Giới hạn quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam nguyên tắc hiến pháp và vấn đề thực thi
GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TẠI VIỆT NAM...
NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI
ĐẶNG MINH TUẤN*- LÊ QUỲNH MAI**
Nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân được quy định lần đầu tiên tại khoản
2 Điều 14 cùng những sửa đổi khác của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người được coi là một
trong những điểm tiến bộ nhất của Hiến pháp năm 2013, góp phần làm cho Hiến pháp Việt Nam gần
gũi hơn với chủ nghĩa hiến pháp và pháp luật quốc tế. Tuy vậy, việc thực thi nguyên tắc hiến pháp
về giới hạn quyền lại là một vấn đề lớn đặt ra hiện nay khi thiếu vắng cơ chế bảo vệ hiến pháp và
cách thức đảm bảo sự tương xứng giữa thiệt hại của việc giới hạn quyền và lợi ích mà nó bảo vệ.
Từ khóa: Giới hạn quyền, cơ chế bảo vệ hiến pháp, tính cân xứng.
Ngày nhận bài: 04/8/2020; Biên tập xong: 20/8/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020.
Principle of restricting human rights and citizens rights first stipulated at Clause 2, Article
14 and other amendments in the 2013 Constitution on human rights are considered as one of the
most progressive points that contribute to making our Constitution closer to constitutionalism
and international law. However, the enforcement of constitutional principle has not been fully
implemented due to the lack of an effective constitutional protection mechanism and method to
ensure proportionality between the damage of that limitation and the its benefits.
Keywords: Restricting rights, the mechanism for constitutional protection, proportionality.
1. Giới thiệu
Giới hạn hay hạn chế quyền con người, giới hạn quyền sau: (1) Giới hạn quyền phải
được quy định bởi luật (determined by
law); (2) những giới hạn đặt ra không trái
với bản chất của các quyền (compatible with
the nature of these rights); (3) mục đích giới
hạn quyền là nhằm công nhận và tôn trọng
thích đáng đối với các quyền và tự do của
người khác, đáp ứng những yêu cầu chính
đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc
lợi chung; (4) cần thiết trong một xã hội dân
chủ (in a democratic society).
Khác với các văn kiện trên, Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị (International Covenant on Civil and
Political Rights - ICCPR) năm 1966 không có
điều khoản riêng về giới hạn quyền. ICCPR
khi quy định về từng quyền sẽ có đoạn xác
quyền công dân (gọi tắt là giới hạn quyền)
là việc Hiến pháp hay văn bản luật của
quốc gia có điều khoản hạn chế quyền cho
phép nhà nước áp đặt điều kiện đối với việc
hưởng thụ hay thực hiện quyền và tự do cá
nhân nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp
lý của nhà nước, xã hội và của cá nhân khác.
Rõ ràng, giới hạn quyền cũng là cách thức
bảo vệ quyền.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người (Universal Declaration of Human
Rights - UDHR) năm 1948 và Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn
hóa (International Covenant on Economic,
Social and Cultural Rights - ICESCR) năm
1966 có quy định tương tự khi dành một
điều khoản riêng đề cập giới hạn quyền
như là nguyên tắc giới hạn chung áp dụng
cho tất cả các quyền trong văn kiện1. Theo
đó, cả hai văn kiện đều đặt ra các điều kiện
* Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Trưởng Bộ môn Hành chính
– Hiến pháp, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
** Thạc sĩ, Khoa Luật – Học viện An ninh nhân dân.
Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Bài báo này là một phần của Luận án Tiến sĩ "Pháp luật
về hạn chế quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam".
1ꢀ Xem Điều 29 UDHR, Điều 4 ICESCR
53 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TẠI VIỆT NAM...
định về điều kiện giới hạn quyền. Theo thoại và hình thức trao đổi thông tin khác
chỉ được phép khi có quyết định của Tòa án.
Tuy nhiên, Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa năm 1982 và Hiến pháp Nhật
Bản năm 1946 lại không có quy định rõ ràng
về nguyên tắc giới hạn quyền hay việc tạm
đình chỉ quyền.
đó, ICCPR gọi những quyền này là quyền
tương đối (non-absolute rights) bên cạnh
những quyền tuyệt đối (absolute rights)
sẽ không bị giới hạn hay bị đình chỉ trong
bất cứ trường hợp nào2. Cần lưu ý rằng,
nếu như giới hạn quyền được áp dụng cả
trong những tình huống thông thường với
các điều kiện cho trước như đã đề cập bên
trên, thì đình chỉ quyền (derogrations from
rights) chỉ được áp dụng trong tình huống
đặc biệt là khi có tình trạng khẩn cấp mà đe
dọa đến sự sống còn của quốc gia.
