp tư thục và CSGD nghề nghiệp có vꢂn  
đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Luꢀt quy định  
về tài sản và đất đai được Nhà nước giao cho  
CSGD nghề nghiệp tư thục quản lý và tài sản  
mà CSGD nghề nghiệp tư thục được tài trợ,  
viện trợ, biếu, tặng, cho phải được sử dụng  
đúng mục đích, không chuyển đꢄi mục đích  
sử dụng và không được chuyển thành sở hữu  
tư nhân dưới bất kỳ hình thức nào (khoản 4  
Điều 31). Tuy nhiên, cũng như Luꢀt Giꢁo  
dục, Luꢀt GDNN không quy định về cꢁc loại  
tài sản của trường tư thục mꢃt cꢁch rõ ràng  
như Luꢀt GDĐH. Hơn nữa, cả ba luꢀt về giꢁo  
dục hiện hành không có quy định đặc thù về  
chế đꢃ quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản của  
trường tư thục không vì lợi nhuꢀn.  
Để khắc phục những bất cꢀp nêu trên, tꢁc  
giả cho rằng, cần sửa đꢄi Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt  
GDNN, Luꢀt GDĐH theo hướng sau: Thứ  
nhất, cần quy định cụ thể phân tꢁch tài sản của  
trường tư thục thành 3 loại và có chế đꢃ quản  
lý, sử dụng, định đoạt khꢁc nhau: (i) tài sản  
của Nhà nước giao, hỗ trợ; quyền sử dụng đất  
được Nhà nước giao; (ii) tài sản chung hợp  
nhất không được phân chia là tài sản (hoặc  
được mua từ nguồn tiền) được cꢁc tꢄ chức,  
cꢁ nhân tặng, cho, viện trợ, tài trợ; và (iii)  
cꢁc loại tài sản khꢁc không thuꢃc hai nhóm  
trên; thứ hai, cần quy định chế đꢃ quản lý, sử  
dụng, định đoạt tài sản khꢁc nhau cho cꢁc loại  
trường tư thục khꢁc nhau; chẳng hạn chế đꢃ  
tài sản của trường tư thục hoạt đꢃng không  
vì lợi nhuꢀn hoặc mꢃt phần vì lợi nhuꢀn phải  
khꢁc với trường tư thục vì lợi nhuꢀn  
Bên cạnh đó, quy định của khoản 2 Điều  
102 Luꢀt Giꢁo dục không thꢂng nhất với  
quy định của Điều 103 về chính sꢁch ưu đãi  
đất đai, cơ sở vꢀt chất dành cho trường chứ  
không phải dành cho nhà đầu tư. Việc quy  
định tài sản của trường tư thục thuꢃc sở hữu  
của cꢁc nhà đầu tư cũng làm cho CSGD tư  
thục bị mất đi mꢃt điều kiện theo Điều 74 Bꢃ  
luꢀt Dân sự năm 2015 để được công nhꢀn là  
phꢁp nhân; bởi vì, CSGD tư thục không có  
tài sản đꢃc lꢀp.  
