Chuyển đổi số: Thách thức pháp lý trong giải quyết tranh chấp về hứa thưởng
CHUYỂN ĐỔI SỐ: THÁCH THỨC PHÁP LÝ
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỨA THƢỞNG
DIGITAL TRANSFORMATION: LEGAL CHALLENGES IN DISPUTING
RESOLUTION ON PROMISE OF REWARD
Võ Thị Vân Trang
Tô Văn Việt
Phạm Thị My
TÓM TẮT: Hứa thưởng là một chế định có lịch sử hình thành và phát triển lâu
dài trong pháp luật dân sự Việt Nam. Cùng với bề dày thời gian, chế định hứa thưởng
được xác lập phù hợp với hành vi đơn phương bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Trong
những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, đặc biệt với
những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0, hành vi hứa thưởng được thực hiện
thông qua mạng xã hội và qua các đơn vị trung gian ngày càng phổ biến. Tuy nhiên,
khung pháp lý điều chỉnh hành vi này chưa theo kịp sự thay đổi của đời sống, đặc biệt
là sự “đóng khung” của các hình thức giải quyết tranh chấp dân sự nên cần được tiếp
tục nghiên cứu xây dựng giải pháp cải cách pháp luật về lĩnh vực này.
Từ khoá: Hứa thưởng, chuyển đổi số, số hóa, pháp luật giải quyết tranh chấp
hứa thưởng.
ABSTRACT: Promise of reward is a provision with a long history of formation
and development in Vietnamese civil law. Throughout history, the regulation has been
established by unilateral acts expressed verbally, or in writing. In recent years, along
with the development of science and technology, especially with the achievements of
the industrial revolution 4.0, the promise of reward carried out through social
networks or other intermediaries has been increasingly popular. However, the legal
framework regulating this act has not been keeping up with the changes, especially the
"framing" of civil dispute resolution forms, so it is essential to continue researching
and forming solutions for this legal field.
Sinh viên Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế; Email:
14
Keywords: Promise of reward, digital transformation, digitization, the law to
resolve disputes on the promise of reward.
1. Đặt vấn đề
Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi mọi mặt
của đời sống xã hội, cùng với đó chuyển đổi số cũng trở thành xu thế phát triển toàn
cầu. “Chuyển đổi số” là bƣớc chuyển đổi mà công nghệ số giúp cho mọi ngƣời giải
quyết những vấn đề truyền thống. Ở cấp độ chuyển đổi này thì ứng dụng số sẽ mở ra
những dạng thức đổi mới và sáng tạo trong cả một lĩnh vực thay vì chỉ nâng cấp và hỗ
trợ những phƣơng pháp truyền thống. Theo nghĩa hẹp, chuyển đổi số có thể hình dung
bằng khái niệm “văn phòng không giấy tờ”.1
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đã đƣa đến những công nghệ mới mang
tính đột phá, tác động sâu sắc đến mô hình tổ chức và cách thức vận động của nền kinh
tế nƣớc ta. Kéo theo đó, việc chuyển đổi số và ứng dụng thành tựu của cuộc Cách
mạng khoa học công nghệ cũng làm phát sinh những quan hệ xã hội mới với các hình
thức xác lập quan hệ đặc thù, điều này cũng yêu cầu có sự thay đổi về khung pháp lý
phù hợp.
Quan hệ pháp luật về hứa thƣởng cũng không nằm ngoài dòng chảy chung của
tiến bộ xã hội. Sự phát triển của khoa học – công nghệ hiện đại đã làm cho hình thức
xác lập tuyên bố hứa thƣởng này trở nên đa dạng và dễ dàng hơn. Việc hứa thƣởng
thông qua mạng xã hội hay các đơn vị trung gian có thể thực hiện bằng cách đăng
thông tin hứa thƣởng trên các trang mạng xã hội nhƣ Facebook, Instagram,... hoặc
ngƣời hứa thƣởng đƣa ra điều kiện hứa thƣởng và tiền thƣởng thông qua các trang báo
điện tử, hoặc truyền tải qua sóng radio,...
Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 72% dân số sở hữu Smartphone, hơn 130 triệu
thuê bao di động, 51 triệu thuê bao Internet di động, kết nối 3G/4G phủ toàn quốc, 64
triệu ngƣời dùng Internet (chiếm khoảng 67% dân số)2. Mức độ tiếp cận với thiết bị
tivi và tivi có kết nối internet lên đến 97% ngƣời trƣởng thành. Theo số liệu thống kê
internet Việt Nam 2019, ngƣời dùng Việt Nam dành trung bình tới 6 giờ 42 phút mỗi
2
ngày 20/10/2020
15
ngày để tham gia các hoạt động liên quan tới mạng Internet. Báo cáo cũng đề cập
thêm, ngƣời dùng Việt Nam dùng trung bình 2 giờ 32 phút để dùng mạng xã hội, 2 giờ
31 phút để xem các livestream hoặc các video trực tuyến3. Tỉ lệ này tăng liên tục qua
các năm đã cho thấy quá trình chuyển đổi số rất mạnh mẽ, nó tác động lên mọi mặt của
đời sống xã hội. Trong đó, việc xác lập quan hệ về hứa thƣởng cũng bị ảnh hƣởng
không hề nhỏ.
Mặc dù pháp luật hiện hành đã có một số quy định liên quan, điều chỉnh hành vi
hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian, tuy nhiên, khung pháp lý
về lĩnh vực này chƣa theo kịp sự thay đổi của đời sống, đặc biệt là sự “đóng khung”
của các hình thức giải quyết tranh chấp dân sự nên cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu xây
dựng giải pháp cải cách pháp luật. Trong bài viết này, tác giả sẽ phân tích những ƣu
điểm và thách thức điển hình khi xác lập tuyên bố hứa thƣởng thông qua mạng xã hội
và các đơn vị trung gian khác, đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong quy
định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các
đơn vị trung gian, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp.
2. Ƣu điểm và thách thức của hình thức hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và
các đơn vị trung gian.
Là giao dịch dân sự đặc thù chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây cùng với
sự tiếp cận, vận dụng và phát huy những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 ở Việt Nam, tuyên bố hứa thƣởng đƣợc xác lập qua mạng xã hội và các đơn vị
trung gian vẫn còn là nội dung khá mới mẻ của khoa học pháp lý, do đó chƣa có bất cứ
một định nghĩa nào về khái niệm này, từ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về
hứa thƣởng nói riêng và giao dịch dân sự nói chung và quá trình nghiên cứu của mình,
tác giả đƣa ra quan điểm về khái niệm hứa thƣởng thông qua mạng xã hội hoặc các
đơn vị trung gian nhƣ sau: “Hứa thưởng thông qua mạng xã hội hoặc các đơn vị trung
gian là hình thức của tuyên bố hứa thưởng, trong đó bên hứa thưởng sử dụng các tiến
bộ của khoa học công nghệ như internet, sóng vô tuyên, sóng radio,...để xác lập tuyên
bố hứa thưởng và truyền chúng đi một cách rộng rãi”.
16
Sự phát triển nhanh chóng và rộng rãi của chuyển đổi số đã làm cho hình thức
hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian ngày càng phổ biến. Quá
trình xác lập hành vi hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian đã
đem đến nhiều ƣu điểm trong việc xác lập giao dịch dân sự, tuy nhiên những hạn chế
đối với các quan hệ pháp luật mới, mang tính đặc thù này là điều không thể tránh khỏi.
Thứ nhất, ưu điểm của việc xác lập tuyên bố hứa thưởng thông qua mạng xã
hội và các đơn vị trung gian khác.
Tính nhanh chóng và phổ biến rộng rãi của của mạng xã hội nói riêng và công
nghệ số nói chung giúp cho tuyên bố hứa thƣởng đƣợc dễ dàng tiếp cận hơn, tạo thêm
nhiều cơ hội đối với các bên tham gia vào quan hệ hứa thƣởng. Trƣớc khi có sự tác
động của chuyển đổi số thì việc xác lập quan hệ hứa thƣởng gặp rất nhiều khó khăn
khi hứa thƣởng chỉ đƣợc xác lập trong một phạm vi cụ thể, bởi chủ yếu ngƣời ta tuyên
bố hứa thƣởng bằng lời nói hoặc bằng văn bản và những lời nói hay văn bản đó chỉ
đƣợc truyền đi một cách truyền thống thông qua tờ rơi hoặc miệng,... do đó, làm hạn
chế không gian của việc xác lập quan hệ hứa thƣởng, ảnh hƣởng đến mục đích của quá
trình thiết lập giao dịch dân sự của các chủ thể. Ví dụ nhƣ khi muốn tìm đồ vật, vật
nuôi, ngƣời thân thất lạc… nếu thông tin hứa thƣởng chỉ đƣợc truyền đi theo phƣơng
thức truyền thống thì ngƣời hứa thƣởng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, ngƣời có
khả năng thực hiện tìm kiếm thì gặp khó khăn trong tiếp cận công việc. Việc thiết lập
tuyên bố hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian khác đã giải
quyết vấn đề này một cách hiệu quả. Ngƣời tuyên bố hứa thƣởng mở rộng đƣợc phạm
vi truyền tải tuyên bố hứa thƣởng của mình hơn khi xác lập tuyên bố qua mạng xã hội
và các đơn vị trung gian khác, bởi mạng xã hội hay các đơn vị trung gian với đặc thù
là hệ thống mở, sự tiếp cận thông tin đƣợc đăng tải trên các phƣơng tiện này khá dễ
dàng, chỉ cần một chiếc smart phone, một chiếc tivi hay radio,... thì ngƣời dùng dù ở
bất kì đâu cũng có thể tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng.