Hầu hết Hiến pháp các quốc gia đều
có quy định về nguyên tắc giới hạn quyền
bằng một điều khoản cụ thể; trong khi
đó, một số Hiến pháp còn quy định thêm
những điều kiện giới hạn áp dụng riêng cho
một số quyền. Như Hiến pháp của Cộng
hòa Nam Phi năm 1996 – bản Hiến pháp
tiến bộ nhất trên thế giới với những tuyên
ngôn nhân quyền mạnh mẽ, tại Chương II
mục 36 đưa ra nguyên tắc giới hạn quyền
phải “hợp lý và chính đáng trong một xã
hội dân chủ và cởi mở” và phải xem xét một
số yếu tố đi cùng3. Chương 2 thừa nhận sự
cần thiết đình chỉ quyền trong tình trạng
khẩn cấp nhưng cũng liệt kê một số quyền
không bị tạm định chỉ. Ngoài ra, khoản 3
Điều 55 Hiến pháp Nga năm 1993 ghi nhận
nguyên tắc giới hạn quyền; theo đó, quyền
và tự do của con người và công dân có thể bị
giới hạn bởi pháp luật liên bang trong mức
độ cần thiết đủ để bảo vệ nền tảng chế độ
hiến pháp, đạo đức, sức khỏe, các quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác, bảo đảm
quốc phòng và an ninh quốc gia. Ngoài ra,
Hiến pháp Nga còn có những điều khoản
ghi nhận việc giới hạn dành cho một số
quyền cụ thể như khoản 2 Điều 23 quy định
việc hạn chế quyền bí mật thư tín, điện
Hiến pháp năm 2013 đã lồng ghép cả hai
cách thức về giới hạn quyền là: (1) nguyên
tắc chung về giới hạn quyền con người,
quyền công dân; (2) quy định một số giới
hạn đối với một số quyền cụ thể. Cụ thể,
Hiến pháp quy định nguyên tắc chung:
“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật trong trường
hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức
khỏe cộng đồng” (khoản 2 Điều 14). Ngoài ra,
Hiến pháp giới hạn đối với một số ít quyền
cụ thể (như quy định tại các điều 30, 32, 54,
103) phù hợp với đặc điểm của các quyền
này. Xem xét các quy định giới hạn về một
số các quyền cụ thể cho thấy, các giới hạn
cụ thể được đưa ra phù hợp với nguyên
tắc chung đươc ghi nhận tại khoản 2 Điều
14 Hiến pháp. Về cơ bản, các quy định về
giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013
phù hợp với tiêu chuẩn nhân quyền quốc
tế nhưng vẫn có những hạn chế nhất định.
Nhiều nội dung cần phải làm rõ để đảm
bảo tính hợp hiến, hợp pháp và minh bạch
trong việc áp dụng.
2. Nguyên tắc giới hạn quyền con
người, quyền công dân trong Hiến pháp
năm 2013
Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã
xác lập nguyên tắc chung về giới hạn quyền
khi quy định điều kiện của việc giới hạn là:
(i) theo quy định của luật, và (ii) trong các
trường hợp cần thiết.
- “Theo quy định của luật”
Hiến pháp quy định rõ việc giới hạn
quyền phải được ban hành bởi “luật” – văn
bản được ban hành bởi Quốc hội - cơ quan
lập pháp quốc gia. Mặc dù vậy, trong giới
học thuật ở Việt Nam, một số người vẫn đặt
ra vấn đề có nên giải thích cụm từ “luật”
2ꢀ Xem Điều 4 ICCPR.
3ꢀ Các yếu tố đi kèm phải tính đến khi giới hạn quyền
như: bản chất của quyền; tầm quan trọng của việc
giới hạn; bản chất và mức độ của sự giới hạn; mối
quan hệ giữa giới hạn và mục đích của nó; các biện
pháp ít hạn chế hơn nhưng cùng đạt mục tiêu.
54 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
ĐẶNG MINH TUẤN- LÊ QUỲNH MAI
(law) theo nghĩa rộng bao gồm các văn bản qua ở Việt Nam, thực trạng các cơ quan
quy phạm pháp luật, không chỉ bao gồm nhà nước từ trung ương đến địa phương
các văn bản luật của Quốc hội, mà còn cả
các văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan nhà nước khác4. Tranh luận này
không phải vô cớ, bởi vì ở Việt Nam, “luật”
thường được hiểu rất rộng và trong thực
tiễn, bởi hiện nay, vẫn còn những văn bản
không phải là luật nhưng có những quy
định nhằm giới hạn một số quyền cụ thể mà
chưa bị thay thế5. Ngay cả Hiến pháp 2013
cũng có những quy định “có tính hai mặt”
về vấn đề này. Cụ thể, mặc dù quy định
khá rõ tại khoản 2 Điều 14 là vệc giới hạn
phải theo quy định của luật, nhưng tại một số
quyền cụ thể trong Hiến pháp lại có 02 cách
quy định khi nói về luật giới hạn quyền là
“theo quy định của pháp luật”, “luật định”6.