Khoản 2 Điều 67 Luꢀt GDĐH quy định  
CSGD đại học tư thục có thể có ba loại tài sản:  
(i) Tài sản của Nhà nước; (ii) Tài sản chung  
hợp nhất không phân chia (tài sản được viện  
trợ, tài trợ, hiến tặng, cho, tặng và tài sản khꢁc  
được quy định là tài sản chung hợp nhất không  
phân chia); và (iii) Cꢁc loại tài sản khꢁc. Cụ  
thể: (i) đꢂi với tài sản của Nhà nước và quyền  
sử dụng đất được Nhà nước giao thì phải theo  
quy định của phꢁp luꢀt về quản lý, sử dụng tài  
sản công và phꢁp luꢀt về đất đai; không được  
chuyển thành sở hữu tư nhân dưới bất cứ hình  
thức nào; (ii) đꢂi với tài sản chung hợp nhất  
không phân chia thì thuꢃc sở hữu của cꢃng  
đồng nhà trường, không được chuyển thành  
sở hữu tư nhân, không được tính vào giꢁ trị  
tài sản được định giꢁ của cơ sở giꢁo dục đại  
học khi có chuyển nhượng vꢂn; nếu giải thể  
thì được coi là tài sản chung của cꢃng đồng  
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý,  
sử dụng cho mục đích phꢁt triển giꢁo dục đại  
học; (iii) đꢂi với tài sản không thuꢃc hai nhóm  
trên thì CSGD có quyền tự quyết định việc  
quản lý, sử dụng, định đoạt và tự chịu trꢁch  
Tóm lại, quy định của Luꢀt Giꢁo dục, Luꢀt  
GDNN, Luꢀt GDĐH hiện hành về CSGD tư  
thục đã bꢃc lꢃ cꢁc hạn chế, thiếu sót, bất cꢀp;  
vì vꢀy, Nhà nước cần xem xét, sửa đꢄi ba luꢀt  
này để đảm bảo sự thꢂng nhất và tạo điều  
kiện phꢁp lý thuꢀn lợi cho sự phꢁt triển cꢁc  
mô hình trường tư thục ở Việt Nam  
Số 15(439) - T8/2021  
13  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
CHẾ ĐỊNH CHUYỂN YÊU CẦU ĐÒI BỒI HOÀN  
TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN  
Nguyễn Thị Thủy*  
Đỗ Lệnh Quân**  
*PGS.TS. GV. Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh  
**ThS. Công ty THHH đầu tư Ngôi sao Sài Gòn  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn là mꢃt chế định khꢁ đặc thù trong bảo hiểm  
tài sản. Mục đích của chế định này là nhằm giúp doanh nghiệp bảo hiểm  
được quyền đòi lại khoản tiền bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo  
hiểm nếu tꢄn thất xảy ra do lỗi của người thứ ba. Việc bên được bảo hiểm  
phải chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn sang doanh nghiệp bảo hiểm  
để doanh nghiệp bảo hiểm đòi người thứ ba bồi hoàn khoản thiệt hại do  
lỗi của người thứ ba gây ra là hoàn toàn hợp lý về mặt lý luꢀn và thực tiễn.  
Tuy nhiên, quy định của phꢁp luꢀt về vấn đề này vẫn còn mꢃt sꢂ bất cꢀp,  
gây trở ngại cho việc ꢁp dụng chế định này trong thực tiễn.  
Từ khóa: Chuyển yêu cầu đòi bồi  
hoàn; phꢁp luꢀt bảo hiểm tài sản.  
Lịch sử bài viết:  
Nhꢀn bài  
Biên tꢀp  
Duyệt bài  
: 10/04/2021  
: 22/05/2021  
: 25/05/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The legal provision on transfer of compensation claim is a rather specialised  
one in property insurance. The purpose of this provision is to help the insur-  
ance company have the right to recover the compensation money that has  
been indemnified to the insured party if the loss is caused by the fault of a  
third party. The fact that the insured party have to transfer the right of claim  
to the insurance company so that it can claim the third party’s compensation  
for the damage caused by the third party's fault is completely logical view-  
points and practice. However, the legal provisions on this matter still have  
some shortcomings, which might hinder its application in practices.  
Keywords:  
compensation  
regulationsonpropertyinsurance.  
Transfer  
claim;  
of  
legal  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 Apr. 2021  
: 22 May 2021  
: 25 May 2021  
Approved  
1. Cơ sở hình thành chế định chuyển yêu  
cầu đòi bồi hoàn  
trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ có  
thỏa thuꢀn hoặc phꢁp luꢀt có quy định về việc  
không được chuyển giao quyền yêu cầu.  