Thứ hai, Thách thức của việc xác lập tuyên bố hứa thưởng thông qua mạng
xã hội và các đơn vị trung gian.
Một là, tạo ra sự mất kiểm soát đối với việc xác lập tuyên bố hứa thưởng do chưa
có sự quản lý thông tin chặt chẽ.
17
Nhờ tính phổ biến của mạng xã hội và các đơn vị trung gian khác mà những
tuyên bố hứa thƣởng trái với đạo đức, vi phạm pháp luật... cũng đƣợc phát tán nhanh
và công khai. Điển hình là sự việc ngày 18/10/2019 trên trang cá nhân Facebook của
ca sĩ Đàm Vĩnh Hƣng đã đăng tải thông tin sẽ hứa thƣởng 20 triệu đồng cho ai tát vào
mặt một ngƣời ở Tiền Giang khi biết ngƣời này có hành vi bạo hành con ruột của mình
khi cháu bé mới chỉ khoảng 3 tuổi. Trạng thái này của ca sĩ Đàm Vĩnh Hƣng đã nhận
đƣợc rất nhiều sự quan tâm của cộng đồng mạng và tạo ra sự kích động mạnh mẽ lên
một bộ phận ngƣời sử dụng mạng xã hội và từ đó họ có các hành vi không thích đáng
đối với ngƣời đàn ông để đƣợc nhận thƣởng.4
Bên cạnh đó, việc định danh ngƣời sử dụng mạng xã hội và các đơn vị trung gian
khác để thực hiện tuyên bố hứa thƣởng chƣa có sự điều chỉnh của pháp luật, do đó
nhiều đối tƣợng đã lợi dụng uy tín của một số các nhân, tổ chức để tuyên bố hứa
thƣởng một cách trái phép. Ví dụ nhƣ, năm 2017 ca sĩ Mỹ Tâm đã bị một Fanpage
mạo danh, lấy hình ảnh của mình đang mua vé số giúp một bà cụ để thông báo rằng nữ
ca sĩ đang trúng xổ số và vì mới trúng số nên kêu gọi mọi ngƣời ấn thích (like) và chia
sẻ (share) bài viết để đƣợc tặng thẻ điện thoại trị giá 100.000 đồng.5
Hai là, tạo ra các tranh chấp về hứa thưởng có những tính chất pháp lý phi
truyền thống.
Việc hứa thƣởng qua mạng xã hội hay các đơn vị trung gian đƣợc xác lập thông
qua sự tiến bộ của quá trình chuyển đổi số với đặc thù là ngƣời hứa thƣởng và ngƣời
thực hiện công việc không gặp trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành xác lập quan hệ hứa
thƣởng. Nhƣ đã đề cập ở trên, vấn đề định danh trên mạng xã hội hay các đơn vị trung
gian còn gặp nhiều khó khăn, do đó nhiều trƣờng hợp việc thực hiện trao thƣởng hay
nhận thƣởng trở thành căn nguyên của nhiều tranh chấp hứa thƣởng. Thông tin của
ngƣời thực hiện công việc có thể bị mạo danh, ngƣời hứa thƣởng có thể cố tình không
thực hiện, trốn tránh nghĩa vụ trả thƣởng bằng cách xóa bài đăng trao thƣởng, xóa tài
khoản Facebook đã đăng bài,...