Tác giả cho rằng, để đáp ứng yêu cầu
thực tiễn của Việt Nam – quốc gia chưa hoàn
thiện hệ thống lý luận về giới hạn quyền và
cơ chế bảo vệ Hiến pháp thì việc chỉ cho
phép “luật” (của Quốc hội) mới có thể giới
hạn quyền con người là phù hợp. Điều này
một lần nữa được khẳng định trong Báo cáo
của Chính phủ sơ kết 5 năm triển khai thi
hành Hiến pháp 2013 “…bảo đảm việc hạn
chế quyền chỉ trong các trường hợp đã được
Hiến pháp quy định và chỉ bằng luật”.
lạm dụng hạn chế tùy tiện các quyền con
người, quyền công dân bằng việc ban hành
các văn bản dưới luật để quy định thêm các
điều kiện liên quan việc thực hiện quyền
công dân; 2) Thực tiễn phổ biến về việc ban
hành các văn bản giải thích, hướng dẫn luật,
pháp lệnh của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội được trao quyền giải thích Hiến
pháp và pháp luật nhưng từ khi ban hành
Hiến pháp năm 2013, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội vẫn chưa sử dụng quyền này7;
3) Việt Nam chưa trao quyền cho Tòa án
quyền kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp
các văn bản quy phạm pháp luật; 4) Người
dân không có quyền khởi kiện ra tòa để yêu
cầu Tòa án xem xét các văn bản quy phạm
pháp luật dưới luật vi phạm các quyền và
lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật. Chính vì thế, nếu
cho phép hạn chế quyền bằng “pháp luật”
(nghĩa rộng) sẽ dẫn đến nguy cơ hiện hữu
tiếp tục của tình trạng lạm dụng quy định
giới hạn quyền con người, từ đó dẫn đến
tình trạng vi phạm các quyền con người.
- “Trong các trường hợp cần thiết”
Cơ sở, căn cứ để giới hạn quyền là chỉ
“trong trường hợp cần thiết”. Để đánh giá thế
nào là “cần thiết” và đưa ra định nghĩa của
từng trường hợp cần thiết là điều không đơn
giản, nhất là trong lĩnh vực hạn chế quyền
con người. Sự cần thiết này hàm ý trong đó
yếu tố có xung đột lợi ích giữa cá nhân và xã
hội, mà Nhà nước với chức năng, nhiệm vụ
của mình phải có cách can thiệp vừa mức.
Luật giới hạn quyền chỉ cần thiết khi không
có sự thay thế nào khác nhằm bảo toàn lợi
ích hợp pháp của nhà nước và biện pháp
này nên được áp dụng như là một giải pháp
Việc giới hạn quyền bằng luật thực sự
cần thiết trong điều kiện thực tiễn ở Việt
Nam với 4 lý do cơ bản: 1) Nhiều năm
4ꢀ Bùi Tiến Đạt, Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền
con người: Cần nhưng chưa đủ, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp Số 6 (286), kỳ 2 – Tháng 3/2015; Nguyễn Linh
Giang, Cơ sở lý luận và thực tiễn về hạn chế quyền con
người ở Việt Nam hiện nay, Đề tài cấp Bộ năm 2018.
5ꢀ Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành luật cư trú lại bổ sung
thêm điều kiện và tăng thời gian tạm trú lên 2 năm đối
với việc đăng ký thường trú tại quận thuộc thành phố
trực thuộc trung ương (khoản 4 Điều 8). Nghị định số 7ꢀ Hiến pháp 1959 lần đầu tiên quy định Ủy ban
38/2005/NĐ-CP của Chính phủ về biện pháp bảo đảm Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) có nhiệm vụ, quyền
trật tự công cộng và Thông tư 09/2005/TT-BCA của Bộ hạn giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Công an hướng dẫn thi hành nghị định này khi quy Đến nay, UBTVQH mới tiến hành được 5 lần. Lần
định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng được gần đây nhất là vào ngày 10/11/2006, UBTVQH chính
biết đến là quy định nhắm giới hạn quyền biểu tình.
thức giải thích khoản 6 Điều 19 Luật Kiểm toán nhà
nước (Nghị quyết số 1053/2006/NQ-UBTVQH).
6ꢀ Điều 20, Điều 22, Điều 30 Hiến pháp năm 2013.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 55
GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TẠI VIỆT NAM...
cuối cùng nhằm hạn chế tối đa tác động nên ích hợp pháp quốc gia được bảo vệ và thiệt
việc giới hạn quyền. Việc giới hạn quyền
trong các trường hợp cần thiết phải tương
xứng và tác hại của việc giới hạn quyền
không nên vượt quá mục đích của giới hạn.
Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013
dùng phương pháp liệt kê các trường hợp
hại từ việc giới hạn quyền. Tại Việt Nam,
phương pháp này chưa được phổ biến khi
nghiên cứu để áp dụng nguyên tắc giới hạn
quyền. Nhưng với cuộc thử nghiệm quy
định giới hạn quyền vượt qua đủ bốn bước
theo phương pháp này thì nó được coi là
được cho là “cần thiết” bao gồm: “lý do quốc hợp hiến, nếu nó thất bại ở bất kì giai đoạn
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”,
những lý do này còn được biết đến với cách
diễn tả là lợi ích hợp pháp của nhà nước. Các
tiêu chí này về cơ bản phù hợp với cách
hiểu chung của pháp luật quốc tế và các
quốc gia8. Tuy nhiên, các lý do trên cần phải
được giải thích và chỉ ra một cách rõ ràng,
minh bạch, quyền nào sẽ bị giới hạn vì lý do
quốc phòng, an ninh, trường hợp nào vì lý
do an toàn trật tự, đạo đức xã hội, sức khỏe
cộng đồng hoặc là tất cả các lý do trên. Hiện
nay, chỉ một số khái niệm được giải thích
trong luật, như khái niệm quốc phòng, an
ninh quốc gia được ghi nhận trong các Luật
An ninh quốc gia năm 20149 và Luật Quốc
phòng năm 201810. Việc giải thích các quy
định của Hiến pháp thuộc thẩm quyền của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng cơ quan
này hiếm khi thực hiện quyền giải thích
Hiến pháp, mà dành việc việc thích thuật
ngữ trong các luật chuyên ngành.
nào thì kết quả là sự hạn chế quyền đó bị
tuyên bố là vi hiến. Điều được chờ đợi là cơ
quan lập pháp Việt Nam sẽ giải thích thành
tố này như thế nào cho phù hợp với chuẩn
mực quốc tế về giới hạn quyền trong thời
gian tới.
Ngoài ra, để đảm bảo các trường hợp
giới hạn quyền được thực thi một cách chính
đáng, một số yêu cầu khác cần được đặt ra
nghiên cứu và đưa vào luật như việc giới
hạn quyền phải đáp ứng yêu cầu của một
xã hội dân chủ; giới hạn quyền con người
không được làm mất đi bản chất của quyền
con người; không có quyền nào là quyền
tuyệt đối tại bản Hiến pháp năm 2013. Tất
cả các yêu cầu này cần được quy định theo
phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, để
đảm bảo rằng các quyền con người, quyền
công dân được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp, pháp luật.
2. Những kỳ vọng về giá trị áp dụng
của nguyên tắc giới hạn quyền con người,
quyền công dân tại Việt Nam
Các học giả Việt Nam khi bàn về nguyên
tắc giới hạn quyền con người trong Hiến
pháp năm 2013 đều có những nhận định,
quan điểm của riêng mình về việc bảo đảm
thực thi nguyên tắc này cũng như những
giá trị mà nguyên tắc giới hạn quyền sẽ
mang lại, gồm:
Vì vậy, khi Tòa án không được trao
quyền giải thích Hiến pháp, pháp luật một
cách chính thống qua các vụ việc cụ thể thì
cần có phương pháp phân tích cân xứng11 để
kiểm tra, đánh giá quy định giới hạn quyền
có đạt được sự cân bằng và hài hòa giữa lợi
8ꢀ Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, khoản
3 Điều 55 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Điều
19 Luật cơ bản của Cộng hòa Liên Bang Đức năm
1949, sửa đổi năm 2019. Điều 1 Hiến chương Canada
về các quyền và tự do năm 1982, Điều 36 Hiến pháp
Cộng hòa Nam Phi năm 1996…
- Nguyên tắc hạn chế quyền củng cố định
hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt
Nam
Lời văn của Hiến pháp năm 1992 với
nhiều câu từ thể hiện rằng quyền công dân
(thời điểm đó quyền con người được hiểu
đồngthờilàquyềncôngdân)làdoNhànước
ban phát thay vì nguyên tắc nhà nước phải
9 Law on National Defense 2018, art 2(1)
10 Law on National Security 2004, art 3(1)
11ꢀ Xem thêm Bùi Tiến Đạt, Hiến pháp hóa nguyên tắc
giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp Số 6 (286), kỳ 2 – Tháng 3/2015,
tr. 8-9
56 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
ĐẶNG MINH TUẤN- LÊ QUỲNH MAI
tôn trọng quyền tự nhiên12. Do đó, đến khi quyền trong Hiến pháp năm 2013 chính
có quy định về giới hạn quyền trong Hiến
pháp năm 2013 đòi hỏi Nhà nước phải giải
trình thỏa đáng về điều kiện và các trường
hợp giới hạn quyền con người, quyền công
dân. Đây là yếu tố quan trọng của nền pháp
quyền hiện đại: minh bạch và giải trình.