Khoản 1 Điều 365 Bꢃ luꢀt Dân sự năm 2015  
(BLDS) quy định: “Bên có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu  
cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận,  
trừ các trường hợp pháp luật không cho  
phép”. Quy định này cho thấy, khi có phꢁt sinh  
quyền và nghĩa vụ giữa cꢁc bên liên quan trong  
giao dịch dân sự, bên có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu  
cầu theo thỏa thuꢀn cho bên thứ ba gọi là bên  
thế quyền để thực hiện quyền yêu cầu đó, trừ  
Sau khi bên có quyền yêu cầu thực hiện  
nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa  
thuꢀn cho bên thứ ba thì bên có quyền yêu cầu  
sẽ chấm dứt mꢂi quan hệ với bên có nghĩa vụ  
cũng như không phải chịu trꢁch nhiệm về khả  
năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;  
bên thứ ba lúc này trở thành người thế quyền  
có đầy đủ tư cꢁch chủ thể của bên có quyền  
yêu cầu trước đó và có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ đꢂi với bên có nghĩa vụ theo quy  
14  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
định của phꢁp luꢀt. Việc chuyển giao quyền  
yêu cầu không làm thay đꢄi nꢃi dung quan  
hệ nghĩa vụ, không cần có sự đồng ý của bên  
có nghĩa vụ; nꢃi dung này cũng phù hợp với  
quy định trong BLDS: “Khi bên có quyền yêu  
cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế  
quyền thì người thế quyền trở thành bên có  
quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu  
cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa  
vụ”1. Tuy nhiên, người chuyển giao quyền yêu  
cầu phải thông bꢁo bằng văn bản cho bên có  
nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu  
cầu: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải  
thông bꢁo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ  
biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ  
trường hợp có thỏa thuꢀn khꢁc. Trường hợp  
bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông  
bꢁo về việc chuyển giao quyền mà phꢁt sinh  
chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao  
quyền yêu cầu phải thanh toꢁn chi phí này”2.  
Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu  
cầu giữa bên có quyền yêu cầu và bên nhꢀn  
chuyển giao quyền yêu cầu có thể thực hiện  
bằng văn bản hoặc lời nói hoặc cꢁc hình thức  
khꢁc theo luꢀt định3.  
Quan hệ bảo hiểm tài sản thực chất là quan  
hệ dân sự; do vꢀy, bản chất chuyển giao quyền  
yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng gần giꢂng  
với bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu  
trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, với những  
đặc trưng của bảo hiểm tài sản thì cꢁch thức  
và nꢃi dung của chuyển giao quyền yêu cầu  
cũng có những nét đặc thù riêng. Cụ thể, rủi  
ro trong bảo hiểm tài sản được chia làm hai  
nhóm chính: rủi ro từ thiên nhiên và rủi ro do  
con người tạo ra. Những rủi ro từ thiên nhiên  
là rủi ro do tự nhiên mà có, không phải xuất  
phꢁt từ hành đꢃng của con người; rủi ro do con  
người tạo ra là những yếu tꢂ được tạo nên từ  
hành đꢃng của con người. Việc phân loại rủi  
ro trên đây là cơ sở để xꢁc định cꢁc quyền lợi  
và nghĩa vụ có liên quan khi sự kiện bảo hiểm  
xảy ra. Cụ thể, đꢂi với những rủi ro do thiên  
nhiên tạo ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự  
gꢁnh chịu tꢄn thất vì yếu tꢂ rủi ro ở đây không  
do mꢃt chủ thể nào tạo ra, nó không phải là  
hệ quả của hành vi của con người. Vì vꢀy, ở  
góc đꢃ phꢁp lý, không mꢃt ai phải chịu trꢁch  
nhiệm do hꢀu quả của thiên nhiên mang lại.  
Tuy nhiên, nếu rủi ro này do con người tạo ra,  
người ta sẽ phải xem xét đến yếu tꢂ đꢃng cơ  
và mục đích của hành vi nhằm xꢁc định trꢁch  
nhiệm phꢁt sinh từ hành vi đó. Sở dĩ trong bảo  
hiểm tài sản, cꢁc bên phải lưu ý đến yếu tꢂ này  
vì không thể mꢃt người thực hiện hành vi trꢁi  
phꢁp luꢀt gây ra tꢄn thất cho người khꢁc rồi  
tꢄn thất này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm  
gꢁnh chịu thay. Việc gꢁnh chịu tꢄn thất trong  
bảo hiểm tài sản là sự gꢁnh chịu cho người  
được bảo hiểm chứ không phải cho người gây  
ra tꢄn thất. Như vꢀy, nhìn từ góc đꢃ phꢁp lý,  
khi mꢃt chủ thể có hành vi gây thiệt hại đꢂi  
với người khꢁc họ sẽ phải có trꢁch nhiệm bồi  
thường những thiệt hại do mình gây ra. Trong  
khoa học phꢁp lý, trường hợp này được gọi là  
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.  