4
https://baomoi.com/my-tam-bi-ke-xau-loi-dung-hinh-anh-de-cau-like-tren-mang-xa-hoi/r/23274425.epi, truy
cập ngày 21/10/2020
18
Ba là, gây khó khăn trong việc xác định thẩm quyền và pháp luật được sử dụng
để giải quyết tranh chấp.
Tính toàn cầu của mạng xã hội và các đơn vị trung gian đã tạo cho tuyên bố hứa
thƣởng một phạm vi không gian rộng lớn để tiếp cận với tất cả mọi ngƣời, việc mở
rộng phạm vi không gian hứa thƣởng cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của quan hệ
hứa thƣởng có yếu tố nƣớc ngoài và sự có mặt của yếu tố nƣớc ngoài đã đặt ra những
khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng. Trong đó, việc xác định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp, lựa chọn và áp dụng pháp luật để giải quyết tranh
chấp là những trở ngại lớn trong quá trình giải quyết.
3. Bất cập của pháp luật về giải quyết tranh chấp hứa thƣởng thông qua mạng xã
hội và các đơn vị trung gian.
3.1. Bất cập về nội dung giải quyết tranh chấp hứa thưởng.
Đời sống xã hội thay đổi, quan hệ xã hội ngày càng mở rộng, những quy định của
pháp luật trƣớc đây trở nên không còn phù hợp, gây khó khăn trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội mới là điều không thể tránh khỏi. Với đặc thù là giao dịch dân sự
đƣợc xác lập thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian, quy định của pháp luật
trong quá trình xác lập và thực hiện tuyên bố hứa thƣởng biểu hiện hai bất cập chính:
Thứ nhất, thiếu quy định về xác thực danh tính điện tử đối với các cá nhân, tổ
chức trong giao dịch điện tử.
Luật giao dịch điện tử năm 2005 không có quy định về xác thực danh tính điện
tử, trƣớc những yêu cầu thực tiễn, tháng 4/2021, Chính phủ đã công bố dự thảo Nghị
định quy định về định danh và xác thực điện tử. Tuy nhiên, quy định của Nghị định
này vẫn trong quá trình hoàn thiện, do đó, cho đến nay các quy định về xác thực danh
tính điện tử đối với các cá nhân, tổ chức trong giao dịch điện tử nói chung và tuyên bố
hứa thƣởng nói riêng vẫn tạo nhiều khó khăn cho các chủ thể khi tham gia vào các
quan hệ pháp luật thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian, danh tính của các
chủ thể có thể dễ dàng bị giả mạo, bị chiếm đoạt, và đây cũng là căn nguyên của nhiều
hành vi vi phạm pháp luật khác nhƣ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản,...
19
Thứ hai, chƣa có quy định rõ ràng về giá trị pháp lý của chứng cứ và việc xác
minh chứng cứ đối với tranh chấp phát sinh từ quan hệ xác lập thông qua mạng xã hội
và các đơn vị trung gian.
Công nghệ số đã tạo ra những thay đổi lớn lên mọi mặt của đời sống xã hội, việc
tận dụng lợi thế của công nghệ số đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
tuyên bố hứa thƣởng nói riêng và giao dịch dân sự nói chung. Tuy nhiên, sự phát triển
của công nghệ số cũng làm gia tăng tỉ lệ tội phạm công nghệ và việc đối mặt với chúng
đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Xác minh chứng cứ đối với các giao dịch điện tử
do đó cũng gặp nhiều khó khăn, bởi với công nghệ hiện đại, ngƣời ta có thể dễ dàng
tạo ra mọi dữ liệu điện tử chứa đựng thông tin theo ý chí chủ quan của ngƣời khởi tạo,
từ đó dẫn đến tình trạng làm giả chứng cứ, chối bỏ chứng cứ,... Trong khi đó, theo quy
định tại khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định thông điệp dữ
liệu điện tử đƣợc thể hiện dƣới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thƣ
điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tƣơng tự khác theo quy định của pháp
luật về giao dịch điện tử thì đƣợc xác định là chứng cứ. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 14
Luật giao dịch điện tử năm 2005 cũng chỉ quy định giá trị chứng cứ của thông điệp dữ
liệu đƣợc xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lƣu trữ hoặc truyền
gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ
liệu; cách thức xác định ngƣời khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Ngoài ra, không
có bất cứ quy định rõ ràng nào về các tiêu chí xác định độ tin cậy của cách thức khởi
tạo, lƣu trú hoặc truyền tải thông điệp dữ liệu, cách thức chứng minh và ngƣời có thẩm
quyền chứng minh tính pháp lý của thông điệp dữ liệu,...