Suy cho cùng, nhà nước pháp quyền là nhà
nước đề cao tính thượng tôn của pháp luật,
vì vậy nguyên tắc giới hạn quyền phải đảm
bảo yêu cầu chung của tinh thần thượng tôn
pháp luật là: công lý, lẽ công bằng, lẽ phải
và tính hợp lý.
là nền tảng cho sự giới hạn quyền lực của
cơ quan lập pháp, đồng thời cũng giới hạn
quyền lực của cơ quan hành pháp khi thực
hiện ủy quyền lập pháp bằng việc thực hiện
quyền lập quy16. Bởi Quốc hội và Ủy ban
Thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực
của Quốc hội) đã thực hiện việc ủy quyền lập
pháp thông qua các điều khoản ủy quyền
trong chính văn bản luật và pháp lệnh do cơ
quan này ban hành17 cho Chính phủ. Như
vậy, cơ quan hành pháp nếu có ủy quyền để
lập quy thì quy định giới hạn quyền cũng
- Nguyên tắc giới hạn quyền là công cụ phải tuân theo Hiến pháp và điều khoản
mạnh mẽ để kiểm soát quyền lực nhà nước
ủy quyền và đây thực chất là thực thi luật,
tức là không được mở rộng hay đặt ra thêm
các giới hạn mới về quyền con người so với
luật. Hơn nữa, trong chừng mực nhất định,
nguyên tắc hạn chế quyền cũng mang lại
ý nghĩa kiểm soát quyền tư pháp, nếu tại
quốc gia có cơ quan tài phán hiến pháp (Tòa
án Hiến pháp hay Hội đồng Hiến pháp), khi
phán quyết của cơ quan này tuyên bố một
quy định là vi hiến thì phải tuân thủ trình
tự, phương pháp và điều kiện của nguyên
Một quốc gia có chủ nghĩa hiến pháp
(constitutionalism) là quyền lực nhà nước
bị hạn chế (limited government)13. Theo
đó, cơ chế bảo vệ quyền con người là một
trong ba dạng thức của hạn chế quyền lực
nhà nước14. Và trụ cột của cơ chế bảo vệ
quyền con người là trình tự pháp luật đúng
đắn, công bằng (“due process of law”)15. Cụ
thể hơn là muốn hạn chế quyền thì phải có
pháp luật, chính là nhằm đến việc hạn chế
quyền lập pháp. Vì vậy, nguyên tắc giới hạn tắc hiến định về hạn chế quyền.
quyền đòi hỏi cơ quan thực hiện quyền lập
pháp không được ban hành văn bản giới
hạn quyền một cách bất hợp lý (vi hiến). Vì
lẽ đó, mọi sự giới hạn quyền phải bằng luật
(do Quốc hội ban hành).
- Nguyên tắc hạn chế quyền là cơ sở quan
trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công
dân
Tại Việt Nam, các quyền được ghi nhận
trong Hiến pháp không được thực hiện và
bảo vệ trực tiếp mà chờ luật cụ thể ban hành
để điều chỉnh hành vi của các chủ thể liên
quan. Nên khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm
2013 được áp dụng cho văn bản quy phạm
dưới Hiến pháp, nhằm đảm bảo việc thực
hiện và bảo vệ quyền sẽ không bị các văn
bản dưới hiến pháp “cắt xén” một cách tùy
tiện bằng việc đưa ra nhiều điều kiện để
Do đó, nội dung nguyên tắc giới hạn
12ꢀ Nguyễn Đăng Dung, Cách tiếp cận hay là cách thức
quy định nhân quyền trong Hiến pháp. Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 22/2011, tr. 45-46.
13ꢀ
Russell Hardin, ‘Constitutionalism’ in Barry R.
Weingast and Donald Wiꢁman (eds), Oxford Handbook
of Political Economy (Oxford University Press, 2008) tr.
289.
14ꢀ Ba dạng thức của sự hạn chế quyền lực nhà nước:
(i) hạn chế quyền lực bởi cơ cấu tổ chức – kỹ thuật; (ii) 16ꢀ Khoản 2 Điều 2 và khoản 1 Điều 80 Hiến pháp
hạn chế quyền lực bởi thẩm quyền của các cơ quan, CHLB Đức quy định các quyền cơ bản chỉ được giới
cá nhân đại diện cho quyền lực nhà nước; (iii) hạn hạn bằng luật, và Chính phủ liên bang, các Bộ trưởng
chế quyền lực bởi cơ chế bảo vệ quyền con người.
liên bang hoặc các Chính phủ bang có thể được ủy
15ꢀ Xem thêm Bùi Tiến Đạt, Học thuyết trình tự công quyền bởi luật để ban hành sắc luật để giới hạn một
bằng và việc bảo vệ quyền con người: Kinh nghiệm quốc số quyền con người.
tế và Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tháng 17ꢀ Theo Điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm
6/2015, tr.61-71.
pháp luật 2015
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 57
GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TẠI VIỆT NAM...
hạn chế quyền.