Ở đây, chúng ta xem xét đến mꢂi quan hệ  
giữa bảo hiểm tài sản và quan hệ bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng để xꢁc định trꢁch  
nhiệm bồi thường của cꢁc bên khi có thiệt hại  
xảy ra. Nếu nhìn nhꢀn về góc đꢃ thời gian,  
quan hệ bảo hiểm phải được hình thành trước,  
do thiệt hại trong bảo hiểm phải từ rủi ro mang  
lại và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm,  
rủi ro phải chưa xảy ra. Như vꢀy, quan hệ bồi  
thường trong bảo hiểm là quan hệ được cꢁc  
bên thỏa thuꢀn trước với những điều kiện và  
điều khoản đã được xꢁc lꢀp trong hợp đồng  
bảo hiểm. Trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại  
của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng  
bảo hiểm không phải phꢁt sinh từ hành vi gây  
thiệt hại mà phꢁt sinh từ cam kết gꢁnh chịu rủi  
ro. Do đó, khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp  
bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường  
trước, tức là phải thực hiện nghĩa vụ gꢁnh chịu  
tꢄn thất như đã cam kết trong hợp đồng. Tuy  
nhiên, khi rủi ro này là do con người tạo ra thì  
quan hệ bảo hiểm không thể chỉ dừng lại ở việc  
1 Khoản 2 Điều 365 BLDS.  
2 Khoản 2 Điều 365 BLDS.  
3 Điều 119 BLDS.  
Số 15(439) - T8/2021  
15  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
doanh nghiệp bảo hiểm hoàn tất trꢁch nhiệm  
bồi thường của mình mà nó còn phꢁt sinh trꢁch  
nhiệm của người gây ra thiệt hại đꢂi với bên  
được bảo hiểm. Trong quan hệ bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng, về nguyên tắc, người gây  
ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt  
hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì người  
bị thiệt hại đã tham gia vào quan hệ hợp đồng  
bảo hiểm tài sản và đã được doanh nghiệp bảo  
hiểm bồi thường nên bên mua bảo hiểm không  
được tiếp tục đòi người gây ra thiệt hại bồi  
thường cho mình (trừ trường hợp sꢂ tiền bảo  
hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho  
bên mua bảo hiểm nhỏ hơn thiệt hại xảy ra).  
Từ đây hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi  
bồi thường từ bên mua bảo hiểm sang doanh  
nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, bên mua bảo hiểm,  
với tư cꢁch là người có quyền trong quan hệ  
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sẽ chuyển  
giao quyền yêu cầu sang cho doanh nghiệp bảo  
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm đòi lại người  
gây ra thiệt hại trả lại cho mình khoản tiền đã  
bồi thường cho bên mua bảo hiểm.  
Từ quy định về chuyển giao quyền yêu cầu  
trong BLDS cho thấy, chuyển giao quyền yêu  
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản được  
hình thành dựa trên chế định chuyển giao quyền  
yêu cầu trong BLDS, từ đó cho phép doanh  
nghiệp bảo hiểm nhꢀn chuyển giao quyền yêu  
cầu từ bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ  
và trở thành người thế quyền có quyền yêu cầu  
người thứ ba gây ra thiệt hại cho tài sản được  
bảo hiểm phải bồi hoàn lại cho mình sꢂ tiền  
bảo hiểm đã trả cho bên được bảo hiểm.  
thuꢀn bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo  
hiểm và bên mua bảo hiểm nhằm xꢁc lꢀp  
quyền và nghĩa vụ nhất định của cꢁc bên trong  
quꢁ trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm.  
Hợp đồng bảo hiểm tài sản có đꢂi tượng bảo  
hiểm là vꢀt có thực, tiền, giấy tờ có giꢁ và quyền  
về tài sản. Tuy nhiên, khi tài sản là đꢂi tượng của  
bảo hiểm tài sản thì phải đảm bảo hai yếu tꢂ sau:  
Thứ nhất, phải tồn tại tại thời điểm giao kết  
hợp đồng bảo hiểm tài sản. Sở dĩ, có lý do này  
là vì bản chất của bảo hiểm tài sản là bên mua  
bảo hiểm chuyển giao những tꢄn thất do cꢁc  
rủi ro được bảo hiểm gây ra đꢂi với tài sản cho  
doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo  
hiểm gꢁnh chịu thay, vì vꢀy phải có sự tồn tại  
thực tế của tài sản cần bảo hiểm.  