3.2. Bất cập về hình thức và cơ chế giải quyết tranh chấp về hứa thưởng.
Tính đặc thù của việc xác lập tuyên bố hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các
đơn vị trung gian đã tạo ra những tranh chấp hứa thƣởng mang màu sắc riêng biệt,
điều này đã làm bộc lộ những hạn chế và yếu kém của các hình thức giải quyết tranh
chấp dân sự liên quan. Theo đó, các hình thức giải quyết tranh chấp hứa thƣởng nói
riêng và tranh chấp dân sự nói chung vẫn cứng nhắc, chƣa thực sự phù hợp với thực tế,
dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp, khiến cho hoạt động giải quyết
tranh chấp không đáp ứng đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, chƣa tạo lập
đƣợc môi trƣờng hiện đại, thúc đẩy sự phát triển của giao dịch dân sự.
20
- Pháp luật quy định chƣa đầy đủ, toàn diện nên khó giải quyết tranh chấp bằng
các hình thức thƣơng lƣợng, hoà giải, trọng tài và toà án.
Hứa thƣởng đƣợc giao kết bằng hình thức lời nói hay mạng xã hội và các đơn vị
trung gian thì về nguyên tắc những quy định về giao dịch dân sự vẫn đƣơng nhiên
đƣợc áp dụng, do vậy việc giải quyết các tranh chấp đặc thù này vẫn phải tuân thủ các
hình thức giải quyết tranh chấp dân sự, bao gồm: thƣơng lƣợng, hoà giải, toà án và
trọng tài.
Thông thƣờng khi xảy ra tranh chấp, đầu tiên các bên trong quan hệ pháp luật
luôn ƣu tiên giải quyết tranh chấp thông qua việc thƣơng lƣợng với nhau. Trong
trƣờng hợp không thƣơng lƣợng đƣợc, một trong các bên có thể đƣa tranh chấp ra bên
trung gian để giải quyết thông qua phƣơng thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. Thƣơng
lƣợng là hình thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên tự bàn bạc để thống nhất
cách thức loại trừ tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của ngƣời thứ
ba.6 Vì giải quyết tranh chấp bằng thƣơng lƣợng có bản chất là sự thoả thuận giữa các
bên, các bên tranh chấp có thể lựa chọn thƣơng lƣợng trực tiếp hoặc gián tiếp để đi đến
sự thống nhất về ý chí. Tuy nhiên, với đặc trƣng của hành vi hứa thƣởng thông qua
mạng xã hội và các đơn vị trung gian là các bên tham gia quan hệ pháp luật thông qua
mạng internet, báo điện tử, sóng radio,... nên thông tin về chủ thể hứa thƣởng hay
ngƣời thực hiện công việc hoặc đáp ứng điều kiện hứa thƣởng là rất khó nắm bắt,
thông tin này không đƣợc đảm bảo xác thực, do đó gây khó khăn trong quá trình
thƣơng lƣợng giữa các chủ thể, trong trƣờng hợp một trong các bên chủ thể không có
thiện chí giải quyết tranh chấp hoặc thông tin của các bên là không đúng sự thật thì
tranh chấp sẽ chẳng thể đi đến sự thống nhất ý chí bởi chỉ riêng việc xác minh danh
tính của các chủ thể thôi cũng là vấn đề khó khăn. Hiện nay, nhiều nƣớc trên thế giới
nhƣ Canada, Phần Lan, Estonia, Đức, Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc,... đã triển khai
thành công hệ thống định danh làm nền tảng cho các hoạt động tƣơng tự với việc xác
lập tuyên bố hứa thƣởng qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian 7. Ở Việt Nam, mặc
dù Chính phủ đã nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của công nghệ thông tin đối với sự
phát triển của kinh tế - xã hội, nhƣng hiện tại hệ thống văn bản pháp lý về định danh
6 Viện Khoa học Pháp lý-Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tƣ pháp, tr.759
7
http://ictvietnam.vn/dinh-danh-dien-tu-nen-tang-bao-dam-attt-cho-giao-dich-dien-tu-4773.htm, truy cập ngày
20/10/2020
21
điện tử còn chƣa hoàn thiện, việc xác định danh tính của một chủ thể tuyên bố hứa
thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian khác vẫn chƣa đƣợc giải
quyết. Với bản chất giống với thƣơng lƣợng là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các
chủ thể trong quan hệ tranh chấp, hoà giải ngoài tố tụng cũng gặp phải những bất cập
tƣơng tự trong quá trình giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng. Ngoài ra, thiếu sót trong
quy định về cơ chế định danh cũng gây khó khăn trong việc xác định danh tính đƣơng
sự trong quá trình giải quyết tranh chấp thông qua toà án và trọng tài.