cầu, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong việc tiến hành rà soát đảm bảo sự phù
hợp của các quy định pháp luật hiện hành
với nguyên tắc này. Với tư cách là cơ quan
lập pháp, Quốc hội đã nỗ lực sau 05 năm
từ khi ban hành Hiến pháp đã sửa đổi và
ban hành 16 luật và pháp lệnh về quyền con
người, trong các lĩnh vực chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội và trong các hoạt
động tư pháp20 như Bộ luật dân sự, Bộ luật
hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Tiếp
cận thông tin, Luật An ninh mạng… Các nỗ
lực lập pháp của Quốc hội trong lĩnh vực
nhân quyền đã thể hiện cam kết của Nhà
nước trong việc việc thực thi một phần
nguyên tắc giới hạn quyền như một số lĩnh
vực trước đây được điều chỉnh bởi các quy
định hành pháp giờ được thay thế bằng các
luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật
Tiếp cận thông tin, Luật Tín ngưỡng và tôn
giáo… Bên cạnh đó, một số quyền “nhạy
cảm” tại Việt Nam như quyền biểu tình,
quyền hội họp vẫn đang được điều chỉnh
bởi các quy định hành pháp. Mặc dù, nhu
cầu ban hành pháp luật được đưa ra tại các
kì họp của Quốc hội, nhưng việc ban hành
Luật vẫn đang được xem xét.
Tuy vậy, nhìn chung thì nguyên tắc giới
hạn quyền con người chưa được thực hiện
một cách đầy đủ và thực chất. Cụ thể, các
trường hợp được đưa vào nhằm hạn chế
quyền con người được áp dụng chung cho
tất cả các quyền21 mà không có sự phân biệt
rằng mỗi quyền có đặc trưng riêng và điều
kiện giới hạn cũng sẽ khác nhau. Điều này
đã tạo điều kiện và trao quyền rộng cho các
cơ quan nhà nước có thể can thiệp vào việc
hưởng thụ quyền. Chẳng hạn, quyền tiếp
cận thông tin bên cạnh việc bị hạn chế theo
khoản 2 Điều 14 Hiến pháp thì Luật Tiếp
cận thông tin năm 2016 còn quy định thêm
về ngoại lệ cung câp thông tin bao gồm
thông tin thuộc bí mật công tác, thông tin về
Thêm vào đó, giới hạn quyền là để đảm
bảo lợi ích hợp pháp của nhà nước nhưng
không thể lấy đi quyền của cá nhân. Nếu
quy định giới hạn làm mất đi cốt lõi hoặc nội
dung thiết yếu của quyền18 thì quy định này
sẽ bị cho là vi hiến và không thỏa mãn điều
kiện giới hạn tại khoản 2 Điều 14. Nguyên
nhân là bởi với cách ghi nhận quyền con
người trong Hiến pháp năm 2013, quyền
con người là thuộc về mỗi cá nhân và là
quyền tự nhiên, không phải do Nhà nước
trao cho. Do đó, cơ quan lập pháp không
thể lấy đi những gì không thuộc thẩm
quyền của mình mà không có quy định của
Hiến pháp.
Cần lưu ý rằng, giới hạn quyền là đảm
bảo thực thi quyền hiệu quả, nhưng đình
chỉ quyền là để bảo vệ sự sống còn của
quốc gia – dân tộc. Mặc dù Hiến pháp năm
2013 không dành điều khoản riêng biệt về
việc đình chỉ quyền trong tình trạng khẩn
cấp và cũng không ghi nhận quyền nào là
quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, nguyên tắc hiến
định tại khoản 2 Điều 14 có hàm ý đặt ra
tiêu chuẩn giới hạn quyền trong tình trạng
khẩn cấp, bởi tình trạng khẩn cấp được coi
là “trường hợp cần thiết” và phải được quy
định bởi luật19.
3. Những hạn chế trong việc thực thi
nguyên tắc giới hạn quyền con người
3.1. Thiếu sự đánh giá về việc xây dựng
quy định giới hạn quyền trong các văn bản
luật
Việc ghi nhận nguyên tắc giới hạn
quyền con người, quyền công dân trong
Hiến pháp (khoản 2 Điều 14) đặt ra yêu
18ꢀ
Khoản 2 Điều 19 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang
Đức năm 1949, sửa đổi năm 2019.
19ꢀ Bởi việc bảo vệ quyền trong tình trạng khẩn cấp
hiện nay được quy định trong Pháp lệnh về tình
trạng khẩn cấp năm 2000 là luật chung về tình trạng
khẩn cấp nên cần phải thay thế bởi Luật trong thời
gian tới; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 20ꢀ Báo cáo của Chính phủ, Sơ kết 05 năm triển khai thi
năm 2007 quy định tình trạng khẩn cấp về dịch; và hành Hiến pháp năm 2013 (2014 – 2019)
Luật Quốc phòng 2018 quy đình tình trạng khẩn 21ꢀ Khoản 2 Điều 2 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4
cấp về quốc phòng.
Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016
58 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
ĐẶNG MINH TUẤN- LÊ QUỲNH MAI
cuộc họp nội bộ22…
còn một số văn bản quy phạm pháp luật
dưới luật hạn chế các quyền con người,
quyền công dân vẫn không bị đình chỉ, bãi
bỏ, như các quy định về biểu tình, lập hội,
hội họp vẫn đang điều chỉnh bởi Nghị định
của Chính phủ26.
Theo một báo cáo nghiên cứu, nguyên
tắc giới hạn quyền theo khoản 2 Điều 14
Hiến pháp đã được áp dụng nhưng chưa
đậm nét.23 Điều đó cho thấy mặc dù được
kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ quyền, nhưng nguyên tắc giới
hạn quyền đã không tạo ra những thay đổi
tích cực rõ ràng trong việc xây dựng luật để
đảm bảo quyền. Nguyên nhân chính của
vấn đề này là việc thiếu cơ chế thực thi Hiến
pháp hiệu quả.
Cơ chế giám sát thứ hai là xem xét tư
pháp các hoạt động lập pháp và hành pháp
để xác định các hoạt động đó có phù hợp
với hiến pháp hay không. Nhiệm vụ này
thường được trao cho một cơ quan tài phán
hiến pháp (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng
Hiến pháp) hay các Tòa án thường. Tuy vậy,
Việt Nam chưa có cơ quan tài phán hiến
pháp. Trong khi đó, các Tòa án có quyền rất
hạn chế trong việc kiểm tra tính hợp hiến,
hợp pháp các văn bản pháp luật. Điều này
dẫn đến hiện trạng không có cơ chế để xử
lý các quy định của cơ quan nhà nước vi
phạm nguyên tắc giới hạn quyền con người.
Cụ thể, Tòa án phát hiện các văn bản quy
phạm pháp luật trong các vụ án dân sự,
hành chính, hình sự có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, Luật… thì sẽ không có quyền
bổ sung hoặc bãi bỏ các văn bản này, mà
chỉ có quyền kiến nghị (do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao thực hiện) lên cơ quan
có thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ…)
xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn
bản này27. Như vậy, trừ Hiến pháp, Tòa án
đều có quyền phát hiện và kiến nghị đến cơ
quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, hủy
bỏ hoặc bổ sung các văn bản quy phạm
pháp luật. Nhưng khi đang giải quyết vụ
án, để chờ kết quả trả lời về kiến nghị của
Tòa án, đặc biệt là kiến nghị sửa đổi Luật
(khi phát hiện trái với Hiến pháp) thì thời
gian có thể kéo dài hàng năm, với quy định
hiện nay về thời hạn trả lời là không khả thi,
điều này sẽ khiến cho Tòa án phải ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án28. Trong
3.2. Sự thiếu vắng cơ chế giám sát thực
hiện nguyên tắc giới hạn quyền
Việc ghi nhận nguyên tắc giới hạn quyền
trong Hiến pháp đồng thời cũng đặt ra trách
nhiệm của các cơ quan được trao quyền
trong việc kiểm tra, đánh giá những hành
vi của cơ quan nhà nước khác có bị coi là vi
hiến hay không. Hai trong số các cơ quan
thực thi không thể thiếu tại các quốc gia là
cơ chế giám sát của Quốc hội (đối với quyền
hành pháp) và đánh giá tư pháp (đối với cơ
quan lập pháp và hành pháp).
Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất, có quyền giám sát tối cao đối với
các hoạt động của Nhà nước24, giám sát việc
tuân theo Hiến pháp và có quyền bãi bỏ các
văn bản của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, Luật25… Tuy nhiên,
sự giám sát của Quốc hội nói chung và giám
sát thực hiện nguyên tắc giới hạn quyền lại
rất hình thức, bởi khi có quá nhiều chủ thể,
nội dung bị Quốc hội giám sát thì sẽ thiếu
đi một trọng tâm cần phải giám sát là hoạt
động của Chính phủ - thi hành nguyên tắc
giới hạn quyền. Minh chứng cho thấy vẫn
22ꢀ Khoản 2 Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016
23ꢀ TS. Bùi Tiến Đạt (2019), Kinh nghiệm nước ngoài về
tiếp cận dựa trên quyền con người, quyền công dân trong
hoạt động xây dựng pháp luật và hàm ý cho Việt Nam,
Báo cáo nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề lý luận 26ꢀ Xem chú thích số 4
và thực tiễn về tiếp cận dựa trên quyền con người, 27ꢀ Khoản 7 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
quyền công dân trong hoạt động xây dựng pháp luật 2014; khoản 1 Điều 47, Điều 221 Bộ luật tố tụng dân
tại Việt Nam hiện nay", Viện nghiên cứu lập pháp.
sự; khoản 3, 4 Điều 112 Luật tố tụng hành chính năm
2015; Điều 265 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Điểm a khoản 2 Điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự
24ꢀ Điều 69 Hiến pháp năm 2013
25ꢀ Khoản 2, 10 Điều 70 Hiến pháp năm 2013
28ꢀ
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 59
GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TẠI VIỆT NAM...
trường hợp không có văn bản trả lời thì Tòa
án áp dụng văn bản pháp lý cao hơn để giải
quyết29. Tuy nhiên, trường hợp luật trái với
Hiến pháp thì áp dụng như thế nào? Khi
mà tại Việt Nam, Hiến pháp không được
áp dụng trực tiếp mà được cụ thể hóa bằng
luật.