Ví dụ: Khi muꢂn mua bảo hiểm tài sản đꢂi  
với mꢃt công trình xây dựng thì công trình đó  
cần phải thuꢃc dự ꢁn đã được cấp phép, chủ  
đầu tư công trình phải chứng minh đủ điều kiện  
tài chính để hoàn thành xây dựng công trình;  
công trình đó phải bảo đảm về mặt phꢁp lý và  
tài chính. Khi muꢂn mua bảo hiểm vꢀt chất xe  
thì người mua bảo hiểm đã phải có xe và giấy  
chứng nhꢀn quyền sở hữu đꢂi với chiếc xe.  
Thứ hai, tài sản bảo hiểm phải định giꢁ  
được bằng tiền vì phí bảo hiểm được tính theo  
tỷ lệ phần trăm trên giꢁ trị tài sản. Hơn nữa,  
giꢁ trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao  
kết hợp đồng bảo hiểm là giới hạn mức trꢁch  
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.  
Chính vì vꢀy, tại thời điểm giao kết hợp đồng,  
cꢁc bên phải tính được giꢁ trị của tài sản bảo  
hiểm thì mới tính được phí bảo hiểm, từ đó  
mới xꢁc định được mức trả tiền bảo hiểm tꢂi  
đa của doanh nghiệp bảo hiểm đꢂi với người  
được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở phát  
sinh chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn  
trong bảo hiểm tài sản vì nó là cơ sở hình thành  
quan hệ bảo hiểm, mà muꢂn có quan hệ chuyển  
yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo  
hiểm tài sản thì phải có quan hệ bảo hiểm.  
- Phải có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên  
nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của  
người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo  
hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm  
2. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu  
cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo  
hiểm tài sản  
- Hợp đồng bảo hiểm  
Điều 12 Luꢀt Kinh doanh bảo hiểm năm  
2000 (Luꢀt KDBH) quy định: “Hợp đồng  
bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo  
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên  
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh  
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho  
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người  
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.  
Nói cꢁch khꢁc, hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa  
16  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Sự kiện bảo hiểm xảy ra và nguyên nhân  
dẫn đến tꢄn thất là do hành vi có lỗi của người  
thứ ba gây ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm  
phải nằm trong phạm vi bảo hiểm là mꢃt trong  
cꢁc cơ sở hình thành nên việc chuyển yêu cầu  
đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài  
sản vì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt đꢃng của  
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh  
lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢀn  
rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên  
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh  
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người  
thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được  
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”4. Đã là  
hoạt đꢃng nhằm mục đích sinh lợi thì doanh  
nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn rủi ro để  
bảo hiểm vì nếu là cꢁc rủi ro hàng loạt sẽ dễ  
dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm bị phꢁ sản. Do  
đó, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra là do hành  
vi có lỗi của người thứ ba gây ra đꢂi với tài sản  
được bảo hiểm nhưng rủi ro gây ra thiệt hại này  
lại không nằm trong phạm vi bảo hiểm hoặc  
nằm trong trường hợp bị loại trừ thì khi đó,  
doanh nghiệp bảo hiểm không có trꢁch nhiệm  
phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm và cũng  
có nghĩa là sẽ không có việc chuyển yêu cầu  
đòi người thứ ba bồi hoàn. Lúc này, bên mua  
bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bên gây ra thiệt hại  
bồi thường theo chế định bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng được quy định trong luꢀt dân  
sự mà thôi.  