Mặt khác, nhƣ đã đề cập ở phần 3.1, đối với những hành vi hứa thƣởng đƣợc xác
lập thông qua mạng internet, báo điện tử, sóng radio,... thì ngoài khó khăn trong việc
xác định danh tính chủ thể, khó khăn còn xuất hiện trong cung cấp chứng cứ và xác
minh chứng cứ, điều này gây nhiều vƣớng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp
bằng toà án hay trọng tài, làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp
không đƣợc đảm bảo. Do đó, ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những
quy định về giao dịch dân sự truyền thống, ngƣời ta còn bổ sung thêm các văn bản quy
phạm pháp luật để điều chỉnh những giao dịch đuợc tiến hành thông qua mạng xã hội
và các đơn vị trung gian khác8. Các văn bản quy phạm pháp luật này sau khi đƣợc ban
hành sẽ có ba tác dụng: (i) Đem lại niềm tin cho các bên tham gia quan hệ pháp luật
hứa thƣởng nói riêng và quan hệ pháp luật dân sự nói chung, từ đó kích thích các bên
tham gia thực hiện các giao dịch qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian; (ii) Tạo cơ
sở pháp lý về hình thức giải quyết các tranh chấp phát sinh từ tuyên bố hứa thƣởng
hoặc các giao dịch dân sự khác; (iii) Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ
thể trong quan hệ pháp luật dân sự đƣợc thực hiện thông qua mạng xã hội và các đơn
vị trung gian.
- Tính cứng nhắc của quy định pháp luật về hình thức giải quyết tranh chấp về
hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian.
Tại Điều 52 Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định về giải quyết tranh chấp trong
giao dịch điện tử nhƣ sau:
“1. Nhà nƣớc khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải
quyết thông qua hòa giải.
8 http://ecommerce.gov.vn/thuong-mai-dien-tu/tin-tuc/phap-luat-ve-thuong-mai-dien-tu-tren-the-gioi-va-viet-
22
2. Trong trƣờng hợp các bên không hòa giải đƣợc thì thẩm quyền, trình tự, thủ
tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử đƣợc thực hiện theo quy định của pháp
luật”.
Mặt khác Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng không có quy định riêng về việc
giải quyết tranh chấp đối với giao dịch điện tử nói chung và tuyên bố hứa thƣởng
thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian nói riêng. Nhƣ vậy, quy định về hình
thức giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng thông qua mạng xã hội về cơ bản giống với
phƣơng thức giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng thông thƣờng. Tuy nhiên, tính đặc
thù của giao dịch điện tử làm cho quy định của pháp luật về hình thức giải quyết tranh
chấp hứa thƣởng trở nên cứng nhắc, không đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tiễn. Trên thực
tế với những tranh chấp hứa thƣởng có giá trị tài sản hứa thƣởng thấp thì hình thức giải
quyết tranh chấp chủ yếu là bằng thƣơng lƣợng giữa các bên hoặc hòa giải. Đối với
các tranh chấp có giá trị tài sản hứa thƣởng lớn thì các chủ thể thƣờng lựa chọn giải
quyết thông qua trọng tài hoặc toà án, tuy nhiên khi có sự tham gia của nhiều chủ thể,
quan hệ hứa thƣởng mang tính chất xuyên biên giới, việc giải quyết tranh chấp hứa
thƣởng đƣợc xác lập thông qua mạng xã hội hay các đơn vị trung gian bằng toà hay
trọng tài bộc lộ rõ nhiều khuyết điểm nhƣ khó khăn về khoảng cách địa lý, chi phí đi
lại...