Việc giải thích khoản 2 Điều 14 và việc
thực thi quy định Hiến pháp này có thể
được thực hiện thông qua quyền giải thích
của Ủy ban thường vụ quốc hội hoặc vai trò
tổng kết công tác xét xử và ban hành án lệ
của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, nếu việc
áp dụng phương pháp phân tích cân xứng
trong việc xét xử một vụ việc liên quan đến
quyền hiến định thực sự thuyết phục và
được lựa chọn làm án lệ, thì khi đó phương
pháp cân xứng sẽ nhanh chóng được ghi
nhận và sớm có vị trí trong kỹ thuật lập
pháp của Việt Nam.
4. Kiến nghị, đề xuất
Một trong những yêu cầu cốt lõi để hiện
thực hóa nguyên tắc giới hạn quyền là sự
hiện diện của cơ chế giám sát hữu hiệu
việc thực thi nguyên tắc. Bên cạnh cơ chế
giám sát của Quốc hội thì cần thiết phải có
cơ quan tài phán Hiến pháp. Mặc dù việc
thiết lập tài phán hiến pháp còn nhiều khó
khăn, thách thức, nhưng đề xuất thành lập
một Hội đồng Hiến pháp độc lập với thẩm
quyền hạn chế là một giải pháp khả thi
trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam.
Ngoài việc xây dựng cơ chế giám sát,
cần ban hành các định chế để giải thích và
cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn quyền con
người và quy trình, thủ tục thực thi nguyên
tắc này. Một trong những nội dung cơ bản
trong áp dụng nguyên tắc giới hạn quyền
con người là bảo đảm sự cân xứng trong
giới hạn quyền. Khi áp dụng nguyên tắc cân
xứng cũng sẽ đặt ra thách thức lớn đối với
cơ quan công quyền của Việt Nam khi tìm
hiểu và áp dụng. Bởi cả góc độ lý luận và
thực tiễn thì phương pháp cân xứng có tính
chất kỹ thuật pháp lý phức tạp. Ngay cả
khi phương pháp cân xứng cũng có nhiều
phiên bản khác nhau, thì phiên bản đơn
giản nhất cũng đặt ra nhiều khâu kỹ thuật
và vấn đề cần phải giải quyết để trả lời cho
câu hỏi liệu những thiệt hại gây ra do việc
hạn chế quyền, tự do cơ bản của con người
có thực sự tương xứng với lợi ích hợp pháp
quốc gia mà nhà nước mong muốn bảo vệ
hoặc đạt được.
Kết luận
Việc ghi nhận nguyên tắc giới hạn quyền
con người, quyền công dân trong Hiến pháp
năm 2013 không chỉ đặt ra khuôn khổ cho
các văn bản luật và quy định dưới luật (khi
có ủy quyền lập pháp) phải tuân thủ, mà nó
còn có giá trị đối với tất cả các hành vi công
quyền, kể cả hoạt động lập pháp. Điều này
có nghĩa là mọi sự hạn chế quyền phải được
đặt trong các trường hợp cần thiết do Hiến
pháp định ra, và do vậy, mọi sự vi phạm bị
coi là vi hiến và đều phải bị xử lý. Đây là
một nguyên tắc nhằm giới hạn quyền lập
pháp, bảo đảm thực thi cơ chế bảo hiến để
xây dựng nhà nước pháp quyền.
Xét một cách tổng thể, sự ra đời của
Hiến pháp với nhiều quy định mới, tích
cực là một bước phát triển Hiến pháp quan
trọng tại Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề thực
thi các quy định của Hiến pháp trong đời
sống thực tiễn vẫn còn rất hạn chế. Cần thiết
tiếp tục nghiên cứu cơ chế thực thi Hiến
pháp ở Việt Nam, đồng thời cụ thể hóa về
nhận thức, quy định về một số nguyên tắc
của Hiến pháp năm 2013, trong đó bao gồm
nguyên tắc hiến định về giới hạn quyền./.
năm 2015; khoản 4 Điều 112 Bộ luật tố tụng hành
chính năm 2014; điểm c khoản 1 Điều 281 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
29ꢀ Khoản 1 Điều 114 Luật tố tụng hành chính năm
2015; điểm a khoản 3 Điều 221 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015.
60 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Giới hạn quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam nguyên tắc hiến pháp và vấn đề thực thi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gioi_han_quyen_con_nguoi_quyen_cong_dan_tai_viet_nam_nguyen.pdf