thế quyền hay chủ thể mới có quyền yêu cầu  
bên thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt  
hại cho tài sản được bảo hiểm trả lại cho mình  
khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo  
hiểm và khi đó việc chuyển giao quyền yêu  
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản mới  
được xꢁc lꢀp. Do vꢀy, thiệt hại thực tế xảy ra là  
cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi  
bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
Có thể nói rằng, thiệt hại không chỉ là nền  
tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buꢃc của  
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng, từ đó xꢁc lꢀp nên việc chuyển giao quyền  
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
Ngoài ra, khi xꢁc định trꢁch nhiệm bồi  
thường thiệt hại, cꢁc bên cũng cần quan tâm  
đến yếu tꢂ lỗi của bên thứ ba thực hiện hành vi  
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm. Do  
phꢁp luꢀt kinh doanh bảo hiểm không có quy  
định cụ thể về lỗi của bên thứ ba gây ra thiệt  
hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm; vì vꢀy cần  
phải quay lại quy định về lỗi trong luꢀt dân sự  
tức là gồm cả “lỗi cꢂ ý và lỗi vô ý”5 để giải  
quyết vấn đề: thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở  
cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi  
hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải  
hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho  
bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ  
ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm  
Yếu tꢂ này được hình thành trên cơ sở, trꢁch  
nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm  
trong hợp đồng bảo hiểm không phát sinh từ  
hành vi gây thiệt hại đối với tài sản được bảo  
hiểm mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro  
thay cho người được bảo hiểm. Do vꢀy, nếu  
có thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba gây  
ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm thì trước tiên  
doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa  
vụ bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong  
hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, do thiệt hại  
này là do lỗi của người thứ ba gây ra, và theo  
quy định của phꢁp luꢀt dân sự, khi mꢃt người  
gây ra thiệt hại cho người khꢁc thì phải có  
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vꢀy,  
- Có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi  
Bản chất của bồi thường nói chung là sự bù  
đắp thiệt hại. Trong quan hệ bồi thường dân  
sự nói chung và bồi thường trong bảo hiểm  
tài sản nói riêng, nếu có thiệt hại thực tế xảy  
ra đꢂi với tài sản thì bên bị thiệt hại mới có  
quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường.  
Đồng thời, vì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu  
bên gây ra thiệt hại bồi thường thiệt hại nên  
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện  
xong trꢁch nhiệm bồi thường cho bên được  
bảo hiểm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu  
đòi bồi hoàn trong bảo hiểm sẽ diễn ra. Khi  
đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trở thành bên  
4 Khoản 1 Điều 3 Luꢀt KDBH.  
5 Điều 364 BLDS.  
Số 15(439) - T8/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường  
bảo hiểm, tức đã thực hiện xong trꢁch nhiệm  
trả tiền bảo hiểm, họ được quyền đòi lại sꢂ tiền  
họ đã trả do lỗi của người thứ ba gây ra.  
Do vꢀy, có thể nói rằng, doanh nghiệp bảo  
hiểm hoàn thành trꢁch nhiệm bồi thường trước  
cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên  
thứ ba gây ra đꢂi với tài sản được bảo hiểm là  
một trong các cơ sở hình thành việc chuyển  
quyền yêu cầu đòi (người thứ ba) bồi thường  
trong bảo hiểm tài sản.  
3. Các quy định của pháp luật về chuyển  
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản  
và kiến nghị hoàn thiện  
3.1. Xác định lỗi và trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại của người thứ ba  
muꢂn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi  
vô ý là trường hợp mꢃt người không thấy trước  
hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,  
mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại  
sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có  
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại  
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.  
Việc phân định lỗi cꢂ ý hay vô ý là cơ sở cho  
việc xꢁc định mức bồi thường thiệt hại. Điều  
này cũng phù hợp với khoản 2 Điều 585 BLDS  
về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Người  
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể  
được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi  
hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả  
năng kinh tế của mình”. Như vꢀy, lỗi vô ý là  
mꢃt trong cꢁc yếu tꢂ có thể xét giảm mức bồi  
thường. Tuy nhiên, việc xꢁc định lỗi của người  
thứ ba trên thực tế không hề đơn giản. Chẳng  
hạn, trong cꢁc trường hợp hỏa hoạn gây thiệt  
hại đꢂi với tài sản, dù cꢁc cơ quan chức năng  
đã xꢁc định được nguyên nhân là do sự cꢂ về  
điện gây chꢁy nhưng nguyên nhân là do khꢁch  
quan hay lỗi vô ý chủ quan thì rất khó xꢁc định  
vì người thứ ba luôn phủ nhꢀn yếu tꢂ lỗi với  
nhiều lý do hoặc cho rằng sự việc xảy ra là  
bất khả khꢁng nhằm chꢂi bỏ trꢁch nhiệm bồi  
thường. Ngoài ra, việc xꢁc định lỗi của người  
thứ ba không chỉ là xꢁc định có lỗi hay không  
mà còn là việc xꢁc định mức đꢃ lỗi gây ra đꢂi  
với tꢄng thiệt hại thực tế của tài sản được bảo  
hiểm để xꢁc định cụ thể mức bồi thường, điều  
này đã gây tranh cãi khꢁ nhiều trong thực tế vì  
phꢁp luꢀt chưa có quy định cụ thể.  