Để khắc phục những yếu kém này, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành xây
dựng hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến để giải quyết các tranh chấp về giao
dịch điện tử mang tính đặc thù.9 Hiện nay, ở Việt Nam hệ thống giải quyết tranh chấp
trực tuyến chỉ mới đƣợc áp dụng đối với các tranh chấp thƣơng mại điện tử từ ngày
quyết tranh chấp trực tuyến nào khác, tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học
công nghệ và những thành tựu của công nghệ 4.0, các giao dịch điện tử nói chung và
hứa thƣởng thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian nói riêng ngày càng phổ
biến, do đó cần thiết phải phát triển hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến để đáp
ứng nhu cầu phát triển của các loại giao dịch điện tử khác nhau.
9 Hà Công Anh Bảo, Lê Hằng Mỹ Hạnh (2017), Giải quyết tranh chấp trực tuyến – Khả năng áp dụng ở Việt
Nam, Tạp chí đối ngoại số 93
10 http://thanglong.chinhphu.vn/ra-mat-he-thong-giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-dien-tu, truy cập ngày
20/10/2020
23
- Vƣớng mắc thực tế trong quá trình giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng do tính
đặc thù của giao dịch dân sự thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian.
Xuất phát từ các đặc thù của giao dịch điện tử mà tuyên bố hứa thƣởng đƣợc xác
lập thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian đặt ra những yêu cầu đặc thù về sự
am hiểu pháp luật, am hiểu về công nghệ và kinh nghiệm trong các giao dịch điện tử
đối với chủ thể tiến hành giải quyết tranh chấp hứa thƣởng.
Ở Hàn Quốc việc giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử thông qua hoà giải
đƣợc tiến hành bởi Ủy ban hòa giải tranh chấp, thành viên của Uỷ ban này do Bộ
trƣởng Bộ Khoa học - Công nghệ thông tin và Truyền thông quyết định; số lƣợng
thành viên từ 15 đến 50 thành viên; thành viên của Ủy ban gồm phó giáo sƣ, ngƣời có
vị trí tƣơng đƣơng hoặc cao hơn trong trƣờng đại học, tổ chức nghiên cứu, có chuyên
ngành liên quan đến giao dịch điện tử,...11. Trong khi ở Việt Nam vẫn chƣa xây dựng
bất cứ một mô hình giải quyết tranh chấp riêng biệt nào dành cho các giao dịch điện
tử, việc giải quyết tranh chấp đƣợc xác lập thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung
gian vẫn còn khá mới mẻ đối với các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, do
đó quá trình giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử vẫn còn nhiều lúng túng, sai sót.
4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
hứa thƣởng trong môi trƣờng số.
Quan hệ pháp luật dân sự đƣợc thiết lập thông qua mạng xã hội hoặc các đơn vị
trung gian ngày càng phát triển đáp ứng sự thay đổi của đời sống xã hội, cùng với sự
phát triển đó, cần thiết có những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong việc điều chỉnh
những quan hệ này. Qua việc phân tích những bất cập của pháp luật, cùng với sự
nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, trong phạm vi nghiên cứu tác giả đề xuất
những giải pháp cụ thể nhƣ sau:
4.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
- Xây dựng khung pháp lý giải quyết tính minh bạch của thông tin cá nhân.
Tính minh bạch của thông tin cá nhân trong quan hệ hứa thƣởng đƣợc xác lập
thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian góp phần làm giảm thiểu số lƣợng các
tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hứa thƣởng, đồng thời cũng là cơ sở thuận
11 http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-giao-dich-dien-tu-cua-han-quoc-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-
24
lợi để các chủ thể trong quan hệ tranh chấp thực hiện giải quyết tranh chấp theo các
hình thức khác nhau, đặc biệt là giải quyết tranh chấp thông qua thƣơng lƣợng và hoà
giải. Mặt khác, một khung pháp lý về tính minh bạch của thông tin cá nhân giúp góp
phần làm giảm thiểu những hành vi vi phạm pháp luật trong thực tế thiết lập tuyên bố
hứa thƣởng.
- Sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật để điều
chỉnh những giao dịch đuợc tiến hành thông qua mạng xã hội hay các đơn vị trung
gian.
Hiện nay, các quy định về hứa thƣởng thông qua mạng xã hội hoặc các đơn vị
trung gian đƣợc quy định chủ yếu ở Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, Luật giao dịch điện tử năm 2005. Nhƣ đã phân tích tại phần 3, do các quy
định của pháp luật hiện, mà chủ yếu ở các văn bản trên vẫn còn nhiều thiếu sót, tạo ra
những khó khăn trong quá trình thực hiện và giải quyết tranh chấp về hứa thƣởng
thông qua mạng xã hội hoặc các đơn vị trung gian, do đó, trƣớc tiên trong các văn bản
pháp luật này, cần phải quy định rõ về định danh điện tử, xác định chứng cứ, xác minh
chứng cứ, chủ thể xác minh chứng cứ trong giao dịch,... đây là những cơ sở quan trọng
để toà án hay trọng tài tiến hành giải quyết các tranh chấp về hứa thƣởng thông qua
mạng xã hội hay các đơn vị trung gian.
Qua nghiên cứu của mình, tác giả cũng đề xuất bổ sung quy định của pháp luật
về xác định chứng cứ đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 95 Bộ luật Dân sự năm 2015
nhƣ sau:
Để đƣợc xem là chứng cứ, thông điệp dữ liệu điện tử phải thoả mãn ba điều kiện
gồm: tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan của chứng cứ.
(i) Tính khách quan: Dữ liệu đƣợc coi là chứng cứ phải có thật, tồn tại một cách
khách quan, có nguồn gốc rõ ràng, không bị làm cho sai lệch, biến dạng; đã đƣợc tìm
thấy và đang lƣu trên máy tính, email, tài khoản xã hội, đang truyền trên mạng…
(ii) Tính hợp pháp: Chứng cứ phải đƣợc thu thập đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự, sử dụng công nghệ đƣợc pháp luật công nhận, quá trình thu giữ chứng cứ
phải diễn ra một cách hợp pháp.
(iii) Tính liên quan của chứng cứ: Dữ liệu thu đƣợc có liên quan đến việc giải
quyết tranh chấp, đƣợc sử dụng để xác định các tình tiết trong quan hệ tranh chấp.
25
Tính liên quan thể hiện ở nguyên lý, công nghệ hình thành dữ liệu về chứng cứ, thông
tin về không gian, thời gian hình thành dữ liệu chứng cứ (logfile, IP, siêu dữ liệu, hàm
hash), địa chỉ lƣu trữ, thời gian xác lập giao dịch (nguồn gốc và nội dung giao dịch qua
thƣ điện tử, mạng xã hội…), cookies truy cập,…
4.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý
- Tăng cƣờng các khoá huấn luyện, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho các chủ
thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với giao dịch dân sự mới có tính đặc thù.
- Xây dựng cơ chế giải quyết riêng đối với các tranh chấp về quan hệ dân sự
đƣợc xác lập thông qua mạng xã hội và các đơn vị trung gian.
Hình thức hòa giải thông qua Ủy ban theo pháp luật của Hàn Quốc là một mô
hình Việt Nam có thể học hỏi.12 Nhƣ đã phân tích trên, mô hình Uỷ ban hoà giải của
Hàn Quốc là mô hình tƣơng đối kiện toàn, giúp cho việc giải quyết tranh chấp về giao
dịch điện tử trở nên chuyên nghiệp hơn, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các
tranh chấp trong giao dịch điện tử cũng nhƣ làm giảm bớt gánh nặng cho toà án.
- Phát triển hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến.
Quá trình hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm
thu hẹp khoảng cách và giới hạn của các giao dịch dân sự. Sự mở rộng của các giao
dịch điện tử xuyên quốc gia đã đặt ra sự cần thiết phải có giải pháp thuận lợi, tiết kiệm
và hiệu quả cho việc giải quyết các tranh chấp về giao dịch điện tử, do vậy hình thức
giải quyết tranh chấp trực tuyến cần phải đƣợc mở rộng và phát triển ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hà Công Anh Bảo, Lê Hằng Mỹ Hạnh (2017), Giải quyết tranh chấp trực
tuyến – Khả năng áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí đối ngoại số 93
2. Chính phủ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị định số
22/2017/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 24 tháng 2 năm 2017 Về Hòa giải
Thƣơng mại
12
26
20/10/2020
cập ngày 20/10/2020
14. Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Dân sự
năm 2015
15. Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015
16. Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật giao dịch
điện tử năm 2005
17. Viện Khoa học Pháp lý-Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tƣ pháp
27
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển đổi số: Thách thức pháp lý trong giải quyết tranh chấp về hứa thưởng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuyen_doi_so_thach_thuc_phap_ly_trong_giai_quyet_tranh_chap.pdf