Để khắc phục hạn chế nêu trên, cꢁc tꢁc giả  
cho rằng, cần đẩy mạnh việc công bꢂ cꢁc ꢁn lệ  
liên quan đến chuyển quyền yêu cầu đòi bồi  
hoàn trong bảo hiểm tài sản theo hướng chia  
sẻ bớt nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà doanh  
nghiệp bảo hiểm phải gꢁnh chịu cho cꢁc bên  
liên quan nếu cꢁc bằng chứng về nguyên nhân  
gây ra thiệt hại là do sự kiện bất khả khꢁng  
chưa có tính thuyết phục. Điều này sẽ đảm  
bảo sự công bằng cho doanh nghiệp bảo hiểm  
nói riêng và giữa cꢁc bên tham gia quan hệ  
bảo hiểm nói chung cũng như góp phần nâng  
cao tính chủ đꢃng, tinh thần trꢁch nhiệm trong  
phòng, chꢂng thiệt hại xảy ra đꢂi với tài sản.  
- Xác định lỗi của người thứ ba đối với thiệt  
hại của người được bảo hiểm  
Chế định chuyển quyền yêu cầu người thứ  
ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản chỉ có thể  
được ꢁp dụng khi người thứ ba phải thực hiện  
hành vi có lỗi gây thiệt hại đến tài sản được  
bảo hiểm theo quy định của khoản 1 Điều 49  
Luꢀt KDBH: “Trong trường hợp người thứ ba  
có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và  
doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường  
cho người được bảo hiểm thì người được bảo  
hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ  
ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi  
thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Nghĩa  
là trꢁch nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp  
bảo hiểm dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm  
đã được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm  
với bên được bảo hiểm, còn trꢁch nhiệm bồi  
thường thiệt hại của người thứ ba phụ thuꢃc  
vào yếu tꢂ lỗi gây ra thiệt hại về tài sản đꢂi với  
bên được bảo hiểm và để thực hiện chuyển  
quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn thì người  
thứ ba phải có lỗi. Tuy nhiên, Luꢀt KDBH chỉ  
nêu vấn đề có lỗi mꢃt cꢁch chung chung mà  
không xꢁc định cụ thể yếu tꢂ lỗi. Do vꢀy, cần  
phải căn cứ BLDS để xꢁc định yếu tꢂ lỗi. Điều  
364 BLDS quy định: “Lỗi trong trꢁch nhiệm  
dân sự bao gồm lỗi cꢂ ý, lỗi vô ý. Lỗi cꢂ ý là  
trường hợp mꢃt người nhꢀn thức rõ hành vi của  
mình sẽ gây thiệt hại cho người khꢁc mà vẫn  
thực hiện và mong muꢂn hoặc tuy không mong  
18  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Theo quy trình chuyển giao quyền yêu cầu  
đòi bồi hoàn, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm  
đã thực hiện xong trꢁch nhiệm bồi thường cho  
bên được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm  
sẽ trở thành bên thế quyền hay chủ thể mới  
có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đꢂi với  
người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra  
thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi hoàn lại  
cho mình sꢂ tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm  
đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm. Có thể  
hình dung quy trình chuyển yêu cầu bồi hoàn  
trong bảo hiểm tài sản gồm cꢁc bước sau:  
Bước 1: Xꢁc định mức đꢃ và nguyên nhân  
tꢄn thất, lỗi của người thứ ba.  
suꢂt của người thứ ba gây ra thiệt hại đꢂi với tài  
sản được bảo hiểm. Sở dĩ, phải có sự tham gia  
xuyên suꢂt của người thứ ba vì điều này sẽ giúp  
người thứ ba biết được mức đꢃ thiệt hại đꢂi với  
tài sản do lỗi của mình gây ra. Ngoài ra, sự tham  
gia của người thứ ba cũng giúp cho việc giꢁm  
định, xꢁc định mức đꢃ lỗi được minh bạch và  
chính xꢁc hơn. Tuy nhiên, việc đề nghị người  
thứ ba tham gia trong quꢁ trình giꢁm định và ký  
xꢁc nhꢀn biên bản làm việc cũng gặp nhiều khó  
khăn vì quy định của phꢁp luꢀt hiện hành chưa  
có sự ràng buꢃc nghĩa vụ của người thứ ba phải  
tham gia trong quꢁ trình giꢁm định tꢄn thất đꢂi  
với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại.  
Trên thực tế, khi doanh nghiệp bảo hiểm  
thực hiện quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn  
thì người thứ ba thường đưa ra cꢁc lý do để từ  
chꢂi trꢁch nhiệm bồi hoàn như sau:  
(i) Không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại.  
(ii) Doanh nghiệp bảo hiểm, bên được bảo  
hiểm đã không thông bꢁo cho người thứ ba  
biết và cùng tham gia trong quꢁ trình giꢁm  
định nhằm xꢁc định nguyên nhân và đꢁnh giꢁ  
mức đꢃ thiệt hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm.  
(iii) Không kiểm soꢁt được công tꢁc giꢁm  
định nên không chấp nhꢀn mức trꢁch nhiệm  
theo kết quả bꢁo cꢁo giꢁm định.  
(iv) Không chấp nhꢀn sꢂ tiền doanh nghiệp  
bảo hiểm đã bồi thường cho bên được bảo  
hiểm vì cho rằng sꢂ tiền bồi thường bảo hiểm  
cao hơn so với mức đꢃ thiệt hại thực tế mà  
người thứ ba đã gây ra đꢂi với tài sản được  
bảo hiểm v.v..  
Việc đưa ra cꢁc lý do này nhằm mục đích  
từ chꢂi trꢁch nhiệm hoặc đẩy mꢃt phần trꢁch  
nhiệm về phía doanh nghiệp bảo hiểm, bên  
được bảo hiểm nhằm giảm trừ mức bồi thường  
thiệt hại tꢂi đa nếu phải bồi hoàn cho doanh  
nghiệp bảo hiểm6. Để khắc phục tình trạng  
trꢂn trꢁnh trꢁch nhiệm bồi hoàn của bên thứ  
ba, cꢁc tꢁc giả cho rằng, cần phải hoàn thiện  
cꢁc quy định của Luꢀt KDBH như sau:  
Bước 2: Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành  
bồi thường cho bên được bảo hiểm.  
Bước 3: Bên được bảo hiểm chuyển quyền  
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn cho doanh  
nghiệp bảo hiểm.  
Bước 4: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền  
yêu cầu người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi  
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi  
hoàn lại cho mình sꢂ tiền mà doanh nghiệp bảo  
hiểm đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm.  
Trên thực tế, để đòi lại được toàn bꢃ sꢂ tiền  
mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả trước đó cho  
bên được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm  
phải chứng minh người thứ ba đã thực hiện  
hành vi có lỗi và gây ra thiệt hại đꢂi với tài sản  
được bảo hiểm.  
Mꢃt trong cꢁc bước đầu tiên để chứng minh  
người thứ ba đã thực hiện hành vi có lỗi và  
gây ra thiệt hại đꢂi với tài sản được bảo hiểm  
là giꢁm định, mꢃt giai đoạn quan trọng trong  
quꢁ trình xem xét giải quyết hồ sơ yêu cầu bồi  
thường trong quan hệ bảo hiểm tài sản. Do  
vꢀy, quꢁ trình trên cần có sự tham gia đầy đủ  
và ký xꢁc nhꢀn biên bản làm việc giữa cꢁc bên  
liên quan như doanh nghiệp bảo hiểm, đơn vị  
giꢁm định đꢃc lꢀp, bên được bảo hiểm và đặc  
biệt là người thứ ba gây ra thiệt hại đꢂi với tài  
sản được bảo hiểm nhằm đảm bảo tính minh  
bạch và khꢁch quan trong công tꢁc giải quyết  
bồi thường. Đặc biệt, cần có sự tham gia xuyên  
Thứ nhất, sửa đꢄi khoản 1 Điều 48 theo  
hướng: Bꢄ sung yêu cầu bắt buꢃc cꢁc bên  
6 Điều 363 BLDS về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi: “Trường hợp vi phạm nghĩa  
vụ và có thiệt hại là do mꢃt phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương  
ứng với mức đꢃ lỗi của mình”.  
Số 15(439) - T8/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 15120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 15 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_15_nam_2021.pdf